ĐÃ TỪNG HIỆN THỰC 26/a (Cách mạng vô sản)

-Tiến trình vận động xã hội, xét cho cùng, cũng là một tiến trình vận động tự nhiên vì xã hội thuộc về tự nhiên, nên nó cũng phải tuân theo nguyên lý tự nhiên. Vì vậy, muốn giải thích thỏa đáng các quá trình vận động xã hội, phải bắt đầu từ nguyên lý mưu sinh, một thể hiện đặc thù của nguyên lý cơ bản nhất. phổ quát nhất của tự nhiên, đó là: "cố gắng tồn tại". Hay như ông bà nói: "Có thực mới vực được đạo".
-Theo chỉ thị của Tự Nhiên Tồn Tại, mọi con người nói riêng và cả thế giới sinh vật nói chung, sinh ra là cố gắng sống còn đã, trước khi phải chết đi. Muốn sống còn thì phải tìm ăn. thuở đầu tiên, do nguồn thức ăn tương đối dồi dào nên tất yếu có sự tăng trưởng số lượng cá thể giống loài. Có thể nói, trong điều kiện thuận lợi về nguồn thức ăn, tăng trưởng lạm phát về số lượng cá thể sống trong một giống loài là một hiện tượng có tính qui luật.
-Chủ yếu do tính hữu hạn của thiên nhiên và qui luật phát triển lạm phát về số lượng chi phối mà có sự cạnh tranh sống còn trong thế giới sinh vật thể hiện ra dưới dạng qui luật đấu tranh sinh tồn và tiến hóa-thích nghi.
-Loài người, thuộc về thế giới sinh vật nên không phải là ngoại lệ, nghĩa là cũng phải đấu tranh sinh tồn và tiến hóa-thích nghi để sống còn. Hơn nữa, cho đến nay, loài người được cho là loài vật duy nhất đạt mức tiến hóa-thích nghi cao nhất (nghĩa là có tư duy trừu tượng) và sống(tất nhiên!) theo lối hợp quần xã hội, nên mọi kỹ năng kỹ xảo có được nhắm phục vụ cho mục đích sống còn ở loài vật đều được phát huy một cách tự giác đến mức tối ưu ở loài người và qui luật đấu tranh sinh tồn cũng như tiến hóa- thích nghi cũng được triển khai một cách chủ động sáng tạo lên mức cao độ. Chính vì vậy mà ở xã hội loài người mới xuất hiện những đặc thù mà (được cho là) chỉ ở xã hội loài người mới có như: tình cảm hỉ nộ ái ố, yêu-ghét, danh lợi, quyền lực, tranh dành, bóc lột, cướp đoạt,..., và ở mức tột độ là chiến tranh, là giết chóc lẫn nhau nhằm mưu cầu danh lợi (ở đây khái niêm này có nội hàm rất rộng, có thể hiểu tất cả những thứ gì làm thỏa mãn tâm-sinh lý con người đều có thể gọi là danh lợi).
- Nhờ vào việc khám phá ra lối kiếm ăn bằng trồng trọt chăn nuôi và cây lương thực mà loài người mới có được phương thức sống định cư lâu dài và hợp quần xã hội, và từ lao động kiếm ăn đơn thuần đạt đến tình trạng sản xuất thặng dư, tạo tiền đề tiến lên nền sản xuất hàng hóa và nhảy vọt lên văn minh. Có thể nói tiến lên văn minh là hướng đi tất yếu của xã hội loài người.
-Vì là loài vật nên loài người cũng có tính tranh dành bản năng. Sự phát triển theo các qui luật tự nhiên của xã hội loài người cộng với sự tác động bất lợi xảy ra ngẫu nhiên (có tính tất nhiên) có thể có của thiên nhiên đã là nguyên nhân chủ yếu làm xuất hiện những thời đoạn thịnh-suy kế tiếp nhau có tính phổ biến của tiến trình vận động xã hội. Tiến trình này cùng với nỗ lực sinh tồn bằng mọi giá và tính tranh giành bản năng đã "nhào nặn", hun đúc nên cái gọi là tình cảm, trong đó có lòng tham ích kỷ vốn dĩ khó gột bỏ ở mỗi con người và từ đó hình thành nên khái niệm tư hữu trong nhận thức con người.
-Sản xuất giá trị thặng dư kết hợp với lòng tham ích kỷ là tiền đề của sự bóc lột. Bóc lột chính là tổ chức cho con người sản xuất thặng dư và chiếm đoạt giá trị thặng dư ấy làm của riêng một cách quá đáng (xâm phạm vào khả năng tái tạo sức lao động, khả năng sống còn của người lao động thặng dư!). Sự bóc lột và sự cố gắng sống còn lập nên mối quan hệ tương phản chế ngự, kìm hãm lẫn nhau bằng hình thức đấu tranh. Đấu tranh là hình thức đối chọi nhau bằng bạo lực (có thể có vũ trang hoặc không vũ trang) của tập đoàn người này với tập đoàn người khác nhằm đòi giá trị lao động thặng dư đã bị tước đoạt một cách bất công nhằm đảm bảo sống còn và quyền lợi sống còn. Thường thì trong hai bên tranh chấp ấy, một bên được gọi là chính nghĩa (bên bị bóc lột, bị xâm phạm quyền lợi sống còn), một bên được gọi là phi nghĩa (bên bóc lột, chiếm đoạt quyền lực).Việc đánh giá chân chính nhất, khách quan nhất, tức là đúng nhất, bên nào là chính nghĩa, bên nào là phi nghĩa, thì chỉ có một kết quả duy nhất. Nhưng do tính đa chiều về thị phi, đa dạng về nhận thức, nên một cách chủ quan, cũng có thể có nhiều kết quả đánh giá đúng-sai. Thí dụ: chúng ta đánh giá như thế nào về cưỡng đoạt đất đai ở nước ta hiện nay, đâu là chính nghĩa, đâu là phi nghĩa?
- Mục đích nguyên thủy của sự ra đời nhà nước là liên kết xã hội, hòa giải, duy trì trật tự xã hội. Muốn thế, nhà nước phải có quyền lực nhất định. Lúc đầu, quyền lực nhà nước là do cộng đồng xã hội ủy quyền mà có. Bóc lột cũng cần quyền lực để vơ vét ngược ngạo giá trị thặng dư nên quyền lực nhà nước thường bị lạm  dụng để bóc lột, gây bất công xã hội. Dần dần,  quyền lực nhà nước bị thao túng, lũng đoạn thường xuyên hơn, đến mức phổ biến, thậm chí là công khai, trở thành một hiện tượng như mặc định, phân ra thành hai lực lượng tương phản cơ bản trong xã hội là tầng lớp thống trị (thiểu số, có quyền lực, giàu, thao túng nhà nước) và tầng lớp bị trị (đa số, không có quyền lực, nghèo, bị nhà nước chi phối). Như vậy, dù vì bất cứ lý do nào không cần biết, khi nhà nước dở thủ đoạn bóc lột thái quá,đe dọa đến khả năng sống còn của quần chúng (tầng lớp bị trị), thì sẽ nổ ra đấu tranh gay gắt, thậm chí đến một mất một còn.
-Có thể nói tóm tắt: lịch sử của xã hội loài người là lịch sử tranh dành danh lợi giữa các tập đoàn người, là sự phản ánh các quá trình đấu tranh của các tầng lớp bị trị đối với các tầng lớp thống trị. Điều đó có nghĩa là cuộc đấu tranh chống bóc lột của nhân loại đã xảy ra từ rất sớm, có lẽ cùng lúc với phát sinh ra khái niệm "tư hữu", "áp bức", "bóc lột",...Và đây là nguyên nhân hình thành khẩu hiệu: "Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh". Qua đây, có thể thấy định nghĩa của Lênin: "Lịch sử loài người là lịch sử đấu tranh giai cấp" là không thỏa đáng. Vì chiến tranh đế quốc, chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến, không phải là đấu tranh giai cấp.
- Trong lịch sử loài người, đã có rất nhiều cuộc đấu tranh chống bóc lột xảy ra, nhưng xét về mức độ khốc liệt, phạm vi ảnh hưởng, qui mô cách mạng trên toàn cầu thì cho đến nay, có lẽ chỉ có hai cuộc đấu tranh là cuộc cách mạng tư sản và cuộc cách mạng vô sản.
-Quá trình tiến lên văn minh đã mở đường cho sản xuất hàng hóa phát triển. Song nó đã bị tầng lớp vua chúa, quí tộc phong kiến (tầng lớp thống trị đương thời) cản trở, thậm chí ngăn lại bằng cách bóc lột thậm tệ, đến mức trói buộc sức lao động của quần chúng (tầng lớp bị trị). Tình hình đó dẫn đến sản xuất hàng hóa có nguy cơ bị đình đốn, vừa không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của xã hội, vừa đồng thời gây lãng phí khả năng sản xuất, bóp nghẹt sự làm giàu tư nhân trong xã hội. Đó là lý do chủ yếu làm nảy sinh cuộc cách mạng tư sản, lật đổ nhà nước phong kiến cổ hủ, xây dựng nên nhà nước của ưu tiên cho sản xuất hành hóa, chính quyền của tầng lớp thống trị mới gọi là tư sản với khẩu hiệu: "tự do, bình đẳng, bác ái". Nói cho ngay, cách mạng tư sản là cuộc đấu tranh đòi phá tan xiềng xích, ách áp bức phong kiến, tuy cũng chống bóc lột nhưng chống không triệt để (một khi còn sản xuất hàng hóa và còn cạnh tranh tự do thì nguy cơ bóc lột vẫn còn), mà chủ yếu là giải phóng sức lao động xã hội. Dù vậy. buổi đầu, nó vẫn là cuộc đấu tranh chính nghĩa vì phù hợp với tiến trình lịch sử. Nhưng ngay sau đó, một phần do lòng tham ích kỷ lũng đoạn, một phần do sự đe dọa phá sản trong cạnh tranh tự do, tầng lớp tư sản dần trở thành tầng lớp độc quyền thống trị, bóc lột dã man quần chúng (tầng lớp bị trị). Chính vì vậy mà khẩu hiệu: "tự do, bình đẳng, bác ái" của tầng lớp tư sản thời kỳ đầu trở nên rỗng tuếch, mị dân, làm nổ tiếp ra cuộc đấu tranh chống bóc lột mới của tầng lớp những người làm thuê, mà ngọn cờ đầu là cách mạng vô sản do Mác đề xướng và Lênin là người đầu tiên thực hiện chưa thành công hoàn toàn trong thực tiễn nước Nga.
-Cách mạng vô sản là cuộc đấu tranh chống bóc lột sâu rộng nhất trong lịch sử loài người và theo C. Mác cũng như theo các nhà xây dựng nên học thuyết về cách mạng vô sản thì đó cũng là cuộc đấu tranh xóa bỏ áp bức bất công, xóa bỏ nạn người bóc lột người triệt để nhất từ trước tới nay. Nếu cách mạng tư sản nhằm lật đổ chế độ phong kiến thì theo các nhà lý luận kinh điển cộng sản, cách mạng vô sản cũng nhằm lật đổ chính quyền tư sản, sau đó nhằm triệt tiêu nhà nước nói chung. (Theo chúng ta việc phủ định nhà nước là một sai lầm cơ bản về nhận thức của Mác cũng như của chủ nghĩa cộng sản. Vì tại sao phải xóa bỏ nhà nước khi nó không hề là nguyên nhân của áp bức bóc lột, thậm chí trong nhiều trường hợp lại là công cụ hữu hiệu chống áp bức bóc lột, hơn nữa, làm sao xóa bỏ được nhà nước, một khi nó là yếu tố cần và đủ cho lối sống hợp quần xã hội của loài người?).
-Khi một chính quyền bị sụp đổ và tan rã thì lực lượng tàn dư của nó, lực lượng nhờ nó mà trục lợi, nhờ nó mà có giàu sang phú quí vẫn còn và tìm cách liên kết lại hòng mưu cầu giành lại chính quyền. Đó chính là sự bảo thủ, là "sức ỳ" tồn tại của cái cũ trong sự chuyển hóa, biến đổi từ cái cũ sang cái mới. sự thể  đó xảy ra càng nặng nề đối với hai cuộc cách mạng được cho là "long trời lở đất" nói trên cho nên sau khi lật đổ chính quyền tư sản, các nhà cách mạng phải thiết lập một chế độ gọi là "chuyên chính". Chuyên chính nói chung là dùng mọi biện pháp, kể cả bạo lực cách mạng, nhằm trấn áp, triệt tiêu tàn dư, mầm mống hồi sinh chế độ cũ, để giữ vững chế độ mới.
-Nôm na: chuyên chính tư sản nhằm xóa bỏ vĩnh viễn chế độ phong kiến và triệt tiêu mầm mống của cách mạng vô sản. Còn chuyên chính vô sản, theo wikipedia: "Chuyên chính vô sản hay nền chuyên chính vô sản là một lý thuyết của chủ nghĩa Marx-Lenin là một bộ phận quan trọng của chủ nghĩa cộng sản khoa học theo đó chuyên chính vô sản là việc giai cấp công nhân nắm quyền lực nhà nước và sử dụng quyền lực nhà nước trấn áp giai cấp tư sản để tiến hành xây dựng một xã hội không giai cấp. Đây là sự thống trị về chính trị của giai cấp công nhân với chức năng thực hiện dân chủ đối với nhân dân, tổ chức xây dựng và bảo vệ chế độ mới, chuyên chính với những phần tử thù địch, chống lại nhân dân. Chuyên chính vô sản được cho là một trong những tư tưởng đặc sắc và trọng yếu nhất của chủ nghĩa Mác về vấn đề Nhà nước, là đỉnh cao của vai trò cách mạng của giai cấp vô sản trong lịch sử và là sự phát triển của Lý luận về Nhà nướcKarl Marx đề ra và được những người kế thừa tư tưởng của ông phát triển.
Trong thập niên 1970 các đảng cộng sản Tây Âu từ bỏ ý tưởng chuyên chính vô sản để mà phân biệt mình với các đảng ở những nước xã hội chủ nghĩa hiện thực. Các chương trình của họ đã bỏ mô hình cách mạng mà Karl Marx đã phác họa và thay vào đó là chủ nghĩa cải tổ trong các hoạt động chính trị".
- Vì quan niệm còn sai lầm về giai cấp và đấu tranh giai cấp, vì hiểu sai rằng tầng lớp tư sản là nguyên nhân dẫn đến bóc lột (đúng ra: bóc lột trong sản xuất hàng hóa là nguyên nhân xuất hiện giai cấp tư sản) và tầng lớp tư sản rất dễ được sinh ra trong những hoạt động xã hội, ít ra là về mặt tư tưởng, dễ gây ra mầm mống phản cách mạng hòng khôi phục lại chính quyền áp bức bất công như xưa, nên giai cấp công nhân (tức tầng lớp thống trị mới(?)) phải đấu tranh không ngừng, kiên định, không khoan nhượng đối với những người bị cho là thuộc giai cấp tư sản, hay có lập trường của giai cấp tư sản(!?) nếu muốn giữ vững chính quyền (còn non trẻ!) của cách mạng vô sản. Do đó mà dễ dàng hiểu rằng vì sao chuyên chính vô sản quyết liệt hơn chuyên chính tư sản?
-Do nhận thức sai lầm rằng tầng lớp trí thức, nông dân (người công sản gọi chung là tiểu tư sản) dễ chuyển biến thành tư sản và nhận thức như trên về sự phát sinh trở lại của giai cấp tư sản và nhận thức phải "sắt máu" của nền chuyên chính vô sản nên các nhà lãnh đạo cách mạng vô sản (thời kỳ đầu) rất dễ hoảng sợ, đề cao cảnh giác đến mức thái quá, dẫn đến mù quáng, cực đoan, dễ nhận định sai lầm về vấn đề ta-địch, bạn-thù. Trong cách mạng Việt Nam, những sự kiện như: sai lầm trong Cải cách ruộng đất, vụ án Nhân văn giai phẩm, vụ án Xét lại chống Đảng chính là hậu quả điển hình cho quan niệm sai lầm này. Cũng chính vì quan niệm còn rất cực đoan về chuyên chính vô sản, thêm nữa lại bị lũng đoạn bởi thói đam mê quyền lực, thói thích được sùng bái cá nhân (sẵn sàng hy sinh không chút đắn đo cho cách mạng khi còn trứng nước, nhưng khi cách mạng thành công rồi thì lòng tham ích kỷ, khát vọng vinh quang, luyến tiếc quyền lực, mong muốn được vinh danh sử sách,..., trỗi dậy!) mà hầu như các lãnh đạo cách mạng, không nhiều thì ít, đều dính vào các cuộc thanh trừng máu lửa, sát hại ngay cả chính những đồng chí đã từng kề vai sát cánh, vào sinh ra tử với mình trong quá trình hoạt động cách mạng (sau đó, khi nhận ra sai lầm thì sửa sai, xin lỗi, phục hồi danh dự..., nhưng thường thì đã quá muộn!). Đây chính là nguyên nhân sâu xa nhất cho các vụ thảm sát dưới chế độ cộng sản, mà người phải kể đến đầu tiên là Iosif Vissarionovich Stalin, và người thứ hai, người được đánh giá là có nhiều thủ đoạn thâm độc nhất, có "thành tích" tàn sát nhất thế giới, hơn cả Hitle, có thể gọi là "đồ tể số1 nhân loại", đó là Mao Trạch Đông. (còn)
 -------------------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)

Các vụ thảm sát dưới chế độ Cộng sản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ảnh các nạn nhân của cuộc Đại thanh trừng (Большой террор) tại Liên Xô dưới thời Stalin. Ước tính đã có hơn 600.000 người bị giam giữ và hơn 300.000 đến một triệu người bị xử tử
Những vụ thảm sát (hay tàn sát, giết người hàng loạt hoặc thanh trừng chính trị) đã xảy ra tại một số quốc gia vào thế kỷ 2021 dưới chế độ Cộng sản. Các vụ thảm sát này chủ yếu là những vụ thanh trừng nhằm loại bỏ đối thủ chính trị, cải cách ruộng đất, nội chiến, khủng bố và một phần là do bệnh tật, chiến tranh, nạn đói và những vụ xử tử trong trại lao động. Một số học giả cho rằng những sai lầm trong quan điểm chính trị và chính sách của chính quyền cộng sản là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những vụ giết người, thường được định nghĩa là "giết người thảm sát" (democide), "thanh trừng chính trị" (politicide), "thanh trừng giai cấp" (classicide), hay tội diệt chủng (genocide). Số lượng nạn nhân bị giết được ước tính lên đến hàng chục triệu, tùy theo nhiều nguồn khác nhau. Trong cuốn sách Le Livre noir du communisme, nhà sử học Martin Malia ước tính rằng có khoảng 85 đến 100 triệu người đã bị giết dưới chế độ Cộng sản vì nhiều lý do khác nhau, trong đó tính riêng tại Việt Nam thời Dân chủ Cộng hòa có khoảng 100.000 người bị giết do bị xử oan trong cuộc Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam.
Tính đến nay, số lượng nạn nhân chính xác vẫn chưa được tiết lộ do sự che giấu của chính quyền các quốc gia, bao gồm cả các quốc gia cộng sản. Tại Liên Xô dưới thời LeninStalin, ước tính đã có hơn 300.000 đến 600.000 nạn nhân do các cuộc Khủng bố Đỏ (Красный террор) và Đại thanh trừng (Большой террор). Tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thời Mao Trạch Đông, chiến dịch kinh tế Đại nhảy vọt đã khiến từ 18 đến 45 triệu người chết,  và cuộc Cách mạng văn hóa đã khiến cho hàng nghìn người trở thành nạn nhân của cuộc thanh trừng chính trị tại Trung Quốc. Ngoài ra, hơn 2 triệu người đã bị giết tại Campuchia dưới chế độ Khmer Đỏ. Ước tính số người chết rất khác nhau: Benjamin Valentino, Phó Giáo sư tại Dartmouth College, trích dẫn ước tính con số này của ba quốc gia là từ 21 triệu lên tới 70 triệu người  Những cuộc đàn áp chính trị và tàn sát với quy mô nhỏ hơn diễn ra ở Bắc Triều Tiên, Việt Nam, một số nước Đông Âu và các nước châu Phi.

Định nghĩa

Các quốc gia theo chế độ cộng sản năm 1979–83, giai đoạn mà số lượng quốc gia cộng sản đạt mức cao nhất, tuy sau này đã bị suy thoái
Các quốc gia theo chế độ cộng sản trong lịch sử là những quốc gia được định nghĩa đi theo đường lối xã hội chủ nghĩa theo các quan điểm chính trị của Karl MarxLenin (chủ nghĩa Marx-Lenin), Mao Trạch Đông (chủ nghĩa Mao) hay Stalin (chủ nghĩa Stalin).
Những vụ giết người có chủ đích mà không phải do chiến tranh dưới chế độ cộng sản đã được ghi nhận lại. Nhiều thuật ngữ đã được sử dụng để mô tả những vụ giết người trên, cụ thể bao gồm:
  • Diệt chủng (Genocide)
  • Thanh trừng chính trị (Politicide)
  • Giết người thảm sát (Democide)
  • Tội ác chống lại nhân loại (Crime against humanity)
  • Thanh trừng giai cấp (Classicide)
  • Khủng bố (Terror)
  • Giết người hàng loạt (Mass killings)
  • Communist Holocaust hay Red Holocaust — nôm na có nghĩa là "Thảm họa Cộng sản", lấy cảm hứng từ Holocaust — vụ tàn sát người Do Thái trên lãnh thổ Phát xít Đức

So sánh với chế độ tư bản

Nhà sử học gốc Do Thái Daniel Goldhagen kết luận rằng chế độ cộng sản thế kỷ 20 "đã giết hại nhiều người như bất cứ chế độ nào khác."  Các học giả khác trong lĩnh vực nghiên cứu về cộng sản như Steven Rosefielde, Benjamin ValentinoR.J. Rummel cũng có những kết luận tương tự. Rosefielde khẳng định rằng "Thảm họa Cộng sản" (Red Holocaust) đã gây ra cái chết cho nhiều người như Holocaust (cuộc tàn sát người Do Thái trên lãnh thổ phát xít Đức) và Tội ác chiến tranh Nhật Bản gây nên tại châu Á. Khi so sánh với chủ nghĩa tư bản, Rosefielde cũng nhận định: "dù không thể phủ nhận rằng chế độ tư bản đã tàn sát hàng chục triệu người dân xứ thuộc địa trong thế kỷ 20 mà hầu hết là do bóc lột và nạn đói, cũng không thể bằng những vụ thanh trừng có chủ đích của chế độ cộng sản."

Liên Xô (1922–1991)

Biển tưởng nhớ 40.000 dân thường bị bắn chết tại Moskva, Nga trong "những năm kinh hoàng" thời Liên bang Xô Viết. Biển được dựng năm 1990.
Tổng thống Nga Medvedev viết trên blog của mình sáng 30 tháng 10, 2009, nhân dịp nước Nga kỷ niệm "Ngày Tưởng nhớ Ðàn áp Chính trị," phóng viên nhật báo BaLan, Gzeta Wyborcza, tại Moskva đưa tin. "Tôi tin rằng, tưởng nhớ về bi kịch của dân tộc cũng thiêng liêng như tưởng nhớ về chiến thắng. Không có lý do gì để biện giải cho sự đàn áp chính trị." Medvedev viết rằng, "Chúng ta chỉ cần nghĩ - hàng triệu người đã chết vì khủng bố cùng những cáo buộc dối trá. Cho đến ngày hôm nay, có thể thấy, những tổn thất to lớn trên được biện minh bằng những mục đích cao hơn của nhà nước. Tôi tin rằng, không có sự phát triển, sự thành công, và tham vọng nào của đất nước, có thể đạt được bằng cái giá của bi kịch và mất mát. Không gì có thể được đặt trên giá trị cuộc sống con người. Và không bất cứ sự biện minh nào cho sự đàn áp chính trị là có thể chấp nhận được."
Sau khi Liên Xô giải thể, bằng chứng từ các tài liệu lưu trữ của Liên Xô đã trở thành có sẵn, có chứa các hồ sơ chính thức của việc thực hiện khoảng 800.000 tù nhân dưới thời Stalin với một tội phạm chính trị hay hình sự, khoảng 1,7 triệu người chết trong trại cải tạo lao động của Liên Xô (gulag) và một số 390.000 ca tử vong trong quá trình tái định cư bắt buộc kulak - cho tổng số khoảng 2,7 triệu nạn nhân chính thức được ghi trong các loại này
Ước tính về số người chết tại Liên Xô dưới sự thống trị của Stalin vẫn là chủ đề tranh cãi của các học giả nghiên cứu Liên Xô. Các kết quả được công bố thay đổi tùy vào các tiêu chí, phương pháp tính toán, ước tính và các tài liệu lịch sử. Một số nhà sử đưa ra nhiều số liệu khác nhau cho các giai đoạn lịch sử khác nhau của Liên Xô. Một số học giả, bao gồm chuyên gia viết tiểu sử Stalin Simon Sebag Montefiore, cựu thành viên Bộ Chính trị Alexander Nikolaevich Yakovlev và Jonathan Brent của Đại học Yale, công bố số người chết vào khoảng 20 triệu người.  Theo Stephen G. Wheatcroft, chế độ của Stalin có thể bị buộc tội gây ra "những cái chết có chủ đích" cho khoảng một triệu người, mặc dù số lượng người chết do "bỏ bê hình sự" và "sự khắc nghiệt" của chế độ là cao hơn đáng kể.  Tuy nhiên, một số chính sách của chế độ Stalin, không chỉ giết hại những người Liên Xô mà còn giết hại cả những người ngoại quốc trong khu vực Đông ÂuMông Cổ.
Adam Jones, học giả diệt chủng học cho rằng "có rất ít tài liệu ghi chép về việc thanh trừng trong giai đoạn 1917 khi những người đảng Bolshevik Liên Xô lên nắm quyền".

Khủng bố Đỏ

Bích chương tuyên truyền chống cộng tại Ba Lan trong cuộc chiến tranh Ba Lan—Nga những năm 1920. Tiêu đề lớn viết: "Tự do kiểu Bolshevik"
Trong thời gian nội chiến Nga, hai bên tung chiến dịch chống khủng bố (Hồng quân và Bạch vệ). Các khủng bố đỏ lên đến đỉnh điểm trong việc hành quyết tổng cộng của hàng chục ngàn "kẻ thù của nhân dân" bởi cảnh sát chính trị, các Cheka  Nhiều nạn nhân đã bị buộc trở thành "con tin của tư sản", bị vây bắt sẵn sàng để bị hành quyết trả thù cho bất kỳ hành động bị cáo buộc phản cách mạng   Nhiều người bị giết chết trong và sau khi đàn áp cuộc nổi dậy, chẳng hạn như các cuộc nổi loạn Kronstadt và cuộc nổi loạn Tambov. Giáo sư Donald Rayfield phát biểu rằng "chỉ riêng sự đàn áp các cuộc nổi loạn tiếp theo tại Kronstadt và Tambov dẫn đến hàng chục ngàn người bị hành quyết."  Một số lượng lớn các giáo sĩ Chính thống giáo cũng bị giết.
Các chính sách bài trừ người Cozak (decossackization) là nỗ lực của lãnh đạo Xô viết để "loại bỏ, tiêu diệt, và trục xuất toàn bộ các dân tộc chống đối khỏi lãnh thổ", theo Nicolas Werth.  Trong những tháng đầu năm 1919, khoảng 10.000 đến 12.000 người Cozak đã bị hành quyết  và con số lớn hơn bị trục xuất sau khi làng mạc của họ bị phá hủy.

Đại thanh trừng (Yezhovshchina)

Các nỗ lực củng cố địa vị của Stalin là lãnh đạo của Liên Xô dẫn đến sự leo thang trong bắt giữ và hành quyết nhiều người, lên tới cực điểm năm 1937-1938 (khoảng thời gian đôi khi được gọi là "Yezhovshchina", hay thời kỳ Yezhov), và tiếp tục cho đến khi Stalin chết năm 1953.  Khoảng 700.000 trong số này đã bị tuyên án tử hình, những người khác thiệt mạng từ đánh đập và tra tấn trong khi bị "tạm giữ điều tra"   và trong các Gulag (trại cải tạo) vì đói, phơi nhiễm, bệnh tật và làm việc quá sức.
Các vụ bắt giữ thường được viện dẫn các luật về phản cách mạng, trong đó bao gồm việc không báo cáo các hành động mưu phản và, trong một sửa đổi luật năm 1937, không hoàn thành nhiệm vụ được giao. Trong các vụ điều tra của Cục An ninh Nhà nước của NKVD (GUGB NKVD) vào tháng 10 năm 1936 tới tháng 11 1938, ít nhất là 1.710.000 người đã bị bắt và 724.000 người bị hành quyết
Về đàn áp giáo sĩ, Michael Ellman đã nói rằng. "... khủng bố chống lại giáo sĩ của Giáo hội Chính thống Nga và của các tôn giáo khác (Binner & Junge 2004) năm 1937 - 38 cũng có thể hội đủ điều kiện như là nạn diệt chủng"  Trích dẫn các tài liệu nhà thờ, Alexander Nikolaevich Yakovlev đã ước tính rằng hơn 100.000 linh mục, tu sĩ và nữ tu đã được bị hành quyết trong thời gian này. Phần lớn các nạn nhân là các cựu "kulaks" và gia đình của họ, với 669.929 người bị bắt và 376.202 bị hành quyết.



Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Thời Mao Trạch Đông

Năm 1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc do Mao Trạch Đông thành lập chính thức nắm quyền tại Trung Hoa đại lục sau cuộc nội chiến đẫm máu giữa Trung Hoa Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng sản. Kể từ đó, khi Mao nắm quyền tại Trung Quốc từ 1949 đến 1976, các chính sách và chủ trương của Mao đã khiến cho hàng chục triệu người thiệt mạng; nhiều nhà sử học cho rằng dưới thời Mao đã có một cuộc diệt chủng và tàn sát quy mô lớn diễn ra trên Trung Quốc.

Cải cách ruộng đất và đàn áp những người phản cách mạng

Vụ tàn sát quy mô lớn đầu tiên tại Trung Quốc dưới thời Mao diễn ra trong cuộc cải cách ruộng đất và cuộc đàn áp những người phản cách mạng (thường là những người theo phe Đảng Quốc Dân). Trong một tài liệu xuất bản năm 1948, Mao Trạch Đông dự định rằng "một phần mười tá điền, địa chủ" (ước tính khoảng 50 triệu người) "cần phải bị loại bỏ" để cải cách ruộng đất.  Trên thực tế, ít nhất một triệu người đã bị giết trong cuộc cải cách ruộng đất.
Cuộc đàn áp những người bị cho là "phản cách mạng" chủ yếu nhắm vào thành viên của Đảng Quốc Dân, vốn là phe đối lập của Đảng Cộng sản, và những quan chức bị tình nghi là "phản bội" lại Đảng Cộng sản.  Ước tính đã có khoảng 712.000 đến 10 triệu người bị xử tử trong cuộc đàn áp đẫm máu. Hơn một triệu người bị đưa vào các trại cải tạo lao động và khoảng 1.200.000 người bị "theo dõi".

Đại nhảy vọt (1958–1961)

Một lượng lớn lao động chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất thép công nghiệp trong cuộc Đại nhảy vọt đã làm cho mùa màng thất bát, gây nên nạn đói lớn ở Trung Quốc khiến khoảng 20–46 triệu người chết (5% dân số)
"Đại nhảy vọt" là tên gọi của một kế hoạch cải tổ kinh tếxã hội khởi xướng bởi Mao Trạch Đông cùng Đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 1958 đến năm 1961. Mục đích ban đầu của chiến dịch là biến Trung Quốc lúc bấy giờ từ một nước nông nghiệp trở thành một nước theo xã hội chủ nghĩa theo chiều hướng công nghiệp hóa và cải tổ nông nghiệp. Tham vọng của Mao lúc bấy giờ là có thể vượt qua nền kinh tế của Liên hiệp AnhHoa Kỳ trong vòng 15 năm.  Rất nhiều kế hoạch đã được đề xuất, bao gồm các thử nghiệm của loại hình kinh tế theo kiểu hợp tác xã, tiến hành công nghiệp hóa và cải tổ tưới tiêu.  Tuy vậy, các kế hoạch ban đầu không những không thành công, mà còn gây nên một thảm họa kinh tế cho Trung Quốc. Mặc dù những sáng kiến nông nghiệp không mấy sáng sủa nhưng thời tiết năm 1958 rất thuận lợi và mùa thu hoạch rất hứa hẹn được mùa. Chẳng may, số lượng lao động đã chuyển qua sản xuất thép và các dự án xây dựng công nghiệp, đồng nghĩa với việc mùa vụ bị bỏ bê không thu hoạch tại vài nơi. Trong giai đoạn 1958-1960, Trung Quốc vẫn tiếp tục là nước xuất khẩu lúa gạo đáng kể mặc dù việc nạn đói lan rộng chỉ được biết đến ở nông thôn vì Mao muốn giữ thể diện và thuyết phục thế giới bên ngoài về sự thành công của những kế hoạch của ông.
Đại nhảy vọt được đa số mọi người, kể cả trong và ngoài Trung Quốc, coi là một thảm họa kinh tế mà ảnh hưởng của nó vẫn tác động lên Trung Quốc trong nhiều năm sau đó; nhiều người ví von nó với cái tên "Đại nhảy lùi". Những chính sách không đúng đắn, cùng với những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt (lũ lụt, hạn hán) là nguyên nhân dẫn đến Nạn đói lớn ở Trung Quốc giai đoạn 1958-61.  Theo nhiều nguồn thống kê khác nhau, số người chết do thiếu đói dao động từ 20 triệu đến 46 triệu (khoảng 5% dân số, tổng dân số Trung Quốc bấy giờ là 600 triệu), trở thành nạn đói khủng khiếp nhất lịch sử nhân loại. Ngoài chết đói, khoảng 2,5 triệu người bị tra tấn đến chết do phản đối những chính sách của Mao: "họ bị chôn sống hoặc đánh tới chết." Lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc trong suốt 6 thế kỷ, dân số giảm đi một cách rõ rệt
Trong những Đại hội Đảng năm 1960 và 1962 sau đó, Mao Trạch Đông đã bị chỉ trích trước Đại hội do những hậu quả mà Đại nhảy vọt để lại. Điều này đã khiến cho những đảng viên dung hòa như Lưu Thiếu KỳĐặng Tiểu Bình được lợi và dành được quyền lực nhiều, và Mao bị mất đi tiếng nói. Chính điều trên đã khiến cho Mao khởi xướng cuộc cách mạng văn hóa năm 1966, một cuộc thanh trừng chính trị quy mô lớn cùng với giai đoạn hỗn loạn và vô chính phủ trên toàn lãnh thổ Trung Quốc, kéo theo hàng triệu người trở thành nạn nhân của cuộc bài trừ những đổi thủ chính trị của Mao, bao gồm cả Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình.

Cách mạng văn hóa (1966–1976)

Sau khi kế hoạch Đại nhảy vọt thất bại, Mao Trạch Đông dần mất đi tiếng nói trong Đảng Cộng sản. Để củng cố lại quyền lực, Mao khởi xướng cuộc cách mạng văn hóa năm 1966 với mục đích loại bỏ những "tư sản tự do" để tiếp tục cuộc cách mạng vô sản, đồng thời cũng loại bỏ những người bất đồng ý kiến với Mao, bao gồm các quan chức khác như Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình Chính những vụ thanh trừng chính trị đã củng cố lòng trung thành của quân đội với Mao.
Cô Lâm Chiêu (林昭, Lin Zhao) là một nạn nhân nổi bật trong cách mạng văn hóa. Cô bị xử tử hình với tội danh "...phê phán Đảng Cộng sản vĩ đại của chúng ta và Chủ tịch Mao Trạch Đông vĩ đại..."
Hành triệu người Trung Quốc đã bị hành hình trong giai đoạn hỗn loạn và vô chính phủ của cuộc cách mạng văn hóa. Những người bị cho là gián điệp, "phản bội", "tư sản" hay những tầng lớp địa chủ và tá điền là nạn nhân của những vụ tử hình trước công chúng, đánh đập đến chết, tra tấn, kết án tù, hãm hiếp, lợi dụng và phải chịu điều kiện y tế thấp kém. Ước tính hàng trăm ngàn người đã bị tàn sát, bỏ đói và bị bắt lao động khổ sai. Hàng triệu người khác bị lưu đày. Giới trẻ từ thành phố bị buộc phải rời đến vùng nông thôn và bị cải tạo, "giáo dục" theo đường lối ca ngợi Đảng Cộng sản.
Trong cuộc cách mạng văn hóa, một "đội quân" bao gồm các học sinh, sinh viên mang tên Hồng vệ binh được sử dụng để khai trừ những người bị cho là "phản cách mạng".  Tháng 8 năm 1966, hơn 100 giáo viên đã bị chính học sinh của mình giết hại tại phía Tây của Bắc Kinh  Một trong những nạn nhân nổi bật trong cuộc cách mạng văn hóa là cô Lâm Chiêu (林昭, Lin Zhao). Sau khi trải qua Nạn đói lớn do những chính sách sai lầm của Mao, cô xuất bản một tờ báo không công khai chỉ trích những chính sách của Đảng Cộng sản. Sau đó, cô bị bắt giam 20 năm tù, bị đánh đập và tra tấn dã man. Năm 1966, thời gian khởi điểm của cuộc cách mạng văn hóa, cô bị kết án tử hình vì bốn tội danh: "1. Tấn công, chửi rủa và phê phán Đảng Cộng sản vĩ đại của chúng ta và Chủ tịch Mao Trạch Đông vĩ đại... 2. Có thái độ phê phán chế độ chuyên chế và xã hội chủ nghĩa... 3. Công khai hô hào những khẩu hiệu phản kháng, chống lại án tù, khích động tù nhân nổi loạn, và có những hành động đe dọa để trả thù cho việc bị kết tội xử hình phản cách mạng... 4. Liên tục giữ thái độ từ chối tội danh, từ chối cải tạo giáo dục và từ chối cải cách..." Năm 1968, cô bị xử tử bằng súng; gia đình cô Chiêu không hề biết đến chuyện này cho tới khi một sĩ quan Đảng Cộng sản tới nhà mẹ của cô để thu năm xu tiền mua viên đạn dùng để bắn cô Chiêu.
Ngoài những vụ thanh trừng đối thủ chính trị, cuộc cách mạng văn hóa còn nhằm vào các dân tộc thiểu số trên Trung Hoa đại lục. Tại tỉnh Nội Mông Cổ, hơn 790.000 người Mông Cổ bị bắt, trong đó 22.900 người bị đánh đập tới chết. Năm 1975, tại tỉnh Vân Nam đã diễn ra một cuộc thảm sát 1.600 người Hồi theo đạo Hồi. Tại các tỉnh Đông Bắc Trung Quốc, các trường học của người Triều Tiên bị phá hủy. Những người dân Tây Tạng cũng lâm vào cảnh tương tự, họ bị bắt giữ, đàn áp và tra tấn; đến cuối năm 1979, gần 600.000 nhà sư và ni cô Phật giáo Tây Tạng bị giết chết hoặc tra tấn đến nỗi cơ thể bị dị dạng.

Giai đoạn hậu Mao Trạch Đông

Sự kiện Thiên An Môn (1989)

Sự kiện Thiên An Môn (hay còn được gọi là Sự kiện ngày 4 tháng 6 六四事件, Thảm sát Quảng trường Thiên An Môn hoặc Phong trào Dân chủ năm 1989 八九民运) là một chuỗi các cuộc biểu tình của sinh viên, trí thức và quần chúng (đứng đầu là các sinh viên) tại Quảng trường Thiên An Môn, Bắc Kinh, Trung Quốc, kéo dài từ ngày 15 tháng 4 đến 4 tháng 6 năm 1898.  Quần chúng biểu tình đòi hỏi "một đảng Cộng sản không tham nhũng", yêu cầu tự do ngôn luận, tự do báo chí và một xã hội dân chủ  Tại đỉnh điểm của cuộc biểu tình, có tới một triệu người tụ tập tại Thiên An Môn để phản đối vấn nạn tham nhũng của chính quyền.  Không chỉ tại Bắc Kinh mà cuộc biểu tình còn có sức lan tỏa rộng khắp Trung Quốc đại lục, các thành phố lớn khác (Thượng Hải, Hồng Kông...) và cả bên ngoài Trung Quốc.
Bà Đinh Tử Linh (sinh 1936) (丁子霖; Ding Zilin) có con là sinh viên bị giết tại Quảng trường Thiên An Môn. Sau đó, cô đã liên tục yêu cầu chính quyền thực hiện một chế độ dân chủ hơn. Từ đó, bà liên tục bị Chính quyền Trung Quốc bắt giam và cảnh cáo.
Chính phủ Trung Quốc quyết định giải tán biểu tình bằng vũ lực: hơn 250.000 tiểu đội đã được điều động đến Bắc Kinh bằng được bộ và đường không.  Ban đầu, hàng chục nghìn người biểu tình đã bao vây Bắc Kinh, chặn đứng quân đội và còn thúc giục họ cùng tham gia biểu tình.  Chính phủ nhận ra rằng phương pháp này không hiệu quả, do đó đã điều động các toán quân rút ra ngoại thành Bắc Kinh, trong khi các phong trào biểu tình ngày càng mạnh mẽ hơn, đỉnh điểm là các ngày từ 1 đến 3 tháng 6 năm 1989. Cuối cùng, Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định tấn công Thiên An Môn: tối ngày 3 tháng 6, nhiều xe bọc thép cùng quân đội vũ trang được trang bị súng trường tiến vào quảng trường cùng với các xe ủi. Hàng ngàn người đã cố gắng bao vây, phản kháng lại quân đội, song bị bắn chết ngay trên quảng trường. Các nhân chứng, gồm phóng viên Kate Adie của Đài Truyền hình Vương quốc Anh đã xác nhận những hành động "bắn bừa bãi" của quân đội trong Quảng trường Thiên An Môn, các xe ủi cán nát cả xe cộ lẫn những người tháo chạy, nhiều người van xin song cũng bị bắn hoặc đánh đập bằng dùi cui.
Tới 4 giờ sáng ngày 6 tháng 4, sau cuộc thỏa hiệp giữa sinh viên và chính phủ, quân đội quyết định dọn dẹp lại quảng trường. Tuy vậy, phần lớn sinh viên vẫn kiên quyết tiếp tục biểu tình tại Quảng trường. Quân đội lúc này bắt đầu dọn dẹp lại Thiên An Môn, ngoài ra còn đánh đập các sinh viên và thu hồi, phá hủy những đoạn phim quay được và đe dọa "Nếu không cút đi hậu quả sẽ rất tệ." Đến tầm 5-6 giờ sáng, các sinh viên bắt đầu rút khỏi Quảng trường, nắm tay nhau và hát vang bài Quốc tế ca trên Đại lộ Trường An. Tuy vậy, quân đội vẫn tiếp tục bắn hạ vài sinh viên cùng với những người khác là phụ huynh của họ trên Đại lộ.  Quảng trường Thiên An Môn sau đó đã bị quân đội phong tỏa hai tuần.
Vụ việc bị phanh phui tới cộng đồng quốc tế ngày 5 tháng 6 năm 1989, một ngày sau khi vụ tấn công đẫm máu xảy ra trên quảng trường.  Chính phủ Trung Quốc thừa nhận rằng đã giết 300 người và làm bị thương 2.000 dân thường.  Tuy vậy, các nguồn từ quốc tế ước tính số người chết cao hơn các báo cáo chính thức của Trung Quốc: tờ The New York Times ước tính có hơn 400-800 người chết, còn thời báo Time ước tính hơn 2.600 người bị thiệt mạng. Sau sự kiện Thiên An Môn, các vụ giam giữ, tra tấn và quấy rối những người có liên quan đến các sinh viên bị giết vẫn diễn ra, bao gồm có các bậc phụ huynh của họ.

Đàn áp Pháp Luân Công (1999-nay)

Pháp Luân Công là một môn khí công được truyền bá bởi Lý Hồng Chí vào Trung Quốc đại lục năm 1992, ngay lập tức môn khí công này được người dân Trung Quốc ưa chuộng và được chính quyền ủng hộ.  Tuy vậy, tới năm 1996, mối quan hệ giữa Pháp Luân Công và chính quyền trở nên căng thẳng khi Lý Hồng Chí phản đối những chính sách chuộc lợi từ Pháp Luân Công của Hội nghiên cứu khoa học khí công Trung Quốc, cũng như phản đối yêu cầu trở thành một nhánh của Đảng Cộng sản.  Sau đó, chính quyền bắt đầu hạn chế việc thực hành Pháp Luân Công, cấm xuất bản những cuốn sách dạy môn khí công này từ tháng 7 năm 1996.  Cuối cùng, vào tháng 4 năm 1999, chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc bấy giờ là Giang Trạch Dân chính thức khởi xướng cuộc đàn áp Pháp Luân Công.  Những học viên Pháp Luân Công bị tra tấn dã man, nhiều người bị bắt giữ vô cớ, bị bỏ tù và bị đưa vào  ("Phòng 610" là nơi mà chính quyền Trung Quốc lập nên để tra tấn và giết những học viên Pháp Luân Công)  Những phương thức tra tấn bao gồm: giật điện, trói tay chân, bị cùm xích, không cho ngủ, ép ăn hoặc bỏ đói, lạm dụng tình dục, hãm hiếp, khủng bố tinh thần, nhúng xuống hầm nước, và nhiều phương thức khác. Nhiều học viên là trẻ em cũng không phải là ngoại lệ, chúng cũng bị tra tấn như người lớn.  Nhiều học viên là phụ nữ đang mang thai bị ép phá thai hết sức tàn bạo.
Ngoài tra tấn, nhiều trường hợp học viên Pháp Luân Công bị mổ nội tạng khi còn sống để cung cấp cho ngành cấy ghép sinh học của Trung Quốc.  Theo ước tính, hơn 41.500 ca cấy ghép nội tạng của Trung Quốc từ năm 2000-2005 không có được giải thích kỹ lưỡng và cho rằng rất có thể những bộ phận đó được lấy từ những học viên Pháp Luân Công.  Không chỉ đàn áp những học viên trong nước, chính quyền Trung Quốc còn liên tiếp cảnh cáo những học viên Pháp Luân Công hải ngoại và cử gián điệp theo dõi những người Trung Quốc tại Úc, Mỹ... để theo dõi sát sao. Ít nhất 2.000 học viên Pháp Luân Công đã bị giết chết từ năm 2000-2009 và hàng ngàn người đang bị giam giữ.
                                           

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1954–1975)

Tháng 11 năm 1953, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc Việt Nam tiến hành cải cách ruộng đất, trong đó, theo Steven Rosefielde, là "nhằm mục đích tiêu diệt kẻ thù giai cấp."  Còn theo quan điểm của chính mình, thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiêu diêt tầng lớp "Việt gian" và "địa chủ" hoặc đấu tố trưng thu tư liệu sản xuất của họ, đem chia tất cả (bao gồm ruộng đất và trâu bò, nông cụ) cho các bần nông.
Cuộc cải cách được tiến hành trên sự can thiệp, thúc ép của cố vấn Trung Quốc. Địa chủ được các cán bộ Việt Minh lựa chọn một cách tùy ý rồi đưa ra trước quần chúng để họ đấu tố, phần lớn bị oan sau khi lấy hạn ngạch 4-5 phần trăm tra tấn được sử dụng trên quy mô rộng và rất nhiều, để đến năm 1954 Hồ Chí Minh đã phải can dự và tuyên bố dừng. Sau cuộc cải cách, sự ủng hộ của bần nông đối với chính quyền có tăng lên, nhưng cũng kéo theo sự bất mãn của những người bị kết tội oan.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32