Abstract:
In his book “Foucault’s pendulum”, Umberto Eco wrote: “Any fact becomes
important when it’s connected to another”. More ten years ago, it was a
so nice surprise to me when knowing that Foucault pendulum was tightly
connected to the whole of Universe. It’s great! (Trong cuốn “Con lắc
Foucault”, Umberto Eco viết: “Bất kỳ sự kiện nào cũng sẽ trở thành quan
trọng khi nó được liên hệ với một sự kiện khác”. Hơn mười năm trước,
thật ngạc nhiên thú vị vô cùng khi tôi biết rằng con lắc Foucault có mối
liên hệ chặt chẽ với toàn bộ vũ trụ. Thật tuyệt vời!).
Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng có một
kỷ niệm thơ ấu tôi không bao giờ quên: đó là câu chuyện về con lắc
Foucault mà thầy dạy Địa lý năm đầu cấp II của tôi là thầy Cang kể cho
học trò nghe.
Đầu tiên thầy làm thí nghiệm: buộc một
vật nặng vào một sợi dây, đầu kia của sợi dây buộc vào một chiếc thước
kẻ, hai tay thầy cầm hai đầu thước kẻ sao cho thước kẻ nằm ngang và cho
vật nặng dao động như một con lắc đồng hồ. Trong khi con lắc dao động,
hai tay thầy quay chiếc thước kẻ ở tư thế luôn luôn song song với sàn
lớp học, rồi thầy nói:
– Các em nhìn đây, trong khi thước kẻ
quay, con lắc vẫn dao động theo tư thế ban đầu, nó không chịu quay theo
thước kẻ, thế có lạ không?
Rồi thầy giảng đó là hiện tượng con lắc
Foucault, do Léon Foucault, một nhà vật lý người Pháp, khám phá ra và
ông đã làm thí nghiệm như thế với một con lắc vĩ đại trong điện Panthéon
ở Paris để chứng minh Trái Đất quay xung quanh trục.
Tôi trố mắt thán phục, nuốt từng lời thầy
đến nỗi bây giờ vẫn cứ nghe như văng vẳng bên tai. Đối với tôi, đó là
một trong những câu chuyện hấp dẫn nhất và thầy Cang là một trong những
người thầy tuyệt vời nhất.
Nhưng chuyện con lắc Foucault không dừng
lại ở đó. Nó luôn bám theo tôi với một câu hỏi: tại sao con lắc giữ
nguyên mặt phẳng dao động của nó?
1/ Bản chất hiện tượng con lắc Foucault:
Lúc nhỏ tôi chưa đủ khôn để nghĩ tới câu
hỏi ấy. Nhưng nó lờ mờ xuất hiện vào tuổi sinh viên, để rồi lớn dần lên
với tuổi tác… và trong một thời gian dài tôi không tìm được câu trả lời.
Nhưng Kinh Thánh có câu: “Hãy gõ, cửa sẽ mở”.
Cuối cùng thì cửa đã mở: trong một dịp
tha thẩn tại một hiệu sách ở Sydney, tôi gặp một cuốn sách với cái tên
làm tôi không cưỡng nổi trí tò mò: “God’s Equation”[1]…
Tôi mua ngay và đọc ngay. Càng đọc càng thích, và cái gì đến phải đến:
tôi choáng váng vì xúc động khi gặp lại câu chuyện con lắc Foucault.
Giá sách chỉ có 37 AUD – quá rẻ để học được từ đó một bài học lớn: một tư tưởng được các nhà khoa học sau này gọi là Nguyên lý Mach
(Mach’s principle) do nhà bác học lỗi lạc người Áo Ernst Mach nêu lên,
mà nhờ đó có thể giải thích được luật quán tính nói chung và bản chất
của hiện tượng con lắc Foucault nói riêng.Vấn đề này đã được trình bầy
kỹ ở Chương 11 của cuốn sách nói trên, với tư tưởng chủ yếu như sau:
Theo Mach, mọi điểm vật chất trong vũ trụ
đều chịu tác động của toàn bộ vũ trụ, tổng hợp lực của toàn bộ vũ trụ
tác động lên một điểm vật chất chính là lực quán tính tác động lên điểm
ấy, và lực quán tính làm cho con lắc giữ nguyên mặt phẳng dao động của
nó, bất chấp Trái Đất quay.
Điều bất ngờ lý thú là Nguyên lý Mach lại trở thành tiền đề để Albert Einstein đi tới thuyết tương đối:
“…mục tiêu theo đuổi của Einstein là
giải thích vũ trụ theo tư tưởng của Mach, trong đó sự phân bố khối lượng
của vũ trụ sẽ tạo nên những cái khung quán tính (con lắc Foucault dao
động đều đặn là do hợp lực của toàn bộ vật chất có khối lượng trong vũ
trụ tác động lên nó). Einstein dường như đã tin vào nguyên lý Mach, và
trong suốt thời gian ở Praha ông đã viết về sự đáng tin cậy của giả
thuyết nói rằng tổng quán tính của một điểm khối lượng là do sự hiện
diện của tất cả các khối lượng khác gây ra – một kiểu tương tác của một
điểm vật chất với tất cả các khối lượng khác trong vũ trụ. Sau này tại
Zurich ông bị thuyết phục hơn bao giờ hết rằng nguyên lý đó có giá trị,
và thậm chí ông đã viết cho Mach rằng nếu sự bẻ cong tia sáng được khám
phá thì nó cũng sẽ xác nhận giả thuyết của Mach”[2].
Thí nghiệm năm 1919 của Thomas Eddington
đã xác nhận tính cong của ánh sáng, chứng minh tính đúng đắn của Thuyết
tương đối tổng quát và Nguyên lý Mach. Chỉ chừng ấy thôi cũng đã quá đủ
để Ernst Mach được lịch sử khoa học đặt ở một vị trí vô cùng trang
trọng. Wikipedia nhận định:
“Với tư cách là một nhà triết học khoa
học, ông có ảnh hưởng chủ yếu đến chủ nghĩa thực chứng logic và thông
qua sự phê phán của ông đối với lý thuyết của Newton, ông được xem như
một nhà tư tưởng tiền thân của thuyết tương đối Einstein”.
Nếu “Tư tưởng tạo nên tầm vóc con người”
(Pensée fait la grandeur de l’homme) như Pascal đã nói thì Mach phải
được xem là một người khổng lồ, bởi Nguyên lý Mach không chỉ dẫn tới
những hệ quả lớn lao trong vật lý, mà còn mang tầm cỡ triết học bao trùm
toàn vũ trụ: nó là bằng chứng khoa học hùng hồn nhất để chỉ ra rằng VŨ
TRỤ LÀ NHẤT THỂ!
Thật vậy, theo Nguyên lý Mach, bất kể vật
chất nào trong vũ trụ cũng phải gắn kết chặt chẽ với toàn bộ phần còn
lại của vũ trụ; không tồn tại bất kỳ một cá thể độc lập nào; sự phân
chia vật chất thành những thành phần đối lập loại trừ lẫn nhau là sai
lầm, giả tạo, bởi toàn vũ trụ là MỘT!
2/ Vũ trụ Nhất thể trong khoa học Tây phương:
Thực ra không chỉ Nguyên lý Mach mới thể
hiện tư tưởng Vũ trụ Nhất thể. Khoa học Tây phương, một mặt triệt để áp
dụng phương pháp phân tích “chẻ hoe sợi tóc” kiểu Descartes để chia tách
sự vật thành những thành phần ngày càng nhỏ hơn hòng truy tìm bản chất
của vật chất, nhưng tư tưởng bao trùm của nó vẫn là khám phá ra những
nguyên lý phổ quát nhất của vũ trụ, nhằm thỏa mãn khát vọng nhìn thấy vũ
trụ dưới dạng tổng thể, như ta chiêm ngưỡng một tòa lâu đài kỳ vĩ vậy.
Mô hình Cơ học Newton, Thuyết tương đối tổng quát của Einstein, Lý
thuyết Big Bang,… chính là những mô hình vũ trụ tổng thể như thế. Nhân
đây xin kể một chuyện “vui”:
Năm 2004, tôi gửi bản thảo dịch cuốn
“God’s Equation” tới NXB Trẻ, với tên sách là “Phương trình của Chúa”,
nhưng Cục xuất bản không chấp nhận chữ “Chúa”, và yêu cầu đổi tiêu đề
(thật đáng tiếc!). Tôi nghĩ mãi không biết đổi như thế nào. Cuối cùng
tôi nghĩ ra cái tên dài dòng khô không khốc: “Câu chuyện về phương trình
thâu tóm cả vũ trụ”. Nếu tác giả biết sách của ông bị “biến tấu” như
thế, hẳn là ông sẽ rất thất vọng. Nhưng tôi không có lựa chọn nào khác –
đành phải diễn giải “phương trình của Chúa” (tức phương trình trường
trong Thuyết tương đối tổng quát của Einstein) như một nỗ lực thâu tóm
toàn bộ cấu trúc của vũ trụ.
Nếu phương trình trường quá khó hiểu đối
với quảng đại công chúng thì mô hình Big Bang lại rất gần gũi và dễ hiểu
đối với mọi người, vì ở đó Vũ trụ Nhất thể đã lộ diện “rõ mồn một”:
Điểm Kỳ Dị (singularity point) – điểm ban đầu của vũ trụ mà từ đó đã nổ
tung để biến thành vạn vật hôm nay!
Không có gì hài hước khi so sánh Điểm Kỳ
Dị của Lý thuyết Big Bang với Thái Cực trong Kinh Dịch, bởi trong con
mắt của Kinh Dịch, cái gốc của vũ trụ là Thái Cực: Thái Cực sinh Lưỡng
nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái, Bát quái sinh 64
quẻ ứng với vạn sự…
Lý thuyết thống nhất vật lý, mà ngày nay
được gọi là Lý thuyết về mọi thứ (Theory of Everything) là một nỗ lực
tột cùng của khát vọng mô tả Vũ trụ Nhất thể “bằng xương bằng thịt”, ngõ
hầu sau đó các nhà vật lý có thể “nghỉ ngơi, thư giãn”, vì nhiệm vụ chủ
yếu của vật lý đã hoàn thành! Việc khám phá ra “Hạt của Chúa” trong năm
2012 vừa qua đã làm nức lòng rất nhiều người rằng cái ngày ca khúc khải
hoàn của vật lý sắp tới. Không biết cái ngày ấy có tới hay không, nhưng
rõ ràng là vật lý khao khát cháy bỏng nhìn thấy một Vũ trụ Nhất thể
hoàn chỉnh.
3/ Vũ trụ nhất thể trong triết học Đông phương:
Khác với Tây phương, Đông phương cổ đại
không mất thì giờ tìm kiếm và chứng minh sự hiện hữu của Vũ trụ Nhất
thể, bởi vì bằng trực giác, các nhà hiền triết cổ từ lâu đã tin chắc
rằng NÓ ắt phải là cái GỐC của vạn vật. Không có NÓ thì không có vạn
vật. NÓ được gọi bằng nhiều tên khác nhau: Dịch gọi là Thái Cực, Lão
giáo gọi là ĐẠO. Bản thân chữ ĐẠO trong tiếng Hán là một từ “hội ý”, và
những ý hội thành chữ Đạo cho thấy ý nghĩa của nó là cái gốc của Vũ trụ,
là cái toàn thể của vũ trụ, cái thâu tóm và thống nhất vạn sự trong cái
MỘT. Tóm lại, Đạo chính là tư tưởng nền móng của Vũ trụ Nhất thể. Tư
tưởng của Đạo cũng như Thái Cực đã sớm được sơ đồ hóa dưới dạng Thái Cực
đồ:
Tuy Đạo hay Thái Cực của Đông phương có
những điểm tương đồng với Vũ trụ Nhất thể của Tây phương, nhưng Đạo hay
Thái Cực rộng lớn hơn và phong phú hơn rất nhiều, bởi hai lẽ:
– Một, nó không chỉ bao gồm vật chất, mà
còn bao gồm cả những gì được coi là phi vật chất hoặc siêu vật chất. Nói
cách khác, nó bao gồm tất cả những gì mà giác quan và tư tưởng có thể
nhận thức được.
– Hai, thay vì phân chia vũ trụ thành
những phân tử, nguyên tử hay hạt cơ bản, sóng năng lượng,… vũ trụ Đông
phương chỉ chú trọng tới yếu tố căn bản nhất, đó là sự cân bằng
âm-dương, biểu hiện qua các cặp yếu tố đối lập: nữ-nam; lạnh-nóng;
nguyệt-nhật; lõm-lồi; đêm-ngày; mềm-cứng; thụ động-chủ động; trực
giác-logic lý luận;….
Để bổ sung cho cách nhìn vũ trụ thuần túy
vật chất của Tây phương, tôi xin nêu lên một mô hình Vũ trụ Nhất thể
chứa đựng cả vật chất lẫn các yếu tố phi vật chất, dựa trên cách thể
hiện của khoa học Tây phương.
4/ Mô hình vũ trụ Elliptic-Hyperbolic:
Phần dương (+) trong mô hình trên, ký hiệu bởi (E), được giới hạn bởi đường Ellipse; phần âm (–), ký hiệu bởi (H), được giới hạn bởi các đường Hyperbole liên hợp với Ellipse. Cụ thể, mô hình E-H được xác định bởi các miền giới hạn bởi các đường cong có phương trình[3]:
trong đó hai phương trình
mô tả cùng một Ellipse: phương trình thứ nhất mô tả Ellipse trong hệ tọa độ Oxy, phương trình thứ hai mô tả Ellipse trong hệ OXY, hai hệ có thể biến đổi lẫn nhau sao cho hệ này biến thành hệ kia bằng một phép quay và đổi chiều trục sao cho y thành X và x thành –Y (phép hoán vị vai trò của biến và hàm).
Trong mỗi hệ tọa độ đó, Ellipse có một
Hyperbole liên hợp tương ứng. Vậy nếu bỏ qua cái vỏ toán học để nhìn vấn
đề dưới con mắt vật lý thì mỗi Ellipse sẽ có 2 Hyperbole liên hợp với
nó và chúng sẽ xác định các phần dương và âm của vũ trụ.
Trong mô hình trên, (E) là phần
dương (+), phần vũ trụ Elliptic, hoặc vũ trụ Einstein, tức vũ trụ chứa
đựng tất cả những dạng vật chất có thể cân đong đo đếm được, bao gồm vật
chất có khối lượng, năng lượng (và có thể cả vật chất tối lẫn năng
lượng tối?). Trong khi chờ đợi việc khám phá ra bí mật của năng lượng
tối, tôi cho rằng dưới tác dụng của hấp dẫn, không gian này bị lồi – có
độ cong dương (elliptic curvature).
(H) là phần âm (–), phần vũ trụ
Hyperbolic, chứa đựng tất cả những dạng tồn tại phi vật chất hoặc siêu
vật chất không thể cân đong đo đếm được, có thể bao gồm cả thế giới sau
sự sống mà tất cả các nền văn hóa trên thế giới đều tin rằng nó tồn tại.
Chú ý rằng Hyperbole thực chất chỉ là một Ellipse ảo. Thật vậy:
Điều đó nói lên rằng vũ trụ Hyperbolic và vũ trụ Elliptic thống nhất trong cùng một bản chất. Bản chất đó là gì nếu không phải là Đạo hay Thái Cực mà triết học Đông phương từng nói đến?
Mô hình vũ trụ Elliptic-Hyperbolic nói trên phong phú hơn mô hình vũ trụ Big Bang ở 2 điểm căn bản:
– Một, nó thâu tóm cả vật chất lẫn phi vật chất
– Hai, nó thể hiện rõ tính thống nhất và cân bằng âm dương – điều kiện thiết yếu của sự tồn tại và phát triển.
Trong một cuộc thảo luận bàn trà với tôi,
nhà ngôn ngữ học Nguyễn Văn Chiến, nguyên chuyên viên nghiên cứu thuộc
Viện Đông Nam Á, có một liên tưởng thú vị: khái niệm Thái Cực không phải
là hoàn toàn trừu tượng, mà có thể “nhìn thấy”, “sờ thấy” qua hình ảnh
của những sinh vật sinh sản vô tính: con giun, con sán,… có thể sinh sôi
nẩy nở bằng cách tự phân chia, thay vì kết hợp hai giống đực và cái.
Điều đó có nghĩa là những sinh vật này đã chứa đựng trong bản thể của nó
cả âm lẫn dương. Chỉ có điều là sinh vật học chưa khám phá được cơ chế
kết hợp âm dương nội tại trong những sinh vật này diễn ra như thế nào.
Nhưng dù chưa biết rõ điều đó, chúng ta vẫn có thể khẳng định rằng những
sinh vật này là những “thái cực thu nhỏ”.
Trở lại với mô hình vũ trụ
Elliptic-Hyperbolic (một “Thái cực đồ” kiểu Tây phương), tôi tin rằng từ
mô hình này chúng ta có thể giải thích được nhiều điều mà mô hình thuần
túy vật chất không giải thích được.
Chẳng hạn, tôi cho rằng tồn tại một thế
giới sau sự sống. Nhưng vì thế giới ấy nằm trong vũ trụ “elliptic ảo”
nên chúng ta rất khó tiếp cận (trừ những người có ngoại cảm đặc biệt) –
thế giới “ảo” không tuân thủ các định luật vật lý trong không-thời-gian
của chúng ta, do đó chúng ta không thể kiểm chứng trực tiếp bằng giác
quan hoặc gián tiếp qua các dụng cụ vật lý. Tuy nhiên “ảo” không có
nghĩa là “không có thực” (như nghĩa gốc của từ imaginary), “ảo” không có
nghĩa là không có, không tồn tại, mà đơn giản chỉ có nghĩa là chuyển từ
một dạng tồn tại này sang một dạng tồn tại có chiều ngược lại, giống
như nhân một vector với bình phương của số ảo (khi nhân một vector với
bình phương của số ảo ta được vector đối của vector đã cho).
Khái niệm “thực vs ảo” hoàn toàn chỉ có ý
nghĩa tương đối như hai mặt của một đồng xu – nhìn thấy mặt này thì
không thấy mặt kia, nhưng cả hai mặt đều “thực”. Con người có thói quen
coi cái trông thấy là “thực”, cái không thấy là “ảo”.
Khi ta tồn tại trong thế giới sống thì
thế giới sống là “thực” và thế giới sau sự sống là “ảo”. Khi ta trở về
với thế giới sau sự sống thì thế giới đó là “thực” và thế giới sống là
“ảo”. Có lẽ những nhà tu hành đắc đạo có khả năng siêu phàm vượt ra khỏi
không-thời-gian của thế giới sống để nhận ra tính hư ảo và tạm bợ của
thế giới này nên mới mách cho chúng ta biết rằng mọi ham muốn vật chất
trong thế giới sống chỉ là những ham muốn tầm thường. Albert Einstein
không cần tu đắc đạo nhưng tâm hồn lãng mạn của ông cũng chắp cánh cho
ông bay cao để nhận ra chân lý giống như một bậc tu hành, ông nói: “Những
mục đích tầm thường mà người đời theo đuổi như của cải, thành đạt bề
ngoài, sự xa xỉ, với tôi từ thời trẻ đã luôn đáng khinh”[4].
Mô hình vũ trụ E-H còn đặt ra một
câu hỏi đáng để suy ngẫm và tìm câu trả lời: “khoảng trống” – khoảng mầu
trắng – không thuộc (E) và cũng không thuộc (H) là vũ trụ gì vậy?
Tôi xin nêu một giả thuyết:
Khoảng trắng trong mô hình vũ trụ E-H
là một “vũ trụ medium” – một vũ trụ không E không H, hoặc vừa E vừa H,
tức không âm không dương, hoặc vừa âm vừa dương. Sự chuyển tiếp từ vũ
trụ dương sang vũ trụ âm có thể đi thông qua các cực đông, tây, nam, bắc
của Ellipse, hoặc có thể thông qua “vũ trụ medium”. Những nhà ngoại cảm
có thể là những người tồn tại trong “vũ trụ medium” nên họ có thể nhận
được thông tin của cả hai thế giới: thế giới sống và thế giới sau sự
sống. Có những người vốn không có khả năng ngoại cảm, nhưng sau những sự
cố đặc biệt (thập tử nhất sinh) bỗng có những khả năng đặc biệt mà
chúng ta không có. Có lẽ sự cố đặc biệt ấy chẳng qua là sự chuyển tiếp
từ vũ trụ Elliptic (thế giới sống) sang “vũ trụ medium”.
5/ Thay lời kết:
Một, giống như Thái cực đồ của Đông phương cổ đại, mô hình E-H
chia vũ trụ thành những phần âm, dương cách biệt, có đường biên rõ
ràng, nhưng đó chỉ là một biểu tượng để phân biệt các yếu tố làm nên vũ
trụ. Thực tế thì âm, dương lẫn lộn, tồn tại xen kẽ hoặc cùng tồn tại
trong một sự vật hay sự việc. Tùy từng sự vật hay sự việc, yếu tố dương,
âm có thể biểu lộ rõ hơn, mạnh hơn, hay mờ hơn, yếu hơn. Nhưng tiên đề
của cổ học Đông phương đã khẳng định rằng có dương thì ắt có âm cân bằng
với nó.
Hai, câu chuyện con lắc Foucault của thầy
Cang không ngờ đã kéo tôi đi vòng quanh thế giới, “bay lang thang trong
vũ trụ”. Khi đã trưởng thành, tôi được biết thầy không chỉ giỏi khoa
học, mà còn là một tâm hồn đầy ắp văn chương (nghe nói thầy là một pho
bách khoa thơ Đường). Tóm lại thầy là một tâm hồn lãng mạn.
Lãng mạn là gì? Lãng mạn là biết đặt câu hỏi và sống với khát vọng tìm ra câu trả lời.
Nếu câu chuyện con lắc Foucault và Vũ trụ
Nhất thể kích thích độc giả đặt câu hỏi và say đắm tìm câu trả lời thì
đó là hạnh phúc của người kể chuyện.
Dòng điện Fu-cô (Foucault) là
dòng điện cảm ứng được sinh ra ở trong khối vật dẫn khi vật dẫn chuyển
động trong từ trường hay được đặt trong từ trường biến đổi theo thời
gian. Tính chất của dòng điện Fu-cô:Dòng điện Fu-cô có tính chất xoáy. Ứng dụng của dòng điện Fu-cô
Tác dụng gây lực hãm của dòng điện Fu-cô được ứng dụng như: phanh điện từ của xe có trọng tải lớn, công tơ điện.
Tác dụng nhiệt của dòng điện Fu-cô được ứng dụng trong các lò luyện kim để nấu chảy kim loại.
Dòng
điện Fu-cô có ứng dụng rất nhiều trong cuộc sống. Ví dụ như trong bếp
từ: làm cho các phân tử chất lỏng dao động nhanh lên khiến nhiệt độ tăng
cao, nấu kim loại, làm quay đĩa nhôm trong công tơ điện (đồng hồ tính
điện năng thường sử dụng ở nhà).
Nhiệt tỏa ra do dòng điện Fu-cô có thể làm lõi sắt bị nóng, làm hỏng máy.
Dòng điện Fu-cô luôn có xu hướng chống lại nguyên nhân sinh ra nó nên nó làm giảm công suất của động cơ.
Ứng dụng dòng Fu-cô trong bếp từCách làm giảm tác hại của dòng điện Fu-cô
Lý do:
Các
lá sắt được làm bằng nhiều lá Tôn si ghép cách điện với nhau, những là
sắt mỏng này được đặt song song với đường sức từ. Lúc đó dòng điện Fu-cô
chạy trong từng lá mỏng điện trở lớn nên có cường độ nhỏ làm giảm hao
phí điện năng và lõi sắt ít bị nóng.
Trong các máy biến thế và động cơ điện, lõi sắt của chúng nằm trong từ trường biến đổi. Trong lõi có các dòng điện Fu-cô xuất hiện. Do hiệu ứng Joule-Lenz, năng lượng của các dòng Fu-cô bị chuyển hóa thành nhiệt làm máy nhanh bị nóng, một phần năng lượng bị hao phí và làm giảm hiệu suất máy.
Biện pháp:
Để giảm tác hại này, người ta phải giảm dòng Fu-cô
xuống. Muốn vậy, người ta tăng điện trở của các lõi. Người ta không
dùng cả khối sắt lớn làm lõi mà dùng nhiều lá sắt mỏng được sơn cách
điện và ghép lại với nhau sao cho các lát cắt song song với chiều của từ
trường
Dòng điện Fu-cô do đó chỉ chạy trong từng lá mỏng. Vì từng lá đơn lẻ có kích thước nhỏ, do đó có điện trở lớn, nên cường độ dòng điện Fu-cô trong các lá đó bị giảm đi nhiều so với cường độ dòng Fu-cô
trong cả khối sắt lớn. Vì vậy, năng lượng điện bị hao phí cũng giảm đi.
Đó là lý do tại sao các máy biến thế truyền thống thường dùng các lõi
tôn silic (sắt silic) được cán mỏng bởi chúng có điện trở suất sẽ làm
giảm thiểu tổn hao do dòng Fu-cô; hoặc các lõi biến thế hiện nay sử dụng các vật liệu từ mềm đặc biệt là hợp kim tinh thể nano có điện trở suất cao.
Trong
kỹ thuật cao tần và siêu cao tần, người ta bắt buộc phải sử dụng lõi
dẫn từ là các vật liệu gốm Ferit có điện trở suất cao làm tổn hao Fu-cô được giảm thiểu.
Định nghĩa dòng điện trong kim loại
Dòng điện trong kim loại là dòng dịch chuyển có hướng của các electron tự do. Trong
chuyển động, các electron tự do luôn va chạm với các ion ở nút mạng và
truyền một phần động năng cho chúng. Sự va chạm này là nguyên nhân gây
ra điện trở của dây dẫn kim loại. Công thức tính cường độ dòng điện trong kim loại chạy qua một dây dẫn: I = n0.e.S.v Trong đó: n0 là mật độ electron tự do (hạt/m3 hay m−3). e là điện tích của 1 electron ( e = 1,6.10−19C). v là vận tốc trung bình của các e tự do (m/s). S là tiết diện dây dẫn (m2).
TTO - Tiểu
luận này được Einstein viết xong cuối tháng 2 năm 1953 để gửi đến Lễ kỷ
niệm 100 năm ngày sinh của H. A. Lorentz (18.7.1853 - 18.7. 1953) ở
Leiden, Hà Lan.Vào giai đoạn chuyển giao thế kỷ, H. A. Lorentz được các
nhà vật lý lý thuyết của mọi quốc gia xem là lãnh tụ tinh thần, và điều
đó hoàn toàn có cơ sở.
Các
nhà vật lý thế hệ trẻ hơn thường không ý thức được đầy đủ về vai trò
quyết định của H. A. Lorentz trong việc thiết lập những ý tưởng cơ sở
cho vật lý lý thuyết.
Sở dĩ có sự lạ lùng này là vì những ý tưởng nền tảng
của Lorentz đã trở thành máu thịt của họ, đến nỗi họ không còn khả năng ý
thức trọn vẹn về sức nặng của các ý tưởng này cũng như sự đơn giản hóa
trong nền tảng vật lý nhờ chúng mà có được.
Khi H. A. Lorentz bắt đầu sự nghiệp, thuyết Maxwell về
điện từ đã được khẳng định. Song gắn liền với lý thuyết này là một sự
phức tạp đáng lưu ý về nền tảng, khiến cho những đặc điểm chủ yếu của lý
thuyết đã không được bộc lộ hoàn toàn rõ ràng. Khái niệm "trường" tuy
đã thay thế được khái niệm "tác động từ xa", song điện trường và từ
trường chưa được xem là các đại lượng cơ bản, mà chỉ là các trạng thái
của vật chất có trọng lượng, được xét như các môi trường liên tục
(continuum). Theo đó, điện trường được phân tách ra thành: vectơ của
cường độ điện trường và vectơ của chuyển dịch điện môi. Trong trường hợp
đơn giản nhất, hai trường này được kết nối với nhau bằng hằng số điện
môi; song về nguyên tắc, chúng được nhìn nhận và xử lý như hai đại lượng
độc lập. Với từ trường, tất cả cũng tương tự như vậy. Quan niệm cơ bản
này tương ứng với việc người ta xử lý không gian rỗng như một trường hợp
đặc biệt của vật chất có trọng lượng, mà trong đó quan hệ giữa cường độ
[điện, từ] trường và dịch chuyển điện môi chỉ xuất hiện một cách đặc
biệt đơn giản. Nhất là, từ quan niệm này nảy sinh một hệ quả: điện
trường và từ trường không thể được xem xét độc lập với trạng thái chuyển
động của vật chất (vật chất được coi là khung đỡ cho điện trường và từ
trường).
Ta có thể hiểu rõ về quan điểm được xem là phổ biến
thời đó trong điện động học Maxwell bằng cách tham khảo công trình
nghiên cứu của Heinrich Hertz về điện động học của các vật chuyển động.
Và ở đây, Lorentz đã đưa ra lời giải đáp. Ông đã đặt cơ sở nghiên cứu của mình một cách chặt chẽ trên giả thuyết sau:
Nơi trụ của trường điện từ là không gian rỗng. Trong
không gian rỗng chỉ có một vectơ điện trường và một vectơ từ trường.
Trường này được sản sinh do các hạt tích điện dạng nguyên tử, và đồng
thời trường tác động ngược lại vào các hạt tích điện đó theo cách phản
điện (pondermotive). Một sự kết nối giữa trường điện động
(electromotive) với vật chất có trọng lượng chỉ tồn tại khi các hạt tích
điện cơ bản không tách rời với các phần tử dạng nguyên tử của vật chất.
Định luật chuyển động của Newton có giá trị trong trường hợp sau.
Dựa trên nền tảng đã được đơn giản hóa này, Lorentz đã
thiết lập một thuyết hoàn chỉnh về tất cả các hiện tượng điện từ đã biết
đến khi đó, kể cả hiện tượng điện động của các vật chuyển động. Đó là
một tác phẩm của sự mạch lạc, rõ ràng và đẹp đẽ đến mức hiếm khi có thể
đạt được ở một ngành khoa học vốn đặt nền móng trên kinh nghiệm. Hiện
tượng duy nhất mà thuyết này không giải thích được triệt để - nghĩa là
không giải thích được nếu thiếu các giả thiết bổ sung - là thí nghiệm
nổi tiếng Michelson-Morley. Thí nghiệm này đã dẫn đến thuyết tương đối
hẹp, và điều đó là không thể tưởng tượng được nếu thiếu sự quy điểm trụ
của điện từ trường vào không gian rỗng. Bước tiến cơ bản là việc đưa các
phương trình của Maxwell trở lại xem xét trong chân không - hay là
trong ether theo cách nói hồi đó.
H. A. Lorentz thậm chí đã tìm ra một phép biến đổi mang
tên ông: "Phép biến đổi Lorentz" - tuy nhiên ông đã không để ý đến
những tính chất nhóm của nó. Đối với ông, các phương trình Maxwell trong
không gian rỗng chỉ đúng trong một hệ tọa độ nhất định, đứng yên đối
với tất cả các hệ tọa độ khác. Đó hẳn là một quan niệm nghịch lý, bởi
xem ra thuyết ấy còn hạn chế hệ quán tính hơn cả cơ học cổ điển. Tình
hình ấy, xét từ quan điểm thực nghiệm thì không mấy phấn khởi, nhưng ắt
hẳn đã dẫn tới thuyết tương đối hẹp.
Nhờ sự tiếp đón thân tình của Đại học Leiden, tôi
thường có thời gian lưu lại nhiều ngày ở Leiden - nơi tôi thường tá túc
tại nhà người bạn yêu mến không quên Paul Ehrenfest. Thời gian đó, tôi
thường có cơ hội cùng tham dự các bài giảng của Lorentz, các bài giảng
mà ông thường thực hiện đều đặn trước một cử tọa hẹp trong giới chuyên
môn trẻ tuổi hơn, sau khi ông đã rút khỏi vị trí giảng dạy chính thức.
Tất cả những gì đến từ khối óc siêu việt ấy đều sáng sủa và đẹp đẽ tựa
như một tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo, và người ta có cảm tưởng rằng, tất
cả đều đến một cách thoải mái và dễ dàng. Tôi chưa từng thấy điều tương
tự ở bất kỳ ai khác.
Nếu chúng ta có thể truyền lại cho giới trẻ biết rằng
H. A. Lorentz là một trí tuệ sáng ngời, thì chỉ với điều đó thôi, sự
ngưỡng mộ và kính trọng của chúng ta đối với ông đã là độc nhất vô nhị.
Còn riêng cá nhân tôi, điều tôi luôn cảm nhận mỗi khi nghĩ về H. A.
Lorentz, điều mãi mãi không phai mờ trong tôi, là: ông có ảnh hưởng với
tôi hơn tất cả những người mà tôi đã gặp trên đường đời.
Giống như cách ông làm chủ vật lý và hình thức toán
học, ông cũng làm chủ bản thân mình dễ dàng và thoải mái như vậy. Sự
thiếu vắng kỳ lạ về các điểm yếu của con người nơi ông không bao giờ
khiến người khác cảm thấy nặng nề. Ai cũng cảm nhận được sự vượt trội
của ông, song không ai thấy mặc cảm. Bởi vì, mặc dù ông hiểu thấu con
người và các quan hệ giữa người với người, ông luôn dành thiện chí như
nhau cho tất cả mọi người. Chưa bao giờ ông tỏ ra muốn chế ngự mà luôn
luôn chỉ muốn phục vụ và giúp đỡ. Ông luôn tận tâm tận sức, và chưa bao
giờ xem sự đền đáp công trạng là quan trọng. Nét hài hước tinh tế trong
ánh mắt và trên nụ cười đã luôn bảo vệ ông trước điều đó. Nó cũng hợp
với thực tế, là bên cạnh tất cả những cống hiến cho tri thức khoa học,
ông còn thấu hiểu rằng, sự hiểu biết của chúng ta không thể nào thâm
nhập sâu vào bản chất của sự vật. Thái độ nửa hoài nghi nửa hạ mình này,
phải mãi tới khi có tuổi, tôi mới biết đánh giá hết.
Ngôn từ - hoặc ít nhất là ngôn từ của tôi - không thể
nói hết được điều muốn nói trong bài tiểu luận ngắn này, dù tôi đã cố
gắng một cách nghiêm cẩn. Vì vậy tôi muốn trích dẫn hai câu nói ngắn của
Lorentz, những câu đã đặc biệt gây tác động đến tôi:
"Tôi thấy hạnh phúc được là công dân của một quốc gia nhỏ, nhỏ đến độ nó không thể gây ra những sự ngu xuẩn lớn."
Trong một cuộc trao đổi hồi Chiến tranh Thế giới thứ
Nhất, một quý ông đã cố gắng thuyết phục Lorentz rằng, số phận con người
được quyết định bởi sức mạnh và bạo lực, ông trả lời: "Rất có thể là
ngài có lý, nhưng tôi không muốn sống trong một thế giới như vậy".
ALBERT EINTEIN
Hendrik Antoon Lorentz
Người đăng: Trần Nghiêm
27/07/2008
Giải thưởng Nobel Vật lí 1902
Hendrik Antoon Lorentz
sinh ra tại Arnhem, Hà Lan, vào ngày 18 tháng 7 năm 1853, là con trai
của ông chủ nhà trẻ Gerrit Frederik Lorentz và vợ ông là bà Geertruida
van Ginkel. Khi ông lên 4 tuổi, mẹ của ông qua đời, và vào năm 1862 cha
của ông cưới bà Luberta Hupkes. Vào những ngày ấy, trường học không chỉ
dạy vào buổi sáng và chiều, mà còn cả vào buổi tối, khi việc dạy học
được tự do hơn (theo xu hướng giống như phương pháp Dalton).
Theo
xu hướng này, vào năm 1866, trường trung học đầu tiên (H.B.S.) tại
Arnhem được mở cửa, Hendrik Lorentz, là một học sinh năng khiếu, sẵn
sàng được nhận vào học lớp ba. Sau khi học lớp 5 và một năm nghiên cứu
kinh điển, ông vào trường đại học Leyden vào năm 1870, lấy bằng cử nhân
khoa học toán và vật lí vào năm 1871, và quay trở lại trường Arnhem vào
năm 1872 trở thành thầy giáo dạy lớp buổi tối, đồng thời chuẩn bị cho
luận án tiến sĩ của ông về sự phản xạ và khúc xạ ánh sáng. Năm 1875, ở
vào tuổi 22, ông lấy được bằng tiến sĩ củamình, và chỉ ba năm sau đó ông
được bổ nhiệm là trưởng khoa Vật lí Lí thuyết tại Leyden, khoa mới được
thành lập dành cho ông. Bỏ qua nhiều lời mới giữ những chức vụ ở nước
ngoài, ông luôn giữ được lòng thủy chung với học hiệu của mình.Từ năm
1912 trở về sau, khi ông đồng ý một vai trò kiêm nhiệm tại Haarlem là Ủy
viên ban quản trị Bộ máy Vật lí của Quỹ Teyler và Thư kí "Hollandsche
Maatschappij der Wetenschappen" (Hội Khoa học Hà Lan), ông tiếp tục ở
lại Leyden làm giáo sư đặc biệt, tiếp tục lên lớp vào mỗi sáng thứ hai
trong quãng đời còn lại của ông. Những vị giám đốc nhìn xa trông rộng
của Quỹ Teyler cứ thế cho phép trí tuệ vô song của ông được tự do thoát
khỏi những nghĩa vụ hàn lâm lẽ thường, cho phép ông thả sức tung cánh xa
hơn nữa trong những địa hạt hẻo lánh nhất của khoa học mà chỉ một số ít
người có khả năng đạt tới.
Từ
khi bắt đầu công việc nghiên cứu khoa học của mình, Lorentz đã xem
nhiệm vụ của ông là mở rộng lí thuyết của James Clerk Maxwell về điện và
về ánh sáng. Ngay trong luận án tiến sĩ của mình, ông đã xem xét hiện
tượng phản xạ và khúc xạ ánh sáng từ lập trường này, khi đó còn khá mới.
Công trình nghiên cứu cơ bản của ông trong các lĩnh vực quang học và
điện học đã cách mạng hóa những quan niệm đương thời về bản chất của vật
chất.
Năm
1878, ông cho xuất bản một chuyên luận về mối quan hệ giữa vận tốc ánh
sáng trong một môi trường và mật độ và thành phần của môi trường đó.
Công thức thu được, được đề xuất gần như đồng thời bởi nhà vật lí người
Đan Mạch Lorenz, trở nên nổi tiếng với tên gọi là công thức
Lorenz-Lorentz.
Lorentz
cũng có những đóng góp cơ bản cho nghiên cứu các hiện tượng về vật
chuyển động. Trong một chuyên luận mở rộng về sự quang sai của ánh sáng
và các vấn đề phát sinh đi cùng với nó, ông đã đi theo giả thuyết của
A.J. Fresnel về sự tồn tại của một chất ether bất động, chất tự do thấm
đẫm mọi vật thể. Giả thuyết này hình thành nên cơ sở của một lí thuyết
tổng quát về các hiện tượng điện và quang của những vật thể đang chuyển
động.
Từ
khi Lorentz đẩy lùi quan niệm electron; quan điểm của ông rằng hạt tích
điện, nhỏ bé của ông giữ vai trò trong các hiện tượng điện từ trong vật
chất cân được khiến cho người ta có thể áp dụng lí thuyết phân tử cho
lí thuyết điện, và cho giải thích hành trạng của sóng ánh sáng đi qua
các vật trong suốt đang chuyển động.
Cái
gọi là phép biến đổi Lorentz (1904) dựa trên thực tế là lực điện từ
giữa các điện tích là đối tượng cho những biến đổi nhỏ do chuyển động
của chúng, mang lại một sự co nhỏ ở kích thước của các vật đang chuyển
động. Nó không những giải thích thỏa đáng sự vắng mặt biểu kiến của
chuyển động tương đối của Trái đất so với ether, như xác nhận bởi các
thí nghiệm của Michelson và Morley, mà còn đặt nền tảng cho lí thuyết
tương đối đặc biệt của Einstein.
Cũng
có thể nói rằng Lorentz được tất cả các nhà vật lí lí thuyết xem là có
tinh thần hàng đầu thế giới, người đã hoàn thành cái còn để lại không
hoàn chỉnh bởi người tiền nhiệm của ông và chuẩn bị nền tảng cho sự tiếp
nhận thành công những ý tưởng mới dựa trên thuyết lượng tử.
Năm
1919, ông được bổ nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban có nhiệm vụ nghiên cứu sự
vận động của nước biển có thể trông đợi trong và sau khi cải tạo xứ
Zuyderzee ở Hà Lan, một trong những công trình vĩ đại nhất của mọi thời
đại về kĩ thuật dẫn nước. Những kết quả tính toán lí thuyết của ông, kết
quả của tám năm nghiên cứu tiên phong, đã được xác nhận trong thực tiễn
theo kiểu gây ấn tượng nhất, và kể từ đó có giá trị vĩnh cửu cho khoa
thủy lực học.
Vô
số danh dự và danh hiệu từ khắp thế giới đã trao cho Lorentz. Các cuộc
gặp quốc tế đã được ông chủ trì với kĩ năng ngoại hạng, cả ở nhân cách
nhã nhặn và nghiêm túc của ông lẫn quyền làm chủ tài tình về ngôn ngữ.
Cho đến khi ông qua đời, ông là chủ tịch của tất cả các Hội nghị Solvay,
và năm 1923 ông được bầu làm thành viên của “Ủy ban quốc tế về hợp tác
trí tuệ” thuộc Liên hiệp quốc. Trong Ủy ban này, gồm chỉ bảy vị học giả
lỗi lạc nhất thế giới, ông trở thành chủ tịch vào năm 1925.
Nhờ
uy tín lớn của ông trong giới chính khách ở nước ông, Lorentz có thể
thuyết phục họ về tầm quan trọng của khoa học đối với nền sản suất quốc
gia. Từ đó, ông đã khởi xướng các bước cuối cùng đưa đến sự hình thành
của tổ chức ngày nay thường được biết tới dưới cái tên viết tắt T.N.O.
(Tổ chức Nghiên cứu Khoa học Ứng dụng Hà Lan).
Lorentz
là một người có nhân cách rất tốt. Là một người vị tha, đầy chân thật
với những ai từng tiếp xúc với ông, ông được quý mến với tư cách vừa là
nhà lãnh đạo của thời ông vừa là một công dân gương mẫu.
Năm
1881, Lorentz cưới bà Aletta Catharina Kaiser, con gái của J.W. Kaiser,
vị giáo sư tại Viện Hàn lâm nghệ thuật tinh tế, giám đốc viện bảo tàng
sau này trở nên nổi tiếng là Rijksmuseum (Bảo tàng quốc gia) Amsterdam,
người thiết kế những con tem bưu chính đầu tiên của Hà Lan. Họ có hai
người con gái và một con trai và cuộc hôn nhân này. Người con gái lớn,
tiến sĩ Geertruida Luberta Lorentz, là một nhà vật lí độc lập và kết hôn
cùng giáo sư W.J. de Haas, giám đốc Phòng thí nghiệm nghiên cứu kĩ
thuật đông lạnh (Phòng thí nghiệm Kamerlingh Onnes) thuộc trường đại học
Leyden.
Lorentz mất tại Haarlam, vào ngày 4 tháng 2 năm 1928.
Trích Nobel Lectures, Physics 1901-1921, Elsevier Publishing Company, Amsterdam, 1967
Ngày 27 tháng 2 năm 1932: Phát hiện ra hạt neutron trong hạt nhân nguyên tử
Phóng thí nghiệm của James Chadwick, nơi ông tìm ra hạt neutron bên trong hạt nhân nguyên tử.
James Chadwick là nhà vật lý
người Anh, ông đã nhận giải Nobel vật lý năm 1935 với việc phát hiện ra
hạt neutron trong hạt nhân nguyên tử. Trong khi tiến hành một thí nghiệm
vào năm 1932, James đã tiến hành một thử nghiệm tán xạ các hạt alpha
bằng cách bắn phá các hạt này bằng tia berili. Sau đó ông phát hiện ra bên trong hạt nhân nguyên tử có các hạt trung tính, mà sau này ông đặt tên là hạt neutron.
Leo Szilard - thiên tài trong bóng tối
Leo Szilard là nhà
khoa học thiên tài nhưng ít người biết tới. Những phát minh của ông có
ảnh hưởng sâu sắc tới thế giới, như bom nguyên tử và cách chức một số
bệnh ung thư bằng xạ trị.
Leo Szilard - nhà khoa học thiên tài
Leo Szilard (1898-1964) là một nhà vật lý học người Mỹ gốc Hungary. Ông là chủ nhân của bằng phát minh duy nhất về bom nguyên tử.
Năm 1932, hạt nơtron được James Chadwick khám phá năm 1932. Ngay sau
đó, Szilard phát minh và đăng ký sáng chế ý tưởng phản ứng hạt nhân dây
chuyền dựa trên nơtron năm 1933.
Albert Einstein và Leo Szilard (phải) thảo luận về lá thư gửi tổng thống Mỹ Roosevelt. (Ảnh: OSTI)
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét