KÝ ỨC CHÓI LỌI 102 (Trận Ấp Bắc)

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
TRẬN ẤP BẮC – Cái Kết Đắng Cho Quân Lực VNCH Dưới Sự Chỉ Huy Của HUỲNH VĂN CAO, BÙI ĐÌNH ĐẠM
TRẬN ẤP BẮC – Cái Kết Đắng Cho Quân Lực VNCH Dưới Sự Chỉ Huy Của HUỲNH VĂN CAO, BÙI ĐÌNH ĐẠM Trận Ấp Bắc là một chương lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam diễn ra vào ngày 2 tháng 1 năm 1963, gần Ấp Bắc thuộc tỉnh Mỹ Tho lúc bấy giờ ( nay là Tiền Giang). Tại đây quân lực VNCH dưới sự chỉ huy của tướng Huỳnh Văn Cao đã nhận được một bài học lịch sử khó quên. Mời các bạn cùng vsgt theo dõi trận này 

Chiến thắng Ấp Bắc oanh liệt (2-1-1963)

Cập nhật: 11:32, 27/12/2013 (GMT+7)
Vài nét về địa hình, địa vật và nhân dân trận Ấp Bắc
Ấp Bắc là tên gọi của hai ấp thuộc xã Nhị Bình và xã Dưỡng Điềm (huyện Châu Thành), nằm giáp ấp Tân Bình thuộc xã Tân Phú (Cai Lậy). Trận đánh càn diễn ra trên một diện rộng nhưng mặt trận chủ yếu diễn ra ở ấp Tân Bình và ấp Tân Thới thuộc xã Tân Phú. Do các hãng thông tấn phương Tây đưa tin ngay từ đầu địa danh trận đánh là Ấp Bắc và trở thành tên gọi phổ biến được cả người trong nước và nước ngoài biết đến, chúng ta đã thống nhất với tên gọi này.
Xã Tân Phú nằm về phía bắc lộ số 4 (nay là quốc lộ 1), cách thành phố Mỹ Tho khoảng 17km đường chim bay. Phía đông giáp các xã Nhị Bình, Mỹ Phước (huyện Châu Thành) và cách kinh Nguyễn Tấn Thành khoảng 3km. Phía tây giáp các xã Mỹ Hạnh Đông, Tân Hội (huyện Cai Lậy) và cách lộ Kinh 12 khoảng 7km. Phía bắc giáp thị trấn Mỹ Phước và xã Phước Lập (huyện Tân Phước ngày nay) và cách kinh Nguyễn Văn Tiếp khoảng 2km. Phía nam giáp các xã Điềm Hy, Dưỡng Điềm (huyện Châu Thành) và cách quốc lộ 1 khoảng 4km.
Khi diễn ra trận Ấp Bắc, Tân Phú là một xã nhỏ của huyện Cai Lậy, diện tích 7,6km2, dân số lúc bấy giờ có khoảng 4.000 người. Kinh rạch hẹp, cạn, ghe lớn không đi được. Đường bộ chủ yếu là đường mòn dành cho người đi bộ. Vườn cây, nhà cửa nằm theo kinh rạch, vườn chỗ rộng nhất khoảng 250-300m, chỗ hẹp khoảng 15-20m, đôi chỗ bị đứt quảng chỉ có bờ kinh trống trải.
Riêng hai ấp Tân Bình và Tân Thới, chiều dài mỗi ấp hơn 1km, nằm trên con rạch bề ngang khoảng 7m, hình thành một vòng cung từ ngã tư Miếu Hội phía bắc đến cầu Ông Bồi phía Nam, cách nhau một quãng trống độ 300m. Đặc điểm địa hình riêng của hai ấp thì phía đông ấp Tân Bình và phía nam ấp Tân Thới là đồng bưng sình lầy. Và xung quanh hai ấp là đồng trống, từ hai ấp này muốn sang các ấp khác phải qua khoảng đồng trống từ 500 đến 1.000m. Địa hình này rất thuận lợi cho địch sử dụng máy bay trực thăng, xe M113 và phi pháo tiêu diệt lực lượng ta nếu ta “trốc công sự” rút lui.
Xã Tân Phú không có đồn bót, nằm trong vùng giải phóng liên hoàn 8 xã thuộc huyện Cai Lậy và Châu Thành giáp ranh Đồng Tháp Mười. Nhân dân ở đây có truyền thống cách mạng lâu đời, là một trong những “ổ cộng sản” từ những năm 1930-1940 và 9 năm kháng chiến chống Pháp, 6 năm đấu tranh chống ách kềm kẹp Mỹ - Diệm và phong trào nổi dậy đồng khởi 1960.
Xã có chi bộ Đảng với 16 đảng viên, có chi đoàn, có đội du kích 21 tay súng và một số tổ chức khác. Thế hợp pháp cách mạng của nhân dân vững mạnh, địch càn vào không chạy mà ở lại đấu tranh, hoặc “tản cư ngược” cũng nhằm đấu tranh với địch.
Bom pháo địch xối xả đêm ngày nhưng quân và dân Ấp Bắc vẫn quyết tâm thu hoạch vụ mùa.
Bom pháo địch xối xả đêm ngày nhưng quân và dân Ấp Bắc vẫn quyết tâm thu hoạch vụ mùa.
Lực lượng ta trong trận Ấp Bắc
Đêm 31-12-1962, đại đội 1 tiểu đoàn 514 và đại đội 1 Tiểu đoàn 261 từ Cống Quế (xã Mỹ Hạnh Đông) chuyển về đóng quân tại Ấp Bắc, dự định đêm 1-1-1963 đi phá  “ấp chiến lược” Giồng Dứa thuộc xã Tam Hiệp (huyện Châu Thành) và hành quân về đóng ở kinh Năng thuộc xã Long Định (huyện Châu Thành), chuẩn bị đón đánh địch càn vào đây sau khi “ấp chiến lược” Giồng Dứa bị phá. Nhưng do có một đơn vị bạn từ miền Tây trên đường hành quân về Trung ương Cục đã đóng quân ở kinh Năng nên hai đại đội của ta quay lại đóng quân theo đội hình cũ tại Ấp Bắc.
- 2 đại đội bộ binh (c1/d 514 địa phương quân tỉnh, c1/d 261 chủ lực Khu), 1 trung đội trợ chiến của tiểu đoàn 261, 2 tiểu đội đặc công của đại đội 3 (tiểu đoàn 261), tổ chức thành tiểu đoàn ghép do đ/c Hai Hoàng, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 261 chỉ huy.
- 1 trung đội bảo vệ căn cứ tỉnh và 2 tổ công binh thủy săn tàu bảo vệ căn cứ.
- 1 trung đội địa phương quân huyện Châu Thành.
- Du kích các xã Điềm Hy, Tân Phú, Tân Hội gồm khoảng 30 đồng chí.
Đặc điểm của từng đơn vị:
- Đại đội 1 tiểu đoàn 261 được thành lập tháng 2-1961 do lực lượng các tỉnh trong Khu đưa về. Cán bộ, chiến sĩ có thành tích, có kinh nghiệm chiến đấu từ kháng chiến chống Pháp, trước đồng khởi và trong đồng khởi 1960-1961.
Đầu năm 1962 phục kích tiêu diệt gọn 3 đại đội lính bảo an ở Gò Công là chiến công vang dội nhất của đơn vị này. Đại đội được trang bị mạnh sau trận Gò Công. Tất cả đều là súng lấy được của Mỹ nên có nhiều đạn. Súng trường cơ số 100 viên. Mỗi tiểu đội có 1 trung liên, 2 ga-răng (súng trường tự động), 2 tôm-xông (tiểu liên), 1 mát 36, 3 trái đạn tôm bông, 2 súng trường hoặc các-bin.
Đơn vị có kinh nghiệm chiến đấu đánh phục kích, tập kích, kỳ tập, chưa có kinh nghiệm đánh càn lớn với chiến thuật mới của địch. Sau trận Trại Lòn, đại đội 3, tiểu đoàn 261 bị thiệt hại nặng, đơn vị ngại đánh càn, nhưng được củng cố bằng kinh nghiệm 3 trận đánh càn thắng lợi của đại đội 1 tiểu đoàn 514 và được hội nghị Quân khu tháng 11-1962 truyền đạt quyết tâm đứng lại đánh càn nên đơn vị đã cơ bản giải quyết tư tưởng ngán ngại đánh càn.
- Đại đội 1 tiểu đoàn 514 được thành lập từ trung đội vũ trang tuyên truyền của tỉnh, có thành tích và kinh nghiệm chiến đấu kết hợp đấu tranh chính trị, binh vận, tập kích sát đồn bót địch trong những năm 1960, 1961 và 1962. Đặc biệt đơn vị được tổ chức bằng việc tập hợp, lựa chọn cán bộ chiến sĩ và vũ khí từ những đơn vị bộ đội địa phương huyện sau một năm đồng khởi, nên chiến sĩ đều có kinh nghiệm chiến đấu và trang bị tương đối khá. Mỗi tiểu đội có 1 trung liên, 1 ga-răng, 1 tôm-xông, 6 súng trường hoặc các-bin.
Đơn vị từng đánh càn từ tháng 6-1960 tại kinh Cọp Rằn Núi, diệt trên 200 tên địch và rút lui bảo toàn lực lượng. Tháng 9-1962 đánh thắng 3 trận càn tại Cả Nai, Cầu Sập, Cầu Vông. Cán bộ chiến sĩ không sợ đánh càn, có kinh nghiệm xuất kích trong trận đánh càn.
- Các đơn vị khác và du kích xã trước nay chưa có kinh nghiệm đánh càn tập trung thành mặt trận mà chỉ đánh phân tán lẻ tẻ rồi rút lui tránh né, nhưng trận này dựa vào đại đội 1 tiểu đoàn 261 và đại đội 1 tiểu đoàn 514 nên nói chung tin tưởng vào việc đánh càn thắng lợi.
Đến thời điểm này việc chuẩn bị đánh càn của bộ đội vũ trang tập trung đã thành nền nếp. Bộ đội đóng quân ở đâu cũng phải đào công sự, tổ chức hiệp đồng tác chiến, tổ chức thường trực chiến đấu, sáng ăn cơm sớm, 5 giờ ra công sự sẵn sàng chiến đấu đến 8 giờ mới vô nhà dân, nhưng phải để lại những tổ trực chiến suốt ngày ở công sự.
Về đóng ở Tân Phú đợt này chỉ có đồng chí Hai Hoàng, tiểu đoàn trưởng chỉ huy. Tiểu đoàn bộ và BCH tiểu đoàn còn đang chỉnh huấn ở căn cứ Hưng Thạnh (huyện Châu Thành).
Tiểu đoàn đã bố trí đóng quân và tổ chức hợp đồng tác chiến như sau:
Đại đội 1 tiểu đoàn 261 và bộ phận trợ chiến đóng tại ấp Tân Bình (Ấp Bắc) từ xóm Hội đồng Vàng đến mả ông Nguyễn Văn Tiếp.
Đại đội 1 tiểu đoàn 514 đóng tại ấp Tân Thới, cách  ấp Tân Bình một khoảng trống 300m. Đồng chí tiểu đoàn trưởng (Hai Hoàng) đặt chỉ huy sở tại nhà ông Mười Sử, nằm trong đội hình của đại đội 1 tiểu đoàn 514, dựa vào trinh sát liên lạc của đơn vị này làm phương tiện chỉ huy.
Chiến sĩ Tiểu đoàn 514 đánh trận Ấp Bắc.
Chiến sĩ Tiểu đoàn 514 đánh trận Ấp Bắc.
Lực lượng địch trong trận Ấp Bắc
Về phía địch, chúng đã phát hiện có đơn vị ta về đóng quân tại đây từ ngày 31-12-1962, nhưng có lẽ vì chưa hoàn chỉnh việc chuẩn bị, trong khi bọn sĩ quan, binh lính bận ăn tết dương lịch, nên đến ngày 2-1-1963 chúng mới mở trận càn. 23 giờ đêm 1-1-1963, địch được tin chắc chắn là có đơn vị của ta đóng quân chỗ cũ. Chúng quyết định mở cuộc tấn công đầu năm lấy tên là cuộc hành quân “Đức Thắng 01-1963”. Lực lượng địch trong trận Ấp Bắc như sau:
Bộ binh: 3 tiểu đoàn của Sư đoàn 7, 2 đại đội biệt động quân, 4 đại đội lính bảo an biệt kích, 4 đại đội lính bảo an tỉnh, 3 đại đội dân vệ biệt kích, 1 tiểu đoàn lính dù.
- Tàu xe: 3 tàu gồm FOM, LCVP, LCM, 13 xe lội nước M.113.
- Máy bay: 2 chiếc B26, 6 chiếc khu trục, 4 chiếc L19, 14 chiếc C47, 20 máy bay trực thăng gồm: 10 chiếc H21, 5 chiếc H34, 5 chiếc HU1A.
- Pháo, cối: 6 khẩu pháo 105 ly, 4 khẩu cối 106, 7 ly. Bộ chỉ huy hành quân gồm có:
- Chỉ huy trưởng hành quân đóng tại sân bay Thân Cửu Nghĩa (Chi khu Tân Hiệp) do đại tá Bùi Đình Đạm chỉ huy; cố vấn cuộc hành quân là thiếu tá John Paul Vann, cố vấn của Sư đoàn 7 ngụy.
Sau khi trận chiến nổ ra có Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh Quân đoàn 4, đến vào lúc 9 giờ sáng. Đại tướng Lê Văn Tỵ đến lúc 3 giờ chiều.
- Chỉ huy trực tiếp mặt trận chính do Thiếu tá Lâm Quang Thơ, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Định Tường đóng ở Thuộc Nhiêu (xã Dưỡng Điềm).
- Thiếu tá Tươi, tỉnh phó nội an, chỉ huy pháo binh đóng ở Lộ 33.
- Thiếu tá Bách chỉ huy trực thăng đổ bộ đóng ở khu di cư Long Định.
Trực thăng Mỹ đổ quân.
Trực thăng Mỹ đổ quân.
Diễn biến trận đánh
Từ 1 giờ sáng ngày 2-1-1963, địch hình thành 3 mặt bao vây vòng rộng như sau:
Cánh 1: Tàu từ Mỹ Tho vào kinh Nguyễn Tấn Thành qua Long Định vô đến kinh 3 lúc 4 giờ sáng, chạy vòng theo cản kinh 3, qua chùa Phật Đá, đến cống Bà Kỳ đổ đại đội biệt động quân.
Cánh 2: 1 đại đội lính bảo an, 1 đại đội dân vệ biệt kích từ lộ kinh 12 băng đồng đến phục kích ở Xóm Chòi xã Mỹ Hạnh Trung lúc 6 giờ sáng.
Cánh 3: 1 đại đội dân vệ biệt kích phối hợp với lính bót Tân Hội, Nhị Mỹ phục kích dọc theo Giồng Lắm xã Tân Hội.
Cánh 4: 1 trung đội lính bảo an, 1 đại đội dân vệ biệt kích vô Gò Lũy đến án ngữ ở Cầu Sao lúc 6 giờ 30 phút sáng.
Đến 6 giờ 30 phút sáng ngày 2-1-1963 địch hoàn thành kế hoạch bao vây vòng rộng ở các mặt: Cà Dâm, Cống Bà Kỳ, Xóm Chòi, Tân Hội, Gò Lũy. Song song với việc bủa lưới bao vây vòng rộng chúng bủa lưới trên lộ 4 một số quân để tiến hành các cánh đánh vào xã Tân Phú.
Khoảng 5 giờ 30 phút sáng 2-1-1963, một máy bay trinh sát từ sân bay Thân Cửu Nghĩa bay đến đảo nhiều vòng trên vùng trời Ấp Bắc. Sau đó, cũng từ Thân Cửu Nghĩa 15 máy bay trực thăng có máy bay trinh sát dẫn đường và 3 máy bay khu trục yểm trợ bay đến đổ hơn 1 đại đội bộ binh thuộc tiểu đoàn 2 sư đoàn 7 ngụy tại khoảng đồng trống giữa cống Bà Kỳ và kinh Đào. Cùng lúc đó, từ lộ đất Dưỡng Điềm (thẻ 24) có hai cánh quân địch, một cánh tiến theo phía đông rạch Ấp Bắc kéo vào xóm chùa Thầy Lơ, một cánh tiến theo phía tây rạch Ấp Bắc kéo vào xóm Hội đồng Vàng thuộc xã Tân Phú.
Kế đó, chuyến máy bay trực thăng thứ hai đến đổ hơn 1 đại đội chỗ chuyến thứ nhất. Như thế quân số ở đây đã lên tới 3 đại đội (thuộc tiểu đoàn 2 trung đoàn 11 sư đoàn 7 ngụy).
Lúc này, ở đội hình trung đội 3 của đại đội 1 tiểu đoàn 261 có 15 du kích xã và 1 số thanh niên chạy đến, kế đó là trung đội địa phương quân huyện Châu Thành rút vào, gặp trung đội 3 của tiểu đoàn 261 liền bố trí tiếp giáp để cùng chiến đấu.
Đợt 1: Đánh bộ binh địch
Khoảng 6 giờ 30 phút, cánh quân địch từ thẻ 24 tiến vào, đi theo lộ đất và các bờ ruộng. Khi còn cách trung đội 3 tiểu đoàn 261 độ 30m, chúng thấy địa phương quân và du kích lấp ló ở đầu vườn phía phải liền xả súng bắn và tiến vào phía đó. Còn một tốp hơn 1 trung đội đâm vào trung đội 3/261. Trung đội 3 nổ súng toàn mặt trận. Địa phương quân Châu Thành đánh vào sườn địch. Chúng chạy tán loạn, chết và bị thương hơn 1 trung đội. Địch lùi lại xóm Hàng Xáo, bám vào mương vườn chống trả lại và kêu pháo bắn vào đội hình ta.
Pháo địch từ thẻ 33 bắn vào phía sau trung đội 3/261 trên 50 quả, hai máy bay khu trục đến bắn và ném bom từ cầu Ông Bồi dài vô mả Ông Tiếp. Từ sân bay Thân Cửu Nghĩa 15 chiếc máy bay trực thăng lại chở quân đến xóm Bàu Chảo đổ 1 đại đội bộ binh. Có 6 xe M.113 từ thẻ 33 vào yểm trợ. Cánh quân từ máy bay trực thăng đổ xuống băng đồng tiến vô Miễu Hội, nhập với bọn đổ bộ hai lần trước.
Với tình hình phi pháo địch bắn phá dữ dội ở phía sau trung đội 3/261 và toàn trận địa của đại đội 1/261, Ban Chỉ huy đại đội nhận định, địch có thể đổ bộ bằng trực thăng để vào chiếm lĩnh trận địa của trung đội 3/261. Ban Chỉ huy đại đội hạ lệnh cho toàn đại đội chuẩn bị đánh trực thăng, phổ biến chiến thắng của trung đội 3 và báo cáo về đồng chí tiểu đoàn trưởng để động viên các đơn vị bạn.
Đợt 2: Đánh máy bay trực thăng
Đúng như phán đoán của ta, qua đợt pháo dập lần thứ ba, địch cho 15 máy bay trực thăng từ sân bay Thân Cửu Nghĩa bay về hướng chùa Phật Đá, vòng qua Miễu Hội, bay ngang đại đội 1/514 và sà xuống đổ quân trước mặt đại đội 1/261 để đánh vào sau lưng trung đội 3/261.
Khi máy bay trực thăng bay ngang đại đội 1/514, trung đội trợ chiến và trung đội 2/261, toàn trận địa đều nổ súng vào máy bay trực thăng. Nhưng 3 chiếc đã bay vượt qua lưới đạn, đến chiếc thứ tư, thứ năm, thứ sáu thì cả ba đều bị bắn rơi. Số còn lại không dám hạ xuống đổ quân mà bay đảo trước trận địa của đại đội 2/261 và tiếp tục bị bắn, phải chuồn thẳng về sân bay Thân Cửu Nghĩa, nhưng có hai chiếc bay đến Cà Dâm và Bàu Rô thì bị rơi.
Số quân trên 3 chiếc trực thăng đầu tiên đổ xuống bị ta bắn chết một số tên. Số còn lại cùng với số sống sót trên 3 chiếc bị bắn rơi chạy dạt ra đồng, bám lấy bờ ruộng để chống cự. Độ 5 phút, chúng lại kéo vào chân vườn phía bắc xóm Hội đồng Vàng. Ta bắn 3 quả đạn cối vào bọn này, chúng hoảng hốt chạy sang phía tây, nhập bọn với cánh quân từ thẻ 25 vào đang dàn quân ở đây.
Ban Chỉ huy đại đội 1/261 định cho một bộ phận xuất kích thu vũ khí, đốt máy bay trực thăng, nhưng đơn vị được phân công không hoàn thành nhiệm vụ. Tin bắn rơi 3 máy bay trực thăng được báo cáo cho đồng chí tiểu đoàn trưởng và từ đây được thông báo cho các đơn vị trong toàn mặt trận, đã động viên mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ.
Đối phó với mặt trận này, địch điều 3 đại đội lính bảo an của cánh thẻ 25 dàn ở phía tây xóm Hội đồng Vàng cấp tốc đến giải vây cho số quân còn sống sót và bảo vệ số máy bay trực thăng bị rơi; đồng thời cho 5 chiếc HU1A bắn hỏa tiển và pháo từ Long Định, từ thẻ 33 bắn xối xả vào trận địa để không cho ta xung phong đốt trực thăng.
Cánh quân thẻ 25 đến giữ trực thăng, sau mỗi đợt phi pháo, chúng lại tổ chức xung phong chiếm địa hình của trung đội 3/261. Nhưng tất cả đều bị ta đánh bật ra ngoài đồng.
Không chiếm được trận địa của đại đội 1/261, chúng liền cho cánh quân đổ bộ trực thăng ở ấp Mỹ Thành (xã Mỹ Phước) định đánh chiếm ấp Tân Thới, nơi đại đội 1/514 đang phục quân. Ý đồ của địch là chiếm được ấp này xong chúng sẽ đánh sườn đại đội 1/261.
Đợt 3: Đánh bộ binh ở ấp Tân Thới
Khoảng 9 giờ, địch cho 4 đại đội bộ binh đánh vào ấp Tân Thới, đi đầu là 1 đại đội, chúng không phát hiện phục quân của ta nên chủ quan đưa quân qua sông, rồi chia làm ba mũi đi dọc trên 3 bờ ruộng tiến vào trận địa của trung đội 3/514. Khi địch đến cách ta độ 20m, ta đồng loạt nổ súng. Lực lượng địch bị rối loạn, chết và bị thương hơn 1 trung đội.
Địch điều thêm 1 đại đội kết hợp với số còn sống sót bám mương, đìa, nổ súng dữ dội vào phía ta, tổ chức tấn công chiếm địa hình của ta. Chúng phát hiện ta ở đây không nhiều nên càng quyết tâm chiếm cho được ấp Tân Thới. sau khi được máy bay và pháo binh bắn dọn đường, bộ binh chúng qua sông và tiến vào trận địa của ta. Nhưng liên tiếp 3 lần tấn công đều bị ta đánh bật trở lại, đành bám bờ rạch bắn kềm chế không cho ta xung phong thu vũ khí.
Vào lúc 12 giờ ta phát hiện có xe lội nước địch từ phía kinh Cộng Hòa băng vào hướng trận địa của đại đội 1/261. ban chỉ huy đại đội ra lệnh cho cán bộ, chiến sĩ củng cố lại công sự chuẩn bị đánh xe địch.
Lúc này, trên toàn mặt trận, các cánh bao vây vòng rộng của địch đều nằm êm. Tinh thần binh lính địch hoang mang, có đơn vị tự động thỏa thuận với sĩ quan, bắn hư điện đài để không nhận lệnh của cấp trên. Qua nhiều lần tấn công đánh chiếm hai ấp Tân Bình và Tân Thới bằng bộ binh đều không thành công, bọn chỉ huy địch quyết định dùng xe lội nước M113 mở mũi đột phá.
Đợt 4: Đánh xe lội nước
Khi phát hiện xe lội nước phía kinh Mới, đại đội trưởng đại đội 1/261 hạ lệnh cho đơn vị: “Thà chết quyết không rời công sự”.  Xe địch đâm ngay vô hướng ta bố trí súng đại liên. Còn cách ta độ 500m, chúng dừng xe lại và bắn xối xả vào đội hình của ta. Rồi chạy tiếp khoảng 300m lại dừng lại bắn. cứ thế cho đến khi xe địch còn cách ta độ 150m, đại liên ta mới nổ súng. Một số tên trên xe bị chết, có cả những tên xạ thủ. Chúng chạy dạt sang phải, tránh hỏa lực trực diện của đại liên ta.
Lần tấn công thứ hai chúng cũng dùng 2 xe nhưng chuyển hướng tấn công từ phía cầu Ông Bồi, đánh vào trận địa của trung đội 2/261. hỏa lực chính của trung đội này là trung liên. Tuy hỏa lực ta không mạnh bằng đợt chống trả trước, nhưng do ta tiếp tục diệt được một số tên trên xe nên chúng cũng lùi lại, gọi phi pháo dọn đường tiếp.
Địch thay xe khác và tổ chức xung phong lần thứ ba. Lần này chúng tấn công bằng 5 xe, chia làm 3 mũi. Bộ binh đi theo xe. Chúng thổi kèn và gào thét xung phong để áp đảo tinh thần chiến sĩ ta.
Ta chờ xe địch đến còn cách khoảng 30m mới đồng loạt nổ súng, dùng cả đạn trôm-lông bắn thẳng và ném thủ pháo vào xe địch. 2 xe  bị hư nằm trước tiền duyên của ta. Số còn lại chạy dạt ra xa. Bên ta có 3 đồng chí hy sinh, 1 đồng chí bị thương và khẩu trung liên bị hỏng.
Cay cú vì 3 lần tấn công đều không tiêu diệt được lực lượng ta, bộ binh không chiếm được vườn, trong khi biết rõ ta không có súng chống tăng, bọn chỉ huy địch lại hò hét mở đợt tấn công lần thứ tư, đánh thẳng vào tiểu đội do đồng chí Đừng làm tiểu đội trưởng.
Tiểu đội ta lúc này chưa có người thay thế số đã hy sinh và bị thương, hỏa lực càng yếu nhưng nhờ hỏa lực hai bên của các tiểu đội bạn bắn chi viện, đặc biệt là nhờ 2 quả trôm-lông còn lại của đồng chí Chiến, một tân binh đánh trận đầu tiên, bắn thẳng vào xe địch, ta đã đẩy lùi được đợt tấn công này của địch.
Cứ sau mỗi đợt xung phong bị ta đẩy lùi thì pháo, máy bay lại bắn, ném bom vào địa hình của ta hàng trăm quả 105 ly, hàng chục hỏa tiễn, hàng tấn bom các loại. Tiểu đội của đồng chí Đừng sau trận đánh này được nhân dân phong tặng là Tiểu đội Gang Thép.
Trời về chiều, trận địa có phần yên tĩnh. Nhưng qua điện đài, ta biết địch sắp sửa cho quân nhảy dù vào trận địa. Nhảy dù là kiểu tấn công đã cũ, Pháp trước kia từng nhiều lần thực hiện. Nhưng đối với chiến sĩ ta hôm nay thì rất mới, mới hơn cả trực thăng vận. Tuy vậy ai cũng nghĩ là nó sẽ không ghê gớm hơn trực thăng vận, thiết xa vận. Lại nữa, trời đã về chiều, thời gian đang ủng hộ phía ta.
Đợt 5: Đánh quân nhảy dù.
Để hòng làm giảm nhẹ thất bại, địch lại tung tiểu đoàn lính dù thuộc lực lượng tổng trù bị vào trận địa. Khoảng 4 giờ rưỡi chiều 14 chiếc máy bay vận tải C47 đến vùng trời Tân Phú đảo hai vòng, sang vòng thứ ba thì đổ quân nhảy dù xuống khoảng giữa kinh Cộng Hòa, trước mặt trận trung đội 2 và trùm lên trung đội 1/514. Một số tên bị gió tạt đưa qua phía tây cống Bà Kỳ.
Ban chỉ huy đại đội 1/514 hạ lệnh cho toàn đơn vị sẵn sàng tư thế đánh quân dù, đánh cả khi chúng còn ở trên không. Phần lớn quân dù lọt vào đội hình của trung đội 1, nhiều tên bị bắn chết khi chân chưa chạm mặt đất. Số sống sót rơi trong vườn có 4 tên bị ta tiêu diệt và ta thu được 1 súng ngắn côn 12 ly, 2 khẩu tôm-xông, 1 máy bộ đàm. Số rơi ngoài đồng mở dù tập hợp lại bên những bờ ruộng, rồi theo lệnh bọn chỉ huy tiến vào chiếm địa hình có vườn cây. Nhưng chúng bị trung đội 1/514 đánh bật ra. Những tên sống sót chạy về phía Miễu Hội hoặc dạt ra đồng trống bám trở lại các bờ ruộng.
Ở mặt do trung đội 3 án ngữ, ngay đầu bờ làng Tân Phú, bên cạnh trạm thông tin của xã, ta phục kích và cũng đánh bật quân dù từ ngoài đồng định tiến vô chiếm địa hình.
Ở mặt của trung đội 2, quân dù có số lượng đông, chúng chia làm 3 mũi tiến vào. Bị đánh bật cả ba đợt, cánh quân dù này mới tạm ngừng tấn công.
Vào lúc trời nhá nhem tối, địch lại tổ chức xung phong đợt thứ tư. Khi địch đến cách ta khoảng 30m, chúng bị trung liên và các loại súng khác của ta diệt nhiều tên, bọn sống sót tháo chạy ra đồng.
Nhưng chưa hết, lợi dụng trời tối, địch cho 1 tiểu đội cặp theo bờ ruộng bò vào. Một số chiến sĩ ta vừa đưa chiến thương ra phía sau. Khi trở lại công sự thì phát hiện địch chỉ cách khoảng 10m, ta dùng lựu đạn và tiểu liên quét địch, buộc chúng phải rút lui bỏ chạy một số tên chết và bị thương. Từ đó đến sau cánh quân dù này không tổ chức đợt xung phong nào nữa.
Cánh quân 4 đại đội bộ binh ở phía  bắc ấp Tân Thới, khi thấy máy bay đến đổ quân nhảy dù, chúng cầm cờ hò hét xung phong và bắn vãi đạn về phía ta. Nhưng không đơn vị nào dám tiến tới.
Trong lúc địch đổ quân dù tiến công ta ở ấp Tân Thới, thì ở ấp Tân Bình địch lại cho xe M.113 mở đợt xung phong thứ 5. Nhưng kết cục như Neil Sheehan viết: Mays và Cho còn tổ chức thêm hai đợt tấn công cạnh sườn để cố hạ ổ súng của quân du kích, nhưng cả hai lần xuất quân đều bị đẩy lùi và lại mất thêm hai xạ thủ đại liên 50 và một số xạ thủ súng trường…” (sách đã dẫn, trang 322).
Ban chỉ huy đại đội 1/261 ra lệnh cho các trung đội của đơn vị dồn quân thúc lại đội hình để giữ trận địa chặt chẽ. Khi địch tấn công vào, ta dùng đại liên chống trả, cố gắng bảo toàn lực lượng để đến tối rút đi. Địch chiếm được cầu Ông Bồi và Mả Tháp, nhưng chưa lọt vào sườn.
Sau đợt tấn công này của xe M113, toàn mặt trận ở 2 ấp Tân Thới và Tân Bình đều êm tiếng súng. Trên không chỉ còn một máy bay trinh sát quần đảo.
Ta cho kiểm điểm lại quân số và tất cả tập trung về ấp Tân Thới để chuẩn bị rút quân. Sắp xếp xuồng ghe chở chiến thương, mò các hầm công sự tìm thương binh, tử sĩ. Nhưng phải bỏ lại 3 tử sĩ ở tiểu đội của đồng chí Đừng vì địch đã tới chiếm được nơi các đồng chí hy sinh. Bắt đầu hành quân hồi 22 giờ đến 7 giờ ngày 3-1 về đến địa điểm mới ở xã Hưng Thạnh (huyện Châu Thành).
Phối hợp với quân dân Ấp Bắc
Khi mặt trận Tân Phú nổ súng, Tỉnh ủy – Tỉnh đội qua ra-đi-ô bắt được làn sóng địch điện đàm với nhau, lập tức chỉ đạo đại đội 2/514 phân tán từng trung đội, tiểu đội tấn công vào các căn cứ, đồn bót, ấp chiến lược và tàu địch vận chuyển trên kinh Nguyễn Tấn Thành, gởi công văn hỏa tốc chỉ đạo các huyện đưa lực lượng ba mũi chính trị, vũ trang, binh vận ra tấn công địch theo kế hoạch đã chuẩn bị, mở đợt phá ấp chiến lược liên tục 5 ngày.
Về hoạt động vũ trang trên kinh Nguyễn Tấn Thành, dọc lộ Cổ Chi, chu vi Cao Đài Phú Mỹ, sân bay Thân Cửu Nghĩa, thị trấn Tân Hiệp, thị xã Mỹ Tho, các xã Phước Thạnh, Thạnh Phú, Nhị Bình, Dưỡng Điềm, Vĩnh Kim, Kim Sơn, Song Thuận, Đông Hòa, Long Tiên, Long Khánh, Tam Bình, … ta đều có nổ súng đánh địch hoặc phá “ấp chiến lược”, vũ trang tuyên truyền.
Đáng kể là ta đã dùng thủy lôi tự chế đánh hư và chìm 3 tàu địch trên kinh Nguyễn Tấn Thành, áp sát bắn rơi 2 máy bay trực thăng tại sân bay Thân Cửu Nghĩa lúc chúng cất cánh, hạ cánh, đột nhập thị xã Mỹ Tho bắn đạn trôm- blông vào căn cứ thiết giáp của trung đoàn 2 ngụy.
Về đấu tranh chính trị, cán bộ cơ sở xã, huyện kịp thời lãnh đạo đưa hàng ngàn đồng bào và các gia đình binh sĩ đấu tranh với địch đòi chồng con, đòi bồi thường thiệt hại.
12 giờ ngày 2-1, tại thị trấn Cai Lậy có hơn 200 người, thị xã Mỹ Tho có trên 300 người tràn vào nhà thương, văn phòng quận, tỉnh của ngụy khóc la, lục xác tìm thây chồng con, đòi bồi thường nhân mạng, làm náo động thị xã. Địch đưa công an, cảnh sát bắt bớ, đánh đập một số đồng bào, càng gây thêm sự phẫn nộ trong nhân dân ở thị xã, thị trấn.
Chiến lợi phẩm ta thu được sau trận Ấp Bắc.
Chiến lợi phẩm ta thu được sau trận Ấp Bắc.
Kết quả trận đánh
Thiệt hại của địch, của ta và chiến lợi phẩm ta thu được
Thiệt hại của địch
-    Chết và bị thương 450 tên, trong đó có 13 cố vấn Mỹ (chết 3 tên).
-    3 xe lội nước M113 bị hư hỏng nặng - 8 máy bay trực thăng bị bắn rơi (tại mặt trận 3, các nơi khác 5).
-    1 tàu bị chìm, 2 chiếc bị hỏng.
Thiệt hại của ta
-    12 đồng chí hy sinh, trong đó có 1 tiểu đội trưởng, 1 tiểu đội phó, 1 cứu thương.
-    13 đồng chí bị thương (có 1 trung đội phó).
-    11 người dân chết, 14 người bị thương.
-    29 nhà bị cháy hoặc hư sập. Tính chung thiệt hại về nhà cửa, đồ đạc, trâu bò heo, gà bị chết ước 1 triệu đồng lúc bấy giờ.
-    Chiến lợi phẩm ta thu được:
-    8 súng các loại, 1 máy bộ đàm, trên 100 cây dù và trên 10.000 đạn các loại.
Những quan tài đựng xác binh sĩ Mỹ chết trong trận Ấp Bắc được chuẩn bị đưa về nước.
Những quan tài đựng xác binh sĩ Mỹ chết trong trận Ấp Bắc được chuẩn bị đưa về nước.

Phạm Xuân Ẩn qua mặt quân Mỹ trong trận Ấp Bắc ra sao?

(VTC News) – Với vỏ bọc là phóng viên quốc tế, Phạm Xuân Ẩn đã lập công lớn khi lấy được những báo cáo chiến lược quan trọng góp phần vào chiến thắng Ấp Bắc.
Trước khi Mỹ tăng cường lực lượng ở khu vực xung quanh Củ Chi, Ẩn thường tới căn cứ của Việt Cộng để thảo luận về các báo cáo của ông và nhận nhiệm vụ mới. Ẩn thực hiện các chuyến đi này theo một cách rất lạ.

Ông để ria mép và tóc khá dài nhằm che giấu diện mạo cũng như tạo vỏ bọc cho sự vắng mặt của mình. Ông nói với các đồng nghiệp ở Time rằng 'giáo sư tình dục học' sẽ đi nghỉ ba ngày ở Huế, nơi có nhiều gái đẹp mê vẻ ngoài nghệ sỹ và phong cách lập dị.

'Chuyện để ria mép là tôi học được từ CIO, không phải kỹ thuật để ria mà là nghiệp vụ phát hiện Việt Cộng'
, Ẩn giải thích:

'CIO thường tới Củ Chi dò hỏi người dân xem họ có thấy người lạ nào tới đây không. Nếu người ta thấy tôi rồi miêu tả lại cho CIO thì họ cũng không nhận ra, vì nhân viên CIO khi đó sẽ ghi chú là có một người lạ để ria mép. Trên đó không ai biết tên tôi, nên họ chỉ miêu tả hình dáng'.
Điều gì sẽ xảy ra nếu ai đó ở Sài Gòn nhớ ra rằng ông đã để ria mép, tôi hỏi. Ông cười lớn và nói rằng đến lúc thông tin đó được chuyển xuống Sài Gòn cho CIO và họ đi tìm một ai đó phù hợp với miêu tả, thì ông có thể đã từ Huế về lâu rồi và chẳng ai nghi ngờ chuyện này cả, nhưng nếu thực sự họ nhớ ra chuyện để ria, thì ông có thể đáp:

'Các ông nói gì thế? Tôi không có ria mép. Nhìn xem này, có đâu? Tôi ra Huế để kiếm gái đẹp, chứ đâu có lên Củ Chi tìm Việt Cộng.

Rồi tôi có thể bảo họ tới hỏi ông Nguyễn Cao Kỳ xem – ông ta cũng để ria mép đấy, có lẽ ông ta đã tới Củ Chi!'
Chứng cứ ngoại phạm này ông chưa bao giờ phải dùng tới.

Tôi hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu nhân viên CIO phát hiện ông ở Củ Chi, Ẩn đáp, 'Vậy thì tôi chết chắc'. Khi tôi đọc tài liệu miêu tả Ẩn của William Prochnau, tôi đã thấy rõ tính hiệu quả của vỏ bọc mà Ẩn tạo ra. 'Ẩn có thể tinh giản các thủ tục, xử lý nhanh thông tin để có thể vừa nói chuyện thi ca và triết học vừa hoàn tất bài báo đúng hạn.

Có một trợ tá người Việt là rất quan trọng, và Ẩn là trợ tá xuất sắc nhất, ngay cả khi Ẩn biến mất một vài ngày thì ai cũng nghĩ rằng ông này đang có cuộc tình vụng trộm ở đâu đó'.


Điều vẫn còn bí ẩn đối với tôi là trong khi rất nhiều người biết được những lần biến mất có tính chu kỳ của Ẩn thì bằng cách nào mà ông lại không bao giờ bị cảnh sát hay lực lượng an ninh, vốn luôn sục tìm những người như ông, bắt gặp.

Có lẽ là ông cực kỳ may mắn hoặc câu chuyện vỏ bọc của Ẩn như là một người huấn luyện chó, dân chơi chim quý, hay thậm chí là một gã đào hoa lãng tử cũng đủ để thuyết phục mọi người không dõi theo hành tung của ông.
Phạm Xuân Ẩn tạo vỏ bọc như là một người huấn luyện chó, dân chơi chim quý, hay thậm chí là một gã đào hoa lãng tử .
Phạm Xuân Ẩn tạo vỏ bọc như là một người huấn luyện chó, dân chơi chim quý, hay thậm chí là một gã đào hoa lãng tử .
Hoạt động nổi dậy ở miền Nam gia tăng mãnh liệt. Vào nửa cuối năm 1959, mỗi tháng trung bình có hơn một trăm vụ tấn công do các đơn vị du kích nhỏ thực hiện nhằm vào trạm kiểm soát và tháp canh của chính quyền.

Số vụ ám sát quan chức chính phủ, cảnh sát và chức sắc làng xã tăng hơn gấp đôi. Số vụ bắt cóc cao kỷ lục. Tại nhiều khu vực ở Đồng bằng sông Mê Kông và Cao nguyên Trung phần, nhiều cuộc 'đồng khởi' đã nổ ra tại những làng xã không được kiểm soát.

Bạo động và biểu tình lớn do Việt Công tổ chức lan rộng và thường châm ngòi cho các cuộc đàn áp khốc liệt của chính phủ. Một 'Báo cáo tình báo đặc biệt' vào tháng 8 năm 1960 đưa ra nhận xét cho rằng đợt bùng nổ này 'cho thấy sự gia tăng tâm lý bất bình đối với chính phủ của Diệm'.

Quân lực Việt Nam Cộng hòa không được chuẩn bị tốt để đối phó với đợt bùng nổ các hoạt động du kích này. Từ năm 1954 đến 1960, hai người đứng đầu của MAAG, tướng John W. 'Iron Mike' O’Daniel và Trung tướng Samuel T.

'Hanging Sam' Williams, chủ yếu tập trung vào việc ngăn chặn các cuộc tấn công chính quy từ bên kia vĩ tuyến 17 và không bao giờ cho rằng các cuộc nổi dậy nội tại có thể đe dọa ổn định ở miền Nam Việt Nam.

Bộ binh cơ động nhẹ của Việt Nam Cộng hòa đã được tổ chức lại thành các sư đoàn bộ binh để tương thích với nhiệm vụ và cơ cấu của các kế hoạch quốc phòng Mỹ.

Quân lực Việt Nam Cộng hòa được trang bị các phương tiện cơ bản của lục quân, và các cố vấn Mỹ huấn luyện cho họ kỹ năng về chiến tranh chính quy, xuất phát từ lo ngại về viễn cảnh Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ tổ chức một cuộc tấn công như họ đã từng thực hiện để đánh bại người Pháp vào năm 1954 hoặc cuộc tấn công của Bắc Triều Tiên xuống Nam Triều Tiên vào năm 1950…

Nhiệm vụ của ông Ẩn là phân tích các chiến thuật mới để những nhà lãnh đạo quân sự Cộng sản có thể xây dựng các đối pháp. 'Họ tin tưởng tôi nên đưa cho tôi những tài liệu này, kể cả ông Tuyến', ông Ẩn nói.

'Vì thế tôi đọc tất cả, nói chuyện với các cố vấn Mỹ và bạn bè tôi vừa đi huấn luyện về, rồi tôi viết báo cáo, chỉ có vậy thôi. Khi mà tôi đã có tài liệu rồi thì mọi chuyện trở nên đơn giản…

Tất cả những gì tôi làm là đọc tài liệu của họ, tham dự các buổi họp báo, lắng nghe người ta nói, đưa ra sự phân tích và sau đó gửi báo cáo vào rừng. Tôi không biết điều gì xảy ra tiếp sau đó cho tới mãi nhiều năm về sau'.


Trong giai đoạn 1961 – 1965, ông Ẩn đã gửi đi hầu như mọi tài liệu quan trọng liên quan đến kế hoạch quân sự và dân sự phục vụ các chiến dịch ở miền Nam. 'Nhiệm vụ cho trận Ấp Bắc là cung cấp thông tin về chiến thuật'. Ông Mai Chí Thọ, người đã huy động tiền để Ẩn đi Mỹ học, cho biết:

'Ông Ẩn đã cho chúng tôi biết những chiến thuật mới mà người Mỹ đang triển khai, vì thế chúng tôi đã có thể phát triển phương án đối phó.

Những người khác đã xây dựng kế hoạch mới để triển khai các phương án đối phó ấy, và sau đó những người khác nữa chiến đấu anh dũng tại Ấp Bắc, nhưng chính ông Ẩn là người cung cấp những tài liệu và báo cáo giúp thực hiện thành công chiến thuật'.


Ẩn cũng nói với tôi điều tương tự khi chỉ cho tôi bản sao luận thuyết năm 1732 của Saxe: 'Phân tích chiến lược cũng đòi hỏi phải am hiểu chiến thuật'.

'Nhiệm vụ của tôi trong giai đoạn này là giúp họ hiểu được phương thức mới của Mỹ về chiến tranh đặc biệt để họ triển khai chiến thuật mới. Tôi cung cấp bản phân tích; những người khác quyết định cách đánh và nơi đánh'…


'Năm 1962, Hai Trung gửi ra hai mươi bốn cuộn phim của tất cả các kế hoạch liên quan tới chiến lược Chiến tranh Đặc biệt của Mỹ',
Mười Nho, cấp trên trực tiếp của Ẩn hồi đó, kể.

'Trong đó bao gồm kế hoạch tổng thể của cuộc chiến, các tài liệu về xây dựng lực lượng quân sự, sự hỗ trợ của quân Mỹ, kế hoạch lập ấp chiến lược, kế hoạch tái chiếm vùng giải phóng và kế hoạch củng cố lực lượng ngụy quân bằng trang thiết bị quân sự của Mỹ'.
Ông Mười Nho tự tay rửa phim; và ông run lên khi thấy toàn bộ báo cáo của Staley và Taylor hiện ra trước mặt. 'Có cả tỷ đôla cũng không thể mua được những tài liệu như vậy.

Việc hiểu địch đã giúp ta có kế hoạch chủ động đối phó, các đợt càn quét dữ dội của quân ngụy sau đó hầu hết chỉ nhằm vào chỗ trống… Thất bại hoàn toàn trong trận Ấp Bắc đã buộc Mỹ phải chấm dứt theo đuổi kế hoạch chiến tranh đặc biệt và tìm kiếm một chiến lược mới'.


Khi tôi hỏi Mai Chí Thọ rằng ông ta đánh giá đóng góp nào của Phạm Xuân Ẩn là quý giá nhất, ông ta đã khiến tôi ngạc nhiên khi nói, 'Ông Ẩn gửi cho chúng tôi mọi thứ về chương trình bình định hóa, ấp chiến lược, nhờ đó mà chúng tôi có thể lập đối pháp để đánh bại họ'.

Nhưng ông Ẩn đã không nhận được huân chương nào cho các hoạt động đó, tôi bảo. Ông Thọ cười. 'Còn rất nhiều công trạng mà ông Ẩn lập nên xứng đáng được thưởng huân chương nữa, nhưng tôi cho rằng đây là đóng góp quan trọng nhất bởi tầm chiến lược của nó'…
Ngày 28 tháng 12 năm 1962, Sư đoàn 7 Bộ binh Việt Nam Cộng hòa, đóng tại Đồng bằng sông Mê Kông, được lệnh thu giữ một máy truyền sóng vô tuyến của PLAF (Quân Giải phóng nhân dân) hoạt động gần làng Ấp Bắc, vốn đang được một đơn vị Việt Cộng nhỏ với chừng 120 tay súng bảo vệ.

Cố vấn cấp cao người Mỹ của Sư đoàn 7 Quân lực Việt Nam Cộng hòa là John Paul Vann, người đã ở Việt Nam trong tám tháng và chưa từng giáp mặt kẻ thù. Trung tá lục quân Vann là một trong những nhân vật huyền thoại của Chiến tranh Việt Nam. Ông tử nạn trong một vụ rơi trực thăng tại Việt Nam vào ngày 9 tháng 6 năm 1972.

Vann ngứa ngáy muốn tham gia trận đánh để ông ta có thể đánh giá xem các tư lệnh Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã hấp thu các bài huấn luyện của ông tới mức nào. Ở phía bên kia, viên tư lệnh Việt Cộng cũng đã chuẩn bị giáng một đòn vào các máy bay trực thăng Mỹ.

Sự xuất hiện của đại đội trực thăng vận đầu tiên của Mỹ vào tháng 12 năm 1961 đã gây ra nhiều khó khăn cho du kích quân, tương tự như các 'trận càn' bạo liệt do Quân lực Việt Nam Cộng hòa thực hiện vào ban ngày quét qua các làng mạc để truy bắt Quân giải phóng.

'Lúc bấy giờ chúng tôi không biết cách nào để chống lại trực thăng và thiết xa', ông Mai Chí Thọ nói với tôi. 'Ông Ẩn đã cung cấp các thông tin giúp chúng tôi xây dựng một lối đánh ở tầm chiến thuật'.
Trực Thăng Mỹ tham gia một trận quét vào vùng giải phóng. 
Trực Thăng Mỹ tham gia một trận quét vào vùng giải phóng. 
Giờ đây, được trang bị một kế hoạch chiến lược mới, Quân giải phóng đã sẵn sàng chọi lại trực thăng. Vài tuần trước, để tính toán tầm bắn hiệu quả nhất, họ đã tập luyện tại vùng Đồng Tháp Mười với mục tiêu là mô hình trực thăng Shawnee và Huey làm bằng giấy bìa gắn trên cọc tre để mô phỏng các đặc điểm bay của chúng.

'Một trong những sự kiện hiếm hoi, trong cuộc xung đột với những chuỗi đụng độ dường như không bao giờ ngơi nghỉ vốn có vẻ như không có ý nghĩa thực chất nào, sắp sửa xảy ra – đó là một trận đánh quyết định có thể ảnh hưởng tới cục diện của cuộc chiến tranh', Neil Sheehan viết. 'Giờ đây Việt Cộng đang vùng dậy chiến đấu'.
Tin tức tình báo của Vann đã sai; không phải là một đại đội 120 người, ông ta đã đối mặt với Tiểu đoàn 261 chính quy của Việt Cộng với 320 quân được sự hỗ trợ của 30 dân quân. Nhưng Quân lực Việt Nam Cộng hòa vẫn vượt trội về số lượng lẫn phương tiện.

Một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 7 Bộ binh gồm 330 binh sĩ, được yểm trợ bởi hai tiểu đoàn bảo an và một đại đội gồm mười ba xe thiết giáp chở quân M-113, thêm vào đó là một đại đội bộ binh cùng xe bọc thép chở quân (APC) mười tấn được Việt Cộng gọi là 'rồng xanh'. Tổng quân số lên tới hơn 1.000 người.

Mới bước vào trận, quân Việt Nam Cộng hòa ngay lập tức đã hứng chịu tổn thất về nhân mạng và các sĩ quan chỉ huy đã gọi quân tiếp viện từ làng Tân Hiệp gần đó. 'Mười trực thăng Shawnee và năm trực thăng tấn công Huey thế hệ mới' bay đến.

Khi chúng vừa tới Ấp Bắc, chiếc lưới đã được bủa ra với hàng loạt đạn được bắn lên từ dưới các hàng cây trên bờ đê. Trong vòng vài phút, mười bốn trong số mười lăm trực thăng bị bắn trúng, bốn chiếc rơi, trong đó có một chiếc Huey, và ba người Mỹ thiệt mạng.

Quân Việt Nam Cộng hòa vẫn còn cơ hội cứu vãn tình hình bởi Việt Cộng đã bị bao vây và lối rút quân duy nhất là băng qua cánh đồng phía đông. Vann vội điều động thiết xa nhưng Diệm trước đó đã ban lệnh rằng không ai được tham chiến nếu không được Sài Gòn trực tiếp chuẩn thuận.

Ông cũng chỉ đạo tất cả tư lệnh các quân đoàn và sư đoàn là phải tránh tổn thất lớn về nhân mạng. Ai không tuân theo chỉ thị đơn giản này sẽ không được thăng cấp. Viên tư lệnh Việt Nam Cộng hòa ở đấy đã không chấp hành chỉ đạo của Vann về việc bít đường rút quân của Việt Cộng. Khi hoàng hôn xuống, quân Việt Cộng rút lui.

Vann coi trận này là bằng chứng cho thấy đội quân mà ông được giao nhiệm vụ huấn luyện kém năng lực một cách tệ hại. 'Một thành tích quá tồi tệ. Những người này không chịu nghe lệnh. Bọn họ cứ lặp đi lặp lại những lỗi chết tiệt'.

Trận đánh cho thấy những binh sĩ chiến đấu cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa sẽ chết uổng mạng nếu đặt họ dưới sự chỉ huy của mấy viên tướng bất tài và chuyên nịnh hót mà Diệm đã đưa vào các vị trí chủ chốt.

'Trận Ấp Bắc đã bộc lộ cái chính sách thăng tiến và bổ nhiệm vào thành phần lãnh đạo Quân lực Việt Nam Cộng hòa mà chỉ dựa vào lòng trung thành với Diệm chứ không dựa trên năng lực nghiệp vụ là hoàn toàn sai lầm',
ông Ẩn nói với tôi.

Tướng Huỳnh Văn Cao, người được Diệm tin tưởng là nhân vật trung thành nhất với gia đình họ Ngô và đã được thăng cấp rất nhanh, đã bộc lộ cả sự bất tài và hèn nhát.

'Ông Diệm có những vị tướng chưa bao giờ hoàn thành nhiệm vụ nhưng vẫn được thăng cấp bởi họ từng hôn tay Nhu và Diệm. Ấp Bắc là nơi những con gà trống đầu tiên về nhà',
Ẩn nói kèm theo nụ cười và nhìn vào bộ sưu tập chim của ông.

Báo cáo tổng kết trận chiến của Vann là bản cáo trạng đối với tư lệnh ở tất cả các cấp vì họ đã không hành động quyết đoán và không khích lệ binh sĩ của mình.

Cố vấn cấp cao của Mỹ, Đại tá Daniel B. Porter, coi Báo cáo tổng kết này 'có lẽ là bản nhiều tư liệu nhất, toàn diện nhất, có giá trị nhất và tiết lộ nhiều vấn đề nhất trong tất cả các bản báo cáo' từng được trình lên trong năm vừa qua.
Máy bay tấn công Mỹ bị bắn rơi trong trận Ấp Bắc - Ảnh: Tư liệu, sách Điệp viên Hoàn hảo X6 
Máy bay tấn công Mỹ bị bắn rơi trong trận Ấp Bắc - Ảnh: Tư liệu, sách Điệp viên Hoàn hảo X6 
Không thể đánh giá thấp ý nghĩa của trận Ấp Bắc đối với Quân giải phóng ở miền Nam và uy tín của Ẩn tại Hà Nội. Ấp Bắc trở thành một lời hiệu triệu, và Trung ương cục miền Nam đã phát động một phong trào 'Thi đua Ấp Bắc' trên khắp miền Nam Việt Nam.

Báo cáo đánh giá tình báo đặc biệt của CIA vào ngày 17 tháng 4 năm 1963 kết luận rằng 'Việt Cộng đã cho thấy họ là một kẻ thù đáng gờm và là lực lượng du kích hiệu quả… Họ đã chứng tỏ sự linh hoạt trong việc điều chỉnh chiến thuật để đối phó với mô thức chiến dịch kiểu mới của Nam Việt Nam…

Một nhân tố quan trọng góp phần vào thành công này chính là hệ thống tình báo hiệu quả của họ. Những người mật báo và có cảm tình với họ có mặt khắp vùng nông thôn, và rõ ràng Việt Cộng đã duy trì được mạng lưới tình báo phủ sóng ở mọi cấp trong hệ thống quân sự và dân sự của Nam Việt Nam'.


Có lẽ đánh giá rõ ràng nhất là bản Báo cáo tổng kết sau trận Ấp Bắc của chính Quân giải phóng, thường được biết đến với tên gọi 'Tài liệu Việt Cộng về Trận Ấp Bắc, ngày 2 tháng 1 năm 1963'.

Tài liệu này thu được từ đối phương và được dịch ra tiếng Anh rồi lưu hành tại tổng hành dinh của MACV vào cuối tháng 4 năm 1963.

Phía Việt Cộng coi trận chống càn vào ngày 2 tháng 1 năm 1963 là một 'thắng lợi to lớn của quân và dân ta… Chiến thắng trong trận chống càn Ấp Bắc cho thấy quân ta đã lớn mạnh về kỹ và chiến thuật… Thắng lợi này cũng cho chúng ta thấy rõ các lợi điểm về chiến thuật của kẻ thù'.
Với những đóng góp trong trận Ấp Bắc, Ẩn về sau đã nhận Huân chương Chiến công đầu tiên trong bốn huân chương loại này mà ông được trao tặng.

Chỉ có hai tấm huân chương được trao tặng cho trận đánh vào thời kỳ đầu của cuộc chiến tranh này, một được trao cho Nguyễn Bảy, một chỉ huy thuộc Quân giải phóng nhân dân, và tấm còn lại được trao cho phóng viên của Reuters, Phạm Xuân Ẩn, vì những báo cáo mà ông gửi về đã giúp thay đổi tính chất của cuộc chiến.

Đặng Minh Nhuận - Người anh hùng của chiến trận Ấp Bắc

Thứ Bảy, 23/11/2013
Tên tuổi và những chiến công sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng của ông sống mãi trong trang sử vàng liệt oanh của dân tộc.
Trong trận Ấp Bắc (2/1/1963), địch đã huy động lực lượng lớn với khoảng 2.000 quân, bao gồm nhiều quân binh chủng, như bộ binh, pháo binh, không quân, hải quân, thiết giáp và phương tiện chiến tranh hiện đại, như các loại máy bay ném bom, khu trục, vận tải, trực thăng, xe thiết giáp M.113, pháo 105 mm, súng cối, tàu chiến, v.v… 
Toàn bộ lực lượng địch được đặt dưới sự chỉ huy của đại tá Tư lệnh sư đoàn 7 Bùi Đình Đạm và trung tá cố vấn Mỹ John Paul Vann; về sau, có thêm thiếu tướng Tư lệnh vùng 4 chiến thuật Huỳnh Văn Cao và đại tướng Tổng tham mưu trưởng Lê Văn Tỵ.
Về phía ta, quân số ít hơn địch rất nhiều; trang bị chủ yếu là súng bộ binh, lựu đạn, thủ pháo, chưa có vũ khí chuyên dụng chống máy bay và xe thiết giáp, đạn dược hạn chế.
Lực lượng của ta được đặt dưới sự chỉ huy chung của tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 261 Võ Văn Hoàng (Hai Hoàng) và chỉ huy trực tiếp tại trận địa là đại đội trưởng đại đội 1 tiểu đoàn 261 Đặng Minh Nhuận (còn có tên là Đoàn Triết Minh, Nguyễn Bảy hay Bảy Đen).
Như vậy, so sánh lực lượng và cấp chỉ huy giữa địch và ta tại Ấp Bắc có sự  chênh lệch lớn. Thượng tướng Trần Văn Trà viết: “Một tiểu đoàn ghép chủ lực, địa phương, du kích của ta, trang bị kém đã đương đầu với nhiều tiểu đoàn bộ binh chủ lực, bảo an ngụy có các quân binh chủng không quân, thủy quân, pháo binh, cơ giới, trực thăng tham chiến. Một tiểu đoàn trưởng và một đại đội trưởng của ta phải chỉ huy lực lượng ít và kém về trang bị của mình chống lại lực lượng đông gấp hàng chục lần do các cấp chỉ huy, nhiều tá, tướng của địch từ tỉnh đến sư đoàn, quân đoàn và Bộ tổng tham mưu ngụy cùng với các cố vấn sừng sỏ của quân đội Mỹ”.
Phải nói rằng, trong trận Ấp Bắc, vai trò của người chỉ huy tại trận địa là rất quan trọng. Đó là đồng chí Đặng Minh Nhuận.  Đặng Minh Nhuận sinh năm 1932 ở xã Long Châu, huyện Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long (nay là phường 3, TPVĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long) trong một gia đình sinh sống bằng nghề công thương. Được người chú ruột là Đặng Văn Thiềng giáo dục, giác ngộ lý tưởng cách mạng, năm 1948, lúc mới 16 tuổi, ông tham gia lực lượng võ trang chống Pháp, chiến đấu trên chiến trường Vĩnh Long và lập được nhiều chiến tích xuất sắc. Vì thế, năm 1949, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).
Năm 1954, ông tập kết ra Bắc; và sau đó, được cấp trên bố trí vào học trường Sĩ quan lục quân. Sau khi hoàn thành khóa học với loại Xuất sắc, năm 1958, ông làm công tác biên phòng tại vùng biên giới Việt – Trung.
Năm 1962, mặc dù có vợ và các con còn nhỏ dại, nhưng xuất phát từ  lòng nung nấu đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược và bọn tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ông đã gạt bỏ tình riêng, đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hết, tình nguyện vượt Trường Sơn, trở về miền Nam chiến đấu. Trong quyển Nhật ký, ông nêu quyết tâm: “Phải san bằng mọi bất công, phải xây dựng cuộc sống mới, dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng!” Trên đường đi, tuy trải qua nhiều gian khổ, nhưng ông vẫn luôn lạc quan, viết nhật ký và làm thơ, phản ảnh phẩm chất  kiên cường, bất khuất và tinh thần lãng mạn cách mạng của “Anh bộ đội Cụ Hồ”.
Đặc biệt, đối với các con, ông luôn dành tình thương yêu sâu đậm. Trong Nhật ký, ông viết: “Bên ngoài thì nói cười cho khuây khỏa để chiến đấu, chớ nhiều đêm nhớ các con, ba rơi nước mắt! Ba hứa với các con sẽ làm tròn nhiệm vụ đảng viên, một cán bộ quân đội, không bao giờ để các con phải nhục vì có một người cha không xứng đáng.Ba mong sau này các con khôn lớn, nếu ba có hy sinh rồi, các con nhớ làm tròn nghĩa vụ của mình đối với đất nước quê hương. Gởi các con nhiều cái hôn!”
Cuối năm 1962, ông nhận nhiệm vụ tại chiến trường Khu Trung Nam bộ (Khu 8) với quân hàm trung úy, đại đội trưởng đại đội 1 tiểu đoàn 261 chủ lực Quân khu 8.  Ngày 1/1/1963, ông chỉ huy bộ đội hành quân về Ấp Bắc (nay thuộc xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang) để chuẩn bị tấn công ấp chiến lược Giồng Dứa (nay thuộc xã Long Định, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang).
Dò biết hoạt động của quân ta, ngày 2/1/1963, địch mở cuộc càn mang tên “Đức Thắng 1/63”, huy động một lực lượng hùng hậu, với trang bị hiện đại, đông hơn bộ đội ta gấp hàng chục lần, gồm 3 tiểu đoàn của sư đoàn 7, 1 chiến đoàn Bảo an tỉnh Định Tường, 1 tiểu đoàn Dù thuộc lực lượng tổng trù bị chiến lược của Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn, một số đại đội biệt kích, dân vệ, 3 tàu chiến, 1 chi đoàn xe thiết giáp M.113, 15 máy bay trực thăng đổ quân, 5 máy bay trực thăng chiến đấu, 8 máy bay ném bom, 7 máy bay vận tải, 4 máy bay L.19 thám thính và chỉ huy, 10 khẩu pháo hạng nặng … mở cuộc tấn công với quy mô lớn vào Ấp Bắc. Lúc bấy giờ, Mỹ đang cho thực hiện chiến thuật tân kì “trực thăng vận” và “thiết xa vận” ở miền Nam, nhằm “bao vây hợp điểm”, “bủa lưới phóng lao” để tiêu diệt bộ đội và du kích của ta. Trong thực tiễn chiến đấu, với chiến thuật này, quân đội Sài Gòn đã gây cho ta không ít khó khăn.
Trong ngày này, địch điên cuồng mở 5 cuộc tấn công hết sức ác liệt vào trận địa của đại đội 1 trấn giữ.  Nhưng, dưới sự chỉ huy tài giỏi và dũng cảm của ông, bộ đội ta đã đánh bại tất cả các đợt xung phong của địch. Đến 18 giờ cùng ngày, địch buộc phải rút lui.
Với việc chỉ huy bộ đội trụ lại, bám địch và đánh bọn chúng suốt cả ngày, ông và các chiến sĩ giải phóng quân đã sáng tạo ra một chiến thuật mới là “Cắm cọc phá lưới, bám trụ bẻ lao” nhằm đối phó có hiệu quả chiến thuật “Bủa lưới phóng lao” của địch. Nguyễn Minh Tua, người chiến sĩ tham gia chiến đấu trong trận Ấp Bắc, sau này được tuyên dương “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” nói về người Đại đội trưởng của mình: “Suốt ngày chiến đấu trận Ấp Bắc, anh Bảy Đen vẫn mặc bộ đồ ka-ki mùa thu (màu xanh) không ướt, không dính sình. Chỉ huy tác chiến ngoài mặt trận, anh luôn thể hiện tài năng, xử lý tình huống bình tỉnh, gan dạ, đặc biệt là bắn tỉa rất giỏi…”. Tại Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam năm 1963, Quân ủy Miền đánh giá về ông như sau: “Trong trận Ấp Bắc, dưới sự chỉ huy của Đặng Minh Nhuận, đại đội 1 cùng với quân dân Ấp Bắc đã đánh bại chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận trên chiến trường đồng bằng sông Cửu Long, tạo nên khí thế mới trong phong trào thi đua diệt máy bay trực thăng và xe bọc thép của địch trong toàn quân khu. Với cương vị chỉ huy, Đặng Minh Nhuận đã thể hiện tư tưởng tiến công kiên quyết, linh hoạt, táo bạo và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”.
Chiến thắng Ấp Bắc đã làm phá sản chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận”, con át chủ bài trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mĩ ở miền Nam, tạo điều kiện cho phong trào du kích chiến tranh của nhân dân miền Nam được phát triển mạnh mẽ; và nói như Lê Duẩn – cố Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam – thì “kể từ trận Ấp Bắc, Mỹ đã thấy không thể thắng được ta trong chiến tranh đặc biệt”. Tại trận Ấp Bắc, ta diệt và làm bị thương 450 tên địch, trong đó có 9 cố vấn Mỹ; bắn cháy 3 xe M.113; bắn rơi 3 chiếc trực thăng và bắn hỏng 10 chiếc khác.
Sau chiến công vang dội này, ông còn chỉ huy đơn vị đánh thắng nhiều trận khác trên địa bàn tỉnh Mỹ Tho, khiến cho quân địch vô cùng khiếp đảm. Ngày 30/8/1963, ông chỉ huy bộ đội tiến công và tiêu diệt đồn Thạnh Nhựt (nay thuộc huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang). Nhưng thật không may, ông bị thương nặng và đã anh dũng hy sinh. Trước lúc lìa trần, ông đã nói lời cuối cùng vô cùng cảm động với đồng đội: “Cho tôi gởi lời thăm đến Bác Hồ. Chúc các đồng chí ở lại mạnh khỏe. Các con, ba đã làm tròn nhiệm vụ”.
Ngày 20/12/1994, ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Hiện nay, phần mộ của ông tọa lạc tại Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Tiền Giang. Tên tuổi và những chiến công sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng của ông sống mãi trong trang sử vàng liệt oanh của dân tộc.
Nguyễn Phúc Nghiệp

Viết tiếp về Đại đội trưởng Bảy Đen

Số báo trước đăng bài “Đại đội trưởng Bảy Đen qua ký ức đồng đội”, lược ghi lời kể của đồng chí Lê Hồng Hưởng (Sáu Hưởng), nguyên Chính trị viên, kiêm Trung đội trưởng Trung đội 3, Đại đội 1, Tiểu đoàn 261 về Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 261 Bảy Đen (gọi tắt là Đại đội trưởng Bảy Đen). Bài này tiếp tục viết về Đại đội trưởng Bảy Đen.
Từ trái sang phải: Anh hùng LLVTND Đặng Minh Nhuận (tức Bảy Đen),  2 con gái Đặng Thị Nguyệt Hồng (SN 1959), Đặng Thị Nguyệt Anh (SN 1962) và vợ Lưu Thị Minh Nguyệt. (Ảnh chụp năm 1962, trước khi đồng chí Bảy Đen trở về miền Nam chiến đấu).
Từ trái sang phải: Anh hùng LLVTND Đặng Minh Nhuận (tức Bảy Đen), 2 con gái Đặng Thị Nguyệt Hồng (SN 1959), Đặng Thị Nguyệt Anh (SN 1962) và vợ Lưu Thị Minh Nguyệt. (Ảnh chụp năm 1962, trước khi đồng chí Bảy Đen trở về miền Nam chiến đấu).
Trong trận Ấp Bắc (ngày 2-1-1963), địch đã huy động lực lượng lớn, với khoảng 2.000 quân, bao gồm nhiều binh chủng bộ binh, pháo binh, không quân, hải quân, thiết giáp và phương tiện chiến tranh hiện đại (các loại máy bay ném bom, khu trục, vận tải, trực thăng, xe thiết giáp M.113, pháo 105 mm, súng cối, tàu chiến...). Toàn bộ lực lượng địch được đặt dưới sự chỉ huy của đại tá Tư lệnh sư đoàn 7 Bùi Đình Đạm và trung tá cố vấn Mỹ John Paul Vann; về sau, có thêm thiếu tướng Tư lệnh vùng 4 chiến thuật Huỳnh Văn Cao và đại tướng Tổng tham mưu trưởng Lê Văn Tỵ. Về phía ta, quân số ít hơn địch rất nhiều, trang bị chủ yếu là súng bộ binh, lựu đạn, thủ pháo, chưa có vũ khí chuyên dụng chống máy bay và xe thiết giáp, đạn dược hạn chế. Lực lượng của ta được đặt dưới sự chỉ huy chung của Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 261 Võ Văn Hoàng (Hai Hoàng) và chỉ huy trực tiếp tại trận địa là Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 261 Đặng Minh Nhuận (còn có tên Đoàn Triết Minh, Nguyễn Bảy hay Bảy Đen). Như vậy, so sánh lực lượng và cấp chỉ huy giữa địch và ta tại Ấp Bắc có sự  chênh lệch lớn. Thượng tướng Trần Văn Trà viết: “Một tiểu đoàn ghép chủ lực, địa phương, du kích của ta, trang bị kém đã đương đầu với nhiều tiểu đoàn bộ binh chủ lực, bảo an ngụy có các quân binh chủng không quân, thủy quân, pháo binh, cơ giới, trực thăng tham chiến. Một tiểu đoàn trưởng và một đại đội trưởng của ta phải chỉ huy lực lượng ít và kém về trang bị chống lại lực lượng đông gấp hàng chục lần do các cấp chỉ huy, nhiều tá, tướng của địch từ tỉnh đến sư đoàn, quân đoàn và bộ tổng tham mưu ngụy cùng với các cố vấn sừng sỏ của quân đội Mỹ”.
Phải nói rằng, trong trận Ấp Bắc, vai trò của người chỉ huy tại trận địa là rất quan trọng. Đó là đồng chí Bảy Đen, sinh năm 1932, quê quán xã Long Châu, huyện Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long (nay là phường 3, TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long), trong một gia đình sinh sống bằng nghề công thương. Được người chú ruột là Đặng Văn Thiềng giáo dục, giác ngộ lý tưởng cách mạng, năm 1948, lúc mới 16 tuổi, Bảy Đen tham gia lực lượng vũ trang chống Pháp, chiến đấu trên chiến trường Vĩnh Long và lập được nhiều chiến tích xuất sắc, vì thế năm 1949 đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Năm 1954, đồng chí tập kết ra Bắc, sau đó được cấp trên đưa đi học Trường Sĩ quan lục quân. Sau khi hoàn thành khóa học loại Xuất sắc, đồng chí làm công tác Biên phòng tại vùng biên giới Việt - Trung.
Năm 1962, mặc dù có vợ và các con còn nhỏ dại, nhưng xuất phát từ lòng nung nấu đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược và bọn tay sai để góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đồng chí đã gạt bỏ tình riêng, đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hết, tình nguyện vượt Trường Sơn, trở về miền Nam chiến đấu. Trong quyển Nhật ký, Bảy Đen nêu quyết tâm: “Phải san bằng mọi bất công, phải xây dựng cuộc sống mới, dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng!”. Trên đường đi, tuy trải qua nhiều gian khổ, nhưng đồng chí vẫn luôn lạc quan, viết nhật ký và làm thơ, phản ánh phẩm chất kiên cường, bất khuất và tinh thần lãng mạn cách mạng của “Anh bộ đội Cụ Hồ”. Đối với các con, đồng chí luôn dành tình thương yêu sâu đậm. Trong Nhật ký, đồng chí viết: “Bên ngoài thì nói cười cho khuây khỏa để chiến đấu, chớ nhiều đêm nhớ các con, ba rơi nước mắt! Ba hứa với các con sẽ làm tròn nhiệm vụ đảng viên, một cán bộ quân đội, không bao giờ để các con phải nhục vì có một người cha không xứng đáng. Ba mong sau này các con khôn lớn, nếu ba có hy sinh, các con nhớ làm tròn nghĩa vụ của mình đối với quê hương, đất nước. Gửi các con nhiều cái hôn!”.
Cuối năm 1962, đồng chí nhận nhiệm vụ tại chiến trường Khu Trung Nam bộ (Khu 8) với quân hàm trung úy, Đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn 261 chủ lực Quân khu 8. Ngày 1-1-1963, Đại đội trưởng Bảy Đen chỉ huy bộ đội hành quân về Ấp Bắc (nay thuộc xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang) để chuẩn bị tấn công ấp chiến lược Giồng Dứa (nay thuộc xã Long Định, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang).
Dò biết hoạt động của quân ta, ngày 2-1-1963, địch mở cuộc càn quét mang tên “Đức Thắng 1/63”, huy động lực lượng hùng hậu, với trang bị hiện đại, đông hơn quân ta gấp hàng chục lần, gồm 3 tiểu đoàn của sư đoàn 7, 1 chiến đoàn Bảo an tỉnh Định Tường, 1 tiểu đoàn Dù thuộc lực lượng tổng trù bị chiến lược của Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn, một số đại đội biệt kích, dân vệ, 3 tàu chiến, 1 chi đoàn xe thiết giáp M.113, 15 máy bay trực thăng đổ quân, 5 máy bay trực thăng chiến đấu, 8 máy bay ném bom, 7 máy bay vận tải, 4 máy bay L.19 thám thính và chỉ huy, 10 khẩu pháo hạng nặng… mở cuộc tấn công với quy mô lớn vào Ấp Bắc. Lúc bấy giờ, Mỹ đang thực hiện chiến thuật tân kỳ “trực thăng vận” và “thiết xa vận” ở miền Nam, nhằm “bao vây hợp điểm”, “bủa lưới phóng lao” để tiêu diệt bộ đội và du kích. Trong thực tiễn chiến đấu, với chiến thuật này, quân đội Sài Gòn đã gây cho ta không ít khó khăn. Trong ngày này, địch điên cuồng mở 5 cuộc tấn công hết sức ác liệt vào trận địa của Đại đội 1 trấn giữ. Thế nhưng, dưới sự chỉ huy tài giỏi và dũng cảm của Đại đội trưởng Bảy Đen, bộ đội đã đánh bại tất cả các đợt xung phong của địch, đến 18 giờ cùng ngày địch buộc phải rút lui.
Với việc chỉ huy bộ đội trụ lại, bám địch và đánh bọn chúng suốt cả ngày, Đại đội trưởng Bảy Đen và các cán bộ, chiến sĩ giải phóng quân đã sáng tạo ra một chiến thuật mới là “Cắm cọc phá lưới, bám trụ bẻ lao” nhằm đối phó có hiệu quả chiến thuật “Bủa lưới phóng lao” của địch. Nguyễn Minh Tua - chiến sĩ tham gia chiến đấu trong trận Ấp Bắc, sau này được tuyên dương “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” nói về người Đại đội trưởng của mình: “Suốt ngày chiến đấu trận Ấp Bắc, anh Bảy Đen vẫn mặc bộ đồ ka-ki mùa thu (màu xanh) không ướt, không dính sình. Chỉ huy tác chiến ngoài mặt trận, anh luôn thể hiện tài năng, xử lý tình huống bình tĩnh, gan dạ, đặc biệt là bắn tỉa rất giỏi…”. Tại Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam năm 1963, Quân ủy Miền đánh giá về Đại đội trưởng Bảy Đen như sau: “Trong trận Ấp Bắc, dưới sự chỉ huy của Đặng Minh Nhuận, Đại đội 1 cùng với quân và dân Ấp Bắc đã đánh bại chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận trên chiến trường Đồng bằng sông Cửu Long, tạo nên khí thế mới trong phong trào thi đua diệt máy bay trực thăng và xe bọc thép của địch trong toàn quân khu. Với cương vị chỉ huy, Đặng Minh Nhuận đã thể hiện tư tưởng tiến công kiên quyết, linh hoạt, táo bạo và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”.
Chiến thắng Ấp Bắc đã làm phá sản chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận” - con át chủ bài trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam, tạo điều kiện cho phong trào du kích chiến tranh của nhân dân miền Nam phát triển mạnh mẽ. Nói như cố Tổng Bí thư Lê Duẩn: “Kể từ trận Ấp Bắc, Mỹ đã thấy không thể thắng được ta trong chiến tranh đặc biệt”.
Sau chiến công vang dội này, Đại đội trưởng Bảy Đen còn chỉ huy đơn vị đánh thắng nhiều trận khác trên địa bàn tỉnh Mỹ Tho, khiến quân địch vô cùng khiếp đảm. Ngày 30-8-1963, đồng chí chỉ huy bộ đội tiến công và tiêu diệt đồn Thạnh Nhựt (nay thuộc huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang). Nhưng thật không may, đồng chí bị thương nặng và đã anh dũng hy sinh. Trước lúc hy sinh, đồng chí đã nói lời cuối cùng vô cùng cảm động với đồng đội: “Cho tôi gửi lời thăm đến Bác Hồ. Chúc các đồng chí ở lại mạnh khỏe. Các con, ba đã làm tròn nhiệm vụ”. Ngày 20-12-1994, đồng chí được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND). Hiện nay, phần mộ của Anh hùng LLVTND Bảy Đen tọa lạc tại Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Tiền Giang. Tên tuổi và những chiến công sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng của đồng chí sống mãi trong trang sử vàng liệt oanh của dân tộc.
NGUYỄN PHÚC NGHIỆP

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32