Một sự kiện lịch sử, qua nhiều đời
kể đi kể lại, sẽ biến thành truyền thuyết. Nhưng nó lại là lịch sử có
thật trong quá khứ. Ngày hôm nay, như một sự lội ngược dòng, Đại Kỷ
Nguyên cung cấp tới độc giả những sự thật mới được khám phá liên quan
đến các truyền thuyết qua những kết quả khảo cổ mới. Một thế giới chân
thực, sống động cổ xưa sẽ được mở ra qua Vén Màn Lịch Sử.
Báu vật quốc gia của Thổ Nhĩ Kỳ: Tàu Nô ê được tìm thấy gần ngôi làng Thổ Nhĩ Kỳ Üzengili ở thôn Doğubeyazıt
Theo truyền thống Kitô giáo, chiếc
thuyền Noah đã bị mắc kẹt trên núi Ararat. Đây là ngọn núi cao nhất trên
lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ, mà đỉnh cao là tại 5137 mét độ cao so với mực nước
biển.
Vào ngày 20/6/1987, Thống đốc tỉnh Agri
của Thổ Nhĩ Kỳ tuyên bố với thế giới rằng: Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, các
nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Ataturk, cơ quan khảo cổ Thổ Nhĩ
Kỳ… đã công nhận khám phá của nhóm thám hiểm Ron Wyatt. Đây là kết quả
của nhiều chục năm nghiên cứu.
Đây chính là kết quả của nhiều chục năm nghiên cứu, con thuyền Noah chính xác như mô tả trong Kinh Thánh đã được tìm thấy (Ảnh:
Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã công nhận vật
thể hình chiếc tàu trên ngọn núi Ararat tại độ cao 2.000m so với mực
nước biển ấy là con tàu của Nô-ê. Khu vực này trở thành công viên quốc
gia, báu vật quốc gia của họ. Đây là một trong những phát hiện lịch sử
học và khảo cổ học vĩ đại nhất, cho thấy Đại Hồng Thủy và con tàu Nô- ê
là sự thật.
Báo Thổ Nhĩ Kỳ đưa tin: Chính phủ khẳng định: “Đây là con thuyền Nô ê”Tọa độ con tàu: 39 26’ 26.09″ Bắc, 44 14’ 04.29″ Đông. Hình ảnh vệ tinhCon tàu nằm giữa một dòng bùn cổ. (Ảnh chụp năm 1959)
Phần đầu tiên của cuộc nghiên cứu là
kiểm tra vật thể và đo lường kích thước của nó. Vật thể trông giống phần
thân của một con tàu lớn. Một đầu nhọn là mũi tàu, còn đầu kia bo lại
là đuôi tàu. Khoảng cách từ mũi đến đuôi là gần 160m:
Trên mạn phải của con tàu, gần đuôi (điểm B)
có 4 thanh lồi ra khỏi phần đất bùn, cách đều nhau, được xác định là
các sườn khung của thân tàu. Đối diện với chúng, ở bên mạn trái, có một
thanh sườn cũng lồi ra khỏi đất bùn (điểm A).
Chúng ta có thể dễ dàng quan sát thấy
hình dáng uốn cong của nó. Xung quanh đó là rất nhiều sườn khung khác,
phần lớn bị chôn vùi trong đất, nhưng kiểm tra kỹ đều có thể thấy được:
Gỗ của con tàu đã bị hóa thạch. Các chất hữu cơ đều đã bị thay thế
bằng khoáng chất, chỉ còn lại hình thù và dấu vết của các thanh sườn
tàu.
Mắt người chỉ nhìn được vật thể nhờ ánh
sáng phản chiếu từ nó. Để nhận ra những vật thể nằm bên dưới mặt đất,
các nhà khoa học sử dụng sóng siêu âm xuyên qua mặt đất. Kỹ thuật này
thường được dùng để xác định vị trí dầu mỏ và các khoáng chất khác.
Thiết bị để làm việc này được gọi là Radar xuyên đất (máy GPR):
Kết quả radar scan: Radar ngầm đã giúp
xác định rõ các cấu trúc bên dưới mặt đất. Chúng hoàn toàn đối xứng và
có bố cục rất hợp lý. Đây là những kích thước chính xác như được mô tả
của con tàu trong Kinh Thánh
“Dữ liệu này không tương ứng với kiến tạo địa chất tự nhiên. Chúng là những cấu trúc nhân tạo…” Ron Wyatt cho biết.
Bên trong mẫu gỗ dán cực kỳ cổ xưa đã hóa
thạch này, người ta tìm thấy dấu vết của những cây đinh sắt. Kiểm tra
cho thấy phần keo dán rỉ ra từ các lớp gỗ dán. Bề ngoài của mẫu vật từng
được phủ một lớp nhựa đường, cũng đã hóa thạch:
Những cây đinh sắt bên trong mẫu gỗ dán
cực kỳ cổ xưa đã hóa thạch. Cây đinh tán cắm ngập vào phần thân gỗ hóa
thạch. Kết quả phân tích cho thấy nó được làm bằng một loại hợp kim,
trong thành phần có chứa cả nhôm. Chứng tỏ thời đó nhân loại có công
nghệ rất cao:
Cách con tàu vài cây số, người ta tìm thấy nhiều khối đá
rất lớn, một số dựng đứng trong khi số khác nằm dài trên mặt đất. Những
khối đá này có khối lượng lên đến cả tấn, và có lỗ xuyên qua thân mình.
Các nhà nghiên cứu đã công nhận rằng chúng là những cái neo, còn những
cái lỗ là để buộc dây thừng. Nói cách khác, đây chính là những tảng đá
mỏ neo: Đại Hồng Thủy và con tàu Nô ê: Một câu chuyện đẫm nước mắt của lịch sử, không phải của truyền thuyết?
Đại hồng thủy là đại thảm họa khủng
khiếp đã từng tới với loài người, được nhắc đến trong truyền thuyết của
nhiều tôn giáo và nhiều dân tộc trên thế giới. Nó được miêu tả là một
trận lụt cực lớn và là sự trừng phạt của Thiên Chúa do sự suy đồi đạo
đức, thoái hóa biến chất của loài người. Duy nhất Nô-ê nghe theo lời chỉ
dạy của Thần làm chiếc tàu và sống sót.
Toàn
bộ trái đất khi ấy đã được che phủ bằng nước vài km chiều cao. Nước
dâng lên cao hơn cả những đỉnh núi cao nhất, vào ngày 17 tháng 2, mưa 40
ngày đêm và nước dâng lên liên tục trong 157 ngày.
Trước đó, vì muốn lưu lại con người và giống vật để phát triển một nhân loại mới sau thảm họa, Thần đã phán truyền cho ông Nô-ê:
“Ngươi sẽ làm tàu thế này: chiều dài
một trăm năm mươi thước, chiều rộng hai mươi lăm thước, chiều cao mười
lăm thước. Ngươi sẽ làm một cái mui che tàu, và đặt mui cách phía trên
tàu nửa thước. Cửa tàu, ngươi sẽ đặt ở bên hông; ngươi sẽ làm tầng dưới,
tầng giữa rồi tầng trên.” (Sáng Thế 6:15-16).
Ngoài ra, Thần cũng hướng dẫn ông Nô-ê cách thức để sinh tồn và bảo tồn giống động thực vật trong tàu: “Trong
mọi sinh vật, mọi xác phàm, ngươi sẽ đưa vào tàu mỗi loại một đôi, để
giữ cho chúng sống với ngươi; phải có một con đực và một con cái. Trong
mỗi loại chim, mỗi loại gia súc, mỗi loại vật bò dưới đất, mỗi loại một
đôi sẽ đến với ngươi, để ngươi giữ cho chúng sống. Phần ngươi, hãy lấy
mọi thứ ăn được và tích trữ cho mình; đó sẽ là lương thực của ngươi và
của chúng.” (Sáng thế 6:19-21).
Sau đại hồng thủy, chỉ có gia đình Nô-ê còn sống sót cùng các loài vật mỗi giống một cặp đôi, trên con thuyền Nô-ê.
Và đây là mẫu vật hóa thạch các nhà khoa học thu được tại hiện trường, có niên đại đúng thời điểm kể trong Kinh Thánh:
Mẫu phân động vật hóa thạch.Trái: gạc hươu hóa thạch. Phải: một chùm lông mèo.
Sau trận lụt kinh hoàng, nước rút dần
khỏi mặt đất thì ông Nô-ê thả một con quạ bay ra khỏi tàu xem tình hình
bên ngoài. Lần thứ nhất, con quạ không tìm được chỗ đậu chân vì nước
chưa rút, nên nó bay về lại tàu. Bảy ngày sau, con bồ câu được thả ra
lần nữa, và lần này nó bay trở về, trên mỏ ngậm cành lá ô liu tươi. Ông
Nô-ê biết là nước đã giảm xuống, mặt đất đã trở lại.
Những nghiên cứu mới đây tiếp tục khẳng định Đại Hồng Thủy và con tàu Nô ê
Tiếp sau những nghiên cứu vào những thập
niên 70, 80, vào tháng Chín năm 2004, những nhà khoa học từ một số tổ
chức, trong đó có Robert Ballard của National Geographic Society, người
đã nổi tiếng với việc phát hiện ra xác tàu của “Titanic”, đã tiến hành
một cuộc thám hiểm tại Biển Đen (khu vực Thổ Nhĩ Kỳ). Họ phát hiện ra
rằng biển nội địa này không phải luôn luôn như chúng ta thấy ngày nay.
Biển
Đen -nó có thể đã hình thành từ một hồ nước khổng lồ của nước đen mà
những con sóng đã đột nhiên tăng lên rất nhanh chóng, tại một thời điểm
cụ thể trong lịch sử. Tất cả mọi thứ đã biến mất đột ngột đến mức những
người dân sống trên bờ đã bị buộc phải rời khỏi ngay lập tức tới các
vùng an toàn hơn, buộc họ phải bỏ lại đằng sau ngôi nhà của mình, công
cụ của mình, vv.
Phát hiện này là minh chứng
rằng vùng dọc bờ Biển Đen là từng là nơi sinh sống sầm uất trước cơn Đại
Hồng Thủy – Fredrik Hiebert.
Đầu năm 2006, giáo sư Porcher Taylor
cũng đã thông báo rằng sau khi nghiên cứu sâu rộng trong nhiều năm nhờ
sự giúp đỡ của các hình ảnh vệ tinh, các kích thước của vật thể con tàu
tại hiện trường cũng như mọi đặc điểm của nó tương ứng một cách hoàn hảo
với con thuyền được mô tả trong Kinh Thánh.
Sự trùng hợp kỳ lạ: Vì sao những
câu chuyện lịch sử của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia trên thế giới đều
kể lại câu chuyện về Đại Hồng Thủy và con tàu Nô- ê?
Các
“huyền thoại” Kinh Thánh của Đại Hồng Thủy đã đồng thời được đề cập
trong các tài liệu lưu trữ của các dân tộc khác nhau, bao gồm cả người
Hindu, người Sumer, người Hy Lạp, các Acadians, người Trung Quốc, các
Mapuches, các Mayas, người Aztec và người dân trên đảo Phục Sinh.
Trong tất cả những câu chuyện này, các
chi tiết giống nhau một cách đáng ngạc nhiên. Đều là đã có cảnh báo từ
các Thần về việc phải xây dựng một chiếc tàu, để có thể sống sót qua cơn
Đại Hồng Thủy và để phục hồi sau đó sự sống trên hành tinh. Nhưng loài
người đa phần cười không tin. Duy nhất chỉ có Nô-ê tin nghe và làm theo
lời dặn của Thần.
Sự chuẩn xác tuyệt đối giữa các dữ liệu lịch sử và phát hiện của các nhà khảo cổ
Sử thi Gilgamesh (niên đại ít nhất 2660 năm trước) có ghi rằng đỉnh núi Nisir là nơi an nghỉ của con tàu huyền thoại: Tên gọi hiện nay là núi Nasar.
Cổ thư Houd Sura 11:44 (thuộc bộ sách Koran) ghi: “Con tàu đến an nghỉ trên ngọn Al-Judi, và nghe thấy một giọng nói: “Những kẻ xấu ác đều đã chết”: Thực
tế hoàn toàn chính xác. Ngọn Al-Judi chính là nơi ban đầu con tàu nằm,
trước khi bị dòng bùn cổ cuốn trôi xuống vị trí hiện nay.
Cổ thư Genesis 8:4-5 (thuộc Kinh Thánh) ghi:
“Và con tàu yên nghỉ vào tháng thứ 7, ngày 17 tháng ấy, trên dãy núi
Ararat. Và nước rút liên tục cho đến tháng thứ 10: vào tháng thứ 10,
ngày đầu tiên tháng ấy, [con tàu] được trông thấy trên đỉnh của các ngọn
núi ấy”: dữ liệu hoàn toànchính xác.
Biên niên sử Ashurnasurpal II của Assyria (833-859 trước công nguyên) nói con tàu nằm lại ở phía nam của dòng sông Zab: Hoàn toàn chính xác.
Cuốn Theophilus của Antioch (115-185)
nói rằng vào thời của ông người ta có thể trông thấy được con tàu trong
những ngọn núi của người Arab: Hoàn toàn chính xác.
Vậy là, liên tục có những khám
phá mới về điều kỳ diệu tưởng chừng như không có. Những khám phá mới của
con người dường như liên tục mở ra những chân trời quá khứ mà trước đây
người ta vốn không nghĩ tới, không tin. Dành một chút suy ngẫm để tự
thấy mình nhỏ bé thế nào trước vũ trụ mênh mông và bao la, năng lực của
con người vẫn qúa ư nhỏ bé. Hãy tôn trọng thiên nhiên đất trời. Chúng ta
vốn là ai và có thể thực sự làm được điều gì, trên thực tế vẫn mãi là
một ẩn số lớn của nhân loại.
Xem video để cảm nhận bài viết:
Hà Phương Linh
Những bí ẩn về trận Đại Hồng Thủy khủng khiếp nhất lịch sử nhân loại
Phải mất bao lâu để Nô-ê đóng con tàu? Nô-ê đã ở trên con tàu bao lâu?
Câu hỏi: Phải mất bao lâu để Nô-ê đóng con tàu? Nô-ê đã ở trên con tàu bao lâu?
Trả lời: Phải mất bao lâu để Nô-ê đóng con tàu? Kinh Thánh không nói cụ
thể phải mất bao lâu để Nô-ê đóng con tàu. Khi Nô-ê được đề cập đến lần
đầu tiên trong Sáng-thế-kí 5:32, ông đã 500 tuổi. Khi Nô-ê đi vào tàu,
ông đã 600 tuổi. Thời gian cần thiết để đóng con tàu có thể phụ thuộc
vào bao nhiêu thời gian đã trôi qua giữa Sáng-thế-kí 5:32 và thời gian
mà Đức Chúa Trời ra lệnh cho Nô-ê đóng con tàu (Sáng-thế-kí 6:14-21).
Tính tuyệt đối nhất, nó mất 100 năm.
Nô-ê đã ở trên tàu bao lâu? Nô-ê lên tàu vào năm thứ 600 của cuộc
đời, vào ngày thứ 17 của tháng thứ 2 (Sáng-thế-kí 7:11-13). Nô-ê rời
khỏi tàu vào ngày thứ 27 của tháng thứ 2 của năm tiếp theo (Sáng-thế-kí
8:14-15). Do đó, giả sử lịch mặt trăng có 360 ngày, Nô-ê đã ở trên con
tàu khoảng 370 ngày.
Có bao nhiêu loại trong loại vật No-ê đã mang lên tàu? 7 cặp cho
mỗi loài vật thanh sạch và 2 cặp cho những loài vật khác đã được mang
lên tàu (Sáng-thế-kí 6:19-20; 7:2-3). "Thanh sạch" theo ý nghĩa Kinh
Thánh là loài vật mà "được chấp nhận cho việc hiến tế". Đó là lý do cho 7
cặp của loài vật thanh sạch được mang lên – do đó một vài trong chúng
được hiến tế sau khi trận lụt kết thúc mà không làm hại tới loài thú đó.
Có bao nhiêu người trên con tàu của Nô-ê? Dựa vào Sáng-thế-kí
chương 6-8, Nô-ê, vợ của ông, 3 con trai của Nô-e (Sem, Cham và
Gia-phết), và vợ của họ trên tàu. Do đó, có 8 người ở trên tàu.
Vợ của No-ê là ai? Kinh thánh không có chỗ cụ thể nào cho chúng
ta cái tên xác định của vợ của Nô-ê. Có một truyền thống cho rằng bà tên
là Na-a-ma (Sáng-thế-kí 4:22). Mặc dù có thể, điều này không được dạy
rõ ràng trong Kinh Thánh.
Tìm hiểu xem chiếc thuyền đã chiến thắng cơn đại hồng thủy trong kinh thánh ra làm sao?
Truyền thuyết về chiếc thuyền cứu thế
Câu chuyện kể rằng vào một ngày khi phải chứng kiến
những tội ác mà con người gây ra,Thượng đế đã cảm thấy hết sức thấy tức
giận và hối hận vì mình đã tạo ra loài người. Ngài đã quyết định sẽ tạo
nên một cơn đại hồng thuỷ để quét sạch hết thảy những mầm mống của tội
ác.
Lúc bấy giờ, ở trên mặt đất, có một người tên làNoah với lòng dạ ngay thẳng nên thượng đế không nỡ giết hại và đã báo mộng cho ông biết ý định của mình. Người khuyên bảo Noah
hãy đóng một chiếc thuyền thật lớn để có thể chứa được tất cả những
người thân của gia đình mình cùng với tất cả mọi loài động vật, nhưng
mỗi loài chỉ được mang theo 1 cặp.
Nghe theo lời Thượng Đế, Noah
đã đóng một chiếc thuyền khổng lồ, dài 360m, rộng 23m, cao 13,6m - được
chia làm 3 tầng rồi đưa tất cả các loại động vật lên đó với mỗi loài
chỉ có 1 cặp.
Sơ đồ thiết kế con thuyền của Noah.
Ngay khi thuyền được đóng xong và tất cả các loài
đã lên được thuyền thì cũng là lúc cơn đại hồng thuỷ ập đến. Quả nhiên,
nguồn nước ở vực sâu nứt ra, tràn ngập khắp nơi,một cơn mưa lớn và dữ
dội kéo dài suốt 40 ngày đêm. Thượng đế đã hoàn thành việc trừng phạt
loài người, mọi tội ác cùng với sự sống bị tiêu diệt - tất nhiên là trừ Noah và gia tộc của mình.
Noah và chiếc thuyền cứu thế của mình.
Sau 150 ngày thì nước bắt đầu rút, con thuyền Noah trôi dạt trong làn nước mênh mông đã mắc vào đỉnh núi Ararad (được xác định là ở khu vực phía đông Thổ Nhĩ Kì ngày nay, nơi tiếp giáp giữa Armenia và Iran).
Lại 40 ngày trôi qua nữa, Noah
cho thả chim bồ câu ra, và chẳng bao lâu sau thì đã thấy chim tha về
một chiếc lá ô liu, chứng tỏ rằng nước đã rút hẳn (kể từ đó hình tượng
chim bồ câu ngậm lá ô liu được coi là biểu tượng cho sự hoà bình).
Và thế là Noah đã đưa tất cả các sinh vật ra khỏi thuyền, trở lại mặt đất để tiếp tục sinh sống. Thượng đế đã lập một giao ước với Noah và răn đe loài người rằng: "Các
người hãy sinh sôi nảy nở để trám đầy mặt đất, nhưng nhớ rằng hễ các
người còn tàn ác, và máu người khác vẫn còn chảy thì máu của các người
cũng sẽ phải chảy."
Truyền thuyết về trận đại hồng thuỷ và con thuyền Noah không những chỉ ghi chép trong Kinh thánh, mà ngay cả trong kho sách cổ nhất được khai quật tại thủ đô Nineveh của đế quốc Assyria cổ đại cũng có ghi chép chuyện tương tự trong bản đất sét đã tìm được.
Tái hiện lại con thuyền trong thực tế.
Những cuộc kiếm tìm dấu vết con thuyền huyền thoại
Từ thời cổ đại con người đã tìm kiếm hết đỉnh núi này đến đỉnh núi khác hòng tìm ra nơi chiếc thuyền Noah trong truyền thuyết đã neo đậu. Vào thời cổ đại, nhiều đoàn thám hiểm lên đường tìm kiếm tàn tích của thuyền Noah, họ chọn vô số các dãy núi để thám hiểm ở vùng Cận Đông. Một trong số này là Pir Omar Gudrun, thời xưa gọi là núi Nisir, nằm gần Kirkuk ở Iraq (Mesopotamia cổ đại), phía đông quê hương của người Assyria cổ ở dãy Zagros.
Ngọn núi Ararad.
Nhưng phải mới đến khi nhà nhiếp ảnh gia Ron Wyatt công bố bức ảnh một mỏm núi hoá thạch giống hình chiếc thuyền Noah
vào ngày 5/9/1960 trên tạp chí LIFE thì nó mới được mọi người thực sự
chú ý đến. Đây có thể coi là một trong những bức ảnh nổi tiếng nhất về
con thuyền Noah. Năm 1977, chính Ron Wyatt cùng một đoàn thám hiểm lên đỉnh Ararad và khẳng định nơi chụp bức ảnh đó chính là con thuyền Noah.
Sau Ron Wyatt,
có rất nhiều nhà thám hiểm mạo hiểm truy tìm dấu vết của con thuyền
huyền thoại này, nhưng đều không thu được những kết quả như mong đợi bởi
Ararad là một ngọn núi lửa đã tắt, cao hơn 5km so với mực nước biển, đỉnh núi quanh năm có tuyết phủ nên việc đi tìm con thuyền Noah huyền thoại là điều không dễ dàng.
Bức ảnh được cho là con thuyền Noah được chụp trên đỉnh núi Avarad.
Phải mãi cho đến gần đây, khi một nhóm gồm 15 nhà nghiên cứu người HongKong và Thổ Nhĩ Kì thuộc tổ chức Đoàn linh mục Con thuyền Noah Quốc tế (NAMI) đến thám hiểm trên đỉnh núi Ararad, họ đã tìm thấy bảy gian phòng làm bằng gỗ lớn nằm chôn vùi dưới tuyết ở đỉnh núi Ararad tạiThổ Nhĩ Kì.
Những kiểm tra ban đầu cho thấy, niên đại của những mảnh vụn được tìm
thấy có niên đại khoảng 4800 năm trước. Đây cũng là thời điểm mà chiếc
thuyền Noah huyền thoại tồn tại được miêu tả trong "Kinh thánh".
“Kết cấu gỗ này
vẫn dùng mộng chứ không dùng đinh, điều đó chứng tỏ nó rất cổ xưa. Trong
khoảng 100 mét xung quanh kết cấu gỗ, có rất nhiều khúc gỗ nằm rải rác.
Từ đó có thể dự đoán rằng, kết cấu gỗ này được bao phủ bởi băng và đá
núi lửa trong một thời gian rất dài”.
“Không chắc chắn 100%, nhưng chúng tôi nghĩ cũng phải 99% đó chính là chiếc thuyền của Noah”, Yeung Wing-cheung, một thành viên trong đoàn thám hiểm phấn khởi nói.
Gian phòng gỗ bên trong nơi những nhà thám hiểm cho rằng là của Noah.
Noah chỉ tồn tại trong truyền thuyết?
Tuy nhiên ngược lại với những bằng chứng nhằm chứng minh rằng con thuyền Noah thực sự có thật như trên, thì lại có rất nhiều nhà khoa học cho rằng nó chỉ tồn tại trong những truyền thuyết mà thôi.
Nếu vào giai đoạn xảy ra trận đại hồng thuỷ đó, thuyền Noah bị mắc lại trên đỉnh núi Ararad
thì có rất nhiều khả năng nó đã bị sự vận động của băng hà đẩy xuống
vùng thấp hơn từ rất lâu rồi. Như thế, chắc chắn nó đã vỡ nát tan tành,
những mảng gỗ của con thuyền to lớn đó chắc sẽ vương vãi trên một vùng
rất rộng lớn của núi Ararad, thế
mà cho đến nay chả có ai nhặt được những mảnh vỡ lớn nào ngoại trừ mấy
người đã nhắc ở trên nhặt được những mẩu gỗ vụn ở độ cao tận gần 5km.
Về những bức ảnh chụp thuyền Noah,
theo các nhà khoa học nhận xét đó chỉ là những bức ảnh mờ, rất mờ, phải
có trí tưởng tượng rất phong phú mới có thể hình dung ra nó giống với
chiếc thuyền mô tả trong Kinh Thánh.
Lại thêm những suy đoán khoa học nữa khi mà tại sao
trận đại hồng thuỷ kia có thể làm cho nước trên trái đất dâng cao đến
gần 5km? Và nếu như nước dâng đến như thế thật đi thì lượng nước ấy làm
sao có thể rút đi hết chỉ trong 150 ngày?
Và nước sẽ rút đi đâu cũng là một câu hỏi khó giải
đáp. Tiếp nữa, nếu xảy ra đại hồng thuỷ và nước dâng lên rất cao thì dấu
tích của nước xâm thực phải còn được giữ lại. Tuy nhiên cho đến nay
người ta lại chẳng tìm thấy được bất cứ dấu vết gì để chứng minh rằng
những sự việc đó đã từng xảy ra cả.
Con thuyền Noah liệu có thật?
Có thể nói, cho đến bây giờ thì giả thuyết vẫn chỉ là giả thuyết. Nhiều nhà khoa học vẫn nghi ngờ về sự tồn tại của con thuyền Noah vì những bằng chứng đưa ra cho đến nay vẫn còn nhiều lỗ hổng và thiếu sức thuyết phục.
Hi vọng rằng những phát hiện sắp tới đây của nhóm thám hiểm thuộc tổ chứcNAMI sẽ đưa ra cho chúng ta những câu trả lời xác đáng nhất về bức màn thật sự đằng sau những bí ẩn về chiếc thuyền Noah huyền thoại.
Bằng chứng về trận Đại hồng thủy: Sự thật hay chỉ là truyền thuyết? (Phần 1)
Trận Đại hồng thủy, một thảm họa toàn cầu (năm 1869). (Ảnh: Internet)
Liệu có thể nào tất cả các sự
tích lũ lụt/đại hồng thủy đã sốt sắng lặp lại trên thế giới chỉ là một
bộ sưu tập các huyền thoại hay các sự kiện độc lập, không liên quan đến
nhau như giới học giả chủ lưu vẫn nhìn nhận? Hay phải chăng Trận Đại
hồng thủy là một thảm họa đơn nhất mang tính toàn cầu đã tác động đến
toàn bộ nhân loại vào một thời điểm nào đó trong tiền sử?
Câu chuyện về một “Trận Đại hồng
thủy” được Chúa (hay các vị Thần theo các tư liệu cổ xưa hơn) gửi tới
nhằm hủy diệt nhân loại tội lỗi là một sự kiện phổ biến góp mặt trong
rất nhiều nền văn hóa và tín ngưỡng trên khắp thế giới, và trải dài tới
tận giai đoạn lịch sử đầu tiên từng được ghi nhận. Từ Ấn Độ cho đến Hy
Lạp cổ đại, vùng Lưỡng Hà và ngay cả trong các cộng đồng thổ dân bản địa
Bắc Mỹ, không hề thiếu những câu chuyện mà thoạt nghe rất tương đồng
với nhau. Một số trong những câu chuyện này thật sự giống nhau đến nỗi
một người có thể thốt lên rằng phải chăng tất cả các nền văn minh trên
địa cầu đều đã từng trải qua một sự kiện tương tự.
Thảm họa
Tuy các
thảm họa nhỏ, biệt lập có thể reo rắc nỗi kinh hoàng đến một quần thể
người dân ở mức độ tương đương, nhưng các ảnh hưởng tổng thể của chúng
là khá ngắn, và thường sẽ phai mờ khỏi tâm trí người dân trong vài thập
kỷ, hoặc thậm chí chỉ vài năm. Tuy nhiên, trong trường hợp của Trận Đại
hồng thủy, chúng ta có một câu chuyện dường như không có ranh giới, một
câu chuyện mà mỗi nền văn minh đều nhấn mạnh vào tính chất toàn cầu của
nó. Một thảm họa như vậy phải to lớn và có sức tàn phá đến đâu, để có
thể khắc ghi vào trong ký ức tập thể của tổ tiên chúng ta trong hàng
nghìn năm như vậy? Đánh giá từ những lời chứng tương đồng nhau, chúng ta
có thể nói rằng đây không chỉ là một sự kiện đã tác động đồng thời đến
tất cả mọi người, mà để cho nó có thể trở thành một dấu ấn không thể xóa
nhòa trong tâm khảm của nhân loại, thì nó phải là một trải nghiệm đã
diễn ra không chỉ trong nhiều ngày hay nhiều tháng, mà là nhiều thế hệ.
Mực nước biển gia tăng
Tuy
nhiên, nếu không phải là một sự kiện cô lập, vậy thì thảm họa mang tính
toàn cầu nào đã được biết đến có đủ khả năng để được gọi là Trận Đại
hồng thủy? Không còn nghi ngờ gi nữa, một sự gia tăng đáng kể mực nước
biển—một thảm họa toàn cầu mà cho đến cuối Kỷ Băng Hà đã xóa sổ hàng
triệu km vuông đất liền xung quanh địa cầu—chắc hẳn phải là sự kiện ngày
tận thế mà mỗi nền văn minh ngày nay đều đang thảo luận rất sôi nổi. Cụ
thể hơn, chính sự gia tăng mực nước biển đột ngột vào khoảng giai đoạn
năm 8000 TCN rốt cuộc đã dẫn đến tình trạng ngập lụt đầu tiên ở khu vực
Địa Trung Hải, rồi sau đó đến khu vực Biển Đen. (Lưu ý: Tuy rằng vào năm
1997 William Ryan và Walter Pitman đã đưa ra giả thuyết cho rằng tình
trạng ngập lụt đã xảy ra vào khoảng giai đoạn 5600 TCN, nhưng một nghiên
cứu sau đó vào năm 2005, được tài trợ bởi UNESCO, đã xác nhận được rằng
vụ việc này đã xảy ra sớm hơn trước đó rất nhiều, vào khoảng giai đoạn
8000 TCN).
Trận Đại hồng thủy (khoảng năm 1450). (Ảnh: Wikimedia)
Sự gia
tăng mực nước biển là một sự kiện đơn nhất, lâu dài đã mạnh mẽ tái lập
lại đường bờ biển của hành tinh chúng ta và cũng chính là sự kiện đồng
thời tác động đến tất cả nền văn minh gần biển trên toàn cầu vào thời
điểm đó. Ngay cả với cái nhìn đầu tiên, sự gia tăng dần dần mực nước
biển dường như không hội đủ tiêu chuẩn như một sự kiện khơi mào cho cho
truyền thuyết về Trận Đại hồng thủy, nhưng một sự kiện đã khiến mực nước
biển gia tăng hơn 120 m trên toàn cầu, chắc chắn đã có rất nhiều giai
đoạn đột ngột khi mà diễn biến trận lụt trở nên hoàn toàn nằm ngoài khả
năng dự báo. Khi cân nhắc đến việc con người, về bản chất thường định cư
ở những khu vực thấp và gần nguồn nước [để sinh hoạt], sẽ không có gì
ngạc nhiên khi tất cả các nền văn minh thời tiền sử đã bị hủy diệt hoàn
toàn bởi sự kiện này.
Một nghiên cứu gần đây được đăng tải vào ngày 4/12/2010 trên trang Science News với
tựa đề “Tình trạng mực nước biển gia tăng toàn cầu vào cuối Kỷ Băng Hà
bị cắt ngang bởi các cú nhảy vọt” đã đưa ra cách giải thích tốt hơn. Sau
giai đoạn cuối của Kỷ Băng Hà gần đây nhất, trong khoảng từ 17000 TCN
cho đến 4000 TCN, mực nước biển trung bình đã gia tăng khoảng 1m mỗi thế
kỷ. Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng tình trạng gia tăng dần
dần mực nước biến này đã được xen lẫn bởi các đợt gia tăng mực nước biển
đột ngột tại một mức tỷ lệ khoảng 5m mỗi thế kỷ. Nói chính xác hơn,
nghiên cứu đã cho thấy rằng giai đoạn từ 13000 TCN cho đến 11000 TCN,
cũng như giai đoạn từ 9000 TCN cho đến 7000 TCN, đã được đánh dấu bởi
một tình trạng gia tăng mực nước biển bất thường.
Khi
nghiên cứu sâu hơn hiện tượng biến đổi khí hậu đột ngột trong khoảng
18.000 năm qua, khoảng thời gian từ 9000 TCN đến 7000 TCN là đặc biệt
thú vị. Do các tảng băng trôi bắt đầu tan chảy khoảng vài nghìn năm
trước giai đoạn này, và các mức nhiệt độ bắt đầu gia tăng đáng kể sau
mỗi thế kỷ trôi qua, từ đó làm tăng tốc quá trình tan băng, chúng ta có
thể dễ dàng giả định rằng đây hẳn phải là giai đoạn gia tăng mực nước
biển nhiều nhất. Nói chính xác hơn, giai đoạn tồi tệ nhất chắc hẳn là
giai đoạn từ khoảng 8000 TCN cho đến “chu kỳ lũ lụt” đáng kể xảy ra
trước khi Biển Đen bị ngập lụt, thời điểm đánh dấu sự kết thúc của giai
đoạn khắc nghiệt này. (Trên thực tế, nếu các Kỷ Băng Hà và trận lụt vào
các chu kỳ trước đó không thêm độ mặn vào nước ngọt của Biển Đen, thì
không nghi ngờ gì khi nói rằng trận lụt mang tính toàn cầu lần trước vào
khoảng 8000 TCN chắc hẳn phải là trận lụt lớn nhất mọi thời đại).
Trong
khoảng giai đoạn này, bên cạnh lượng nước tan chảy từ sông băng đã đổ
mạnh mẽ vào biển Đại Tây Dương, hai hồ băng khổng lồ ở Bắc Mỹ cũng đã
trào ra, đầu tiên là hồ Agassiz, sau đó đến hồ Ojibway, và bắt đầu thoát
nước vào biển bắc Đại Tây Dương. Chỉ tính riêng hồ Agassiz, bao phủ một
vùng diện tích lớn hơn toàn bộ vùng Ngũ Đại Hồ hợp lại (440.000 km2).
Ước tính chỉ riêng trận lụt tràn gây ra bởi sự đổ vỡ của hồ băng
Agassiz cũng đã đủ khiến mực nước biển gia tăng lên đến khoảng 2,7 m
trên toàn cầu. Tổng lượng nước ngọt tràn ra [biển] từ cả hai hồ là quá
lớn đến nỗi không chỉ có thể nhanh chóng làm gia tăng mực nước biển trên
toàn cầu lên vài mét, mà sự kiện này rốt cục cũng có thể đã gây nên “sự
kiện 8,2 kilo năm” vốn xuất hiện sau đó vào khoảng 8.200 năm trước (một
Kỷ Băng Hà nhỏ đã kéo dài đến 4 thế kỷ)
Bản đồ hai hồ băng Agassiz và Ojibway khoảng 7900 năm trước. (Ảnh: Internet)
Chính
trong khoảng giai đoạn này hầu hết các nền văn minh gần biển trên Trái
Đất đã biến mất. Tình trạng gia tăng nhanh chóng, liên tục mực nước biển
trong giai đoạn này (trung bình khoảng từ 6 đến 9 m mỗi thế kỷ hoặc
hơn), cùng với tình trạng khí hậu khắc nghiệt theo sau, đã khiến những
gì còn sót lại của bất kỳ nền văn minh nào ở đây không thể tự tái lập.
Sự khôi phục của nhân loại
Chỉ sau
giai đoạn 7.000 TCN khi mực nước biển bắt đầu ổn định trở lại, thì đời
sống của con người mới một lần nữa trở về đúng quỹ đạo. Các vùng đất gần
biển không còn phải bị bỏ hoang để di tản đến các vùng đất cao hơn, ít
nhất là ở hầu hết các khu vực, và trong khoảng từ 6000 TCN đến 5000 TCN,
một lần nữa, chúng ta bắt đầu nhìn thấy các dấu hiệu của hoạt động con
người gần khu vực biển. Liệu đây chỉ đơn thuần là một sự trùng hợp ngẫu
nhiên khi lịch sử “được ghi nhận” đã bắt đầu vào khoảng thời gian này?
Liệu có đúng khi nói rằng những con người thời kỳ đầu vẫn còn quá nguyên
thủy để có thể để lại đằng sau các dấu tích về sự tồn tại của họ, hay
những trang đầu tiên của lịch sử đã bị “cuốn trôi” bởi Trận Đại hồng
thủy từ Kỷ Băng Hà gần đây nhất? Sau cùng, dường như ngay khi các hoàn
cảnh khí hậu khắc nghiệt thoái lui, sẽ không mất nhiều thời gian để nhân
loại có thể tự khôi phục lại một lần mới.
Bức tranh vẽ cảnh đại hồng thủy trong Thánh Kinh. (Ảnh: wiki)
Câu chuyện
về một “Trận Đại hồng thủy” là một sự kiện phổ biến trong rất nhiều nền
văn hóa và tín ngưỡng trên khắp thế giới, và trải dài tới tận giai đoạn
lịch sử đầu tiên từng được ghi nhận.
Một số trong những câu chuyện này thật
sự giống nhau đến nỗi một người có thể thốt lên rằng phải chăng tất cả
các nền văn minh trên địa cầu đều đã từng trải qua một sự kiện tương
tự. Từ Ấn Độ cho đến Hy Lạp cổ đại, vùng Lưỡng Hà và ngay cả trong các
cộng đồng thổ dân bản địa Bắc Mỹ, không hề thiếu những câu chuyện mà
thoạt nghe rất tương đồng với nhau.
Để thách
thức giả thuyết này, ít nhất cho tới thời điểm gần đây, các nhà cổ sinh
vật học đã nhấn mạnh rằng 10.000 năm trước nhân loại vẫn còn quá sơ
khai, nguyên thủy để có thể nhận thức được một sự kiện như vậy. Vì vậy,
về cơ bản, do không có nền văn minh nào được biết đến tồn tại trong
khoảng thời gian này để có thể bị tác động bởi một thảm họa tự nhiên như
vậy, nên câu chuyện về một Trận Đại hồng thủy đã được nhìn nhận là một
truyền thuyết hay một thảm họa đã từng xảy ra vào một khoảng thời gian
về sau, trong chiều dài lịch sử đã được ghi nhận. Tất nhiên, vì không có
gợi ý nào về các thảm họa toàn cầu trong chiều dài lịch sử đã được ghi
nhận, nên có thể dẫn đến một kết luận sau cùng là Trận Đại hồng thủy chỉ
là một truyền thuyết hay một sự kiện cục bộ xảy ra trong một phạm vi
nhỏ hơn rất nhiều, ví như hiện tượng ngập lụt Biển Đen.
Trong
rất nhiều năm, đây là “logic” chung đã thống trị rất nhiều tư tưởng học
thuật và là thách thức lớn nhất cho giả thuyết về Trận Đại hồng thủy
trong Kỷ Băng hà khi nó được đưa ra.
Bằng chứng mới
Một
nhà khảo cổ từ Cục Quản lý Khí quyền và Đại dương Quốc gia Mỹ NOAA đang
tiến hành nghiên cứu dưới nước với một chiếc xe trượt tuyết được thiết
kế đặc biệt, bên trên gắn một camera có độ phân giải cao. Ảnh đại diện.
(Ảnh: Flickr)
Nhưng
tất cả những điều này đã thay đổi vào năm 1994 với việc phát hiện đền
thờ Gobekli Tepe, một di chỉ rộng lớn có niên đại 12.000 năm tuổi ở vùng
Đông Nam của Thổ Nhĩ Kỳ, cũng như vào năm 2002 với việc phát hiện một
thành phố cổ 10.000 năm tuổi nằm 40 m ngầm dưới mặt nước ở ngoài khơi
Tây Ấn tại Vịnh Cambay. Trong những trường hợp này, một vài thế hệ ngư
dân đã nhấn mạnh về các câu chuyện xoay quanh một thành phố ngầm dưới
biển trong khu vực, nhưng những tuyên bố của họ đã bị phớt lờ cho đến
lúc di chỉ này đã tình cờ được phát hiện khi Viện Công nghệ Hải dương
Quốc gia Ấn Độ tiến hành các cuộc khảo sát ô nhiễm nguồn nước trong khu
vực.
Có
rất nhiều sự tương đồng giữa truyền thuyết về Hồ Ba Bể ở Việt Nam và
truyền thuyết về con thuyền Noah và Trận Đại Hồng thủy trong Thánh Kinh.
(Ảnh: Wikimedia)
Với việc sử dụng máy sonar quét sườn,
trong đó sẽ bắn một chùm sóng âm xuống đáy biển, các nhà khoa học đã
phát hiện thấy các cấu trúc hình học đồ sộ dưới đáy biển, tại một mức độ
sâu khoảng 40 m. Các mảnh vụn thu thập được từ di chỉ này, bao gồm vật
liệu xây dựng, đồ gốm, các mảnh tường, hạt tràng, tượng điêu khắc, và
xương người đã được định tuổi bằng đồng vị cacbon và xác định niên đại
vào khoảng 10.000 năm tuổi.
Hiện các nhà khoa học ước tính rằng thành phố rộng khoảng 26 km2
này đã bị nhấn chìm sau Kỷ Băng hà gần nhất, khi lượng băng tan chảy
10.000 năm trước đã khiến mực nước biển gia tăng đáng kể trên toàn cầu.
Đây là một phát hiện đáng kinh ngạc. Phát hiện này không chỉ giúp viết
lại một số những trang đầu tiên của lịch sử nhân loại, nhưng quan trọng
hơn, nó đã xác nhận những lời chứng của cổ nhân trên khắp hành tinh về
các nền văn minh bị thất lạc trong quá khứ (bao gồm cả về nền văn minh
Atlantis, mà theo triết gia Plato, đã bị nhấn chìm xuống đáy biển trong
khoảng thời gian này).
Ảnh minh họa lục địa/thành phố Atlantis. (Ảnh: BigStockPhoto)
Các nền văn minh tiên tiến thời kỳ đầu
Bên cạnh
thành cổ Jericho, vốn từ xa xưa đã được gây dựng với những công trình
có niên đại từ 10.000 TCN, chúng ta hiện nay đã có thêm hai phát hiện ấn
tượng khác có thể củng cố chắc chắn luận điểm cho rằng nhân loại đã
phát triển sớm hơn rất nhiều so với giới khoa học trước đây vẫn nhìn
nhận. Trước những phát hiện mới nhất này, giờ đây chúng ta đã có thể giả
định rằng một trận lụt mang tính toàn cầu, xảy ra vào khoảng 10.000 năm
trước, có thể chính là sự kiện thảm họa đã được tổ tiên chúng ta gọi là
Trận Đại hồng thủy? Chắc chắn chúng ta có thể giả định như vậy.
Thành
phố bị nhấn chìm ngoài khơi phía tây Ấn Độ, không chỉ xác thực rằng
10.000 năm trước con người đã có trình độ phát triển tiên tiến hơn và do
đó có thể nhận thức được thảm họa tự nhiên này, mà nó còn cho thấy mực
nước biển gia tăng, đặc biển trong giai đoạn từ 8000 TCN đến 7500 TCN,
đã xóa sổ những nền văn minh đó và tiêu hủy tất cả các bằng chứng về sự
tồn tại của chúng.
Một bức tượng điêu khắc cổ đại được tìm thấy tại đáy Biển Đỏ. (Ảnh: Flickr)
Những
khu định cư này có những ngôi nhà đá được xây dựng khá cẩn thận, các hệ
thống giao thương đường dài, những hiện vật bằng gốm chi tiết, tinh xảo,
và những dấu tích của các loài động vật đã được thuần hóa. Vì không có
quần thể dân cư nào từng được ghi nhận trong các tư liệu khảo cổ để có
thể giải thích cho sự tồn tại của những khu định cư tiên tiến này, TS
Rose đã đi đến kết luận rằng những người cư trú tại các khu định cư mới
này chính là những quần thể dân cư đã phải di tản để chạy trốn khỏi tình
trạng ngập lụt vùng vịnh xảy ra trong khoảng giai đoạn 8000 TCN.
Tác phẩm ‘Đại Hồng Thủy’ của Francis Danby vào năm 1840. (Ảnh: Wikimedia)
Khi ngày
càng có nhiều các bằng chứng mới hướng đến một giả thuyết như vậy, liệu
có quá khó khăn để tưởng tượng một thảm họa mang tính toàn cầu như vậy
có thể là tác nhân đã xóa sổ quãng lịch sử thời kỳ đầu của chúng ta? Nếu
không phải vậy, thì làm sao chúng ta có thể lý giải cho sự xuất hiện
của một vài nền văn minh tiên tiến trên địa cầu mà, kể từ buổi bình minh
của chiều dài lịch sử đã được ghi nhận, dường như đã biến mất một cách
bí ẩn? Qua đêm, những con người này đã đột nhiên trở thành các bậc thầy
về kiến trúc, thiên văn học, và dường như sở hữu những kỹ thuật công
nghệ đáng kinh ngạc mà cả các nhà lịch sử học lẫn cổ sinh vật học đều
không thể giải thích. Phải chăng do sự thiếu hụt các bằng chứng thực tế,
các học giả thời kỳ đầu đã không thể tạo một mối liên hệ và nhận ra
rằng rất nhiều trong số những người này đã có trình độ phát triển tiên
tiến từ hàng nghìn năm trước đây, và trước khi xảy ra sự kiện Đại hồng
thủy?
Liệu có
quá khó khăn để chấp nhận rằng các công trình cự thạch và các thành tựu
công nghệ đáng kinh ngạc trong chiều dài lịch sử đã được ghi nhận về cơ
bản là bộ phận của một kỷ nguyên “phục hưng” sớm hơn đã xuất hiện ngay
khi tình trạng gia tăng mực nước biển chấm dứt?
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét