CHUYỆN ÍT BIẾT 30
(ĐC sưu tầm trên NET)
Isaac Newton là một trong những thiên
tài lớn nhất thế giới. Ngoài những phát minh khoa học vĩ đại, ông còn
khiến nhiều người ám ảnh về tiên đoán ngày tận thế với thời điểm tận thế
rất cụ thể.
Vào những ngày cuối đời, Isaac Newton - nhà khoa học vĩ đại nhất nước Anh, đã để lại những ký hiệu kỳ lạ trong tập bản thảo dày 4.500 trang được cho là một quyển sách tiên tri. Không phải ai cũng biết rằng Kinh Thánh cũng là niềm đam mê lớn của Newton và ông dành khoảng thời gian ít ỏi còn lại của cuộc đời cho việc giải mã lời tiên tri trong đó nhằm tìm ra ngày tận thế.
Trên thực tế, ông được cho là đã tiên đoán đúng sự kiện người Do Thái trở về mảnh đất Israel và tính ra ngày hành hình Chúa Jesu là 3/4 năm 33 SCN.

“Tôi nghe thấy một người trên mặt sông mặc đồ vãi lanh. Khi người đó, con người bất tử, đưa tay phải lên, tiến về thiên đường, và thề rằng đó chỉ là một kỳ, nhiều kỳ, và nửa kỳ; và ngay khi sức mạnh của dân thánh bị tiêu tan, tất cả những sự kiện này sẽ hoàn tất.
Chính cụm từ “một kỳ, nhiều kỳ, và nửa kỳ” đã khiến Newton phải chú ý. Ông đã diễn giải cụm này là ba và một nửa hay là 1260 ngày (cũng được tham khảo trong Daniel 7:25, Khải Huyền 11;3, 13:6 và 13:5). Nhưng ông đã thực hiện một điều chỉnh nhỏ, ông đã diễn giải ngày để có nghĩa là năm – 1260 năm – đánh dấu sự đếm ngược tới kết thúc của thế giới và sự trở lại của chúa.
Tất nhiên, Newton cũng cần một ngày bắt đầu đếm ngược này. Cho rằng, Newton sử dụng các thiết lập của Thánh chế La Mã trong năm 800 sau Công Nguyên bởi Charlemagne. Điều này báo hiệu sự kết hợp của tính ưu việt tôn giáo của Đức Giáo Hoàng với ưu thế chính trị của Charlemagne.
Do đó, năm 2060 đã được tính toán đơn giản bằng cách thêm 1.260 năm vào năm 800 sau Công Nguyên.
Lời tiên tri về ngày tận thế đã được phổ biến trong phong trào Tin Lành xuyên suốt Ngày của Newton. Các tín đồ tôn giáo, những người vừa được tách khỏi các Hộ Đồng Công Giáo La Mã, bị bức hại nghiêm trọng từ Hội Đồng Công Giáo. Các nhà đứng đầu Tin Lành chẳng hạn như Martin Luther và John Calvin giáo hoàng tự xưng vua như những người phản nghịch. 144.000 người đắc cử đã được bảo hộ bởi Chúa được coi là những người Tin Lành. Các bội giáo lớn liên quan đến những người còn trong Giáo Hội Công Giáo La Mã.
Newton tin rằng năm 800 sau Công Nguyên đã đánh dấu ngày bắt đầu sớm nhất để đếm ngược, nhưng nói thêm rằng có thể sẽ bắt đầu muộn hơn.
“Nó không bắt đầu trước năm 800 thời điểm mà uy quyền của Đức Thánh Cha bắt đầu”, Newton nói. Sau đó ông nói thêm: “Tận thế có lẽ sẽ kết thúc muộn hơn, nhưng tôi thấy không có lý do gì cho việc này xảy ra sớm hơn.”
Newton cho biết: “Không phải để khẳng định đâu là thời điểm cuối cùng, nhưng để đặt dấu chấm hết cho những phỏng đoán thiếu suy nghĩ của những con người huyền ảo, những người đã thường xuyên dự đoán ngày tận thế và bởi vì những hành động như vậy mang những lời tiên tri thiêng liêng thành mất hiệu nghiệm như những dự đoán sai lệch của họ.
Trong Tân Ước, chúa Giê-su nói rằng chúng ta sẽ không biết chính xác ngày hoặc giờ trở về của ông (Mathew 24:36). Nhưng thực tế, chúa Giê-su thừa nhận rằng ngay cả chính Ngài cũng không biết ngày cụ thể thể thêm rằng chỉ có Đấng Chúa Trời mới biết chính xác thời gian. Nhưng sẽ có một số chỉ báo, báo hiệu sự trở lại của chúa Giê-su là gần kề. Một trong những dấu hiệu đó là sự phục hồi của quốc gia Israel.
Khoahocthuvi.net
Theo tuyên bố của các chuyên gia về
bệnh tự kỷ tại Đại học Cambridge và Oxford (Anh), 2 nhà khoa học vĩ đại
của thế giới, Albert Einstein và Isaac Newton, đều có những dấu hiệu của
hội chứng Asperger - một dạng bệnh tự kỷ.
Không mấy người biết rằng, Albert
Einstein, thiên tài toán học và vật lý, một trong những biểu tượng của
nhân loại thế kỷ 20, đã có một đời sống tình ái vô cùng phức tạp và
những cuộc tình đầy sóng gió.
Stephen Hawking - nhà vật lý thiên tài
vĩ đại nhất thế kỷ 21 có cái nhìn không mấy lạc quan về tương lai của
nhân loại. Cùng đọc những lời tiên tri đáng sợ về tương lai của nhà vật
lý thiên tài Stephen Hawking.
Albert Einstein, một trong những nhà
khoa học lớn nhất mọi thời đại đã cung cấp nền tảng khoa học cho sự tồn
tại thực sự của ma quỷ. Vậy, sự thật là thế nào?
Những phát minh của họ đã làm thay đổi
thế giới, song bản thân họ lại phải gánh chịu những hậu quả nặng nề
trong khi tiến hành các thử nghiệm khoa học, thậm chí có người còn bị
thiệt mạng.
Năm 1898 Marie Curie đã cùng chồng là Pierre tìm ra radium và sau đó bà đã dành thời gian còn lại trong cuộc đời của mình để nghiên cứu quá trình phóng xạ , liệu pháp điều trị bệnh bằng phóng xạ và do tiếp xúc nhiều với phóng xạ mà bà đã mắc bệnh bạch cầu (Leukemia) và qua đời năm 1934. Marie Curie là nhà khoa học đầu tiên và duy nhất giành hai giải Nobel khoa học thuộc hai lĩnh vực khác nhau là hóa học và vật lý, nữ giáo sư đầu tiên của ĐH tổng hợp Paris (Pháp).

Sieur Freminet (tử vong vì nổ mặt nạ dưỡng khí)
Năm 1972, nhà khoa học người Pháp, Sieur Freminet đã phát minh ra loại mặt nạ dưỡng khí có khả năng chuyển đổi khí CO2 thành Oxy. Tuy nhiên trong quá trình thử nghiệm, chiếc mặt nạ bị lỗi, khiến nhà khoa học này tử vong
Kỹ sư Henry Smolinski
Henry Smolinski là kỹ sư người Mỹ, làm việc ở tập đoàn sản xuất vũ khí Northrop trước khi bỏ việc và thành lập Advanced Vehicle Engineers, sản xuất xe hơi bay để tung ra thị trường.
Smolinski thiết kế hai nguyên mẫu xe hơi bay đầu tiên năm 1973, bằng cách ghép phần đuôi của chiếc máy bay Cessna Skymaste với chiếc xe Pinto Ford.
Ông đang chuẩn bị tung sản phẩm ra thị trường bán lẻ thì qua đời ngày 11/9/1973, khi bay thử nghiệm cùng với phi công Harold Blake vì một thanh giằng cánh máy bay tách ra khỏi chiếc xe. Ủy Ban An toàn Giao thông Quốc gia kết luận rằng, mối hàn hỏng là nguyên nhân gây ra vụ tai nạn.
Harry Daghlian (qua đời vì nhiễm phóng xạ trong phòng thí nghiệm)
Nhà vật lý học người Mỹ Harry Daghlian đã tham gia vào kế hoạch Manhattan nổi tiếng tại phòng thí nghiệm quốc gia ở Los Alamos, New Mexico. Vào ngày 21-8-1945, trong một thí nghiệm về khối lượng, ông đã vô ý làm rơi một viên gạch vonfram cacbua vào lõi bom plutonium. Để tránh các phản ứng có hại xảy ra, ông phải lập tức dùng tay để nhấc gạch ra. Điều này đã làm ông bị nhiễm một lượng lớn phóng xạ và tử vong 25 ngày sau đó.

Nhà hóa học Thomas Midgley Jr.
Thomas Midgley Jr. là nhà hóa học rất nổi tiếng nghiên cứ xăng pha chì và khí nhà kính Freon. Có lần, để chứng minh xăng pha chì an toàn, ông dùng tay không nhúng vào nó, hít bình đựng trong 60 giây.
Nhiều người cho rằng Migley chết vì nhiễm độc chì. Tuy nhiên, ông chết vì phát minh hệ thống dây thừng và ròng rọc. Ông thiết kế nó để hỗ trợ ông khi bị liệt. Ông vướng vào một sợi dây thừng khi đang nằm trên giường và ngạt thở ngày 2/11/1944.
Carl Scheele (qua đời vì nhiễm độc trong thí nghiệm)
Ông là nhà hóa dược học thiên tài đã phát hiện ra rất nhiều nguyên tố, trong đó nổi tiếng nhất là oxy (mặc dù nghiên cứu này sau đó được nhà khoa học Joseph Priestly xuất bản trước), molipden, vonfram, mangan và clo.

Vào thời đại của ông, chưa có các biện pháp bảo đảm an toàn lao động cũng như người ta chưa biết hết về độc tính của các loại hóa chất. Carl còn có một thói quen xấu là sử dụng tất cả các giác quan để tiếp xúc với hóa chất, nhất là khứu giác và vị giác. Trong một lần thử hydro xyanua, mặc dù ông nghĩ mình sẽ an toàn nhưng do sự tích tụ cùng lúc các chất thủy ngân, chì, axit flohydric và một số chất khác đã khiến ông tử vong vì nhiễm độc kim loại nặng ở tuổi 44.
Khoahocthuvi.net
Isaac Newton tiên đoán thế giới sẽ biến mất vào năm 2060
Isaac Newton tiên đoán ngày tận thế
Các nhà nghiên cứu tiếng Do Thái ước tính Newton có hơn 1 triệu từ liên quan đến việc nghiên cứu Kinh Thánh của ông. Nhưng có lẽ những tuyên bố đáng chú ý nhất là trên một mảnh giấy biên trong một bức thư mà ông đã viết vào năm 1704. Trong mảnh giấy này ông đã tiên đoán rằng thế giới sẽ biến mất vào năm 2060.Vào những ngày cuối đời, Isaac Newton - nhà khoa học vĩ đại nhất nước Anh, đã để lại những ký hiệu kỳ lạ trong tập bản thảo dày 4.500 trang được cho là một quyển sách tiên tri. Không phải ai cũng biết rằng Kinh Thánh cũng là niềm đam mê lớn của Newton và ông dành khoảng thời gian ít ỏi còn lại của cuộc đời cho việc giải mã lời tiên tri trong đó nhằm tìm ra ngày tận thế.
Trên thực tế, ông được cho là đã tiên đoán đúng sự kiện người Do Thái trở về mảnh đất Israel và tính ra ngày hành hình Chúa Jesu là 3/4 năm 33 SCN.
Isaac Newton tiên đoán thế giới sẽ biến mất vào năm 2060
Newton đã đưa ra kết luận này sau khi ông nghiên cứu chuyên sâu sách của Daniel, đặc biệt trong chương 12 câu 7:“Tôi nghe thấy một người trên mặt sông mặc đồ vãi lanh. Khi người đó, con người bất tử, đưa tay phải lên, tiến về thiên đường, và thề rằng đó chỉ là một kỳ, nhiều kỳ, và nửa kỳ; và ngay khi sức mạnh của dân thánh bị tiêu tan, tất cả những sự kiện này sẽ hoàn tất.
Chính cụm từ “một kỳ, nhiều kỳ, và nửa kỳ” đã khiến Newton phải chú ý. Ông đã diễn giải cụm này là ba và một nửa hay là 1260 ngày (cũng được tham khảo trong Daniel 7:25, Khải Huyền 11;3, 13:6 và 13:5). Nhưng ông đã thực hiện một điều chỉnh nhỏ, ông đã diễn giải ngày để có nghĩa là năm – 1260 năm – đánh dấu sự đếm ngược tới kết thúc của thế giới và sự trở lại của chúa.
Tất nhiên, Newton cũng cần một ngày bắt đầu đếm ngược này. Cho rằng, Newton sử dụng các thiết lập của Thánh chế La Mã trong năm 800 sau Công Nguyên bởi Charlemagne. Điều này báo hiệu sự kết hợp của tính ưu việt tôn giáo của Đức Giáo Hoàng với ưu thế chính trị của Charlemagne.
Do đó, năm 2060 đã được tính toán đơn giản bằng cách thêm 1.260 năm vào năm 800 sau Công Nguyên.
Lời tiên tri về ngày tận thế đã được phổ biến trong phong trào Tin Lành xuyên suốt Ngày của Newton. Các tín đồ tôn giáo, những người vừa được tách khỏi các Hộ Đồng Công Giáo La Mã, bị bức hại nghiêm trọng từ Hội Đồng Công Giáo. Các nhà đứng đầu Tin Lành chẳng hạn như Martin Luther và John Calvin giáo hoàng tự xưng vua như những người phản nghịch. 144.000 người đắc cử đã được bảo hộ bởi Chúa được coi là những người Tin Lành. Các bội giáo lớn liên quan đến những người còn trong Giáo Hội Công Giáo La Mã.
Newton tin rằng năm 800 sau Công Nguyên đã đánh dấu ngày bắt đầu sớm nhất để đếm ngược, nhưng nói thêm rằng có thể sẽ bắt đầu muộn hơn.
“Nó không bắt đầu trước năm 800 thời điểm mà uy quyền của Đức Thánh Cha bắt đầu”, Newton nói. Sau đó ông nói thêm: “Tận thế có lẽ sẽ kết thúc muộn hơn, nhưng tôi thấy không có lý do gì cho việc này xảy ra sớm hơn.”
Newton cho biết: “Không phải để khẳng định đâu là thời điểm cuối cùng, nhưng để đặt dấu chấm hết cho những phỏng đoán thiếu suy nghĩ của những con người huyền ảo, những người đã thường xuyên dự đoán ngày tận thế và bởi vì những hành động như vậy mang những lời tiên tri thiêng liêng thành mất hiệu nghiệm như những dự đoán sai lệch của họ.
Trong Tân Ước, chúa Giê-su nói rằng chúng ta sẽ không biết chính xác ngày hoặc giờ trở về của ông (Mathew 24:36). Nhưng thực tế, chúa Giê-su thừa nhận rằng ngay cả chính Ngài cũng không biết ngày cụ thể thể thêm rằng chỉ có Đấng Chúa Trời mới biết chính xác thời gian. Nhưng sẽ có một số chỉ báo, báo hiệu sự trở lại của chúa Giê-su là gần kề. Một trong những dấu hiệu đó là sự phục hồi của quốc gia Israel.
Khoahocthuvi.net
Einstein và Newton mắc chứng tự kỷ?
Isaac
Newton, người tìm ra định luật vạn vật hấp dẫn và Albert Einstein,
người phát hiện ra thuyết tương đối, đều là những thiên tài đã góp phần
thay đổi sự hiểu biết của con người về vũ trụ. Tuy nhiên, các nhà khoa
học Anh tin rằng cả 2 thiên tài này đều có nhiều biểu hiện của hội chứng
Asperger (viết tắt là AS), một dạng của bệnh tự kỷ.
Giáo sư Simon Baron- Cohen, chuyên gia về bệnh tự kỷ tại Đại học Cambridge, và nhà toán học Ioan James của Đại học Oxford, Anh, đã nghiên cứu tính cách của 2 nhà thiên tài khoa học này để tìm hiểu xem liệu 2 ông có các triệu chứng của hội chứng AS.
Trong công trình nghiên cứu của mình đăng trên tạp chí New Scientist hôm 30/4/2003, các tác giả cho rằng Einstein đã có những triệu chứng của AS khi còn bé.

Từ khi 7 tuổi, Einstein đã sống cô độc và thường lặp đi lặp lại các câu nói. Einstein cũng nổi tiếng vì cách phát ngôn đầy rối rắm. Khi lớn lên, dù kết giao nhiều bạn mới, có vô số cuộc tình và tham gia phát biểu về các vấn đề chính trị, ông vẫn bị coi là người mắc chứng Asperger.
"Niềm đam mê, yêu đương và đấu tranh vì công bằng hoàn toàn khớp với các triệu chứng của Asperger", giáo sư Simon Baron Cohen, trường Đại học Cambridge, nói.
Còn Newton thì được cho là có những dấu hiệu điển hình của chứng bệnh này. Ông hầu như không lên tiếng, thờ ơ với nhiều thứ, chìm ngập trong công việc đến mức quên ăn và rất dễ nổi cáu với số bạn bè ít ỏi của mình. Vào tuổi 50, ông bị suy sụp vì trầm cảm và hoang tưởng.

Tuy nhiên, vẫn có người không tin tưởng lắm vào công trình nghiên cứu trên. Tiến sĩ Glen Elliott, một nhà tâm lý học tại Đại học California, bang San Francisco (Mỹ), cho rằng việc chẩn đoán bệnh dựa trên tiểu sử của một người là không đáng tin cậy và đưa ra một số nguyên nhân khác để giải thích cho những biểu hiện trên của hai nhà khoa học.
Theo Elliott, chính sự thông minh xuất chúng của Isaac Newton và Albert Einstein đã hình thành nên tính cách của hai người. Ông nhận xét: “Một số thiên tài có thể cảm thấy bị cô lập và khó giao tiếp do không đủ kiên nhẫn khi tiếp xúc với những người kém thông minh hơn mình, hay do quá chú tâm đến công việc của mình”.
Tiến sĩ Elliott cho biết Einstein là người có óc khôi hài - một đặc điểm không có ở những người bị hội chứng AS nặng. Dù vậy, giáo sư Baron-Cohen vẫn cho rằng những phát hiện trên có thể giúp cho những người bị hội chứng AS vượt lên nếu họ tìm thấy hướng đi thích hợp cho mình.
Ông nói: “Hội chứng này có thể khiến người ta tuyệt vọng hay tự tử. Vì thế thật tốt nếu chúng ta tìm ra giải pháp để khiến họ cảm thấy dễ chịu hơn”.
Khoahocthuvi.net
Nguồn: Người Lao Động, Vnexpress
Giáo sư Simon Baron- Cohen, chuyên gia về bệnh tự kỷ tại Đại học Cambridge, và nhà toán học Ioan James của Đại học Oxford, Anh, đã nghiên cứu tính cách của 2 nhà thiên tài khoa học này để tìm hiểu xem liệu 2 ông có các triệu chứng của hội chứng AS.
Trong công trình nghiên cứu của mình đăng trên tạp chí New Scientist hôm 30/4/2003, các tác giả cho rằng Einstein đã có những triệu chứng của AS khi còn bé.
Từ khi 7 tuổi, Einstein đã sống cô độc và thường lặp đi lặp lại các câu nói. Einstein cũng nổi tiếng vì cách phát ngôn đầy rối rắm. Khi lớn lên, dù kết giao nhiều bạn mới, có vô số cuộc tình và tham gia phát biểu về các vấn đề chính trị, ông vẫn bị coi là người mắc chứng Asperger.
"Niềm đam mê, yêu đương và đấu tranh vì công bằng hoàn toàn khớp với các triệu chứng của Asperger", giáo sư Simon Baron Cohen, trường Đại học Cambridge, nói.
Còn Newton thì được cho là có những dấu hiệu điển hình của chứng bệnh này. Ông hầu như không lên tiếng, thờ ơ với nhiều thứ, chìm ngập trong công việc đến mức quên ăn và rất dễ nổi cáu với số bạn bè ít ỏi của mình. Vào tuổi 50, ông bị suy sụp vì trầm cảm và hoang tưởng.
Tuy nhiên, vẫn có người không tin tưởng lắm vào công trình nghiên cứu trên. Tiến sĩ Glen Elliott, một nhà tâm lý học tại Đại học California, bang San Francisco (Mỹ), cho rằng việc chẩn đoán bệnh dựa trên tiểu sử của một người là không đáng tin cậy và đưa ra một số nguyên nhân khác để giải thích cho những biểu hiện trên của hai nhà khoa học.
Theo Elliott, chính sự thông minh xuất chúng của Isaac Newton và Albert Einstein đã hình thành nên tính cách của hai người. Ông nhận xét: “Một số thiên tài có thể cảm thấy bị cô lập và khó giao tiếp do không đủ kiên nhẫn khi tiếp xúc với những người kém thông minh hơn mình, hay do quá chú tâm đến công việc của mình”.
Tiến sĩ Elliott cho biết Einstein là người có óc khôi hài - một đặc điểm không có ở những người bị hội chứng AS nặng. Dù vậy, giáo sư Baron-Cohen vẫn cho rằng những phát hiện trên có thể giúp cho những người bị hội chứng AS vượt lên nếu họ tìm thấy hướng đi thích hợp cho mình.
Ông nói: “Hội chứng này có thể khiến người ta tuyệt vọng hay tự tử. Vì thế thật tốt nếu chúng ta tìm ra giải pháp để khiến họ cảm thấy dễ chịu hơn”.
Khoahocthuvi.net
Nguồn: Người Lao Động, Vnexpress
Albert Einstein và bí mật về những cuộc tình sóng gió
Khi
còn trẻ, Einstein thường xuyên viết thư tình cho cô bạn học Mileva
Marić, một phụ nữ thông minh và quyết đoán, người sau này trở thành vợ
của ông. Mối quan hệ giữa họ bắt đầu bằng sự say mê cuồng nhiệt, bất
chấp việc mang thai ngoài ý muốn trước hôn nhân và sự phản đối của bố mẹ
Einstein.

Einstein và Marić đã chung sống khoảng 10 năm và họ bắt đầu gặp trục trặc. Lúc này, nhà khoa học trăng hoa đã tìm tới cô em họ Elsa vào năm 1912, để phàn nàn về sự trầm cảm và ghen tuông của bà vợ. Rốt cuộc, Marić và Einstein ly hôn vào ngày 14/2/1919, sau khi sống ly thân 5 năm.

Nói đến chuyện tình của nhà khoa học vĩ đại này, ngoài 2 người vợ, người đem lại cho Einstein cảm giác đam mê nhất không thể không nhắc tên nàng Margarita xinh đẹp. Tuy nhiên, đây lại là một mối quan hệ ngoài luồng vì Margarita khi đấy vẫn đang là vợ của nhà điêu khắc tài ba Sergei Konenkov. (Lúc quen nhau, Margarita 39 tuổi, còn Einstein tròn 56 tuổi).
Câu chuyện bắt đầu vào năm 1935, khi đại học Princeton đặt Sergei Konenkov làm tượng bán thân của nhà bác học Albert Einstein…Sergei Konenkov chỉ đến chỗ Einstein ở đại học Princeton một lần duy nhất còn sau đó ông tự làm việc với bức tượng bán thân của nhà bác học mà không cần “nguyên mẫu” nữa. Nhưng Margarita thì càng lúc càng năng ghé Princeton hơn. Sau năm 1936, khi người vợ thứ hai của Einstein qua đời, Margarita đã có một vị trí vững chãi trong tim nhà bác học.
Tuy nhiên, vì đây là mối quan hệ ngoài luồng, nên suốt ba năm trời, đôi tình nhân này chỉ có thể tranh thủ hẹn hò trong bí mật. Tình cảnh ấy khiến Einstein phát khùng và ông đã quyết định thực thi một… cú lừa.
Ông đã viết cho Sergei Konenkov một lá thư dài, “mật báo” rằng “bà nhà ông” đang bệnh nặng kèm theo đủ các loại giấy chứng nhận y khoa do các bác sĩ (đều là chỗ bạn bè Einstein) cung cấp cùng những lời khuyên khẩn thiết rằng bà Konenkova cần thường xuyên đi tĩnh dưỡng ở nơi có khí hậu trong lành tại vùng hồ Saranac. Lo lắng cho sức khỏe của vợ, Konenkov đã để Margarita đến Saranac nghỉ mà không hề biết rằng ở đó có khu điều dưỡng Einstein vẫn thường lui tới…
Saranac trở thành thiên đường tình yêu cho Albert và Margarita. Căn phòng mà hai người ở với nhau được họ đặt tên là “chiếc tổ nhỏ”. Những món đồ mà họ tặng nhau thì được mang tên chung là “Almar” (ghép bởi các chữ cái đầu tiên trong tên hai người: Albert và Margarita) như tấm chăn Almar, chiếc ghế bành Almar, cái tẩu Almar… Margarita còn hay giúp nhà bác học gội mái tóc bù xù trứ danh của ông. “Anh vừa mới tự gội đầu, nhưng không được thành công lắm. Anh không có được sự khéo léo, gọn ghẽ của em… Mọi thứ ở đây khiến anh nhớ em biết bao… Và “chiếc tổ nhỏ” của chúng ta cũng trở nên thật trống trải…” – ông đã viết như vậy cho Margarita sau khi nàng đã rời nước Mỹ để trở về tổ quốc.
Chẳng bao lâu chồng Margarita cũng biết rằng mối quan hệ giữa vợ mình với nhà bác học nổi tiếng đã vượt quá giới hạn bạn bè và ông đã làm om sòm lên. Tuy nhiên, điều này đã không ngăn cản nổi Margarita – nàng vẫn tiếp tục gặp gỡ Einstein cho đến lúc rời đất Mỹ và hồi hương vào năm 1945.
Trước khi chia tay, Einstein có tặng cho Margarita một chiếc đồng hồ vàng. Về sau, vào cuối thế kỷ XX, kỷ vật này cùng với một số bức thư của hai người đã được trưng bày tại một cuộc bán đấu giá. Và chính những bức thư ấy đã trở thành vật chứng cho mối tình dịu ngọt giữa Margarita và Albert.
Việc trao đổi thư từ vẫn được Einstein và Margarita duy trì thêm mười năm nữa, đến tận lúc ông từ trần vào năm 1955.
Khoahocthuvi.net
Nguồn: Vietnamnet, Dakusta
Einstein và người vợ đầu tiên, Mileva Maric
Cặp đôi đã có nhiều thời gian sống xa cách nhau. Trong các bức thư
gửi cho nhau, Einstein và Marić đã viết về tình yêu dành cho “nửa kia”,
xen lẫn giữa những dòng thảo luận đầy hứng khởi về khoa học và các công
thức toán.Einstein và Marić đã chung sống khoảng 10 năm và họ bắt đầu gặp trục trặc. Lúc này, nhà khoa học trăng hoa đã tìm tới cô em họ Elsa vào năm 1912, để phàn nàn về sự trầm cảm và ghen tuông của bà vợ. Rốt cuộc, Marić và Einstein ly hôn vào ngày 14/2/1919, sau khi sống ly thân 5 năm.
Einstein và Elsa
Einstein đã tổ chức hôn lễ với Elsa vào ngày 2/6/1919. Trong cuộc
hôn nhân thứ hai này, Einstein vẫn giữ thói trăng hoa và có thêm nhiều
mối quan hệ ngoài luồng.Nói đến chuyện tình của nhà khoa học vĩ đại này, ngoài 2 người vợ, người đem lại cho Einstein cảm giác đam mê nhất không thể không nhắc tên nàng Margarita xinh đẹp. Tuy nhiên, đây lại là một mối quan hệ ngoài luồng vì Margarita khi đấy vẫn đang là vợ của nhà điêu khắc tài ba Sergei Konenkov. (Lúc quen nhau, Margarita 39 tuổi, còn Einstein tròn 56 tuổi).
Câu chuyện bắt đầu vào năm 1935, khi đại học Princeton đặt Sergei Konenkov làm tượng bán thân của nhà bác học Albert Einstein…Sergei Konenkov chỉ đến chỗ Einstein ở đại học Princeton một lần duy nhất còn sau đó ông tự làm việc với bức tượng bán thân của nhà bác học mà không cần “nguyên mẫu” nữa. Nhưng Margarita thì càng lúc càng năng ghé Princeton hơn. Sau năm 1936, khi người vợ thứ hai của Einstein qua đời, Margarita đã có một vị trí vững chãi trong tim nhà bác học.
Tuy nhiên, vì đây là mối quan hệ ngoài luồng, nên suốt ba năm trời, đôi tình nhân này chỉ có thể tranh thủ hẹn hò trong bí mật. Tình cảnh ấy khiến Einstein phát khùng và ông đã quyết định thực thi một… cú lừa.
Ông đã viết cho Sergei Konenkov một lá thư dài, “mật báo” rằng “bà nhà ông” đang bệnh nặng kèm theo đủ các loại giấy chứng nhận y khoa do các bác sĩ (đều là chỗ bạn bè Einstein) cung cấp cùng những lời khuyên khẩn thiết rằng bà Konenkova cần thường xuyên đi tĩnh dưỡng ở nơi có khí hậu trong lành tại vùng hồ Saranac. Lo lắng cho sức khỏe của vợ, Konenkov đã để Margarita đến Saranac nghỉ mà không hề biết rằng ở đó có khu điều dưỡng Einstein vẫn thường lui tới…
Saranac trở thành thiên đường tình yêu cho Albert và Margarita. Căn phòng mà hai người ở với nhau được họ đặt tên là “chiếc tổ nhỏ”. Những món đồ mà họ tặng nhau thì được mang tên chung là “Almar” (ghép bởi các chữ cái đầu tiên trong tên hai người: Albert và Margarita) như tấm chăn Almar, chiếc ghế bành Almar, cái tẩu Almar… Margarita còn hay giúp nhà bác học gội mái tóc bù xù trứ danh của ông. “Anh vừa mới tự gội đầu, nhưng không được thành công lắm. Anh không có được sự khéo léo, gọn ghẽ của em… Mọi thứ ở đây khiến anh nhớ em biết bao… Và “chiếc tổ nhỏ” của chúng ta cũng trở nên thật trống trải…” – ông đã viết như vậy cho Margarita sau khi nàng đã rời nước Mỹ để trở về tổ quốc.
Chẳng bao lâu chồng Margarita cũng biết rằng mối quan hệ giữa vợ mình với nhà bác học nổi tiếng đã vượt quá giới hạn bạn bè và ông đã làm om sòm lên. Tuy nhiên, điều này đã không ngăn cản nổi Margarita – nàng vẫn tiếp tục gặp gỡ Einstein cho đến lúc rời đất Mỹ và hồi hương vào năm 1945.
Trước khi chia tay, Einstein có tặng cho Margarita một chiếc đồng hồ vàng. Về sau, vào cuối thế kỷ XX, kỷ vật này cùng với một số bức thư của hai người đã được trưng bày tại một cuộc bán đấu giá. Và chính những bức thư ấy đã trở thành vật chứng cho mối tình dịu ngọt giữa Margarita và Albert.
Việc trao đổi thư từ vẫn được Einstein và Margarita duy trì thêm mười năm nữa, đến tận lúc ông từ trần vào năm 1955.
Khoahocthuvi.net
Nguồn: Vietnamnet, Dakusta
Những lời tiên tri đáng sợ về tương lai của nhà vật lý thiên tài Stephen Hawking
1. Trái đất sớm muộn sẽ bị hủy diệt trong khoảng hai thế kỷ nữa. Đây là một trong những tiên tri đáng sợ của Stephen Hawking.
2. Theo ông, con người với bản tính tham lam, ích kỷ nên sẽ khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên trên Trái đất. Chính vì vậy, trong khoảng 200 năm nữa, con người có thể bị tận diệt do suy kiệt nguồn tài nguyên do tốc độ tăng dân số tăng nhanh.

3. Đứng trước nguy cơ này, Stephen Hawking khuyên con người nên tìm hành tinh khác có sự sống để sinh tồn, nhằm giảm thiểu gánh nặng lên Trái đất.
4. Thiên tài vật lý này cũng tiên đoán một cuộc chiến tranh hạt nhân lớn sẽ khiến Trái đất diệt vong.
5. Stephen Hawking tiên đoán về nguy cơ có khả năng xảy ra cuộc chiến giữa con người với người ngoài hành tinh. Theo đó, Stephen Hawking cảnh báo về nguy cơ này:

“Những người hàng xóm ngoài hành tinh có thể không thân thiện như chúng ta tưởng tượng khi họ thông minh và ghê gớm hơn con người dẫn đến một cuộc chinh phục hay xâm chiếm trái đất có thể được diễn ra.
Nền văn hóa của người ngoài hành tinh có thiên hướng du canh du cư, không cố định một chỗ. Chính vì vậy, họ cố gắng tìm cách chinh phục và xâm chiếm bất cứ hành tinh nào mà họ tìm được”.
6. Một dự đoán khác của Stephen Hawking đó là sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI:Artificial Inteligence) sẽ tạo ra mối đe dọa diệt vong lớn nhất đối với sự phát triển của nhân loại.

7. Cùng quan điểm đó, Ray Kurzwei - Giám đốc kĩ thuật của Google dự đoán sự phát triển trí tuệ nhân tạo sẽ vượt qua con người vào năm 2045.
8. Thêm vào đó, Elon Musk - Giám đốc của tập đoàn công nghệ khai phá không gian cũng nhận định rằng: "Với trí tuệ nhân tạo, chúng ta đang triệu hồi quỷ dữ". Chính vì vậy, ông hy vọng các nước phải cẩn thận, nhìn nhận và nghiên cứu lại về trí tuệ nhân tạo.
Khoahocthuvi.net
2. Theo ông, con người với bản tính tham lam, ích kỷ nên sẽ khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên trên Trái đất. Chính vì vậy, trong khoảng 200 năm nữa, con người có thể bị tận diệt do suy kiệt nguồn tài nguyên do tốc độ tăng dân số tăng nhanh.
3. Đứng trước nguy cơ này, Stephen Hawking khuyên con người nên tìm hành tinh khác có sự sống để sinh tồn, nhằm giảm thiểu gánh nặng lên Trái đất.
4. Thiên tài vật lý này cũng tiên đoán một cuộc chiến tranh hạt nhân lớn sẽ khiến Trái đất diệt vong.
5. Stephen Hawking tiên đoán về nguy cơ có khả năng xảy ra cuộc chiến giữa con người với người ngoài hành tinh. Theo đó, Stephen Hawking cảnh báo về nguy cơ này:
“Những người hàng xóm ngoài hành tinh có thể không thân thiện như chúng ta tưởng tượng khi họ thông minh và ghê gớm hơn con người dẫn đến một cuộc chinh phục hay xâm chiếm trái đất có thể được diễn ra.
Nền văn hóa của người ngoài hành tinh có thiên hướng du canh du cư, không cố định một chỗ. Chính vì vậy, họ cố gắng tìm cách chinh phục và xâm chiếm bất cứ hành tinh nào mà họ tìm được”.
6. Một dự đoán khác của Stephen Hawking đó là sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI:Artificial Inteligence) sẽ tạo ra mối đe dọa diệt vong lớn nhất đối với sự phát triển của nhân loại.
7. Cùng quan điểm đó, Ray Kurzwei - Giám đốc kĩ thuật của Google dự đoán sự phát triển trí tuệ nhân tạo sẽ vượt qua con người vào năm 2045.
8. Thêm vào đó, Elon Musk - Giám đốc của tập đoàn công nghệ khai phá không gian cũng nhận định rằng: "Với trí tuệ nhân tạo, chúng ta đang triệu hồi quỷ dữ". Chính vì vậy, ông hy vọng các nước phải cẩn thận, nhìn nhận và nghiên cứu lại về trí tuệ nhân tạo.
Khoahocthuvi.net
Lý thuyết của Einstein chứng minh ma có thật?
Sự
tồn tại của ma quỷ là mối quan tâm của rất nhiều người. Chúng ta dễ
dàng bắt gặp hình tượng ma quỷ trong vô số câu chuyện đời thường, trong
Kinh Thánh, sách, báo, phim ảnh… Tuy nhiên, lời giải thật sự về hiện
tượng ma quỷ hay các linh hồn, cuộc sống sau khi chết, sự báo ứng vẫn
khiến các nhà nghiên cứu phải đau đầu.
Phần lớn những người tin vào sự tồn tại của ma quỷ cho rằng, mỗi cá thể đều có hai phần linh hồn và thể xác. Khi chết, phần hồn sẽ tách rời ra ngoài và lưu lạc ở cõi chết. Những linh hồn này có thể tự do đi lại giữa hai thế giới và có khả năng tác động đến tâm trí người đang sống.

Albert Einstein, một trong những nhà khoa học lớn nhất mọi thời đại đã cung cấp nền tảng khoa học cho sự tồn tại thực sự của ma quỷ. Ông chứng minh rằng, mọi năng lượng trong vũ trụ là không đổi và nó cũng không tự nhiên sinh ra hay mất đi…
Vậy thì điều gì xảy ra khi con người chết đi? Nếu năng lượng của chúng ta không bị mất đi thì phải được chuyển hóa thành dạng năng lượng khác. Loại năng lượng mới đó là gì? Liệu chúng ta có thể gọi đó là ma hay không?
Albert Einstein còn cho rằng, năng lượng không thể được tạo ra hay bị phá hủy, nó chỉ có thể chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. Khi chúng ta còn sống, chúng ta có năng lượng điện trong cơ thể. Điều gì xảy ra với nguồn năng lượng giúp tim chúng ta đập và phổi hô hấp sau khi con người chết đi?
Tuy nhiên, câu trả lời cho suy luận của Einstein lại bị các nhà khoa học bác bỏ bằng một luận điểm rất hợp lý. Sau khi một người chết đi, năng lượng từ cơ thể người đó tỏa ra môi trường. Năng lượng cơ thể sau khi con người chết đi được giải phóng dưới dạng nhiệt, và được chuyển sang những động vật ăn xác người.
Ví dụ, những động vật hoang dã ăn xác người nếu người chết không được chôn cất, hay những côn trùng, vi khuẩn ăn xác sau khi tử thi được chôn, và những thực vật hấp thu chúng ta. Nếu con người được hỏa táng, năng lượng trong cơ thể được giải phóng dưới dạng nhiệt và ánh sáng.
Khi con người ăn thực vật và động vật, chúng ta hấp thu năng lượng của chúng và chuyển sang năng lượng để cơ thể con người sử dụng. Thức ăn được chuyển hóa sau khi cơ thể con người tiêu hóa, và các phản ứng hóa hóa giúp giải phóng năng lượng mà động vật cần để sống, di chuyển và sinh sản… Năng lượng đó không tồn tại dưới dạng sống, năng lượng ma hay điện từ, mà tồn tại dưới dạng năng lượng nhiệt và hóa học.
Nhiều người săn ma nói rằng họ có thể phát hiện ra điện trường mà ma quỷ tạo ra. Thực tế là những quá trình chuyển hóa của con người và những sinh vật khác cũng tạo ra những dòng điện yếu, nhưng những dòng điện này mất đi sau khi sinh vật chết. Vì khi nguồn năng lượng bị mất thì dòng điện cũng ngừng – giống như bóng đèn ngưng sáng sau khi chúng ta ngắt công tắc điện để tắt nguồn điện cung cấp.
Hầu hết năng lượng mà người chết để lại được tái nhập vào môi trường sau nhiều năm dưới dạng thức ăn; phần còn lại bị tiêu tan đi ngay sau khi chúng ta chết, và đây không phải là dạng mà chúng ta có thể phát hiện ra sau nhiều năm nhờ các thiết bị săn ma phổ biến hiện nay, như máy phát hiện điện trường (EMF).
Những người săn ma viện dẫn lý thuyết của Einstein thực ra chỉ chứng tỏ họ hiểu biết chưa sâu sắc về khoa học cơ bản. Ma quỷ có thể thực sự tồn tại, nhưng bản thân Einstein hay lý thuyết của ông không khẳng định ma quỷ là có thật.
Khoahocthuvi.net
Nguồn: MASK, Đất Việt
Phần lớn những người tin vào sự tồn tại của ma quỷ cho rằng, mỗi cá thể đều có hai phần linh hồn và thể xác. Khi chết, phần hồn sẽ tách rời ra ngoài và lưu lạc ở cõi chết. Những linh hồn này có thể tự do đi lại giữa hai thế giới và có khả năng tác động đến tâm trí người đang sống.
Albert Einstein, một trong những nhà khoa học lớn nhất mọi thời đại đã cung cấp nền tảng khoa học cho sự tồn tại thực sự của ma quỷ. Ông chứng minh rằng, mọi năng lượng trong vũ trụ là không đổi và nó cũng không tự nhiên sinh ra hay mất đi…
Vậy thì điều gì xảy ra khi con người chết đi? Nếu năng lượng của chúng ta không bị mất đi thì phải được chuyển hóa thành dạng năng lượng khác. Loại năng lượng mới đó là gì? Liệu chúng ta có thể gọi đó là ma hay không?
Albert Einstein còn cho rằng, năng lượng không thể được tạo ra hay bị phá hủy, nó chỉ có thể chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. Khi chúng ta còn sống, chúng ta có năng lượng điện trong cơ thể. Điều gì xảy ra với nguồn năng lượng giúp tim chúng ta đập và phổi hô hấp sau khi con người chết đi?
Tuy nhiên, câu trả lời cho suy luận của Einstein lại bị các nhà khoa học bác bỏ bằng một luận điểm rất hợp lý. Sau khi một người chết đi, năng lượng từ cơ thể người đó tỏa ra môi trường. Năng lượng cơ thể sau khi con người chết đi được giải phóng dưới dạng nhiệt, và được chuyển sang những động vật ăn xác người.
Ví dụ, những động vật hoang dã ăn xác người nếu người chết không được chôn cất, hay những côn trùng, vi khuẩn ăn xác sau khi tử thi được chôn, và những thực vật hấp thu chúng ta. Nếu con người được hỏa táng, năng lượng trong cơ thể được giải phóng dưới dạng nhiệt và ánh sáng.
Khi con người ăn thực vật và động vật, chúng ta hấp thu năng lượng của chúng và chuyển sang năng lượng để cơ thể con người sử dụng. Thức ăn được chuyển hóa sau khi cơ thể con người tiêu hóa, và các phản ứng hóa hóa giúp giải phóng năng lượng mà động vật cần để sống, di chuyển và sinh sản… Năng lượng đó không tồn tại dưới dạng sống, năng lượng ma hay điện từ, mà tồn tại dưới dạng năng lượng nhiệt và hóa học.
Nhiều người săn ma nói rằng họ có thể phát hiện ra điện trường mà ma quỷ tạo ra. Thực tế là những quá trình chuyển hóa của con người và những sinh vật khác cũng tạo ra những dòng điện yếu, nhưng những dòng điện này mất đi sau khi sinh vật chết. Vì khi nguồn năng lượng bị mất thì dòng điện cũng ngừng – giống như bóng đèn ngưng sáng sau khi chúng ta ngắt công tắc điện để tắt nguồn điện cung cấp.
Hầu hết năng lượng mà người chết để lại được tái nhập vào môi trường sau nhiều năm dưới dạng thức ăn; phần còn lại bị tiêu tan đi ngay sau khi chúng ta chết, và đây không phải là dạng mà chúng ta có thể phát hiện ra sau nhiều năm nhờ các thiết bị săn ma phổ biến hiện nay, như máy phát hiện điện trường (EMF).
Những người săn ma viện dẫn lý thuyết của Einstein thực ra chỉ chứng tỏ họ hiểu biết chưa sâu sắc về khoa học cơ bản. Ma quỷ có thể thực sự tồn tại, nhưng bản thân Einstein hay lý thuyết của ông không khẳng định ma quỷ là có thật.
Khoahocthuvi.net
Nguồn: MASK, Đất Việt
Các nhà khoa học nổi tiếng hi sinh vì sự nghiệp
Những nhà khoa học tử vì nghiệp
Marie Curie (qua đời vì nghiên cứu phóng xạ)Năm 1898 Marie Curie đã cùng chồng là Pierre tìm ra radium và sau đó bà đã dành thời gian còn lại trong cuộc đời của mình để nghiên cứu quá trình phóng xạ , liệu pháp điều trị bệnh bằng phóng xạ và do tiếp xúc nhiều với phóng xạ mà bà đã mắc bệnh bạch cầu (Leukemia) và qua đời năm 1934. Marie Curie là nhà khoa học đầu tiên và duy nhất giành hai giải Nobel khoa học thuộc hai lĩnh vực khác nhau là hóa học và vật lý, nữ giáo sư đầu tiên của ĐH tổng hợp Paris (Pháp).
Sieur Freminet (tử vong vì nổ mặt nạ dưỡng khí)
Năm 1972, nhà khoa học người Pháp, Sieur Freminet đã phát minh ra loại mặt nạ dưỡng khí có khả năng chuyển đổi khí CO2 thành Oxy. Tuy nhiên trong quá trình thử nghiệm, chiếc mặt nạ bị lỗi, khiến nhà khoa học này tử vong
Kỹ sư Henry Smolinski
Henry Smolinski là kỹ sư người Mỹ, làm việc ở tập đoàn sản xuất vũ khí Northrop trước khi bỏ việc và thành lập Advanced Vehicle Engineers, sản xuất xe hơi bay để tung ra thị trường.
Smolinski thiết kế hai nguyên mẫu xe hơi bay đầu tiên năm 1973, bằng cách ghép phần đuôi của chiếc máy bay Cessna Skymaste với chiếc xe Pinto Ford.
Ông đang chuẩn bị tung sản phẩm ra thị trường bán lẻ thì qua đời ngày 11/9/1973, khi bay thử nghiệm cùng với phi công Harold Blake vì một thanh giằng cánh máy bay tách ra khỏi chiếc xe. Ủy Ban An toàn Giao thông Quốc gia kết luận rằng, mối hàn hỏng là nguyên nhân gây ra vụ tai nạn.
Harry Daghlian (qua đời vì nhiễm phóng xạ trong phòng thí nghiệm)
Nhà vật lý học người Mỹ Harry Daghlian đã tham gia vào kế hoạch Manhattan nổi tiếng tại phòng thí nghiệm quốc gia ở Los Alamos, New Mexico. Vào ngày 21-8-1945, trong một thí nghiệm về khối lượng, ông đã vô ý làm rơi một viên gạch vonfram cacbua vào lõi bom plutonium. Để tránh các phản ứng có hại xảy ra, ông phải lập tức dùng tay để nhấc gạch ra. Điều này đã làm ông bị nhiễm một lượng lớn phóng xạ và tử vong 25 ngày sau đó.
Nhà hóa học Thomas Midgley Jr.
Thomas Midgley Jr. là nhà hóa học rất nổi tiếng nghiên cứ xăng pha chì và khí nhà kính Freon. Có lần, để chứng minh xăng pha chì an toàn, ông dùng tay không nhúng vào nó, hít bình đựng trong 60 giây.
Nhiều người cho rằng Migley chết vì nhiễm độc chì. Tuy nhiên, ông chết vì phát minh hệ thống dây thừng và ròng rọc. Ông thiết kế nó để hỗ trợ ông khi bị liệt. Ông vướng vào một sợi dây thừng khi đang nằm trên giường và ngạt thở ngày 2/11/1944.
Carl Scheele (qua đời vì nhiễm độc trong thí nghiệm)
Ông là nhà hóa dược học thiên tài đã phát hiện ra rất nhiều nguyên tố, trong đó nổi tiếng nhất là oxy (mặc dù nghiên cứu này sau đó được nhà khoa học Joseph Priestly xuất bản trước), molipden, vonfram, mangan và clo.
Vào thời đại của ông, chưa có các biện pháp bảo đảm an toàn lao động cũng như người ta chưa biết hết về độc tính của các loại hóa chất. Carl còn có một thói quen xấu là sử dụng tất cả các giác quan để tiếp xúc với hóa chất, nhất là khứu giác và vị giác. Trong một lần thử hydro xyanua, mặc dù ông nghĩ mình sẽ an toàn nhưng do sự tích tụ cùng lúc các chất thủy ngân, chì, axit flohydric và một số chất khác đã khiến ông tử vong vì nhiễm độc kim loại nặng ở tuổi 44.
Khoahocthuvi.net
Nhận xét
Đăng nhận xét