Nhạc sĩ Đỗ Nhuận

 ((ĐC sưu tầm trên NET)  

Sơ lược tiểu sử nhạc sỹ Đỗ Nhuận

Kết quả hình ảnh cho nhạc sĩ đỗ nhuận 
Đỗ Nhuận (1922 - 1991)
Đỗ Nhuận (1922 - 1991), ông sinh ngày 10/12/1922, quê ở huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương. Đỗ Nhuận sống thời niên thiếu tại Hải Phòng. Ông là học sinh trường Bon - nan(Bonnal). Giữa một thành phố, một ngọn nguồn văn nghệ của đất nước những thập niên đầu thế kỷ XX, cũng như nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng khác, Đỗ Nhuận đã được nơi đây khơi dậy tài năng sáng tạo.
Cảm hứng âm nhạc của Đỗ Nhuận bắt đầu từ quê hương và gia đình. Quê ông vốn có truyền thống hát chèo. Ngay từ năm 14 tuổi ông đã học âm nhạc dân tộc và biết chơi sáo trúc, tiêu, đàn nguyệt, đàn tứ, đàn bầu. Cha ông là nhạc công kèn Cla ri net(Clarinette) trong đội nhạc binh Khố Đỏ (9 ème R.I.C). Những năm đi học ở Hải Phòng, ông sinh hoạt trong Hướng Đạo sinh, trong các buổi sinh hoạt thường hát những bài hát Pháp và châu Âu. Tiếp đó không khí âm nhạc cải cách bắt đầu ảnh hưởng đến Đỗ Nhuận, ông học đàn Ghi ta, Bănggiô, Vi-ô-lông (Guitare, Banjo, Violon) và ký âm pháp.
Về ảnh hưởng và tiếp thu âm nhạc châu Âu và Pháp, riêng đối với các nhạc sĩ có tinh thần yêu nước, không thể không kể đến những ca khúc cách mạng của Pháp như Mac xây e và Quốc tế ca. Sau các nhạc sĩ tân nhạc Việt Nam tiên phong như Nguyễn Xuân Khoát, Đặng Thế Phong, Lê Thương, Hoàng Quý, Dương Thiệu Tước, Văn Cao, Lưu Hữu Phước... lớp thứ hai xuất hiện với Đỗ Nhuận, Nguyễn Văn Thương, Phạm Duy, Lương Ngọc Trác. Song khác với phần đông các nhạc sĩ có khuynh hướng lãng mạn, Đỗ Nhuận giống Lưu Hữu Phước, vào âm nhạc bằng những bài ca yêu nước. Năm 1939 Đỗ Nhuận viết ca khúc đầu tiên khi mới ở tuổi 17: Trưng Vương, nhằm ngày kỷ niệm Hai Bà Trưng ở Hải Dương. Ca khúc được phổ biến rộng rãi và xuất bản ngay. Trong các năm 1940 1941, Đỗ Nhuận dồn sức hoàn thành ca cảnh Nguyễn Trãi Phi Khanh (gồm 3 ca khúc Chim than, Lời cha già, Đường lên ải Bắc). Chính do những bài hát này và một số hoạt động yêu nước trong thời gian ở Hải Phòng và một số nơi khác Đỗ Nhuận đã bị thực dân Pháp bắt đi đày ở Sơn La năm 1943. Tuy nhiên sự cầm tù ấy càng làm Đỗ Nhuận gắn bó với cách mạng hơn. Chỉ một năm trong tù một loạt ca khúc đã ra đời: Chiều tù, Côn Đảo, Hận Sơn La, Tiếng gọi tù nhân (lời Đào Duy Từ), Viếng mồ tử sĩ.
Ra tù cảm hứng về rừng núi, về chiến khu và cách mạng đã giúp Đỗ Nhuận hoàn thành các ca khúc hừng hực khí thế tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám: Du kích ca (1944), Nhớ chiến khu (1945).
Sau cách mạng tháng Tám, trước việc thực dân Pháp gây hấn ở Nam Kỳ, Đỗ Nhuận đã có ngay ca khúc Tiếng súng Nam bộ, Tiếng hát đầu quân và Đoàn lữ nhạc.
Trong kháng chiến chống Pháp, với ngôn ngữ âm nhạc độc đáo, chiếm một vị trí đặc biệt trong nền âm nhạc Việt Nam, Đỗ Nhuận đã viết nhiều tác phẩm gây ấn tượng mạnh mẽ, thúc giục cả dân tộc vững bước trong cuộc kháng chiến trưòng kỳ: Bên cạnh Áo mùa đông đằm thắm trữ tình là Ca ngợi Hồ Chủ Tịch (1951) trang trọng; bên cạnh Sóng cả không ngã tay chèo, chân chất mộc mạc là Du kích sông Thao (1949) cuồn cuộn hoành tráng. Đặc biệt là bộ sử thi âm thanh về trận Điện Biên Phủ lịch sử: Hành quân xa (1953), Trên đồi Him Lam (1954), Chiến thắng Điện Biên (1954).
Sau hoà bình lập lại, Đỗ Nhuận trở thành Tổng thư ký đầu tiên của Hội nhạc sĩ Việt Nam và giữ chức vụ này trong hai khoá I và II (1957 1983). Các nhạc sĩ đầu tiên của tân nhạc Việt Nam đều tự học thành tài. Đỗ Nhuận là nhạc sĩ duy nhất của thế hệ sau này được đi tu nghiệp đại học tại nhạc viện Tchaikovsky, Liên Xô, từ 1960 1963. Nhờ vậy Đỗ Nhuận có cơ hội và cơ sở để bước vào thời kỳ rực rỡ nhất trong sáng tác nghệ thuật. Ông đi sâu vào nhạc kịch một thể loại còn khá mới mẻ với âm nhạc Việt Nam. Ban đầu là những thể nghiệm nhỏ như: Ông Đá, Chú Tễu, Ai đẹp hơn ai, Trước giờ cưới, Quả dưa đỏ...sau đó đến những tác phẩm lớn. Đỗ Nhuận là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên viết Ô-pê-ra (Opéra) với Cô Sao (1965), Người tạc tượng (1971). Ông còn viết nhiều tác phẩm khí nhạc, trong đó có Vũ khúc Tây Nguyên cho Viôlông và dàn nhạc đã trở thành một tác phẩm có giá trị kinh điển.
Mặc dù dồn nhiều công sức cho các tác phẩm lớn, Đỗ Nhuận vẫn dành nhiều thời gian viết ca khúc một thể loại gần gũi với quần chúng và chính ở đây, tên tuổi ông lưu lại mãi với các tác phẩm được viết trong những năm 60,70: Em là thợ quét vôi, Tôi thích thể thao (bài hát toàn chữ T), Việt Nam quê hương tôi, Đường bốn mùa xuân, Người chiến thắng là anh, viết cùng thầy Phêrê (V. Fére), Giặc đến nhà ta đánh, Vui mở đường, Trống hội tòng quân, Trai anh hùng gái đảm đang, Hát mừng các cụ dân quân, Trông cây lại nhớ đến người( cải biên hò ví dặm), Bài ca cách mạng tiến quân... Cùng với những ca khúc của các nhạc sĩ khác, ca khúc của Đỗ Nhuận đã đóng góp không nhỏ vào việc cổ vũ toàn dân toàn quân trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Miền Bắc, đấu tranh giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước.
Những năm sau thống nhất đất nước, Đỗ Nhuận lâm bệnh nên sáng tác thưa dần. Ông dành tâm sức truyền lại cho thế hệ sau này trong đó có con trai đầu của ông, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân.
Âm nhạc của Đỗ Nhuận giàu bản sắc dân tộc, phong phú về chất liệu, ngôn ngữ biểu hiện giản dị, mộc mạc trữ tình, đằm thắm đồng thời hóm hỉnh, mặn mà. Nhạc sĩ đã được nhận nhiều huân chương cao quý, đặc biệt là Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt I truy tặng, 1996).
Đỗ Nhuận có quan hệ mật thiết với nhà văn Nguyên Hồng, vợ ông là em ruột bà Nguyên Hồng và Vũ Quý một chiến sĩ cộng sản đã giúp ông đi theo cách mạng. Ông mất ngày 18/5/1991 tại Hà Nội.

Đỗ Nhuận - “cây đại thụ” của nền âm nhạc Việt Nam

TTXVN

Nhớ đến nhạc sỹ Đỗ Nhuận (1922 - 1991), là nhớ đến một người nhạc sỹ - chiến sỹ tài năng và dũng cảm với nhiều tác phẩm âm nhạc từ trước năm 1945 như “Chiều tù”, “Côn Đảo”, “Du kích ca”… Sau Cách mạng tháng Tám, âm nhạc Đỗ Nhuận cứ thế “cao chất ngất” với “Nhớ chiến khu”, “Đường trường vô Nam”, “Chiến thắng Điện Biên”, “Du kích Sông Thao”… rồi những vở nhạc kịch lớn như “Cô Sao”, “Người tạc tượng”… Có thể nói, ông là một “tầm vóc vạm vỡ” trong nền âm nhạc Việt Nam. Ông là Tổng thư ký đầu tiên của Hội nhạc sĩ Việt Nam khóa I và II từ 1958 đến 1983. Ông cũng là một trong 5 người đầu tiên được Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
- Nhạc sỹ Đỗ Nhuận tại lễ đón nhận Huân chương Độc lập hạng Hai, năm 1987. Trong tiết trời dịu mát của những ngày cuối tháng Tám, chúng tôi tìm gặp nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Hội Nhạc sỹ Việt Nam, con trai trưởng của nhạc sỹ Đỗ Nhuận, để nghe ông kể chuyện về cha mình. Tiếng hát trong tù Nhạc sỹ Đỗ Nhuận sinh ra trong một gia đình nông dân ở thôn Vạc, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Ông rời quê từ nhỏ, sống nhiều năm ở thành phố cảng Hải Phòng, nơi cha ông bị bắt phục vụ trong đội quân nhạc với vai trò "lính kèn Tây". Mặc dù không được học về nhạc, nhưng vốn có năng khiếu, lại tự học các nhạc cụ dân tộc như sáo trúc, tiêu, đàn nguyệt, đàn tứ, đàn bầu từ nhỏ, nên từ năm 17 tuổi (năm 1939) tại Hải Dương nhân dịp kỷ niệm khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Đỗ Nhuận đã sáng tác ca khúc đầu tiên, bản “Trưng Vương”. Sau đó, lấy cảm hứng từ lịch sử, ông viết các ca khúc “Chim than”, “Lời cha già”, “Đường lên ải Bắc”, là cơ sở để sau này ông soạn vở ca cảnh “Nguyễn Trãi - Phi Khanh” (trong hai năm 1940, 1941). Thời gian đó, nhạc sỹ Đỗ Nhuận được giác ngộ và bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1943, Đỗ Nhuận tham gia in và rải truyền đơn tuyên truyền cho cách mạng, treo cờ đỏ sao vàng trên phố huyện Kim Thành, nên ông bị bắt giam vào nhà lao Hải Dương. Cuối mùa hè năm 1943, ông bị đưa ra xét xử tại Tòa án sơ thẩm tỉnh Hải Phòng và nhận án 3 năm tù rồi bị giam giữ tại Hỏa Lò. Ở đây, ông được tiếp xúc với những nhà hoạt động cách mạng như Hoàng Văn Thụ, Xuân Thủy, Đỗ Mười. Biết khả năng của ông, mọi người đã đề nghị ông “khuấy động” phong trào văn nghệ để giữ vững khí phách cho anh chị em tù nhân. Vậy là một dàn nhạc được thành lập và ông trở thành một người gần như đứng đầu trong lĩnh vực văn nghệ của nhà tù. Nhạc sỹ Đỗ Nhuận cùng các nhà thơ, nhà nghiên cứu Trần Văn Khê, Tố Hữu, Huy Cận, Bảo Định Giang (từ phải sang trái - ảnh chụp năm 1980). Không chỉ viết nhạc, viết kịch, ông còn cùng anh em tù nhân chế tác nhạc cụ bằng những chất liệu đơn sơ nhất, như lấy vỏ quả bầu khô làm thùng đàn măngđôlin, mặt đàn mài từ thùng gỗ thông của hộp đựng cơm, cần đàn đẽo từ cây củi, bàn phím đàn làm từ ống bơ, dây đàn làm từ dây phanh xe đạp và dây điện, xin tóc chị em làm vĩ kéo… Bằng những nhạc cụ tự chế đó, dàn nhạc đã đi biểu diễn khắp các gian tù ở Hỏa Lò với các vở kịch thơ “Chiến sỹ và Hằng Nga” của Vương Gia Khương, “Cô gái Lam Hồng” của Đào Duy Kỳ và ca cảnh “Nguyễn Trãi – Phi Khanh” của Đỗ Nhuận, tất cả diễn viên đều là tù nhân bị giam ở Hỏa Lò lúc bấy giờ. Thời gian bị giam ở Hỏa Lò, ông đã sáng tác một số ca khúc “Chiều tù”, “Quảng Châu công xã”, “Côn Đảo”... Mùa xuân năm 1944, ông bị tòa thượng thẩm kết án 3 năm tù và đày đi nhà tù Sơn La. Trong 3 năm ở nhà tù Sơn La, nhạc sỹ Đỗ Nhuận đã sáng tác nhiều bài hát: “Hận Sơn La”, “Viếng mồ tử sỹ”, “Du kích ca”... Hiện nay, ở nhà tù Sơn La vẫn còn lưu giữ những bút tích của ông. Một trong những bài hát của nhạc sỹ Đỗ Nhuận được nhiều người hát trong giai đoạn khởi nghĩa giành chính quyền là tác phẩm “Du kích ca”. Theo ghi chép trong hồi ký của nhạc sỹ Đỗ Nhuận, bài “Du kích ca” được sáng tác trong khoảng thời gian sau Tết âm lịch năm 1945. Khi đó, không khí cách mạng từ bên ngoài đã lan vào trong nhà tù Sơn La, anh em trong tù luôn hồi hộp dõi theo những tin tức cách mạng bên ngoài. Ban ngày mọi người vẫn đi lao động, vào buổi tối, trong các trại, anh em tù cuộn chiếu lại làm súng, vác trên vai, tập đi đều. Lúc này, có một chiến sỹ cách mạng nói chuyện về chiến thuật đánh du kích, nhắc đến khẩu hiệu của du kích là một viên đạn phải hạ được một quân địch, du kích với dân phải như cá với nước… Từ cảm hứng đó, ông đã sáng tác bài hát “Du kích ca”. Sau này cùng với “Tiến quân ca” của nhạc sỹ Văn Cao và “Diệt phát xít” của nhạc sỹ Nguyễn Đình Thi, “Du kích ca” là một trong những bài hát được hát nhiều nhất trong những ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Đánh địch bằng âm nhạc Sau khi ra tù, Đỗ Nhuận cùng một số đồng chí trở về Hà Nội, tìm cách liên lạc với nhạc sỹ Nguyễn Đình Thi, Văn Cao... Với tinh thần đâu có quần chúng là có thể sống và hoạt động được, Đỗ Nhuận tiếp tục sáng tác và tuyên truyền cách mạng qua các ca khúc của mình. Trước ngày tổng khởi nghĩa, nhạc sỹ Đỗ Nhuận thường xuyên xuống đường, cùng tham gia hát và hướng dẫn mọi người tập hát đúng nhạc những bài hát cách mạng. Thời gian này, ông cũng được phân công sửa bản in cho báo “Cứu Quốc”, nhiều khi được đồng chí Xuân Thủy phân công đi lấy tin, viết bài ngắn… Sau khi cách mạng thành công, ông vào đoàn kịch Anh Vũ, vừa đi biểu diễn vừa tranh thủ tuyên truyền cách mạng cho bà con nhân dân ở nhiều nơi như Nam Định, Thái Bình, Hải Dương… Giai đoạn này, ông viết nhiều bài hát và được phổ biến như: “Nhớ chiến khu”, “Đường trường vô Nam”, “Tiếng súng Nam bộ”, “Bé yêu Bác Hồ”, “Ngày Quốc hội”... Trong cuộc chiến tranh chống Pháp, ông có những ca khúc như “Đoàn lữ nhạc”, “Hành quân xa”, “Trên đồi Him Lam”, “Chiến thắng Điện Biên”, “Tình Việt Bắc”, “Lửa rừng”, “Tiếng hát đầu quân”, “Áo mùa đông”, “Đèo bông lau...”. Trong đó, ca khúc “Hành quân xa” với câu hát nổi tiếng "Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi" và trường ca bất hủ “Du kích sông Thao” được coi là những tác phẩm kinh điển của âm nhạc Việt Nam. Sau hòa bình năm 1954, Đỗ Nhuận tiếp tục sáng tác và có mặt trong lĩnh vực khí nhạc Việt Nam. Đến năm 1960-1962, ông được đi học tại Nhạc viện Tchaikovsky, và sau đó, ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm nổi tiếng như tổ khúc giao hưởng Điện Biện (1965), giao hưởng thơ Đimitrov (1981)... Đặc biệt, ông là nhạc sỹ đã soạn ra vở nhạc kịch “Cô Sao” (1965), “Người tạc tượng” (1971)… là những vở nhạc kịch nổi tiếng của Việt Nam. Nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân cho biết, cuối năm 1945, nhạc sỹ Đỗ Nhuận có viết bài hát về cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của Việt Nam. Mới đây, bài hát được phục dựng lại theo trí nhớ của một ông giáo già là Phạm Văn Đùng, năm nay đã gần 80 tuổi, nhưng ông Đùng không nhớ tên tác giả. Sau này, qua tìm kiếm trên các tư liệu, nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân đã phát hiện ra tác giả bài hát này lại chính là nhạc sỹ Đỗ Nhuận, cha ông. Ngoài bài ca bầu cử đầu tiên, nhạc sỹ Đỗ Nhuận còn có bài hát “Ngày Quốc hội” để chào mừng Quốc hội đầu tiên và bài hát này cũng mới được dàn dựng lại. Đến bây giờ, đã 10 năm kể từ khi nhạc sỹ Đỗ Nhuận ra đi, nhưng mỗi mùa thu tháng Tám, khi cả nước tưng bừng kỷ niệm ngày Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9, những người dân Việt Nam lại nhớ đến ông - cố nhạc sỹ Đỗ Nhuận - một trong những nhạc sĩ tiên phong của âm nhạc cách mạng Việt Nam. Phương Lan

Những bóng hồng trong cuộc đời nhạc sĩ Đỗ Nhuận

Khi còn là một cậu học sinh 15 tuổi, trái tim Đỗ Nhuận đã xao xuyến trước hình ảnh cô bé hàng xóm có nụ cười duyên. Thời gian ở Huế, ông lại bị hút hồn bởi cô nữ sinh Đồng Khánh dịu dàng. Khi lên Tây Bắc xốn xang trước cô thiếu nữ dân tộc Thái... Chính vì vậy, trong nhiều ca khúc của ông luôn thấp thoáng bóng dáng những người con gái đã đi qua cuộc đời mình.

Nhạc sĩ Đỗ Nhuận.
Nhạc sĩ Đỗ Nhuận.
Mối tình đầu của Đỗ Nhuận là cô hàng xóm tên Bé. Ngày ấy, cậu học trò 15 tuổi hay dạy chữ cho người nghèo trong xóm và Bé chính là cô học trò nhỏ rất chăm chỉ của ông. Một hôm, Bé thủ thỉ hỏi thày giáo rằng chữ B viết thế nào. Cậu giáo Nhuận cầm tay cô đưa theo nét chữ B một cách nắn nót mà trong lòng run lên, tràn ngập sự yêu thương. Vài hôm sau, cô gái tặng cậu giáo chiếc khăn tay thêu chữ Bé. Cho đến 50 năm sau, khuôn mặt trái xoan, đôi mắt đen láy của cô gái vẫn làm ông bồi hồi, Đỗ Nhuận đã ghi lại những kỷ niệm về mối tình đầu lãng mạn này trong cuốn hồi ký của ông.
Những ngày ở Huế, trong lần đi cắm trại ở đỉnh Bạch Mã, Đỗ Nhuận đã phải lòng cô nữ sinh Đồng Khánh tên Dung. Chàng đã chép tặng nàng một bài thơ lưu luyến cuộc gặp gỡ ngắn ngủi của hai người. Vài năm sau, họ mới gặp lại nhau, lúc này cô Dung đổi tên thành Thuỷ và đã yên bề gia thất.
Mùa đông năm 1948 giữa núi rừng Tây Bắc, Đỗ Nhuận tình cờ gặp một cô gái dân tộc Thái. Ông đã viết tặng cô một bài hát bằng tiếng Thái. Hai người rất yêu nhau nhưng cô gái không thể theo chàng về miền xuôi vì còn phải chăm lo cho bố và đàn em thơ dại. Vậy là Đỗ Nhuận lại để lỡ mối tình Tây Bắc với bao tiếc nuối.
Cuối cùng rồi duyên phận cũng mỉm cười với chàng nhạc sĩ. Trong một đợt tuyển diễn viên văn công, Đỗ Nhuận nghỉ đêm tại tư gia của nhà văn Nguyên Hồng. Đêm ấy, ông đang ngồi hóng gió thì nghe thấy tiếng thiếu nữ lanh lảnh giai điệu Du kích sông Thao của mình, đó là giọng hát của em vợ Nguyên Hồng, cô Nguyễn Thị Túc. Chính bài hát ấy là sợi tơ hồng cho mối duyên lành của Đỗ Nhuận. Vậy là ông vừa tuyển được văn công, vừa lấy được vợ. Sau đám cưới, Đỗ Nhuận lại xa người vợ trẻ tiếp tục hành quân lên Tây Bắc, thời gian đó, ông viết thư về cho bà và không quên ép vào trang thư một bông hồng đỏ. Sau hòa bình, cậu quý tử ra đời và đó chính là nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân tài danh.
(Theo Thanh Niên)

Chuyện tình lần đầu được kể của vợ chồng cố nhạc sĩ Đỗ Nhuận

Có một người phụ nữ đã trở thành nguồn cảm hứng sống trong những sang tác bất hủ của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, đó là vợ ông, bà Nguyễn Thị Túc, em gái nhà văn Nguyên Hồng.
Hình ảnh người phụ nữ làm nên tính lãng mạn trong âm nhạc Đỗ Nhuận
Một điều đặc biệt, nữa chính tác giả tiểu thuyết Bỉ Vỏ là người đã chắp mối cho cặp đôi này nên duyên vợ chồng.
Đây là một trong những nội dung gây bất ngờ cho những ai cầm trên tay cuốn hồi ký của nhạc sĩ Đỗ Nhuận. Âm thanh cuộc đời, tên của cuốn sách, đã ra đời cách đây 12 năm. Và 12 năm sau, thêm một lần những ký ức này được sống lại, được tái hiện trong chương trình Giai điệu tự hào, với nội dung “Những trang viết còn lại”.
Những trang viết còn lại, lần dở lại những trang sách, những cuốn hồi ký kể về những câu chuyện đằng sau những bài ca đi cùng năm tháng. Chất chứa trong đó bao hồi ức, cảm xúc, kỷ niệm và cả những nhân chứng từng có mặt, góp nhặt nên tác phẩm nghệ thuật.
"Du kích sông Thao" của NS Đỗ Nhuận là một trong những ca khúc được xướng lên trong không gian âm nhạc đầy hoài niệm và hào hùng như thế.
 chuyen-tinh-lan-dau-duoc-ke-cua-vo-chong-co-nhac-si-do-nhuan-giadinhvietnam.com 1
Nhạc sĩ Đỗ Nhuận và con trai, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân.
Nói về hoàn cảnh ra đời của bài hát, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, con trai cả của nhạc sĩ Đỗ Nhuận đã có những chia sẻ chân thành và cụ thể. Ông nói: “Thời điểm cha tôi viết Du kích sông Thao, trước đó NS Văn Cao đã viết Trường ca Sông Lô, Nguyễn Đình Thi có bài Người Hà Nội. Đây là những ca khúc đã vượt ra khỏi sự ảnh hưởng của một bài hát đơn thuần. Nó mang ý nghĩa lịch sử, cổ động, khích lệ tinh thần của cả một thế hệ ra trận. Bởi trong kháng chiến cách mạng, văn học nghệ thuật cũng là một vũ khí sắc bén. Đó cũng là những đóng góp to lớn của thế hệ các nhạc sĩ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Sự xuất hiện của những ca khúc ở thể loại trường ca, hợp xướng tuy không mới so với thế giới nhưng lại rất mới mẻ khi xuất hiện tại Việt Nam ở thời điểm đó.
NS Đỗ Nhuận từng viết trong hồi ký Âm thanh cuộc đời về hoàn cảnh ra đời của ca khúc Du kích Sông Thao. Năm 1948, sau thời gian bị đày ở nhà tù Sơn La, ông và các bạn tù vượt ngục và thoát được ra ngoài. Trên đường xuôi xuống Ấm Thượng, Phú Thọ, ông nhớ đến những người bạn, người thân cũ trong đó có cô du kích tên Hà từng giúp ông và đồng đội trên đường công tác. Hỏi thăm thì được biết, cô gái lúc đó được phân công nhiệm vụ làm “người lái đò” đưa cán bộ, chiến sĩ cách mạng qua sông. Xuất phát từ câu chuyện và những cảm xúc về cô du kích nhỏ, trên tuyến đường tiếp tục di chuyển sau đó, NS Đỗ Nhuận vừa đã vừa đi bộ vừa cầm ghi ta và sáng tác ca khúc Du kích sông Thao. Khi vừa đến ngã ba sông, nơi giao thoa giữa các nhánh sông của Việt Trì, Sông Hồng thì bài hát này được hoàn thành.
Theo NS Đỗ Hồng Quân, đây là một ca khúc có sự đan xen, hòa trộn giữa hai yếu tố: trữ tình và hùng ca. Âm nhạc hào sảng, lời ca đẹp, giàu sức gợi với hình ảnh dòng sông và một người con gái đã mang lại một sự lan tỏa về cảm xúc cho người nghe. Chính vì những yếu tố này mà về sau, nhiều đoàn nghệ thuật đã lựa chọn ca khúc này để dàn dựng thành các vở nhạc kịch rất thành công.
Lấy cảm hứng từ hình ảnh của một người con gái, một hình ảnh rất con người, rất lãng mạn để nói lên tình yêu đất nước to lớn, theo nhà phê bình lý luận âm nhạc Thụy Kha, đó là sự đan xen của những cung bậc cảm xúc trong nghệ thuật.
Đây cũng là nét thi vị của ca khúc Du kích sông Thao cũng là điều làm nên sức hấp dẫn trong nhiều sáng tác của nhạc sĩ Đỗ Nhuận. Có điều gì mâu thuẫn trong những khúc tráng ca hào hùng với tinh thần xông trận ngùn ngụt, mạnh mẽ với vẻ đẹp trữ tình của những cô gái, những người phụ nữ trong cảm hứng sáng tạo của tác giả. Thực tế, theo NS Đỗ Hồng Quân, không hề có bất cứ một mẫu thuẫn nào, thậm chí hai trường phái cảm xúc, hình ảnh, biểu tượng tưởng chừng như khó liên quan này lại hỗ trợ, khơi gợi, đan xen và hoàn quyện với nhau, tạo nên sức hấp dẫn và lan tỏa cho ca khúc.
Hình ảnh đẹp từ một nguyên mẫu đời thực đã giúp ca khúc Du kích sông Thao có thể vận dụng, chuyển soạn theo nhiều thể loại khác như đàn dây, giao hưởng và có mặt trong nhiều festival âm nhạc.
 chuyen-tinh-lan-dau-duoc-ke-cua-vo-chong-co-nhac-si-do-nhuan-giadinhvietnam.com 2
Ca khúc Du kích sông Thao được nhiều nghệ sĩ nổi tiếng thể hiện.
Trong âm nhạc nghệ thuật, mọi sáng tác của người nghệ sĩ đều xuất phát từ một cảm hứng cụ thể. Ví dụ như Người con gái Sông La của NS Doãn Nho cũng lấy cảm hứng từ chị La Thị Tám, cô gái dân quân Nghệ Tĩnh anh dũng chiến đấu dưới mưa bom bão đạn.
“Hình ảnh người phụ nữ là một nguồn cảm hứng lớn trong sáng tác âm nhạc của bố tôi”, con trai của cố nhạc sĩ tài danh Đỗ Nhuận đã nói như thế về cha mình. Trong những hồi ức về cha của NS Đỗ Hồng Quân, dù đã nhiều lần thổ lộ vẫn còn nguyên những xúc động.
Âm nhạc se duyên cho tình yêu đôi lứa
Cuốn hồi ký Âm thanh cuộc đời cũng phác họa nên một Đỗ Nhuận rất khác, rất lãng mạn và rất con người. Câu chuyện tình của ông với người vợ thân yêu, bà Nguyễn Thị Túc, lần đầu tiên được “kể lại”, được tái hiện với một thế hệ độc giả trẻ. Có một chi tiết đặc biệt, bà Nguyễn Thị Túc là em gái của vợ nhà văn Nguyên Hồng và chính tác giả của tiểu thuyết Bỉ Vỏ là người đã chắp mối, se duyên cho cặp đôi.
Trong một đợt tuyển diễn viên văn công, Đỗ Nhuận nghỉ đêm tại tư gia của nhà văn Nguyên Hồng. Đêm ấy, ông đang ngồi hóng gió thì nghe thấy tiếng thiếu nữ ngân nga giai điệu Du kích sông Thao của mình, đó là giọng hát của em vợ Nguyên Hồng, cô Nguyễn Thị Túc. Chính bài hát ấy là sợi tơ hồng của họ. Như một cái duyên, ông vừa tuyển được văn công, vừa lấy được vợ. Sau đám cưới, Đỗ Nhuận phải xa người vợ trẻ để tiếp tục hành quân lên Tây Bắc. Những ngày tháng xa cách, ông viết thư về cho bà và không quên ép vào trang thư một bông hồng đỏ. Sau hòa bình, họ sinh một quý tử, đó chính là nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân tài danh.
Một câu chuyện tình cách đây mấy chục năm mà vẫn còn nguyên vẻ lãng mạn, tươi trẻ, đẹp đẽ. Chính bà Nguyễn Thị Túc, một người con gái Bắc Giang, có giọng hát ngọt ngào hay ngân nga những câu hát dân ca đã khiến trái tim người thi sĩ rung động. Bà cũng là nguồn cảm hứng và là hình mẫu trong nhiều sáng tác âm nhạc của ông.
Cuốn hồi ký cũng nhắc lại những tình cảm thiêng liêng giữa mối quan hệ cha và con của NS Đỗ Nhuận và NS Đỗ Hồng Quân. 
"Khi tôi lên bốn, năm tuổi gì đó, bố tôi đã dạy tôi bấm những nốt đầu tiên đàn Piano: Đồ, rê, mi, con chim ri. Một buổi tối, tại nhà hát lớn, tôi đã được biểu diễn bài "Inh lả ơi". Vì tôi còn bé quá, nên bố tôi phải kê hai cái ghế con cho vừa. Lúc đánh xong bài hát, tôi luống cuống nhảy xuống, suýt ngã trong tiếng cười của cả rạp. Đấy là buổi biểu diễn đầu tiên trong đời tôi.
Một lần, có người khen tôi: Cháu nó học giỏi, cháu nó khá lắm. Lúc đó thấy ông vui vui rồi nói: "Con hơn cha là nhà có phúc". Nói xong, ông cười, còn tôi hiểu đó như một ý nguyện, ý nguyện của lớp nhạc sỹ cha anh muốn gửi gắm, mong mỏi, hy vọng vào con cháu mình - lớp nhạc sỹ trẻ Việt Nam", nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân tâm sự.
Nhạc sỹ Đỗ Nhuận sinh năm 1922, mất năm 1991, là tổng thư ký đầu tiên của Hội Nhạc sỹ Việt Nam. Ông được coi là ngôi sao sáng của nền âm nhạc Việt Nam. Ông là nhạc sỹ Việt Nam đầu tiên viết Opera với vở Cô Sao. Là nhạc sỹ duy nhất trong thế hệ tân nhạc đầu tiên ở nước ta được đào tạo bài bản (học ở nhạc viện danh tiếng mang tên nhà soạn nhạc Nga vĩ đại Tchaikovsky từ 1960 đến 1962). Theo nhạc sỹ Vũ Tự Lân thì Đỗ Nhuận là người "Lắm tài, ông kéo đàn violon, thổi tiêu, sáo, đóng kịch và viết kịch, sáng tác bài hát hay mà vẽ cũng không xoàng".
Những tác phẩm âm nhạc của ông sống mãi với thời gian như "Du kích ca"; "Áo mùa đông"; "Du kích sông Thao"; "Hành quân xa"; "Trên đồi Him Lam"; "Việt Nam quê hương tôi"… Bài hát "Chiến thắng Điện Biên" đã trở thành nhạc hiệu của Đài Phát thanh và truyền hình Hà Nội.
Ông được trao tặng Huân chương Độc lập hạng nhì và được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Đào Bích

Đỗ Hồng Quân - người kế tục hoàn hảo của nhạc sỹ Đỗ Nhuận

(Báo ảnh Việt Nam/Vietnam+) Bản in

Nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân trong vai trò Nhạc trưởng tại liên hoan Âm nhạc Á​-Âu 2014 tổ chức tại Hà Nội. (Nguồn: Báo ảnh Việt Nam/Vietnam+)

Nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân là một trong những nhạc sỹ phối khí hàng đầu Việt Nam với những bản khí nhạc mang đến cho người nghe sự yên bình và sâu lắng trong tâm hồn với những mạch nguồn dân gian.

Ông là con trai của cố nhạc sỹ nổi tiếng Đỗ Nhuận, nên khi nhắc đến nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân, giáo sư, nghệ sỹ nhân dân Trọng Bằng (Nhạc trưởng đầu tiên của Việt Nam) đã cho rằng: “Đó là người kế tục hoàn hảo.”

Chúng tôi có dịp trò chuyện về mạch nguồn cảm hứng trong những sáng tác tại trụ sở của Hội Nhạc sỹ Việt Nam, nơi nhạc sỹ Đ​ỗ Hồng Quân đang giữ chức vụ Chủ tịch Hội.

Theo ông thì chính những năm tháng trường nhạc sơ tán ở vùng đồng quê Yên Dũng (Bắc Giang) đã bồi đắp tâm hồn ông để trở thành hồn cốt trong tác phẩm sau này.

Với nhạc sỹ Đồ Hồng Quân, mạch nguồn sáng tạo nên những cảm hứng âm nhạc, nuôi dưỡng những tâm hồn ông chính là không gian của làng quê Viêt Nam, nơi ông từng được sống với những người nông dân tốt bụng, trong bầu không khí của một đại gia đình.

Ngày cả gia đình ông đi sơ tán, dù còn khó khăn nhưng người cha của ông, cố nhạc sỹ Đỗ Nhuận đã kỳ công chở bằng được về làng một chiếc đàn piano cũ cho ông tập.

Nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân xúc động chia sẻ: "Khi tôi lên bốn, cha đã cầm tay tôi ngắm nghía và bắt đầu dạy tôi những nốt nhạc đầu tiên trên cây đàn piano."

Bản nhạc nổi tiếng của ông "Gửi về sông Lục, núi Huyền" chính là cảm hứng có được từ vùng quê Lục Ngạn với những lời ru mà thuở nhỏ mẹ ông vẫn thường hát ru con.

Buổi biểu diễn đầu tiên trong đời tại Nhà hát lớn của nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân là khi ông còn là cậu bé với tiết mục "Inh lả ơi.​" Khi đó vì bé quá nên nhạc sỹ Đỗ Nhuận đã phải kê hai cái ghế con để ông ngồi cho đủ độ cao. Biểu diễn xong, ông suýt ngã vì luống cuống nhảy xuống trong tiếng cười và vỗ tay của khán giả xem buổi biểu diễn đáng nhớ đó.

Sau 9 năm tu nghiệp tại Nhạc viện Tchaikovsky (Liên Xô cũ), năm 1986, nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân trở về nước, hoạt động tích cực và gặt hái thành công trên con đường âm nhạc riêng của mình là khí nhạc. Ông được biết đến như một người chuyên viết khí nhạc ở Việt Nam.

Hàng loạt các bản nhạc ghi dấu ấn trong làng nhạc Việt của nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân như: vở Ballet "Hồng Hoang"; nhạc kịch "Nàng Xa Mi"; album "Chiếc lá đầu tiên" đều có một phong vị, tiết tấu riêng và một tâm hồn riêng của ông mà không lẫn đâu được trong kho tàng âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Bố của nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân là cố nhạc sỹ Đỗ Nhuận (1922-1991). Ông là Tổng thư ký đầu tiên của Hội nhạc sỹ Việt Nam khóa I và II từ 1958 đến 1983.

Nhạc sỹ Đỗ Nhuận cũng là một trong những nhạc sỹ tiên phong của âm nhạc cách mạng. Ông còn là nhạc sỹ Việt Nam đầu tiên viết opera với vở Cô Sao và là tác giả của bản Du kích Sông Thao nổi tiếng./.

Gặp người "hồi sinh" bản nhạc Ngày Quốc hội của nhạc sĩ Đỗ Nhuận

Việt Cường - Phùng Sơn (Ban Thời sự)Cập nhật 19:48 ngày 06/01/2016

VTV.vn - Năm 2010, ông Phạm Văn Nùng đã quyết định viết thư cho Hội Nhạc sĩ Việt Nam với mong muốn tìm lại một tác phẩm âm nhạc được sáng tác ngay trước ngày bầu cử 6/1/1946.

Ông Phạm Văn Nùng năm nay 82 tuổi. Cuối năm 1945, khi tham gia đội văn nghệ thiếu nhi, ông đã được tập và biểu diễn một bài hát về ngày bầu cử đầu tiên. Đến giờ, ông vẫn thuộc làu bài hát nhưng không nhớ tên và nhạc sĩ sáng tác.
Nhiều năm trôi qua, ông Phạm Văn Nùng luôn băn khoăn: Tại sao bài hát hay như vậy lại không ai hát lại và cũng không thấy in trong tập sách nào?. Năm 2010, ông đã quyết định viết thư cho Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Lá thư đến tay nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân - Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam.
Sau đó, bản nhạc đầy đủ đã được con trai nhạc sĩ Đỗ Nhuận khôi phục lại. Hóa ra, trong một cuốn hồi ký, nhạc sĩ Đỗ Nhuận đã nhắc đến bài hát này nhưng chỉ với hai câu đầu.


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32