Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
LƯỚI TRỜI LỒNG LỘNG 29
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
Dấu vết để lại
Trắng đêm lần theo dấu vết 'quỷ' ấu dâm ngoại quốc: Rượt đuổi thót tim
08:10 16/10/2018
Trời tối, Roman vẫn bặt tăm. Khi có tin “mật báo” tên này đi
khách sạn ở khu Phúc Xá, Hồng Hà của quận Ba Đình, chúng tôi tỏa đi
tìm, lên mạng search từ khóa “Sao B”.
Người ở trên phòng đi lang thang ngoài hành lang. Nhóm thức trắng
đêm ngồi xe máy như kiểu xe ôm đợi khách. Nhóm nằm im trên ôtô đỗ dưới
cây trứng cá tối om theo dõi.
Các camera bật sẵn.
Quả nhiên, anh ta đi xe máy, lái nhanh như một cơn gió, ập vào khách sạn, nói tiếng Việt xoe xóe. Lát sau có trẻ con đến.
Đang tìm cách báo cơ quan chức năng kiểm tra, thì Roman đã ào xuống
lễ tân, trả phòng trong chớp mắt và phóng xe ôm đi vèo vèo.
Tháng 5, chúng tôi bám theo Roman khắp các ngả đường Hà Nội (Roman áo màu cam, quần soóc ngồi sau xe GrabBike)
.
Một ngày mất dấu, lại có tin, anh ta ở một khách sạn ở đường Đê Tô
Hoàng. Chúng tôi thức trắng đêm theo đuổi. Nghĩ là kiểu gì anh ta cũng
phải ra ngoài ăn uống và gạ trẻ con. Nhưng không, anh ta nằm bẹp và chờ
đợi điều gì đó rồi lại biến mất.
Tên này phạm tội nhiều lần. Từng “vào sinh ra tử” với các trò ấu dâm
bị cả loài người lên án, từng 9 lần nhập cảnh vào Việt Nam. Không ít lần
trẻ em nam tố cáo bị Roman bạo dâm, dụ dỗ các cháu sử dụng ma túy đá,
nhưng anh luôn biết cách chuồn êm.
Các cuộc "vui vầy" của anh ta
với giai trẻ, trẻ em ở nhiều địa phương cũng không thoát khỏi tầm quan
sát của nhóm nhà báo, luật sư chúng tôi.
Có hôm, sau khi cùng cộng sự báo với cơ quan công an, bàn kỹ kế hoạch
bắt quả tang Roman. Có nữ phóng viên trắng đêm rình ngoài bụi liễu,
sương sa gió lạnh, toàn bị đám đàn ông đi qua tưởng gái đứng đường rồi
buông lời gạ gẫm rủ rê.
Nửa đêm hôm đó, Roman ra khỏi khu nhà cao tầng mà thuê trọ. Ngoài
kia, đã có nhiều người đón lõng rồi. Chợt thấy tiếng phá cửa ầm ầm, lực
lượng chức năng có mặt ở đúng cái cổng đó, ngôi nhà đó rồi bắt giữ nghi
phạm nào đó. Chúng tôi ăn mừng, cắt cử các phóng viên về nhà nghỉ ngơi,
mai chờ tin "thắng trận". Ai dè, rất vô tình, công an bắt một ổ đánh
bạc.
Lại có tin nó đi Nam Định, Ninh Bình lễ chùa với vài chàng pê-đê, môi
giới Việt Nam. Mai lại về Chương Mỹ, Hà Nội với “giai đẹp”. Anh ta cũng
cảnh giác cao độ việc giao dịch gạ tình qua mạng xã hội, vì có thể bị
“theo dấu” ra sao.
Nhiều ngày sau Roman mới bị bắt. Nếu đọc hết “phần nổi tảng băng” với
những trò ấu dâm duốc ráy, nhầy nhụa của Roman được mô tả trong bản kết
luận điều tra hay cáo trạng hôm xử anh ta ở TAND Hà Nội ngày 25/9 vừa
rồi, thì chắn chắn bất kỳ ai cũng phải bị ám ảnh suốt đời. Lúc bị bắt,
anh ta đang “ăn thịt” một cậu bé 14 tuổi, mà vài đêm trước đứa trẻ lang
thang cơ nhỡ ấy vừa ngồi “tâm sự” với tôi xong.
Lời tố cáo của nạn nhân về tội ác những kẻ ấu dâm
Khoảng giữa năm 2018 thì Roman và vài đối tượng nữa mới bị bắt giữ,
nhưng trước đó vài năm, lời tố cáo của các nạn nhân về tội ác của chúng
đã được chúng tôi ghi nhận. Hắn còn dụ
Tây ba lô rỉ tai nhau về một "vùng trũng"
Đáng tiếc, với tội ác ấy, Roman Zmajkovic chỉ bị tuyên với mức án 3 năm tù (rồi trục xuất khỏi Việt Nam) là quá nhẹ.
Nhìn lại các vụ việc, có thể thấy, chúng ta có quá nhiều kẽ hở và các
sự thờ ơ để kẻ xấu nhởn nhơ gây ra tai họa lớn. Ví dụ tên Roman
Zmajkovic, theo kết luận của Công an Hà Nội, anh ta đã nhập, xuất cảnh
vào Việt Nam tới 9 lần. Gần đây nhất, tháng 12/2017, anh ta vào Việt Nam
bằng thị thực du lịch. Hết thời hạn visa, lại tiếp tục ở lại Hà Nội làm
bao điều vô đạo, mà không hề xuất cảnh.
Tháng 1 năm 2018, anh ta tự tin mời cháu Nguyễn T.L. (14 tuổi) quê ở
huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên cùng 3 người bạn khác của L. đi ăn tối. Rồi
gạ gẫm quan hệ tình dục với L. ngay đêm đó. Tại khách sạn ở ngõ 75, phố
Cầu Đất, Hà Nội.
Roman khi mới vừa bị bắt giữ.
Thời gian ngắn sau, anh ta lại dụ bé Nguyễn T.L. đi quan hệ tình dục
tiếp. Anh đi taxi đến một khách sạn trên phố Hồng Hà, lấy phòng và tắm
rửa nằm chờ cháu L. Sau khi nhắn địa chỉ và số phòng 503 cho L., anh ta
còn dặn lễ tân bảo vệ bằng tiếng Việt: “Lát có người đến, cho lên”.
Lúc sau L. đến, dù là cậu bé 14 tuổi lơ ngơ đi vào, nhưng bảo vệ
khách sạn chỉ hỏi “Cháu đi đâu”; L. bảo: cháu lên phòng 503, là cháu tự
bấm thang máy lên. Người ta không cần quan tâm cháu lên đó với ai, làm
gì, giấy tờ tùy thân của cháu ra sao. Cũng như, hơn 4h sáng nhưng quán
Internet vẫn hoạt động để cháu "đi bụi" và bị dụ dỗ xâm hại.
Với một “núi” các kẽ hở như vậy, nên mới có bi kịch: 9 lần nhập cảnh
vào Việt Nam, bị bắt trượt trong gang tấc, anh ta vẫn tự tin quay lại và
"săn trẻ" còn trắng trợn hơn xưa. Và, anh ta vẫn đào thoát ngoạn mục
khỏi Việt Nam ngay cả khi một tổ chức bảo vệ trẻ em đã có được video tố
cáo anh ta quan hệ tình dục đồng giới với trẻ em Việt Nam và đã nộp lên
cơ quan chức năng để tố cáo.
Anh ta chat dâm dật với trẻ nhỏ, còn chế nhạo cả những người có uy
tín đang điều tra về mình để bảo vệ trẻ nhỏ. Anh ta và những kẻ giống
như mình thậm chí còn rỉ tai nhau, kéo sang Việt Nam đi tìm trẻ để “ấu
dâm nam” được "dễ dàng và an toàn" hơn.
Trước khi Roman và một người
quốc tịch CHLB Đức bị tóm khoảng giữa năm 2018, nhóm "săn quỷ ấu dâm
nam" chúng tôi cũng đã điều tra từ đầu, góp phần đắc lực đưa Vadim
Scott (người Canada) và Hoàng Văn Lan (người Nghệ An) này hầu tòa.
Quả thế, lâu nay, với một số quy định còn lỏng lẻo, đã từng có một
“vùng trũng” luật pháp trong bảo vệ trẻ em nam trước nạn ấu dâm và quan
hệ tình dục đồng giới nói chung. Đó là lý do khiến chúng tôi phải quyết
liệt kiến nghị thay đổi một số quy định trong Luật Hình sự (ở lĩnh vực
kể trên) và sự thật là đã có những thay đổi tích cực. Chuyện sẽ được kể ở
phần sau.
Theo Vũ Ninh - Đỗ Doãn Hoàng/Lao Động
Lần theo dấu vết kẻ sát hại bạn rồi phi tang nạn nhân dưới nền nhà
7 năm che giấu tội ác
Vụ việc phát hiện thi thể người dưới nền nhà tại TP Đồng Hới, tỉnh
Quảng Bình vừa qua thực sự gây chấn động dư luận. Nghi phạm bị bắt giữ
chỉ sau 2 ngày phát hiện vụ việc cũng đã cho thấy sự quyết tâm đấu tranh
với tội phạm của lực lượng cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Quảng Bình.
Qua công tác điều tra xác minh và căn cứ kết quả khám nghiệm từ thi
thể dưới nền nhà, cơ quan điều tra đã lần ra vụ án mạng vào năm 2010
đồng thời xác định nghi can chính là Nguyễn Mạnh Hùng (SN 1986, trú tại
xã Mai Hóa, huyện Tuyên Hóa) và tiến hành bắt khẩn cấp, tạm giam đối
tượng này.
Đối tượng Hùng bị bắt giữ
Từ lời khai của Hùng, lực lượng công an cũng đã xác định đối tượng
này là kẻ gây ra cái chết và phi tang xác nạn nhân Bùi Tiến Dũng (trú
tại phường Đức Ninh Đông, TP Đồng Hới dưới nền nhà số 48, đường Trường
Chinh) 7 năm về trước.
Theo tìm hiểu, Hùng từ nhỏ đã là một thành phần “cá biệt” tại xã Mai
Hóa. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, đối tượng này đi khắp nơi làm nghề tự
do và thỉnh thoảng mới về thăm nhà.
Sau khi gây ra vụ án mạng vào năm 2010, hành tung của đối tượng Hùng
cũng trở nên “thoắt ẩn, thoắt hiện”, không ai biết y đi đâu, làm gì.
Người dân gần nhà của Hùng cũng chỉ nghe thông tin đối tượng này đã sang
Lào, Thái Lan làm ăn.
Trước khi bị bắt, Hùng có đưa một người phụ nữ về sống với mẹ ruột
tại xã Mai Hóa. Tuy nhiên, do Hùng ít khi về nhà, lại xảy ra mâu thuẫn
nên người này đã bỏ về nhà ở gần Cửa khẩu Cha Lo. Sau đó, Hùng cũng lên
đó làm ăn và sống chung với người phụ nữ này.
Căn nhà đối tượng Hùng ẩn náu trước khi bị bắt
Theo lãnh đạo UBND xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa, đối tượng Hùng không
có đăng ký thường trú tại địa phương mà chỉ đến sống chung với một người
phụ nữ cũng từ nơi khác tới nhưng không có đăng ký kết hôn. Hùng chỉ
mới thường xuyên xuất hiện tại xã Dân Hóa khoảng 2 năm trở lại đây, còn
trước đó hành tung của đối tượng này không ai rõ.
Một người dân sống gần nơi Hùng thường xuyên lui tới tại bản Bãi
Dinh, xã Dân Hóa cho biết, đối tượng này thường ngày ở cùng một cô gái
tên B., làm nghề cắt tóc. Người này và Hùng gần đây có mở một quán nhậu
nhỏ để phục vụ người dân trong bản. Gia cảnh sát nhân
Nguyễn Mạnh Hùng, nghi can của vụ án mạng sinh ra tại xã Mai Hóa,
huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình). Bản thân Hùng sinh ra đã không biết mặt
cha. Mẹ Hùng là bà Nguyễn Thị H. năm nay cũng đã ngoài 70, đau ốm liên
miên và lâu nay bị bệnh cao huyết áp.
Hùng rất ít khi về nhà, những người hàng xóm nói chỉ biết Hùng đi làm
ăn ở Cửa khẩu Cha Lo, thỉnh thoảng mới về thăm mẹ. Đối tượng này có một
người con gái, đang sống với bà H. trong căn nhà tình nghĩa do chính
quyền xã Mai Hóa xây dựng. Được biết, cô con gái Hùng có với một người
phụ nữ quê tại Quảng Bình cách đây khoảng 7 năm, 2 người không cưới xin,
đăng ký kết hôn.
Gia đình đối tượng thuộc diện
khó khăn của xã Mai Hóa, mẹ và con gái của Hùng đang sống trong căn nhà
tình nghĩa do chính quyền xây dựng
Ông Trần Văn Giáo, Chủ tịch UBND xã mai Hóa cũng xác nhận, mẹ của
Hùng vốn là vợ liệt sỹ, có hoàn cảnh khó khăn. Khi ở tuổi 40, vì muốn có
một mụn con để nương tựa lúc tuổi già, bà đã sinh ra Hùng.
“Bà H. là vợ liệt sỹ, khi sinh ra Hùng cũng với mong muốn có người
nương tựa lúc về già. Thế nhưng Hùng từ nhỏ vốn đã khá “cá biệt”, giờ
lại là nghi phạm giết người, niềm hy vọng của người mẹ già giờ đã không
thể thành sự thật nữa", ông Giáo thương cảm.
7 năm đã trôi qua, tưởng chừng tội ác của Nguyễn Mạnh sẽ mãi mãi được
giấu kín dưới nền nhà. Thế nhưng "ông trời có mắt", sự thật đã được
phơi bày...
Tiến Thành – Đặng Tài
Lần theo dấu vết phụ nữ ngáo đá, phá tụ điểm sử dụng ma túy
(Baonghean.vn) -Tối ngày 23/7, lần theo hành vi
của một phụ nữ ngáo đá, Công an thị xã Thái Hòa đã phá một tụ điểm sử
dụng ma túy trên địa bàn.
Vào khoảng 20h30’ ngày 23/7, Công an thị xã
Thái Hòa phát hiện đối tượng Văn Thị Hiên - SN 1986, trú tại khối Tây Hồ
II, phường Quang Tiến, thị xã Thái Hòa trong tình trạng ngáo đá.
Các đối tượng Du và Thịnh. Ảnh: Hoàng Long
Sau khi áp giải về trụ sở, lập hồ sơ,
đối tượng được thả cho về. Tuy nhiên, tiếp tục lần theo hành vi của Văn
Thị Hiên, chỉ 30 phút sau đó, Công an thị xã tiếp tục bắt quả tang đối
tượng Nguyễn Trọng Du - SN 1987 trú tại khối Tân Tiến, phường Hòa Hiếu
(thị xã Thái Hòa) và Đào Duy Thịnh – SN 1995, trú tại huyện Nghĩa Đàn
đang sử dụng ma túy đá tại nhà của Du.
Hiện trường tại nhà đối tượng Du. Ảnh: Đàm Thủy
Tại hiện trường thu được 2 bộ cóng, 1 đèn khò, 0,02g ma túy dạng đá và nhiều vật dụng liên quan khác.
Đây đều là những đối tượng từng có tiền
sử về sử dụng chất ma túy. Vì thế, hiện cơ quan chức năng đang tiến hành
hoàn tất thủ tục để xử lý các đối tượng theo quy định của pháp luật.
Đàm Thủy - Hoàng Long
John Rulloff: Kẻ giết người hay thiên tài - Kỳ 1: Những xác chết trên sông Chenango
Rulloff
là một kẻ giết người kỳ lạ, nhân vật gây nhiều tranh cãi trong xã hội
Mỹ, không chỉ trong quá khứ mà còn cho đến ngày nay. Nhiều người cho
rằng, Rulloff rất thông minh và tài giỏi, thậm chí có đủ những tố chất
của một thiên tài. Nhưng
cũng lại có nhiều ý kiến cho rằng Rulloff là một kẻ lừa lọc, một gã
lang băm đầy tính toán, một gã độc tưởng tuyệt vọng. Dù thế nào chăng
nữa, Rulloff chắc chắn là một trong những kẻ giết người hàng loạt khó
hiểu nhất ở Mỹ.
Kỳ 1: Những xác chết trên sông Chenango
Sáng
sớm thứ sáu ngày 6/7/1870, trên đường đi làm, khi băng qua cây cầu bắc
ngang sông Chenango quận Binghamton, New York, một người đàn ông đã nhìn
thấy vật gì đó nhấp nhô ở phía thượng nguồn, có vẻ như bị mắc vào đá.
Vật này được bọc vải, bên trong đầy nước. Người đàn ông này gọi những
người xung quanh lại gần để cùng tìm hiểu.
Những xác chết vớt từ dưới sông.
Những
gì họ nhìn thấy là thi thể một người đàn ông mặc nguyên quần áo, nằm
sấp mặt dưới nước, ở bãi cạn của dòng sông. Thi thể được kéo lên bờ và
người dân gọi cảnh sát trưởng đến. Mọi người nghĩ anh ta có thể liên
quan đến một vụ giết người gần đây mà khắp thị trấn đang bàn tán.
Cách
đó không xa, cũng trên dòng sông này, một người khác lại thấy có một
vật gì đó lập lờ trong nước. Anh ta chèo thuyền lại gần và nhận ra đó là
một xác chết. Anh ta không quá bất ngờ. Bởi vì, ai trong thị trấn cũng
biết về câu chuyện một toán trộm đã đột nhập vào cửa hàng đồ khô của anh
em nhà Halbert, sát hại nhân viên bảo vệ trước khi tẩu thoát về phía
con sông. Chúng có thể đã bị chết nhưng cũng có thể đã bị kẻ khác sát
hại.
Bức vẽ tái hiện vụ giết người trong cửa hàng của nhà Halbert.
Người
dân thị trấn đổ xô đến xem trong lúc người ta vớt hai thi thể đã trương
phình lên bờ. Mắt của một xác chết bị khoét sâu do chiếc móc sử dụng để
kéo nó lên. Người dân rất hả hê khi nghĩ rằng công lý đã được thực thi,
những kẻ giết người đã bị trừng phạt.
Vào
thời điểm đó, còn có xác chết thứ ba. Tại cửa hàng của nhà Halberts,
Frederick Merick, một thanh niên trẻ đã thiệt mạng để bảo vệ tài sản ở
đây, chủ yếu là những miếng lụa đắt tiền. Trước khi vụ án được dựng lại
chính xác, Gilbert Burrows, một nhân viên bảo vệ cửa hàng còn sống sót
đã nói rằng, không phải chỉ có hai tên trộm đột nhập cửa hàng trong đêm
đó mà là ba tên. Anh ta khẳng định điều này là chắc chắn.
Nạn nhân Frederick Merick.
Sáng
sớm thứ tư, bọn trộm đột nhập vào cửa hàng nhà Halbert, tiếng động đã
đánh thức hai nhân viên bảo vệ ở đây. Merick cầm khẩu súng lục để cảnh
cáo hai tên trộm và ném chiếc ghế đẩu về phía chúng. Vào lúc đó, xuất
hiện tên trộm thứ ba, hắn ném chiếc đục vào Burrows khiến anh này choáng
váng. Khi định thần lại, Burrows đã hỗ trợ Merick đánh trả bọn trộm.
Merick túm được một tên, ghì chặt hắn xuống quầy hàng. Lúc này, tên thứ
ba đang cầm một khẩu súng, kéo cò và bắn Burrows, song viên đạn đi
trượt. Hắn quay sang bắn vào đầu Merick ở cự ly gần, khiến chàng thanh
niên thiệt mạng. Burrows chạy ra ngoài đường và hô hoán trong lúc những
kẻ trộm tháo chạy.
Một
cô gái đã nhìn thấy hai kẻ trộm rời cửa hàng bằng lối cửa sau và hướng
tới con sông. Cô không xác định được có phải chúng đã lên thuyền hay bơi
qua sông hay không. Trong khi đó, một phụ nữ khác lại thấy có ba người
đàn ông lội xuống sông. Cảnh sát trưởng biết rằng, hoặc là họ sẽ tìm
thấy một xác chết nữa hoặc kẻ trộm thứ ba vẫn còn sống. Nếu đây là sự
thật, ông rất muốn tìm ra hắn.
Trong
lúc náo loạn và vội vã tìm bác sỹ, mọi người đã không để ý đến một
người đàn ông khi anh ta rời khỏi thị trấn. Mọi người không biết rằng,
họ ở rất gần kẻ đã tham gia vào vụ cướp bất thành.
Thậm
chí, ngay cả khi nhà chức trách tiến hành bắt giữ những kẻ tình nghi
trong thị trấn, thời điểm hai xác chết trên sông chưa được phát hiện,
người đàn ông này đã bị theo dõi khi anh ta đang lang thang trên đường.
Bởi vì anh ta là người lạ, nên một số thanh niên đã bám theo. Người đàn
ông này đã nhảy lên tàu hỏa để cắt đuôi họ, nhưng anh ta không thoát
được. Nhóm thanh niên đã dồn và ép anh ta theo họ về thị trấn, tống anh
ta vào nhà giam cùng với hai nghi can khác. Người đàn ông này cố gắng xé
nát quần áo của mình như để che giấu bằng chứng phạm tội, nhưng vạt áo
phía trước lại có vết máu.
Khi
hai xác chết được xếp ngay ngắn, các nghi can được đưa đến để nhận
dạng. Hai nghi can kia đều nói không biết những người này và họ không có
biểu hiện nói dối. Riêng người đàn ông lạ mặt lại rất bình tĩnh, nhìn
hai xác chết này từ nhiều phía khác nhau. Anh ta nói với bồi thẩm đoàn
tên của mình là Charles Augustus, nhưng sau đó lại nói là George
Williams. Những điều này rất đáng ngờ tuy nhiên lại không có mối liên hệ
rõ ràng nào với vụ án mạng. Không có lý do gì để giam giữ người này,
cho dù có người nhận ra anh ta là Edward Rulloff, kẻ từng bị cáo buộc về
tội giết vợ con.
Rulloff
thừa nhận danh tính của mình và giải thích rằng phải giả danh vì ở thị
trấn này, nếu có án mạng xảy ra, người ta sẽ nghi ngờ cho anh ta vì anh
ta là người lạ. Với lý do đó, anh ta đã tạm thời được thả tự do.
Nguyễn Bình
John Rulloff: Kẻ giết người hay thiên tài - Kỳ 2: Lần theo dấu vết
Công việc tiếp theo là xác định danh
tính của những tên trộm. Các thám tử đã tìm thấy nhiều đồ vật trong túi
quần áo của bọn chúng, có thể giúp tìm ra manh mối. Bailey đã liệt kê
các đồ vật gồm có: 6 chìa khóa, một lá thư gửi cho người có tên Henry
Wilson, một mẩu giấy ghi tên và địa chỉ của luật sư William Thornton ở
Brooklyn”.
John Rulloff.
Ngoài
ra, trong túi đồ của kẻ trộm còn có một cuốn sách nhỏ đặc biệt mang tên
Napoleon's Oraculum (tức cuốn Book of Fate). Cuốn sách đưa ra phương
pháp dự đoán tương lai bằng việc tiếp nhận một nguồn năng lượng bí ẩn
thông qua hàng loạt dấu chấm và đường kẻ. Người ta kể rằng, Napoleon đã
tham khảo cuốn sách này thường xuyên, và cho rằng những thành công mà
ông ta có được là nhờ sự chỉ dẫn trong đó. Cuốn sách này cũng được tìm
thấy trong ngăn kéo tủ của Napoleon sau thất bại của ông tại Leipzig.
Vào năm 1801, một đoàn thám hiểm người Pháp đã lấy cuốn sách đó từ ngôi
mộ của một Pharaông. Cuốn sách đã được sao chép lại, và cuốn tìm thấy
trong túi của bọn trộm là một bản sao được sử dụng nhiều.
Còn
có một món đồ khác bị rớt lại ở tầng hầm cửa hàng nhà Halbert, vật này
hóa ra lại đáng quan tâm hơn những thứ đã tìm được lúc trước. Đó là đôi
giầy nam được đóng riêng cho người có bàn chân trái bị tật. Nhà Halbert
không biết gì về đôi giầy này, do vậy các điều tra viên hướng đến khả
năng, đôi giày là do kẻ gây án để lại. Tuy nhiên, bàn chân của hai tên
trộm chết đuối lại bình thường, chứng tỏ đó không phải giầy của chúng
(cho dù sau này cảnh sát trưởng thừa nhận, ông đã không xỏ thử đôi giầy
vào chân những xác chết).
Billy Dexter.
Trở
lại với Rulloff, khi anh ta đã rời đi, một người nào đó bỗng nhớ ra anh
ta bị mất một ngón chân cái, và có một vài vết u bất thường trên mu bàn
chân. Đôi giầy tìm thấy ở tầng hầm cửa hàng nhà Halbert có vẻ phù hợp
với bàn chân bị khuyết tật như thế. Cảnh sát vội đổ ra đường để tìm
Rulloff và thấy anh ta đang đi rất nhanh như thể muốn nhanh chóng càng
rời xa Binghamton càng tốt.
Rulloff
bị dẫn trở lại thị trấn, và như trong câu chuyện cô bé lọ lem, anh ta
phải xỏ thử chiếc giầy. Chiếc giầy vừa khít với chân Rulloff. Tuy nhiên
đây không thể là bằng chứng đủ để buộc tội ai đó giết người. Một lần
nữa, có vẻ như cảnh sát sẽ lại phải trả tự do cho Rulloff.
Có
thêm một vật nữa được tìm thấy trong túi của Rulloff, đó là vé tàu đi
Batavia, trong khi hai kẻ chết đuối cũng có những tấm vé đi tới đây.
Nhưng điều này cũng có thể chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên và cũng
không thể xem là bằng chứng để buộc tội ai đó.
Các
điều tra viên cho rằng, nếu biết được danh tính của hai tên trộm chết
đuối, họ có thể trả lời được câu hỏi liệu Rulloff có mối quan hệ gì với
chúng hay không. Do vậy, họ tập trung làm rõ vấn đề này, đồng thời chưa
cho phép Rulloff rời đi.
Trước
hết, các điều tra viên tới gặp luật sư William Thornton tại Brooklyn.
Vị luật sư xem bức ảnh chụp xác chết của hai kẻ trộm do các điều tra
viên cung cấp và ông nhận diện được một người có tên Billy Dexter. Ông
không biết kẻ còn lại nhưng cung cấp cho cảnh sát địa chỉ của Dexter.
Lần tới đây, các điều tra viên đã được một phụ nữ khẳng định về danh
tính của Dexter, đồng thời cung cấp tên một đồng nghiệp của anh ta, cô
Edward Howard. Cô này nhận được hình của Dexter trong một tấm ảnh do
cảnh sát đưa, trong đó cũng có mặt của Rulloff. Đây chính là mối liên hệ
đầu tiên giữa Rulloff với hai tên trộm.
Albert Jarvis.
Các
điều tra viên đã tìm đến nơi Rulloff sinh sống và thu được nhiều thông
tin có ích từ những đồ vật cho thấy sự liên quan giữa Rulloff và Dexter.
Họ còn tìm được một bản thảo mà Rulloff đang viết dở (sau này trở thành
một phần trong vụ án), và họ đã xác định được danh tính tên trộm còn
lại. Đó là Albert Jarvis.
Hóa
ra, Jarvis là con trai một người cai ngục, anh ta gặp Rulloff lần đầu
tiên khi Rulloff đang phải chịu án tù. Có vẻ giữa họ đã hình thành nên
một tình bạn, được duy trì trong nhiều năm, và cuối cùng là kết cục bi
thảm dành cho chính Jarvis. Jarvis nghe theo mọi kế hoạch mà Rulloff đưa
ra, vì biết hắn là người thông minh và tài giỏi. Rulloff dễ dàng dẫn
dắt chàng thanh niên này vào con đường phạm pháp.
Khi
đã tìm ra sợi dây liên hệ giữa Rulloff với Dexter và Jarvis, không quá
khó khăn, các điều tra viên đã phát hiện ra Rulloff chính là kẻ chủ mưu
của vụ cướp bất thành và cũng là thủ phạm đã bắn chết chàng trai trẻ
Merrick. Đây không phải lần đầu tiên Rulloff giết người, nhưng trong
những vụ án trước đây, hắn ta đã thoát tội. Dư luận rất hy vọng lần này
sẽ khác, Rulloff sẽ bị trừng phạt thích đáng.
Luật sư quận, ông Peter Hopkins được giao thụ lý vụ án của Rulloff. Ông bắt đầu bằng việc tìm hiểu quá khứ tội ác của hắn.
Nguyễn Bình
John Rulloff: Kẻ giết người hay thiên tài - Kỳ 3: John Rulloff là ai?
Ông nội của Rulloff là Rulof Rulofson, người đứng đầu
một dòng họ thuộc cộng đồng người Đức ở New Jersey, sau đó di chuyển
tới Nova Scotia. Rulloff sinh năm 1821 với tên khai sinh là John Edward
Howard Rulofson. Anh ta là con cả trong một gia đình có ba anh em trai.
Hai em trai của Rulloff sau này đã bỏ nhà đi tìm cuộc sống riêng. Với
tính cách nhẹ nhàng, Rulloff thu hút được mọi người. Hầu hết những ai đã
gặp Rulloff đều ấn tượng với trí thông minh xuất sắc của anh ta.
Rulloff miệt mài đèn sách.
Rulloff đã trải qua nhiều nghề như bác sỹ điều trị,
nhà đầu tư, giáo viên. Thậm chí anh ta còn tìm hiểu về dạng thức tâm lý
nguyên thủy, một môn nghiên cứu về hình thể sọ người, được phổ biến vào
đầu thế kỷ 19. Chắc Rulloff không thể ngờ rằng một ngày nào đó anh ta
chính là đối tượng nghiên cứu của bộ môn này.
Để đề cao bản thân, Rulloff tự cho mình là một
nhà ngôn ngữ học - trào lưu mới trong thời kỳ của anh ta. Trong trào lưu
đó, người ta đua nhau nghiên cứu cấu trúc và cấu tạo của ngôn ngữ, đặc
biệt là nguồn gốc từ và sự tương đồng giữa các ngôn ngữ khác nhau.
Rulloff dành cả ngày đêm để nghiên cứu tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp, tìm
kiếm mật mã chỉ để trả lời cho câu hỏi ngôn ngữ có ý nghĩa gì. Rulloff
đã rơi vào cảnh túng thiếu khi tốn quá nhiều thời gian, tâm sức để viết
cuốn “Cách thức hình thành ngôn ngữ” (Method in the Formation of
Language), cuốn sách mà anh ta cho là quan trọng nhất của loài người.
Rulloff tự học rất nhiều ngôn ngữ, ở những trình độ khác nhau, để tìm
hiểu nguồn gốc của suy nghĩ và giao tiếp. Anh ta cho rằng kiến thức ngôn
ngữ sẽ giúp con người trả lời được câu hỏi, con người là gì và có nguồn
gốc như thế nào. Về khía cạnh này thì anh ta là một nhà nghiên cứu,
không ai có thể phủ nhận, và công việc đó cũng tiêu tốn nhiều thời gian
của anh ta.
Biên soạn xong cuốn sách “Cách thức hình thành
ngôn ngữ”, Rulloff chào bán với giá nửa triệu USD, với niềm tin nó sẽ
giúp anh ta trở thành một trong những người nổi tiếng và xuất chúng nhất
mọi thời đại. Đây là một bằng chứng cho sự kiêu căng và cảm nhận sai
lầm về giá trị bản thân của Rulloff. Anh ta một mặt thể hiện rằng những
kết quả mà mình làm được là hết sức bình thường, mặt khác lại tận dụng
mọi cơ hội để tuôn ra những từ ngữ đầy tính hàn lâm nhằm gây ấn tượng
với người mới quen. Tuy nhiên không có lời đề nghị nào mua sách của anh
ta. Tại sao Rulloff không thành công trong việc kiếm tiền, với anh ta,
dường như đó là một sự bí ẩn.
Khi còn trẻ, Julloff đã từng là nhân viên của một
cửa hàng đồ khô, theo những gì được ghi lại thì anh ta đã ăn cắp đồ
trong cửa hàng này và gây ra vài vụ cháy. Sau khi mãn hạn tù lần đầu
tiên, Rulloff lấy một bí danh khác và trở lại đời thường. Anh ta không
rút ra bài học cho bản thân mà trở nên mánh khóe hơn. Sau khi lang thang
vài nơi, Julloff đã tới nhà của gia đình Will Schutt ở quận Dryden, New
York, và năm 1843 kết hôn với Harriet, em gái của Will.
Rulloff là một người hay ghen và ngay lập tức đã
nghi ngờ vợ mình dành tình cảm cho một người đàn ông khác. Mượn cớ đó,
Rulloff đã đánh đập Harriett nhưng chị ta không phàn nàn gì. Năm 1845,
họ sinh được một cô con gái, đặt tên là Priscilla, và điều đó cũng không
giúp cải thiện tình hình. Rulloff tiếp tục thể hiện là một người chồng
không dễ để chung sống.
Vào tháng 5, vợ của Will là Amelia và con gái mới
sinh của họ đổ bệnh. Will biết Rulloff có chút kiến thức cơ bản về
thuốc và thảo dược, nên đã nhờ anh ta giúp đỡ. Rulloff đã chăm sóc cho
cả hai mẹ con Amelia nhưng bệnh tình của họ không hề thuyên giảm. Đến
tháng Sáu, đứa trẻ bị chết và không lâu sau Amelia cũng trút hơi thở
cuối cùng. Will vô cùng đau khổ trước mất mát quá lớn, nhưng không nghi
ngờ bất cứ điều gì quanh cái chết của vợ con. Anh cho rằng vợ con mình
đã không chống chọi được với những căn bệnh mà phụ nữ, trẻ em thường mắc
phải sau khi sinh cũng như mùa đông khắc nghiệt ở vùng thượng New York.
Tuy nhiên, do Rulloff từng có lần bóng gió về mối hận thù với Will, nên
một số người cho rằng anh ta đã đầu độc vợ con của Will để trả thù.
Nghi ngờ về Rulloff càng tăng lên khi cùng trong
tháng đó, chỉ sau đám tang buồn thảm của vợ con Will hai tuần, vợ và con
của Rulloff đột nhiên mất tích. Harriet được nhìn thấy lần cuối vào
ngày 23 tháng 6, khi chị sang nhà một người hàng xóm. Những người tiếp
xúc cuối cùng với Harriet đều cho biết cô không hề có biểu hiện gì về
một chuyến đi xa sắp tới. Rulloff hẳn nhiên không thể thoát khỏi những
nghi ngờ về sự biến mất đột ngột của vợ con anh ta.
Nguyễn Bình
John Rulloff: Kẻ giết người hay thiên tài - Kỳ 4: Người chồng tàn bạo
Một
buổi tối, Rulloff và Harriet xảy ra cãi vã về kế hoạch tương lai của
gia đình họ: Rulloff muốn chuyển tới phía tây để tìm kiếm một công việc
tốt hơn, trong khi Harriett lại mong vẫn được ở gần những người họ hàng
của cô.
Bức vẽ tái hiện cảnh Rulloff giết vợ.
Nhiều năm sau, Rulloff kể lại với Ham Freeman rằng vợ
chồng anh ta đã cãi nhau vì đứa con. Trong lúc nóng giận nhất thời,
Rulloff đã vớ lấy cái chày dùng để tán thuốc đánh vào đầu vợ. Anh ta đã
đánh Harriett vỡ đầu, khiến cô ngã lăn ra sàn. Rulloff cố gắng làm vợ
tỉnh lại và băng bó vết thương, nhưng Harriett vẫn bất tỉnh và đã chết
trong đêm đó. Sau đó, Rulloff bịa ra nhiều câu chuyện về việc Harriett
bỏ nhà ra đi.
John Rulloff.
Rulloff không bao giờ kể với ai bất cứ điều gì liên
quan đến con gái anh ta, ngoại trừ việc cho đứa bé uống thuốc ngủ để
ngăn không cho khóc.
Rulloff cũng kể rằng, sau khi giết vợ, anh ta có ý
định tự sát, nhưng rốt cuộc đã không làm như thế. Thay vào đó, Rulloff
đặt xác vợ con trong một chiếc hòm lớn, mượn xe ngựa của một người hàng
xóm và đưa xác hai người đi đâu không rõ. Anh ta quay trở lại nhà vào
ngày hôm sau, trả xe ngựa cho người hàng xóm và không hé răng cho biết
điều gì. Sau đó, Rulloff nói với mọi người rằng anh ta sẽ đi xa trước
khi bỏ đi cùng với những cuốn sách và bản thảo đang viết dở.
Một tháng sau, những người tò mò quyết định đột
nhập vào nhà của Rulloff. Họ nhận thấy không có dấu hiệu gì của một
chuyến đi xa - điều này không giống với tính cách của Harriet. Chiếc váy
cô mặc vào ngày cuối cùng người ta nhìn thấy cô bị vứt trên sàn nhà.
Lúc đó, không ai biết Rulloff ở đâu.
Trước sự biến mất đột ngột của Rulloff, hàng xóm
nghi ngờ anh ta có thể đã giết hại vợ con nên họ bàn nhau lập ra một đội
vũ trang để tìm kiếm anh ta. Đúng lúc này Rulloff trở lại thị trấn với
thái độ như không có chuyện gì xảy ra. Khi được hỏi về Harriet, anh ta
nói rằng vợ mình đang ở vùng hồ Cayuga. Rulloff tỏ ra ngạc nhiên khi mọi
người bàn tán xôn xao về việc anh ta là kẻ giết người. Rulloff sau đó
đến nhà những người họ hàng của vợ, khẳng định với họ rằng mọi việc của
gia đình anh ta vẫn ổn. Nhưng không giống như nói với những người hàng
xóm, Rulloff kể với những người thân của Harriet rằng gia đình mình đã
chuyển đến Ohio.
Không phải tất cả mọi người đều tin câu chuyện
của Rulloff. Một trong những người anh của Harriet yêu cầu Rulloff đưa
đi gặp em gái. Anh ta bằng lòng để mọi người viết thư cho Harriet, nhưng
biến mất sau đó. Mọi người tìm Rulloff về và lại yêu cầu anh ta phải
đưa đi gặp Harriet. Rulloff không dễ chịu gì với sự ép buộc này nên khi
đến Ohio, anh ta lại bỏ trốn thêm một lần nữa.
Ngay lập tức, lệnh truy nã Rulloff được ban hành.
Rulloff bị bắt và được dẫn giải về Ithaca để giam giữ. Lúc này, nhà
chức trách khẳng định Harriet đã chết và tuyên bố sẽ trao thưởng cho ai
phát hiện ra tung tích của mẹ con cô. Luật sư quận Peter Hopkins chuẩn
bị các thủ tục để truy tố Rulloff.
Phiên tòa xử Rulloff diễn ra vào đầu năm 1846.
Tuy nhiên không có xác chết nào để chứng minh tội giết người của anh ta,
mặc dù cảnh sát đã rất nỗ lực tìm kiếm ở hồ Cayuga. Vì không thể chứng
minh được mẹ con Harriet đã bị sát hại, cho nên sự mất tích của hai
người này chỉ đủ để cáo buộc Rulloff tội danh nhẹ hơn là bắt cóc mẹ con
Harriet.
Rulloff, với sự am hiểu pháp luật, đã tranh cãi
với nhà chức trách hòng trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật nhưng
không thành công. Rulloff không thể biện hộ được gì, ngoài lý do không
đủ bằng chứng buộc tội anh ta giết người. Anh ta chỉ dẫn cho luật sư
biện hộ những điều cần nói, nhưng một số thành viên trong bồi thẩm đoàn
đã thống nhất rằng, Rulloff nên bị ngồi tù vì một tội nào đó, kể cả anh
ta không phải là kẻ giết người. Cuối cùng bồi thẩm đoàn đã buộc tội và
tuyên án 10 năm tù dành cho Rulloff tại nhà tù Auburn.
Quãng thời gian ngồi tù không hề dễ chịu chút
nào, nhưng như thường lệ, Rulloff dành thời gian vào việc thu nạp thêm
kiến thức - điều sẽ giúp ích cho anh ta rất nhiều khi ra tù. Những người
quen biết Rulloff đều nhận thấy anh ta là một người cứng nhắc, sẵn sàng
trả đũa những chuyện vụn vặt nhưng lại rất tuân thủ luật chơi và ép
mình phải thực hiện mọi công việc theo luật đưa ra. Rulloff đã tự học
được thêm nhiều điều và suy nghĩ về kế hoạch cho tương lai.
Nguyễn Bình
John Rulloff: Kẻ giết người hay thiên tài - Kỳ 5: Lọt lưới pháp luật
Trong 10 năm Rulloff bị giam cầm, việc
tìm kiếm thi thể của Harriet và Priscilla vẫn tiếp tục. Năm 1856, khi
Rulloff đang mong đợi ngày mãn hạn tù thì lại có lệnh của tòa gửi đến vì
nghi ngờ anh ta liên quan đến cái chết của Harriet. Cảnh sát đưa
Rulloff trở lại Ithaca. Tại đây, Rulloff đã tranh cãi với luật sư quận
John A. Williams rằng, đây là hành động kết án kép, nghĩa là xử án hai
lần cho một tội danh. Và luật sư Williams đã buộc phải dừng việc truy
cứu Rulloff. Tuy nhiên, trước phản ứng mạnh mẽ của dư luận, Williams lại
đưa ra một bản cáo trạng khác, liên quan đến cái chết của Priscilla.
Rulloff một mực cho rằng mình vô tội, và đề nghị thay đổi nơi xử án của
luật sư bào chữa cho Rulloff được chấp thuận. Phiên tòa sau đó diễn ra
tại Owego, quận Tioga, New York.
Thành phố Ithaca, nơi Rulloff lẩn trốn sau khi vượt ngục
Trong
lúc Rulloff đang ở tù, các cơ quan chức năng đã rất cố gắng để tập hợp
bằng chứng. Họ đã lần theo mọi di chuyển của Rulloff, kể từ lúc anh ta
rời ngôi nhà chung sống cùng vợ con. Những chiếc vali mà Rulloff mang
theo được tìm thấy ở Chicago, bên trong có quần áo dành cho trẻ nhỏ.
Ngoài ra, còn có những bằng chứng về tâm lý. Những lời nói dối, những
lần trốn tránh, những câu chuyện bịa đặt, những bí danh khác nhau và
thái độ cư xử khác thường của Rulloff đều được sử dụng để chống lại anh
ta.
Tại phiên tòa này,
tuy thừa nhận rằng sự biến mất của ai đó chưa đủ là bằng chứng kết luận
nghi phạm giết người, bồi thẩm đoàn đã nghiên cứu tình huống liệu một
người đó có thể bị buộc tội giết người khi không có xác nạn nhân hay
không - một vấn đề pháp lý gai góc vào thời bấy giờ. Daniel Dickenson,
công tố viên tại tòa tranh luận rằng, chỉ cần chứng cứ gián tiếp là đủ,
cho dù không có xác nạn nhân. Và trong lúc bồi thẩm đoàn vẫn còn tranh
luận về điểm này thì Rulloff được dẫn trở lại nhà tù. Ở đó, Rulloff biết
rằng tòa án đã ủng hộ cho một phán quyết có tội, và anh ta sẽ tiếp tục
bị giam giữ để chờ tuyên án.
John Rulloff.
Trong
thời gian này, Rulloff làm quen với Albert Jarvis, 16 tuổi, con trai
người cai tù. Sau này, Jarvis đã trở thành quân bài quan trọng trong các
kế hoạch của Rulloff. Bố mẹ của Javis không chút băn khoăn khi người tù
này dạy con trai của họ học tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp cổ. Họ cho
rằng, Rulloff là người có học thức, cho dù anh ta có thể là một kẻ giết
người và hành vi của Rulloff không có khả năng ảnh hưởng tới con trai
họ. Rõ ràng, họ đã đánh giá thấp thủ đoạn của một tên sát nhân có vấn đề
về thần kinh.
Rulloff
đã dành nhiều thời gian cho Jarvis, người sau này coi hắn ta như cha
mình. Rulloff cũng tìm cách lấy lòng cha Javis bằng việc viết cuốn tiểu
sử cho ông này và dần chiếm được tình cảm của mẹ Javis (còn có tin nói
rằng người phụ nữ này đã phải lòng Rulloff).
Mùa
xuân năm 1857, Rulloff trốn khỏi nhà tù. Một việc dường như không thể -
thoát khỏi một sợi xích quanh chân và 8 chiếc khóa cửa - nếu không có
được sự trợ giúp từ bên trong.
Một
phần thưởng trị giá 500 USD ngay lập tức được đưa ra cho ai bắt được
Rulloff. Tờ rơi thông báo nhận dạng của Rulloff được rải khắp quận. Một
tờ báo địa phương đưa tin, có một người khách đến thăm tù nhân đã đưa
cho Rulloff một khoản tiền lớn. Jarvis cũng xác nhận có một người khách
đến thăm và hỏi nhiều điều về Rulloff. Thế rồi, cha của Jarvis bị sa
thải. Jarvis bị truy tố vì đã giúp đỡ Rulloff bỏ trốn. Phần thưởng được
tăng lên 1.250 USD.
Không
may cho Rulloff, trong quá trình lẩn trốn, hắn đã vô tình lọt vào một
tấm ảnh của một người nào đó và bị nhận ra là kẻ đang bị truy nã. Hóa ra
Rulloff vẫn chưa rời Ithaca.
Chẳng
bao lâu sau, Rulloff di chuyển về phía tây, tới Ohio. Phát hiện ra kẻ
bị truy nã, một nhóm nông dân đã vây bắt Rulloff. Hắn cố thuyết phục
những người nông dân là họ đã nhầm, song không ai tin, hơn nữa họ muốn
được nhận tiền thưởng. Rulloff chống trả không nổi, bị nhóm nông dân
giao cho cảnh sát Ithaca. Biết không trốn được, Rulloff đành quay trở
lại phòng giam trước kia của mình với những ổ khóa đã được trang bị chắc
chắn hơn.
Chưa thể kết
tội Rulloff giết vợ con, các công tố viên chuyển sang điều tra nghi án
Rulloff đã đầu độc Amelia Schutt, chị dâu của vợ và con cô này. Tử thi
của Amelia Schutt được khai quật để kiểm tra. Người ta đã phát hiện ra
lớp cặn đồng có trên các mô và khẳng định chất này được đưa từ ngoài vào
cơ thể của Amelia Schutt. Nhưng rốt cuộc, cuộc điều tra này cũng chẳng
đi đến đâu. Ngoài những tin đồn và sự nghi ngờ, cái chết của mẹ con
Amelia Schutt không bao giờ có thể quy tội được cho Rulloff.
Đầu
năm 1859, một phiên tòa mới lại được mở ra để xét xử Rulloff. Tuy
nhiên, công tố viên hiểu rằng, gần như không có hy vọng nào cho một kết
quả khác, bởi vì họ không tìm được bằng chứng mới. Rulloff lại thoát tội
một lần nữa. Sau khi Rulloff được tự do, Jarvis đã tìm đến hắn hòng
kiếm tiền cho mẹ và bản thân.
Nguyễn Bình
John Rulloff: Kẻ giết người hay thiên tài - Kỳ cuối: Học vấn của kẻ sát nhân
Rulloff
chuyển đến Pittsburgh, tự xưng là một học giả đến từ Oxford và kiếm
được một chân dạy học. Nhưng chẳng bao lâu sau, anh ta trở lại New York
cùng Jarvis thực hiện một số vụ trộm cắp vặt. Rulloff lãnh án hai năm tù
vì tội trộm cắp và trong thời gian này đã gặp William T. Dexter, cũng
là một tên trộm đang chịu án.
Lệnh treo cổ Rulloff.
Ra tù, Rulloff, Javis và Dexter nhập thành một hội.
Javis và Dexter mới 20 tuổi nên cả nhóm trông chờ vào tuổi tác, kinh
nghiệm và trí thông minh của Rulloff để vạch ra những kế hoạch làm ăn.
Một trong số đó là vụ trộm cửa hàng nhà Halbert ở Binghamton.
Vụ trộm đó là một thất bại với ba mạng người, Rulloff không chết nhưng phải chịu nhiều áp lực.
Phiên tòa xét xử Rulloff được mở lại vào ngày
4/1/1871. Thông tin đăng kín trên tờ New York Times và mỗi ngày có tới
2.000 người tới theo dõi phiên tòa, gấp đôi sức chứa của phòng xử án. Rõ
ràng, câu chuyện về Rulloff đã lan xa, thậm chí thu hút cả sự quan tâm
của báo chí nước ngoài. Rulloff bị buộc tội trộm cắp và giết người cấp
độ một. Bản án dành cho Rulloff là treo cổ vào ngày 3/3/1871.
Bộ óc của Rulloff ngâm trong phoócmôn.
Khi trở lại nhà tù, Rulloff tiếp tục thu hút sự tò mò
của nhiều người. Anh ta được cho là có trí tuệ phi thường, thậm chí một
số học giả muốn trao đổi thư từ với Rulloff. Ngày qua ngày, tên tuổi
của Rulloff càng lan xa. Nhiều người tò mò về cái gọi là lý thuyết ngôn
ngữ của Rulloff. Người ta đổ đến nhà tù chỉ để nhìn thấy anh ta, trong
khi Rulloff tối ngày viết lách và nghiền ngẫm sách vở cứ như không gì có
thể quấy rầy anh ta.
Thậm chí cả lúc cảnh sát trưởng thông báo thi
hành án treo cổ, Rulloff vẫn đang bận giải thích những ý tưởng của mình
cho các phóng viên. Do vậy, không ít nhà trí thức đặt ra câu hỏi, giữa
việc bị treo cổ và làm nghiên cứu, việc nào thích hợp hơn với Rulloff.
Đánh giá Rulloff là người có chuyên môn cao, một nhà nghiên cứu ngôn ngữ
hoàn hảo, nhiều người đã gửi thư vào tù cho Rulloff nhờ anh ta giúp đỡ
trong công việc nghiên cứu của họ.
Hình ảnh sinh viên y khoa đào xác Rulloff.
Một bài viết đăng trên tờ New York Times khi đó cho
biết, lá thư mà Rulloff gửi tới các nhà lãnh đạo Binghamton là một sự
pha trộn kỳ cục nhất, không tuân theo nguyên tắc nào cả, trong đó thể
hiện sự “sắc sảo, uyên bác” song cũng có cả sự “trái khoáy, láo xược và
tự phụ”.
Rulloff còn viết thư hỏi thăm các học giả và thể
hiện sự quan tâm sau các cuộc tranh luận về việc anh ta nên bị treo cổ
hay nên được sống để làm công tác nghiên cứu. Rulloff cũng đã gợi ý có
vài cuộc phỏng vấn, và trong một cuộc phỏng vấn, anh ta nói “các người
sẽ không thể giết được một linh hồn chưa yên nghỉ”. Rulloff thề rằng,
mọi người sẽ vẫn cảm nhận được sự có mặt của anh ta trên đường phố và
trong các ngôi nhà. Anh ta sẽ mang đến nỗi sợ hãi trong đêm để nhắc nhở
mọi người rằng, họ đã giết nhầm anh ta. Rulloff khẳng định với luật sư
rằng, anh ta là người hy sinh hết mình cho sự nghiệp khoa học nhưng đã
bị đổ tiếng xấu.
Cuối cùng, ngày hành quyết đã tới. Ngày
18/5/1871, Rulloff được dẫn giải tới giá treo cổ. Đó là một ngày mùa
xuân đẹp trời, mọi người từ khắp nơi đã đổ về để theo dõi vụ hành quyết
Rulloff. Tim của Rulloff ngừng đập vào lúc 11 giờ 40. Đây cũng là vụ
treo cổ công khai cuối cùng ở tiểu bang New York.
Thi thể của Rulloff được chôn tại một nghĩa
trang, nhưng sau này đã bị một số sinh viên y khoa đào lên (nó được tìm
thấy trên cánh đồng của một người thợ gốm). Nghiên cứu bộ óc của
Rulloff, Tiến sĩ Burt phát hiện ra Rulloff là kiểu người có xu hướng
phạm tội và thổi phồng thực tế cho phù hợp với lý thuyết của mình. Với
kích cỡ tương đương với bộ não của nhiều thiên tài, bộ não của Rulloff
nặng khoảng 1,7 kg - nặng hơn hầu hết những bộ não nam giới trưởng
thành.
Cuối cùng, bộ não của Rulloff đến tay Burt Green
Wilder - một nhà nghiên cứu sinh vật học tại Đại học Cornell, từng là
bác sĩ phẫu thuật trong cuộc nội chiến Mỹ. Green Wilder bắt đầu sưu tầm
não người từ năm 1889, nhằm tìm hiểu xem liệu sự khác nhau về kích cỡ,
hình dạng, đặc tính hóa học, hoặc trọng lượng có thể ảnh hưởng thế nào
đến các hành vi nhất định hoặc các loại tính cách, kể cả bệnh tâm thần.
Vào lúc đỉnh cao, bộ sưu tập của ông có 600 mẫu vật. Sau này, nhiều mẫu
vật đã bị bỏ đi, tuy nhiên bộ não của Rulloff vẫn được giữ lại cho đến
ngày nay. Nó được bảo quản bằng phoócmôn và ngâm trong bình thủy tinh.
Một điều đặc biệt nữa là, sau khi Rulloff bị treo
cổ, tờ New York Times đã đăng một bài viết cho biết, con gái của
Rulloff đã được tìm thấy và vẫn sống khỏe mạnh. Priscilla được người em
trai của Rulloff nuôi nấng ở Pennsylvania đã là một cô gái 25 tuổi, đang
điều hành một khách sạn. Cô cứ ngỡ Rulloff là bác của mình và suốt
nhiều năm qua cô đã nhận được nhiều quà tặng từ Rulloff.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét