Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
CHUYỆN KỂ RÕ NHẤT VỀ WW II 106/9
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
DANH NGÔN VỀ CHIẾN TRANH: - Bản năng cao nhất của con người là cố gắng sống còn. Con người bỗng dưng đi vào cuộc chiến thì người đó hoặc bị cưỡng bức, hoặc là tự nguyện. Cả hai trường hợp đều trái với mệnh lệnh của tự nhiên và đều đáng thương, vì xét đến tận cùng lý luận thì các khái niệm chính nghĩa, phi nghĩa, dũng cảm, hèn nhát, cao đẹp, thấp hèn,...đều chỉ có tính tương đối,tùy thuộc vào người đánh giá và qui ước ở bên phe nào trong hai phe. Thử hỏi, suốt chiều dài lịch sử loài người kể từ khi có chiến tranh, loài người gặt hái được thành tựu gì từ nó ngoài năng lực phá hoại, tàn sát!? -“Được làm vua thua làm giặc. Nhà vua chỉ là tên giặc thắng trận” (Lý Chánh Trung ‘Cách mạng và đạo đức’). -“Ôi, người ơi, người đừng tìm tác giả của tội ác nữa, tác giả là
người đấy. Tội ác người làm hay tội ác người chịu, cả hai đều do người
cả”. (Jean-Jacques Rousseau) - “Một nhân loại không còn tranh chấp là một nhân loại ngái ngủ”. (Lý Chánh Trung) -“Chúng ta hãy tàn ác. Nếu cứu được nước Đức, chúng ta phải thực hiện
một nghĩa cử cao đẹp nhất thế giới . Chúng ta hãy làm quấy. Nếu cứu
được nước Đức, chúng ta đã diệt trừ một việc quấy nhất thế giới. Chúng
ta hãy vô luân. Nếu cứu được nước Đức, chúng ta đã mở ra con đường phục
hồi đạo lý". (Hitler, Mein Kamf, tr.686). -“Đối với những quốc gia đang trở nên yếu kém và bị khinh thị thì
chiến tranh có thể được coi như một liều thuốc, thật vậy, nếu các quốc
gia ấy muốn tiếp tục sống còn... Đàn ông phải được huấn luyện cho chiến
tranh, đàn bà thì cho sự tiêu khiển của các chiến sĩ, còn ngoài ra tất
cả chỉ là điên rồ... Bạn cho rằng chính nghĩa thánh hoá các cuộc chiến
tranh? Không! Tôi cho rằng một cuộc chiến tranh tốt thánh hoá bất cứ chính nghĩa nào." (Friedrich Nietzsche)
---------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
World War II in HD Colour tập 9
Nguồn gốc của chiến tranh
Hoàng LanTia Sáng (2006)
03:46' CH - Thứ sáu, 22/04/2016
Tại
sao con người lại gây ra chiến tranh? Đúng hơn là tại sao con người
luôn gây ra chiến tranh? Phát hiện những dấu vết cổ nhất về chiến tranh
trong khảo cổ và phân tích nhân chủng học có thể giúp chúng ta hiếu rõ
hơn về các cuộc giao tranh thời hiện đại.
Chiến tranh, theo
các nhà các nhà nhân chủng học là một dạng bạo lực thường gây ra chết
chóc giữa hai nhóm (người), bất kể quy mô của nhóm người đó ra sao và số
lượng nạn nhân là thế nào. Nhưng trong chừng mực nào đó, một định nghĩa
rộng như chiến tranh, hay nói chính xác hơn là các trường hợp xung đột
xã hội cua con người nguyên thủy liệu có soi sáng được nguồn gốc và các
hậu quả của các cuộc chiến tranh hiện đại như đã từng xảy ra ở Kosovo,
Irắc, Rwanda, Việt Nam và Triều Tiên? Cách đây khoảng 30 năm, các nhà
nhân chủng học nghiên cứu về chiến tranh đã từng có lần tụ họp lại trong
một căn phòng nhỏ và tranh luận hăng say về chiến tranh. Giờ đã khác.
Thời thế thay đổi và nghiên cứu nhân chủng học về chiến tranh đã được
tiến hành sâu hơn và chín muồi hơn. Người ta thấy xuất hiện trên báo chí
chuyên ngành chính trị cũng như các phương tiện thông tin đại chúng
những vấn đề trước kia tưởng chỉ có các nhà chuyên môn quan tâm.
Chiến tranh đến từ đâu?
Vậy
thì nguồn gốc chiến tranh từ đâu mà ra? Liệu nó có phải là một trong
những điều kiện gắn liền với cuộc sống của con nguời? Thí dụ về
Yanomami, một bộ lạc thổ dân da đỏ ChâuMỹ (Anh-Điêng) sống ở khu vực Venezuela và Braxin là một minh chứng điển hình.
Năm
1968, ngay sau khi được công bố thì cuốn sách của Napoleon A.Chagnon
dưới tựa đề Yanomamo: The Fierce People (Yanomamo: Dân tộc tự cường) đã
trở thành một tài liệu được trích dẫn nhiều nhất trong ngành nhân chủng
học. Đối với hầu hết các sinh viên trong lĩnh vực này thì đây được coi
là cuốn sách nhập môn duy nhất. Luôn bị cuốn vào các cuộc chiến tranh vì
các lý do như phụ nữ, uy tín và các cuộc cãi cọ giữa các dòng tộc,
người Yanomami được coi như phiên mẫu của người nguyên thuỷ. Mở rộng
lĩnh vực nghiên cứu ra hơn nữa, Chagnon khiến người đọc nghĩ rằng cái
hung tợn của con người là do gen gây ra: đây là một phát hiện gây chấn
động, kể cả khi phát hiện này là đúng.
Trong năm 1974, nhà nhân chủng học MarvinHarris đã đưa ra một cách nhìn khác. Chiến tranh ở người Yanomamitheo
ông là câu trả lời phù hợp đối với một dân tộc phải đối mặt với sự cạn
kiệt về các nguồn lương thực, đặc biệt là hết nguồn thú săn. Tuy nhiên,
giả thiết đã không đứng vững trước một nghiên cứu khắc sâu hơn về sinh
thái của người Yanomami.
Năm 1995, R. Brian Ferguson,
Giáo sư nhân chủng học của Đại học Rutgers (Mỹ) miêu tả những người
Yanomami đã phải đối đầu với các đợt săn đuổi của người Châu Âu từ thế
kỷ XVIII. Theo ông, các cuộc chiến tranh do bộ tộc này gây ra thường gắn liền với những thay đổi do những người ChâuÂu
mang tới. Các cuộc xung đột vũ trang gần đây nhất cũng xuất phát từ mối
đe dọa mất quyền tiếp cận với các dụng cụ sản xuất bằng sắt và các
phương tiện sản xuất khác do người Phương Tây mang tới.
Những
mâu thuẫn sâu sắc xuất hiện trong giới khoa học. Những sự tranh cãi
dường như bớt ồn ào hơn và chỉ tập trong trong lĩnh vực học thuật khi
cuốn sách Darkness in Eldorado: How Scientists and Journalists
Devastated the Amazon (Màn đêm Edorado: các nhà khoa học và nhà báo đã
tàn phá Amazon thế nào?) được xuất bản vào năm 2000. Cuốn sách này do
một nhà báo viết là lời luận tội chống lại Chagnon, kết án cả cái nguồn
gốc của chiến tranh mà ông này đưa ra. Các cuộc bút chiến lại tiếp tục
giữa các nhà nhân chủng học: những người bảo vệ Chagnon và những người
chồng ông này công kích nhau không thương tiếc. Nhiều nhà khoa học nghĩ
rằng chính những người truyền giáo là thủ phạm lớn nhất. Kết cục của
thời kỳ này là chẳng ai có thể tự nhận là mình hiểu được các cuộc chiến
tranh của người Yanomami mà không phải tính đến lịch sử cực kỳ phức tạp
của tộc người này.
Ngoài trường hợp đặc biệt của
Yanomami, thì dường như tất cả mọi nơi trên thế giới, cái mà người ta
gọi là chiến tranh nguyên thủy hay chiến tranh bản địa thường biến đổi,
ác liệt hơn và đôi khi nhanh chóng hơn khi tiếp xúc với người phương
Tây. Một loạt các nghiên cứu lịch sử của BrianFerguson và NeilL.Whitehead
(ĐH Wisconsin-madison) đã kết luận rằng những thay đổi về tính chất
chiến tranh như vậy đều đã xảy ra trước khi các nhà dân tộc học bước
chân tới những vùng dân tộc hẻo lánh. Chiến tranh bản địa được miêu tả
qua hàng thế kỷ gần đây không thể được coi là điển hình cho chiến tranh
thời tiền sử. Những phát hiện khảo cổ học đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn
vấn đề.
Năm 1996, để trả lời câu hỏi này, LawrcnceH.Kecley,
nhà khảo cổ học của Đại học lllinois đã xuất bản cuốn sách: War before
Civihza-tion ( Chiến tranh trước thời Văn minh). Bằng cách thu thập một
số trường hợp bạo lực tiêu biểu, Keeley dường như chứng tỏ rằng con
người luôn luôn gây ra chiến tranh. Điều này cũng được ông tuyên bố
trong Tạp chí Nature: chiến tranh cũng giống như thương mại và những
trao đổi. Đó là những thứ mà con người tạo ra.
Chiến tranh hiện đại
Mới đây hơn, Stcven A.Leblanc, nhà khảo cổ thuộc Đại học Harvard
chứng tỏ rằng tại những nơi còn tồn tại các dấu tích khảo cổ, chiến
tranh liên tục xảy ra và hầu như thời nào cũng có chiến tranh. Leblanc
đã phát triển một lý thuyết để chứng tỏ kết luận nói trên. Ông cho rằng
người tiền sử không hề biết đến việc bảo vệ nguồn lợi thiên nhiên, họ
lãng phí các nguồn tài nguyên trong khi dân số gia tăng, họ thiếu thức
ăn và điều này dân tới chiến tranh: đây là quan điểm của nhà kinh tế học
Malthus. Về phần mình, BrianFurguson
cho rằng cần phải xem xét kỹ những bằng chứng khảo cổ lâu đời nhất để
có thể đưa ra được nguyên nhân logic của chiến tranh. Mặc dù vẫn đang
trong quá trình nghiên cứu những nhận xét đầu tiên của BrianFerguson
là phản đối ý kiến cho rằng chiến tranh là một trong các đặc tính trong
sự tồn tại của loài người. Ngược lại, nhũng khám phá khảo cổ mới đây đã
cho thấy rằng chiến tranh đã từng là một hiện tượng phổ biến cách đây
tới cả 10.000 năm.
Bằng chứng hiển nhiên nhất của chiến tranh được khảo cổ chứng minh là một nghĩa trang tập thể dọc theo bờ sông Nit, khu vục Sudan.
Được biết dưới cái tên Site 117 (địa điểm 117), nghĩa trang này đã được
xác định là có tới 12.000 - 14.000 tuổi. Có 59 bộ xương được bảo quản
cẩn thận trong nghĩa trang trong đó 24 bộ xương có các dấu vết bị thương
do đá (vũ khí của thời đó). Cần chú ý một chi tiết là thời kỳ này trùng
lặp với một thời kỳ khủng hoảng sinh thái: nước thượng nguồn tăng nhanh
khiến lòng sông đã biến thành một lũng sâu. Đồng bằng bị nước ngập và
sau đó lại bị hạn hán khiến dân cư bị mất nguồn lương thực. Bên ngoài
Site 117, kiểm tra kỹ càng khoảng 100 bộ xương thì chỉ khoảng một tá bộ
xương người Homo sapiens độ tuổi khoảng hơn 10.000 năm có những dấu hiệu
bạo lực giữa người với người.
Nguồn cơn của các trận chiến
Phía
Bắc của nước Úc, những dấu vết khác trên đá có tuổi hơn 10.000 năm cho
thấy hình của các cuộc chiến tay đôi giữa hai người hoặc hai nhóm nhỏ
người. Chiến tranh, nếu tính cả các cuộc đối đầu giữa hai nhóm người đã
xuất hiện cách đây khoảng 6.000 năm. Các biến đổi khí hậu đã khiến mực
nước biển dâng cao và nhấn chìm dần dần bình nguyên rộng lớn nối liền Úc
với TânGhinê.
Vùng
Cận Đông cũng có một vài bằng chứng về các cuộc chiến giữa các tộc
người vốn rất hòa bình. Nhiều dấu vết được phát hiện ở người hái lượm
Natofien, những người sống ở khu vực Israel, Uban, Cận Jordania, Syria,
ngày nay nhưng cách đây khoảng 12.800 -10.500 năm. Chỉ có hai trong số
370 bộ xương được kiểm tra cho thấy những dấu hiệu của đánh đập. Những
bức tường Jericho
đầu tiên (10.500 - 9.300 tuổi) thường được người ta trích dẫn như là
bằng chứng về nguồn gốc của chiến tranh nhưng thực tế giờ đã được chứng
minh có tác dụng như những con đê chống lụt. Một điều kỳ cục là các bằng
chứng mới đây cho rằng cuộc chiến tranh kéo dài bất tận cách đây khoảng
10.000 năm lại bắt đầu từ khu vực Bắc của Irăc hiện nay. Ba khu vực
nông nghiệp trong đó cổ nhát là QennezDere
lại có đầy dấu vết của những cái chùy, mũi tên với các bộ xương và ngôi
nhà kiên cố. Như vậy với các bằng chứng này thì đây có thể được coi là
nơi khởi nguồn của chiến tranh.
Các dấu hiệu chiến
tranh cách đây khoảng 8.000 năm dọc theo các con đường núi cao ở Thổ Nhĩ
Kỳ. Dọc theo sườn núi Anatolien, người ta khai quật được các bàng chứng
khảo cổ của cả một ngôi làng được bao bọc bởi một tưởng thành ở Icel.
Được xây dựng cách đây 6.300 năm rồi bị tàn phá, ngôi làng được xây dựng
bới một nền văn hóa hoàn toàn khác biệt. Dọctheo
dòng sông Nit, trong khu vực hiện giờ là Ai Cập, dòng sông đã làm sụt
lở các tầng địa chất vào thời điểm cách đây hơn 6.300 năm. Nhưng kể từ
thời điểm trên, người ta lại thấy những cái chùy tương tự như đã tìm
thấy ở Mesopotamie. Lên tiếp trên thượng nguồn, gần khu vực Khartoum, người ta cũng thấy những chiếc chùy có tuổi còn nhiều hơn 2.000 năm, trước cả thời kỳ xuất hiện nông nghiệp. TạiTrungÁ,
ở phía Đông biên Caspie, tại các địa điểm còn lại dấu vết của các trại
người hái lượm và những khu vực nông nghiệp đầu tiên, người ta không hề
thấy có bất cứ dấu hiệu nào của chiến tranh. Nhưng những nơi này có độ
tuổi khoảng 5.000 năm. Tại các vùng thượng Pakistan, những người trồng trọt đã bắt đầu xây dựng các bức tường cách đây ít nhất khoảng 6.000 năm.
TạiTrungQuốc,
dù cho các cây kê được trồng cách đây hơn 8.000 năm nhưng những dấu
hiệu của chiến tranh chỉ có sau đó khoảng 1.000 năm. Cách đây khoảng
7.000 năm, trong một các tang vân hóa thời đồ đá mới của khu vực này,
các đường hào sâu đã được đào xung quanh làng, thậm chí có đoạn bên trên
bờ hào có cả các phên dậu. KhápTrungQuốc người ta không tìm thấy dấu vết của bạo lực thời kỳ 4.600 năm về trước ngoại trừ một bộ xương có vết đinh cắm ở xương đùi. Tiếptheo đó, những bức tường đất và những dấu hiệu khác đã chứng tỏ bắt đầu có các cuộc xung đột trong lịch sử TrungQuốc.
Trong một cái giếng làng, người ta thấy chất đầy các bộ xương mất đầu
hoặc đầu có dấu hiệu bị lột da trước khi chết. Tại Nhật, người ta tìm
thẩy dấu hiệu của thâm canh nông nghiệp với sự xuất hiện của người di cư
từ lục địa tới cách đây khoảng 2.300 năm. Trong số 5.000 bộ xương được
các nhà khảo cổ đào được người ta chỉ thấy có 10 bộ có dấu hiệu của bạo
lực gây ra tử vong. Ngược lại trong số khoảng 1.000 bộ xương vào sau
thời kỳ di trú thì đã thấy có khoảng 100 bộ xương có các dấu vết của bạo
lực.
ChâuÂu và ChâuMỹ
TạiChâuÂu,
không có bất cứ bằng chứng xác thực nào của xung đột trong thời kỳ đồ
đá cũ dù rằng nhiều nhà khảo cổ vẫn nghĩ ngược lại. Tuy nhiên, cách đây
khoảng 10.500 năm, khi dân số nông nghiệp định cư bắt đầu tăng lên, tại
nhiều địa điểm người ta đã tìm thấy dấu hiệu của bạo lực cá nhân và cũng
có những dấu hiệu của bạo lực tập thể. Trong thời kỳ này, những dấu
hiệu bạo lực cũng được tìm thấy tại một số các địa điểm khai quật khác.
Bắt đầu cách đây từ 6.500 năm, tại các địa điểm trước kia là đường hào
người ta tìm thấy các bộ xương với những vết thủng hình tròn, cũng có
nhiều dấu hiệu của các đợt tàn sát tập thể cả ngôi làng. Vào thời kỳ đồ
đồng, 2.000 năm sau đó, chiến tranh và quân đội đã thực sự là đối tượng
của việc thờ cúng.
VùngBắcMỹ có tình hình rối rắm và phức tạp hơn theo
từng khu vực khác nhau. Người Kennewick, bộ xương được tìmthấy tại bang
Wash-inglon có tuổi khoảng 7.500 - 9.200 năm có dấu hiệu vết thương ở
vùng xương chậu. Nhưng đây chỉ là một trường hợp cá biệt. Tại vùng biền
Thái Bình Dương, phía Đông Bắc, người ta tìm thấy các dấu vết đánh đập
trên các bộ xuống còn sót lại, trong khi những dấu hiệu của xung đột bắt
đầu xuất hiện cách đây 4000 năm trong các khu vực phía Bắc trong khi ở
phía Nam, những dấu hiệu tương tự chỉ xuất hiện vài trăm năm sau đó.
Nhiều bộ xương đã được tìm thấy trong những khu rừng cỏ phía Tây chứng
tỏ rằng đã có những dấu hiệu của bạo lực. Trong một số trường hợp, thí
dụ như tại một địa điềm ở bang Florida
thời điểm cách đây khoảng 7.000 năm, nhiều cá nhân đã liên quan tới các
đụng độ bạo lực. Nhưng những khám phá đặc biệt lại thuộc về thời cách
đây khoảng 5.000 năm. Tại khu vục Đồng bằng lớn ở phía Nam, trong số 173
bộ xương có tuổi khoảng hơn 2.500 năm, chỉ có một bộ xương có dấu hiệu
của sự giết người: một người đàn bà bị đập hai lần vào đầu. Những dấu
vết chiến tranh không thể chối cãi được tại khu vực Đông Bắc cách đây ít
nhất khoảng 2.000 năm đặc biệt ấn tượng. Gần như 2/3 thậm chí hầu như
tất cả trong số 90 xác chết chôn tại một hang động ở phía Nam băng Utah đều đã bị giết chết.
Một bài báo mới đây nói về địa điểm Oaxaca
ở Mêhicô đã khẳng định một cách hùng hồn nguồn gốc của chiến tranh. Tóm
lại, nếu chiến tranh là chuyện khá phổ biến thời kỳ tiền sử thì vô vàn
nhùng di tích khảo cỏ được tìm thấy phải chứa những dấu vết về nó. Nhưng
chúng lại hầu nhu chằng có gì nhiều. Chúng ta đang gặp một trường hợp
trong đó "sự vắng mặt của bàng chứng không có nghĩa là có bằng chứng
ngoại phạm".
Nhưng tại sao các dân tộc yên lành trong
quá khứ lại bỗng trở thành những xã hội đầy bạo lực. Những nguyên nhân
chính xác dường như ít thấy hiển hiện nhưng theoBrianFugcrson
thì có 5 điều kiện tiên quyết liên quan tới việc xuất hiện chiến tranh
thời tiền sử. Một trong số đó là giai đoạn chuyển từ phong tục di cư
thành định cư không hoàn toàn gắn với nông nghiệp. Thực ra khi một bộ
phận dân cư cảm thấy phù hợp với một khu vục nào đó và thấy ở đó có các
nguồn cung cáp lương thực thì họ thường ít phải trải qua những thời kỳ
khốn khó.
Một điều kiện tiên quyết khác là sự tăng
trưởng nhanh chóng trong nội bộ của một bộ phận dân cư dẫn tới việc cạnh
tranh nhau để tiếp cận với nguồn tài nguyên. Tiếp đến là sự phát triển
về mặt trật tụ xã hội, một tầng lớp tinh túy xuất hiện cùng với những
địch thủ cạnh tranh. Rồi là sự gia tăng thương mại từ xa đến, đặc biệt
là việc buôn bán các đồ vật có giá trị: những thứ đáng phải tranh giành
nhau. Cuối cùng, việc chiến tranh bắt đầu hoặc gia tăng cường độ chiến
tranh thường liên quan tới một thời kỳ biến động lớn về khí hậu khiến
các điều kiện cung cấp những vật phàm thiết yếu cho cuộc sống con người
bị thay đổi.
Quan hệ phụ thuộc
RaytnondC.Kelly, nhà nhân chủng học thuộc Đại học Michigan cùng đã đưa ra một cách xác định nguyên nhân của chiến tranh. Theo
ông, một trong những nguyên nhân của chiến tranh có liên quan tới hiện
thực của xã hội. Bàng việc phân tích các ngôn ngữ của các dân tộc khác
nhau để so sánh thực tế xã hội của những người hái lượm có chiến tranh
với nhũng người cùng thời nhưng sống hòa bình, ông đã nhận thấy rằng
trong một vài trường hợp của các xã hội người hái lượm thanh bình, các
tổ chức xã hội không vượt quá phạm vi của họ hàng và một hệ thống lỏng
lẻo nhưng lại khá linh hoạt. Ngược lại, các xã hội có chiến tranh thường
là tập hợp của các tập thể lớn và được xác định như kiểu các phường
hội. Sự tồn tại cua các nhóm người tập trung này dẫn tới việc xuất hiện
khái niệm lăng mạ tập thể và mong muốn thay thế tập thể.
Trải
qua hàng nghìn năm, chiến tranh giữa các bộ tộc trở thành chuyện thường
tình chứ không phải là cá biệt. Khi các điều kiện cho chiến tranh đã
trở nên chín mùi thì phần lớn nhất của một dân tộc trong những vùng rộng
lớn nhát bỏ đi nơi khác. Sự phát triển này đã phát triển cái ý tưởng
gây chiến tranh đối với những nhóm người khác. Thí dụ các Nhà nước cổ sử
dụng nhũng kẻ "mọi rợ" ở các khu vực ngoại vi đề mỏ rộng vương quốc của
mình và đàm bảo an toàn cho hệ thống thương mại của họ. Cuối cùng, việc
bành trướng của người Châu Âu từ sau năm 1492 đã khiến những người bản
địa đứng dậy đánh lẫn nhau vì chủ quyền lãnh thổ của họ, bảo vệ những nô
lệ và ảnh hưởng thuộc địa của mình. Những nhóm người tị nạn buộc phải
trở về nước của họ, những đồ vật chế tạo được đưa vào và các lý do mới
của chiến tranh lại xuất hiện (như trong trường họp của người Yanomami).
Chính việc phổ biến vũ khí của người ChâuÂu đã khiến các cuộc giao tranh trở nên đẫm máu hơn bao giờ hết.
Khi bắt đầu nghiên cứu về chiến tranh giữa những năm 1960, Ferguson đã bị ảnh hưởng của tư tưởng có tên là văn hóa sinh học mà người hậu duệ hiện văn đang báo vệ cho tư tưởng này là StevenLeblanc.
Áp lực của dân số lên các nguồn cung cấp lương thực (đất đai, thú săn,
thú nuôi) trong quá khứ luôn được coi là nguyên nhân của các cuộc chiến
tranh giữa các bộ lạc. Trong vài trường hợp, thuyết này tỏ ra đúng. Thí
dụ như ở những dân tộc sống dọc theo
bờ biển Tây Bắc Thái Bình Dương chẳng hạn. Trước khi dân số của các tộc
người này giảm đi vào thế kỷ XIX, nhũng cuộc giao tranh dữ dội đã diễn
ra để giành quyền tiếp cận tới các nguồn lương thực cơ bản như các cửa
sông nơi có các đàn cá hồi sinh sống. Tuy nhiên, chiến tranh tại nhiều
khu vực khác của trái đất không phải hoàn toàn bát nguồn từ lý do lương
thực.
Ngày nay, thuyết này được nhiều chuyên gia sử
dụng lại dưới cái tên "an toàn môi trường". Họ giải thích những lý do
gây bạo động thời gian gần đây lý do sự khan hiếm các nguồn lương thực
gây ra bởi dân số tăng và môi trường bị hủy hoại. Nhưng khi xem xét một
số các trường họp xung đột thời gian gần đây ở Chiapas (Mêhicô) hay ở Rwanda,
các nhà nghiên cứu lại không ủng hộ thuyết "sinh học" này. Các nhà nhân
chủng học lại khám phá ra rằng nếu một nhóm dân nào đó thiếu các nguồn
lực cơ bản thì nguyên nhân chính lại là việc phân chia không công bằng
các tài nguyên ngay trong nội bộ của xã hội đó. Đây là một nguyên nhân
chính trị và kinh tế chứ không phải là do dân số gia tăng về mặt cơ học
và các nguồn lương thực thiếu thốn. Ngành nhân chủng học có thể đưa ra
một cái nhìn hoàn toàn khác về các thảm họa diệt chủng ở Rwanda
hay các cuộc nội chiến tại các nước Balcan. Nghiên cứu các xung đột
hiện đại cho thấy các nguyên nhân chiến tranh khá đa dạng: do nhu cầu
lương thực, do quan hệ sinh học khu vực thay đổi, do đấu tranh giành
quyền lực giữa các chính phủ hay trong một nước hoặc các nguyên nhân
khác như tôn giáo và sắc tộc.
Quyền lợi của các nguyên thủ
Vả lại, các thòi kỳ khủng hoảng được nhìn nhận khác nhau theo
từng nhóm người khác nhau. Các quyết định liên quan tơi nhận thức và
quyền lợi của mỗi người khác nhau. Thông thường thì việc nhìn nhận một
sự việc gắn bó chặt chẽ với quyền lợi của người xem xét vấn đề. Khi một
cuộc xung đột xảy ra và các cuộc tàn sát bắt đầu thì các sắc thái nguyên
nhân chiến tranh biện mất. Số phận của một người được quyết định đơn
giản bởi tôn giáo, dân tộc hay bộ tộc mà người đó tham gia. Cuộc tàn sát
những người Tutsi trong đợt diệt chủng ở Rwanda vào năm 1994 là một ví dụ điển hình. Nhưng những khác biệt này không phải là nguyên nhân của xung đột.
TheoR.BrianFerguson, trong nhiều trường hợp (không phải tất cả), quyết định chiến tranh liên quan tới việc theo
đuổi quyền lợi riêng của chính những người đưa ra quyết định. Một xung
đột có thể liên quan tới các vấn đề lương thực cơ bản nhưng nó cũng có
thể nổ ra khi quyền tiếp cận tới nguồn lương thực chỉ được giành riêng
cho một nhóm người tinh hoa nào đó. Quyết định chiến tranh còn phụ thuộc
vào tính toán hơn thiệt giữa giá phải trả của cuộc chiến với các nguy
co tiềm tàng sau đó có đe dọa không chỉ mạng sóng mà cả tài sản của
những người tham gia cuộc chiến. Nói một cách nào đó cụ thể hơn thì
quyết định liên quan tới vị trí trong bảng thứ hạng chính trị nội bộ:
các "đại gia" của Tân Tây Lan là các hoàng thân và tổng thống, các nhà
lãnh đạo thường ủng hộ chiến tranh vì chiến tranh tạo điều kiện trở lại
cho các lãnh đạo. Tất nhiên, nhưng người muốn thúc đầy chiến tranh không
bao giờ đưa ra quyết định bởi chính quyền lợi của mình. Thường điều này
liên quan tới mối hiểm nguy và lợi ích của một tập thể. Những người ủng
hộ chiến tranh thường luôn đưa ra những giá trị cao cả cần phái bảo vệ,
sự cần thiết phải chống trả lại những hành động qủy quái, bảo vệ tôn
giáo chính thống hay ủng hộ dân chủ. Chính bằng những lá bài này mà họ
tranh thủ được những kẻ còn chần chừ và tạo ra được một quyết tâm đầy
cảm tính.
Hành trình của chiến tranh không chỉ, thậm
chí không hoàn toàn bởi các mưu mô bị ổi. Cùng có thể nó được tạo ra bởi
như cầu tự điều chỉnh về lương thực của con người. Những người tuyên bố
chiến tranh bao giờ cũng tin rằng lý lẽ và sự lựa chọn của mình là
đúng. Đó chính là khả năng đã biến con người thành một giống loài hết
sức nguy hiểm.
Khan hiếm nguồn nước là nguyên nhân của nhiều cuộc chiến và quản lý tốt nguồn nước có thể là lực đẩy cho sự phát triển.
Ước tính 330 triệu người, 1/4 dân số Ấn Độ, đang bị ảnh hưởng bởi hạn hán nghiêm trọng trong nhiều năm qua.
Trong khi đó, Ethiopia cũng đang đối phó
với hạn hán tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ khiến nhiều vụ mùa thất
bát, dẫn đến tình trạng thiếu lương thực và ảnh hưởng đến khoảng 1/10
dân số.
Nguy cơ xung đột
Trong quá khứ, hạn hán nghiêm trọng đã
dẫn đến xung đột và thậm chí cả các cuộc chiến tranh giữa các cộng đồng
gần nhau hoặc giữa các quốc gia láng giềng. Sử sách ghi lại, một trong
những cuộc chiến liên quan đến nguồn nước lần đầu tiên xảy ra khoảng
4.500 năm trước đây, khi đất nước Lagash - nằm giữa sông Tigris và
Euphrates ở Iraq ngày nay – tranh chấp nguồn nước với quốc gia láng
giềng Umma. Cạnh tranh về nguồn nước cũng gây ra các vụ bạo động ở Trung
Quốc cổ đại và bất ổn chính trị tại Ai Cập thời đại các vua Pharaon.
Ngày nay, cuộc chiến thực sự giữa các
quốc gia về tài nguyên nước không phổ biến do có các cuộc đối thoại và
hợp tác xuyên biên giới được cải thiện. Tuy nhiên, cạnh tranh về nguồn
nước giữa các cộng đồng trong một quốc gia lại xảy ra nhiều hơn. Báo cáo
mới đây của Ngân hàng thế giới (WB) về mối liên hệ giữa biến đổi khí
hậu tới nguồn nước và phát triển kinh tế chỉ ra rằng, nguồn nước khan
hiếm hoặc không ổn định làm giảm tăng trưởng kinh tế, dẫn đến phong trào
di cư và nguyên nhân của nhiều vụ xung đột hay nội chiến.
Chu trình này đã xảy ra ở một số khu vực
trong nhiều thập kỷ. Chẳng hạn như ở tiểu vùng Sahara châu Phi, thời kỳ
khô hạn trong vòng 20 năm qua dẫn đến bạo lực, nội chiến và thay đổi
chế độ. Tại nhiều vùng nông thôn ở châu Phi và Ấn Độ, lượng mưa suy giảm
đã trở thành nhân tố thúc đẩy các cuộc di cư trong nội địa hoặc xuyên
biên giới, đến những nơi nguồn nước dồi dào hơn. Những người di cư này
thường đổ về thành phố và tạo áp lực cho cơ sở hạ tầng và các dịch vụ ở
đô thị.
Tuy nhiên, các quốc gia hoàn toàn có
thể tránh khỏi cảnh nghèo đói, thiếu thốn và xung đột nếu cùng hành động
ngay lúc này để thực hiện chính sách nước quản lý hiệu quả và thực
tiễn. Làm được như vậy, các quốc gia không những hạn chế được những tác
động xấu do tình trạng hạn hán mà còn đạt tỷ lệ tăng trưởng kinh tế
khoảng 6% mỗi năm.
Thông điệp từ Morocco
Một đất nước khan hiếm nước đã hành động
để cải thiện những tác động của biến đổi khí hậu tới nguồn nước, đó là
Morocco. Trong những năm có lượng mưa thấp, quan chức địa phương những
vùng gần lưu vực sông Morocco dành ưu tiên thấp cho nước dùng trong nông
nghiệp và đặt ưu tiên cao cho nhu cầu nước sinh hoạt của người dân. Bên
cạnh đó, chính phủ nước này đã đầu tư hiện đại hóa cơ sở hạ tầng thủy
lợi để cung cấp cho nông dân các dịch vụ nước hiệu quả hơn.
Một nông dân Morocco đang bắt đầu vụ mùa mới trong điều kiện khan hiếm nước. Nguồn: USAID
Các nhà chức trách Morocco cũng đang nỗ
lực cải thiện quản trị nguồn nước ngầm, tránh khai thác quá mức. Người
dân làm nông nghiệp sử dụng nguồn nước mưa sẽ được hỗ trợ các kỹ năng
để tận dụng tốt hơn lượng mưa, chẳng hạn như kỹ năng gieo hạt trực tiếp.
Kết quả không ngờ là sản lượng của các vụ mùa còn cao hơn so với phương
pháp sản xuất truyền thống trong những năm khô hạn tương tự.
Từ kinh nghiệm của Morocco, cũng như báo
cáo của WB, với các chính sách và biện pháp can thiệp tới nguồn nước
một cách thông minh, các quốc gia có thể yên tâm về nguồn nước của quốc
gia mình.
Tất nhiên, không phải mọi quốc gia sẽ đi
theo con đường của Morocco trong các chính sách về đảm bảo nguồn nước,
nhưng thông qua mô hình của Morocco, các nước có thể nảy sinh các ý
tưởng sáng tạo, cũng như các bài học kinh nghiệm.
Mỹ Anh
(theo Project Syndicate)
Âm mưu thủ đoạn chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ?
1.Khái niệm chiến tranh đặc biệt là gì?
Chiến tranh
đặc biệt là một hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới, được tiến
hành bằng quân đội tay sai, dưới sự chỉ huy của hệ thống “cố vấn” Mỹ,
dựa vào vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh của Mỹ, nhằm
chống lại các lực lượng cách mạng và nhân dân ta.
2.Âm mưu của Mỹ
Âm mưu cơ bản của Mỹ trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” là “dùng người Việt đánh người Việt”
3.Thủ đoạn trong chiến lược Chiến tranh đặc biệt của Mỹ
Tăng nhanh viện trợ cho Diệm, năm 1961 là 500 triệu USD, 1964 là 626 triệu USD. Đưa vào miền
Nam một số lượng lớn “cố vấn” quân sự và trang bị chiến tranh. Năm 1960:
1100 người; cuối 1962: 11.000 người; cuối 1964: 26.000 người và thành
lập Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (MACV) ở Sài Gòn 8/2/1962 do tướng Hac-kin cầm
đầu. Phát triển
lực lượng quân ngụy trang bằng cách bắt lính. Năm 1961 là 170.000 tên,
đến 1964 là 560.000 tên với đầy đủ các binh chủng và các phương tiện
chiến tranh hiện đại như: máy bay, xe lội nước M113 thực hiện chiến
thuật “trực thăng vận, thiết xa vận”. Thực hiện
quốc sách “ấp chiến lược” để dồn dân vào trại tập trung nhằm kìm kẹp
nông dân, tách các lực lượng cách mạng ra khỏi quần chúng, thực hiện
chương trình “bình định” miền Nam với 17.000 ấp chiến lược. Mỹ ngụy dự định thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, trọng tâm là “bình định” qua 2 kế hoạch:
Năm 1961 là kế hoạch Xtalây-Taylo: bình định miền Nam trong 18 tháng.
Năm 1964 là kế hoạch Giônxơn –Macnamara bình định miền Nam trong 2 năm và tăng cường vai trò chỉ huy của quân Mỹ.
4.Quân và dân miền Nam đánh bại chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ
Để đánh thắng
mỹ, Đảng ta quyết định tăng cường lực lượng về mọi mặt, tháng 1/1961,
TW cục miền Nam được thành lập thay cho xứ ủy Nam bộ cũ. 15/2/1961,
các lực lượng vũ trang miền Nam đã thống nhất thành Quân giải phóng miền
Nam cùng với Mặt trận DTGPMN kêu gọi nhân dân tiến lên đánh bại “chiến
tranh đặc biệt”.
5.Ý nghĩa của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ
Là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược lần 2 của cách mạng miền Nam và cũng là thất bại lần 2 của đế quốc Mỹ và tay sai. Chiến thắng
đã mở rộng và phát triển toàn diện thế tiến công của cách mạng miền Nam,
là cơ sở cho nhân dân miền Nam tiến lên đập tan hoàn toàn những kế
hoạch mới của địch.
Chiến lược chiến tranh cục bộ
- Người đăng bài viết: Nguyễn Thị Lương - Chuyên mục :
Đã xem: 992
Chiến tranh cục bộ là gì? do ai đưa ra, được triển khai ra sao mời bạn đọc tham khảo bài viết dưới đây.
1. Nguyên nhân Tháng
3/1965, đứng trước nguy cơ phá sản hoàn toàn chiến lược “chiến tranh
đặc biệt”, Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh và quân chư hầu vào miền Nam nhằm
đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục
bộ” ở miền Nam và mở rộng phá hoại miền Bắc. 2. Âm mưu. “Chiến
tranh cục bộ” là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới được tiến
hành bằng lực lượng của quân viễn chinh Mỹ, quân chư hầu, quân Ngụy tay
sai ở miền Nam, trong đó quân Mỹ giữ vai trò quan trọng và không ngừng
tăng lên về số lượng và trang bị, nhằm chống lại các lực lượng cách mạng
và nhân dân ta. 3. Thủ đoạn. -
Với chiến lược " Chiến tranh cục bộ" Mỹ tăng cường lực lượng quân sự ở
miền Nam Việt Nam: Cuối năm 1964 là 26000 tên đến 1965 đã tăng lên
200000 tên, đến cuối năm 1967 lên tới 537000 tên, ngoài ra còn có hạm
đội 7 sẵn sàng chiến đấu ở Miền Nam.
( Quân viễn chinh Mỹ vào Miền Nam trong chiến lược "chiến tranh cục bộ")
-
Tiến hành nhiều cuộc hành quân lớn nhằm tìm diệt lực lượng cách mạng:
“Ánh sáng sao”, phản công chiến lược mùa khô 1965-1966, 1966-1967 vào
“đất thánh Việt cộng” là những cuộc hành quân lớn trong chiến lược chiến
tranh đặc biệt của Mỹ. Thông qua chiến lược này Mỹ hy vọng sẽ kết thúc
chiến tranh. - Gây chiến tranh phá hoại miền Bắc nhằm ngăn chặn sự chi viện cho miền Nam.
Chiến tranh Đặc Biệt
- Người đăng bài viết: Nguyễn Thị Lương - Chuyên mục :
Đã xem: 606
Chiến lược Chiến tranh Đặc Biết là gì? do ai khởi xướng ? nội dung cụ thể ra sao chúng ta cùng tìm hiểu bài viết dưới đây.
Để
tránh thất bại hoàn toàn ở miền Nam Việt Nam sau cuộc "Đồng khởi"
(1959-1960), Mỹ buộc phải thay đổi chiến lược, từ chiến lược "Chiến
tranh đơn phương" (l954-1960) sang chiến lược "Chiến tranh đặc biệt"
(1961-1965). "Chiến
tranh đặc biệt'' là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ,
được tiến hành bằng quân đội tay sai, dưới sự chỉ huy của hệ thống cố
vấn" quân sự và dựa vào vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến
tranh của Mỹ nhằm chống lại các lực lượng cách mạng và nhân dân ta. Âm
mưu cơ bản của "Chiến tranh đặc biệt" là "dùng người Việt đánh người
Việt". Thực
hiện kế hoạch chiến lược Chiến tranh Đặc Biệt trên, Mỹ tăng nhanh viện
trợ quân sự cho Diệm, đưa vào miền Nam số lượng ngày càng lớn "cố vấn"
quân sự và lực lượng hỗ trợ chiến đấu. Số lượng đó tăng lên hàng năm:
cuối năm 1960 có 1.100 tên; cuối năm 1962 có 11.000 ; cuối năm 1964 có
26.000. Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (MACV) được thành lập tại Sài Gòn ngày
8-2-1962 thay cho Đoàn cố vấn viện trợ quân sự (MAAG) được thành lập năm
1950. Để
phối hợp, chính quyền Sài Gòn ra sức bắt lính, tăng nhanh lực lượng
quân ngụy, từ 170.000 (giữa 1961) lên 560.000 (cuối 1964). Quân ngụy
được trang bị hiện đại, sử dụng phổ biến các chiến thuật mới, như "trực
thăng vận", "thiết xa vận". Được
sự hỗ trợ chiến đấu và chỉ huy của cố vấn Mỹ, quân ngụy liên tiếp mở
nhiều cuộc hành quân càn quét nằm trong chiến lược Chiến tranh Đặc
Biệt nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng, tiến hành nhiều hoạt động phá
hoại miền Bắc, hoạt động kiểm soát, phong tỏa biên giới và vùng biển. Dựa
vào lực lượng quân sự và bằng những cuộc hành quân càn quét, chính
quyền Sài Gòn đã ráo riết dồn dân, lập "Ấp chiến lược" (sau đổi là "Ấp
tân sinh"), dự định dồn 10 triệu nông dân vào 16.000 ấp trong tổng số
17.000 ấp toàn miền Nam bằng thủ đoạn cưỡng ép. Chúng lập ấp đến đâu thì
giăng đồn bốt, lập bảo an, dân vệ, chính quyền đến đó để kìm kẹp. Nhân
dân trong các "Ấp chiến lược" bị kiểm soát gắt gao, ngột ngạt, như trong
các trại tập trung. "Ấp chiến lược" được coi là "quốc sách" và gần như
một cuộc chiến tranh tổng lực nhằm đẩy lực lượng cách mạng ra khỏi các
xã, ấp, tách dân khỏi cách mạng tiến tới nắm dân, thực hiện chương trình
"bình định" miền Nam.
Tại sao Mỹ không bồi thường chiến tranh Việt Nam?
TP - Đàm phán về bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ thường xuyên lâm vào
thế bế tắc vì nhiều vấn đề, trong đó có bồi thường chiến tranh, người Mỹ
mất tích trong chiến tranh (MIA)… Năm 1973, Tổng thống Mỹ Richard Nixon
gửi thư cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng cam kết “bồi thường” 3,25 tỷ USD
cho Việt Nam.
Ông Lê Đức Thọ (trái) và ông Henry Kissinger tại Paris cuối tháng 1/1973. Ảnh: AP
Ông Phan Doãn Nam, thư ký của Thứ
trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch thời kỳ Việt Nam và Mỹ đang đàm phán
Hiệp định Paris, kể lại những câu chuyện liên quan quá trình bình thường
hóa quan hệ Việt-Mỹ, trong đó có vấn đề bồi thường chiến tranh và MIA. Nhà máy thép không thành
“Quá khứ không dễ quên, nhất là khi bị
in hằn bởi những vết sẹo do chiến tranh để lại nhưng với tư duy luôn
hướng về phía trước, Việt Nam và Hoa Kỳ đã và đang nỗ lực rất nhiều để
vượt lên trên quá khứ và định hình quan hệ tương lai”.
Phó Thủ tướng,
Bộ trưởng
Bộ Ngoại giao
Phạm Bình Minh
Ông Nam kể, năm 1973, phía Việt Nam muốn nhận tiền bồi thường chiến
tranh để xây dựng nhà máy thép 3 triệu tấn; phía Mỹ đồng ý thương lượng
về vấn đề này, nhưng không gọi là bồi thường chiến tranh, mà là khoản
đóng góp vào quá trình tái thiết Việt Nam. Phía Việt Nam lúc đầu đưa ra
con số 5 tỷ USD, sau thương lượng thì rút xuống 3,25 tỷ USD. Tháng
2/1973, Tổng thống Mỹ Richard Nixon gửi thư cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng
với nội dung Mỹ sẽ trả khoản tiền 3,25 tỷ USD. Ông Nam nói rằng, lúc đó,
các nhà lãnh đạo Việt Nam đang tập trung ký cho xong Hiệp định Paris,
nên không phân tích kỹ một câu gần cuối thư có nội dung hai bên sẽ thực
hiện thỏa thuận ghi trong thư đúng theo hiến pháp của mỗi nước. Theo ông
Nam, chính câu này trở thành cớ để Mỹ sau đó không thực hiện cam kết
trả 3,25 tỷ USD; vấn đề bồi thường nếu đưa ra Quốc hội Mỹ chắc chắn
không được thông qua vì Quốc hội Mỹ hồi đó chống đối Việt Nam. Báo chí
Mỹ về sau đưa tin, tác giả của câu đó chính là ông Henry Kissinger (cố
vấn của Tổng thống Mỹ Richard Nixon, sau trở thành Ngoại trưởng), ông
Nam nói.
Ông Phan Doãn Nam (từng là Thư ký/Trợ lý của Thứ trưởng/Bộ trưởng
Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch) trả lời phỏng vấn báo Tiền Phong. Ảnh: Trúc
Quỳnh
Trước đó, đoàn đại diện của Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID) Mỹ vẫn
tư vấn cho Việt Nam cách chia nhỏ nhà máy thép công suất lớn thành
nhiều nhà máy công suất nhỏ để tránh bị Quốc hội Mỹ gạt bỏ nếu cho rằng
Việt Nam sản xuất nhiều thép để tiếp tục chiến tranh. Đoàn của USAID còn
đưa ra yêu cầu tiền bồi thường phải được dùng để mua hàng của Mỹ và vận
chuyển bằng tàu Mỹ, chứ không được trả bằng tiền mặt. Sau mấy tháng làm
việc và tư vấn cho Việt Nam, đoàn này về nước và không hồi âm gì, ông
Nam kể.
Ông Nam nói rằng, sau đó, Việt Nam mới nhận ra Mỹ chỉ muốn thăm dò
xem nước ta có thực sự muốn xây dựng lại đất nước hay tiếp tục chiến
tranh. Nhân có dòng chữ cuối thư mà phía Mỹ không đề cập chuyện viện trợ
3,25 tỷ USD nữa. Năm 1975, Mỹ cho rằng Việt Nam không thi hành Hiệp
định Paris nên cũng không thực hiện cam kết của họ, trong đó có khoản
bồi thường chiến tranh, ông Nam nói. Những cuộc đàm phán sau đó về bình
thường hóa quan hệ Việt-Mỹ bế tắc vì nhiều vấn đề, trong đó có bồi
thường chiến tranh, MIA… Thời gian đó, Mỹ luôn cho rằng, Việt Nam giữ
lại hài cốt lính Mỹ và giấu tù binh Mỹ.
Từ năm 1977 đến 1978, Việt Nam có ba cuộc thương lượng với Mỹ về bình
thường hóa quan hệ, nhưng đều bế tắc vì hai vấn đề này, ông Nam kể. Sau
đó, các cuộc đàm phán còn bị ảnh hưởng khi Trung Quốc chủ động thúc đẩy
bình thường hóa quan hệ với Mỹ, ông nói. Tổng thống Mỹ Jimmy Carter hồi
đó không chống Việt Nam, nhưng cho rằng thời cơ đến thì bình thường hóa
quan hệ với Trung Quốc trước, sau đó với Việt Nam.
Về vấn đề MIA, Việt Nam đã nỗ lực giải quyết vấn đề tìm kiếm, trao
trả nhiều hài cốt cho Mỹ. Phía Việt Nam phải trải qua nhiều khó khăn,
vất vả, thậm chí thương vong trong quá trình đi tìm hài cốt lính Mỹ. Ông
Nam kể rằng, một người bạn ông làm việc ở Bộ Ngoại giao đã tử nạn khi
có mặt trên chiếc máy bay bị nổ trên đường đi tìm hài cốt Mỹ. Năm 2000,
vợ chồng Tổng thống Mỹ Bill Clinton sang Việt Nam được mời ra tận thực
địa để chứng kiến việc tìm kiếm hài cốt lính Mỹ khó khăn như thế nào.
Ông Nam kể, phía ta nói với phía Mỹ rằng, Việt Nam còn có hàng trăm
nghìn, thậm chí hàng triệu chiến sĩ hy sinh trong chiến tranh chưa nhận
dạng được, chưa biết mồ mả ở đâu; phía Mỹ dần dần hiểu ra rằng Việt Nam
cũng đau lắm. Đến năm 1989, Việt Nam rút hết quân khỏi Campuchia, xóa bỏ
trở ngại cuối cùng trong tiến trình đàm phán. Đại sứ Mỹ lúc đó tuyên bố
sẵn sàng bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Henry Kissinger: Chúng tôi kính phục các ông
Ông Nam nói rằng, trong quá trình đàm phán bình thường hóa quan hệ,
thái độ của phía Việt Nam rất nghiêm túc, biết “đánh đúng chỗ họ cần”,
và được phía Mỹ đánh giá cao. Là người tham gia quá trình đàm phán Hiệp
định Paris, ông Nam kể lại câu chuyện sau 5 năm đàm phán ở Paris, buổi
cuối cùng vào tháng 1/1973, đoàn Việt Nam mời cơm thân mật đoàn Mỹ. Ông
Lê Đức Thọ trong bữa đó đã hỏi ông Henry Kissinger nghĩ sao về đoàn Việt
Nam.
“Không phải là người thân Việt Nam, nhưng Kissinger đã nói rằng,
chuyện các ông chiến đấu oanh liệt là không ai chối cãi. Nhưng nếu các
ông chỉ gan dạ, anh dũng thì chúng tôi cũng dễ đối phó. Nhưng đằng này
các ông còn rất khôn ngoan, mưu lược, nên 5 năm nay chúng tôi phải đấu
với các ông không phải dễ. Chúng tôi rất kính phục các ông”, ông Nam kể.
Sau khi ký Hiệp định Paris, Mỹ vẫn không đồng ý Việt Nam vào Liên Hợp
Quốc, nhưng Tổng thống Nixon nói rằng, Mỹ sẽ không bao giờ xem Việt Nam
là kẻ thù, và trong thời gian chưa bình thường hóa quan hệ, sẽ không
công nhận bất kỳ chính phủ lưu vong nào chống lại chính phủ Việt Nam,
ông Nam cho biết.
Ông Nam cho rằng, Việt Nam và Mỹ từng có không ít cơ hội để có thể
“chơi” với nhau từ rất sớm. Ông kể, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert
McNamara đã tổ chức năm cuộc hội thảo tại Việt Nam và một hội thảo ở Ý
để tìm ra trong quan hệ Việt - Mỹ có cơ hội nào bị bỏ lỡ. Sau khi Việt
Nam độc lập, Bác Hồ gửi thư cho Tổng thống Mỹ Harry Truman.
Chiến tranh Lạnh khi đó chưa đến, và Tổng thống Truman vẫn nói ủng hộ
quyền tự quyết của các dân tộc. Bác Hồ tin tưởng như vậy nên mới gửi
thư cho Tổng thống Truman, nhưng ông này không trả lời, ông Nam kể. Bản
thân ông McNamara ít nhất 7 lần đề nghị chính phủ Mỹ đàm phán, nhưng
cũng bị bỏ qua…
Quan hệ Việt - Mỹ đang phát triển thuận lợi
Trong bức thư gửi Tổng thống Truman ngày 16/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nêu rõ mục tiêu của Việt Nam là “độc lập hoàn toàn và hợp tác
toàn diện với Hoa Kỳ”. Người cũng khẳng định Việt Nam “sẽ làm hết sức
mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn
thế giới”. Thế giới ngày nay đang vận động rất nhanh, đòi hỏi hai nước
không được phép bỏ lỡ những cơ hội lịch sử như những giai đoạn trước,
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh nhận định. Chặng
đường 20 năm qua, nhất là từ khi hai nước xác lập quan hệ Đối tác toàn
diện tháng 7/2013, đã chỉ ra rằng, hòa bình và thịnh vượng ở Đông Nam Á
nói riêng và khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung có nhiều điều
kiện được duy trì hơn khi quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ phát triển thuận
lợi; quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kỳ phù
hợp với lợi ích chung của tất cả các nước trong khu vực, Phó Thủ tướng
khẳng định.
Trúc Quỳnh
Nguồn gốc xung đột Israel - Palestine: Căn nguyên thù hận
(Thethaovanhoa.vn) - Hiếm có cuộc xung đột quốc tế nào lại tạo ra nhiều bế tắc ngoại giao như giữa Israel và Palestine.
Bắt nguồn từ nhiều thập kỷ mâu thuẫn về tôn giáo, biên giới và lãnh
thổ, xung đột giữa người Israel và Palestine đã khiến vô số chính khách,
nhà ngoại giao phải “xắn tay áo” tham gia tiến trình hòa bình để rồi
lại chứng kiến công sức bị đổ sông, đổ biển vào phút chót
Người La Mã đã đặt tên cho Palestine khi họ xâm lược mảnh đất này từ người Do Thái
gần 2.000 năm trước đây. Sau khi người La Mã bị đánh bại, Palestine là
một phần của các đế chế Arab suốt từ thế kỷ thứ 7. Từ năm 1517 - 1920,
Palestine là một phần nhỏ của đế chế Ottoman. Trong Chiến tranh Thế giới
thứ Nhất, quân Anh và Pháp đã đánh bại quân Đức và đế chế Ottoman.
Hội Quốc Liên (tiền thân Liên hợp quốc) đã phải quyết định quốc gia
nào có chủ quyền ở Palestine và các vùng đất rộng lớn mà đế chế Ottoman
từng cai trị. Hội Quốc Liên đã trao hơn 90% lãnh thổ cho các quốc gia
Arab, quyết định Anh và Pháp là quốc gia ủy trị.
Tuy nhiên, có hai bên muốn làm chủ vùng đất Palestine. Các quốc gia
Arab cho rằng vì vùng đất này do người Hồi giáo cai trị hơn một thiên
niên kỷ và dân số đa số là người Arab nên Palestine phải là một phần của
một quốc gia Arab, có thể là Syria.
Trong tuyên bố Balfour năm 1917, chính phủ Anh thì cho rằng
Palestine cần phải là khu vực của người Do Thái vì cho rằng các vương
quốc Do Thái đã trị vì ở nhiều khu vực Palestine trong hơn 1.000 năm và
mảnh đất này, đặc biệt là Jerusalem (thủ đô cổ đại của người Do Thái)
là trung tâm của tôn giáo Do Thái. Họ còn lập luận rằng người Arab có
một số quốc gia với diện tích hàng triệu km vuông rồi trong khi người Do
Thái lại không có quê hương.
Bản đồ chia cắt theo nghị quyết của Liên hợp quốc
Bất chấp tuyên bố của các nước Arab và thực tế là đa số cư dân là
người Arab, Hội Quốc Liên phán quyết Anh là chính phủ ủy trị Palestine
để tạo điều kiện cho người Do Thái định cư ở đó. Các nước Arab và người
dân Arab ở Palestine không chấp nhận quyết định này của Hội Quốc Liên và
từ chối đàm phán về nơi mà họ gọi là mảnh đất Arab, mảnh đất Palestine
này.
Trong khi đó, những năm 1930, người Do Thái bị chế độ phát xít
Hitler khủng bố khắp châu Âu đã dồn dập tràn vào một khu vực ở Palestine
mà họ xác định là quê cha đất tổ theo Kinh Thánh, nay chính là Israel.
Từ đó, thế giới có phong trào phục quốc, kêu gọi những ai là người Do
Thái về đất tổ. Giữa người Do Thái hồi hương và người Palestine ở vùng
đất này liên tục xảy ra tranh chấp đất đai từ đó.
Quyền ủy trị đối với Palestine của người Anh từ năm 1923 đã chấm
dứt. Năm 1947, Liên hợp quốc bỏ phiếu thông qua Nghị quyết 181 về chia
cắt khu vực Palestine thành một nhà nước Do Thái, một nhà nước Arab và
một khu vực quốc tế nhỏ là Jerusalems. Một số quốc gia Arab phản đối ý
định này nhưng kế hoạch vẫn được thực hiện. Người Anh chính thức rút
khỏi Palestine ngày 14/5/1948 và Hội đồng Nhà nước Do Thái tuyên bố
thành lập Nhà nước Israel.
Thù địch nổ ra gần như ngay lập tức sau khi nhà nước Israel được
thành lập. Các nước Arab xung quanh xâm chiến với ý định đè bẹp quốc gia
Israel mới chào đời. Israel thắng cuộc và khẳng định chủ quyền. Tính
đến thời điểm lệnh ngừng bắn được thực thi ngày 7/1/1949, lãnh thổ gốc
của Israel đã tăng 50% khi Israel chiếm phía tây Galilee - một hành lang
rộng xuyên miền trung Palestine tới Jerusalem - và một phần Jerusalem
hiện đại. Biên giới mới được gọi là Đường Xanh (Green Line).
Binh sĩ Israel ăn mừng khi chiếm được bán đảo Sinai của Ai Cập năm 1967
Có tới 750.000 người Palestine phải chạy trốn hoặc buộc phải chạy
trốn khỏi Israel, định cư trong các trại tị nạn gần biên giới Israel.
Tình trạng của số người tị nạn này từ đó đã trở thành một điểm khó giải
quyết trong quan hệ Arab - Israel. Sự kiện người Palestine bị đánh bại
và di cư được gọi là Nakba (thảm họa).
Chaim Weizmann và David Ben-Gurion đã trở thành tổng thống và thủ
tướng đầu tiên của Israel. Chính phủ mới được kết nạp vào Liên hợp quốc
ngày 11/5/1949. Các khu vực còn lại của Palestine bị phân chia giữa
Transjordan (Jordan ngày nay) và Ai Cập.
Jordan sáp nhập Bờ Tây và Ai Cập kiểm soát Dải Gaza. Thông qua một
loạt chính sách xã hội và chính trị, Jordan tìm cách củng cố quyền kiểm
soát tương lai chính trị của người Palestine. Jordan thậm chí còn mở
rộng quyền công dân cho người Palestine năm 1949.
Cuộc đụng độ tiếp theo giữa Israel và các nước láng giềng Arab diễn
ra xảy ra khi Ai Cập quốc hữu hóa kênh đào Suez năm 1856 và cấm tàu
thuyền của Israel. Phối hợp với lực lượng Pháp và Anh, binh sĩ Israel đã
chiếm Dải Gaza, xâm nhập qua Sinao tới bờ đông của kênh đào Suez nhưng
buộc phải rút dưới áp lực của Liên hợp quốc và Mỹ.
Trong cuộc chiến tranh Arab - Israel năm 1967, trong vòng 6 ngày,
Israel đã đánh bại lực lượng quân đội Ai Cập, Syria và Jordan, sáp nhập
các lãnh thổ Đông Jerusalem, cao nguyên Golan, Bờ Tây, Dải Gaza và toàn
bộ bán đảo Sinai, mở rộng lãnh thổ 200%.
Tại sao trận Đồi Thịt Băm trong chiến tranh Việt Nam lại gây chia rẽ trong nội bộ nước Mỹ?
Nhật Huy |
32
Trận Đồi Thịt Băm được xem là một cú sốc lớn đối với quân đội Mỹ trên chiến trường Việt Nam.
Tháng 5/1969, một trận chiến khốc liệt đã diễn ra trong gần
11 ngày giữa lực lượng Mỹ và quân giải phóng miền nam Việt Nam nhằm
giành quyền kiểm soát một ngọn đồi đã đi vào lịch sử với tên gọi trận Đồi Thịt Băm.
Trận chiến này là một phần của Apache Snow - chiến dịch do quân đội Mỹ và quân lực Việt Nam Cộng hòa cùng thực hiện.
Trận
Đồi Thịt Băm đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cuộc chiến của Mỹ
tại Việt Nam. Sau nhiều đợt tấn công với tổn thất nặng nề, lực lượng Mỹ
cuối cùng cũng chiếm được điểm cao 937 (đồi A Bia), vào ngày 20/5,
nhưng phải rút khỏi vị trí này chỉ vài ngày sau đó.
Những tổn thất nhân mạng trong trận chiến do đó bị xem là vô nghĩa và tiếp tục gây ra nhiều tranh cãi kéo dài cho đến nay. Nguồn gốc tên gọi Đồi Thịt Băm
Ngọn
đồi được người Mỹ gắn cho cái tên này do mức độ khốc liệt của giao
tranh tại đây, mà theo mô tả của lính Mỹ là máy xay thịt người.
James Spears, một trung sĩ 19 tuổi tham gia trận chiến, kể lại với các phóng viên: "Các
anh đã từng ở bên trong máy xay thịt chưa? Chúng tôi bị "xay nát" bởi
hỏa lực súng máy rất chính xác." Cái tên "Đồi Thịt Băm" sau đó nhanh
chóng trở nên phổ biến vì có rất nhiều phóng viên chiến trường đổ đến
khu vực này.
Bob Harkins, khi đó là chỉ huy đại đội A, tiểu đoàn 3, trung đoàn 187, giải thích: "Họ
(quân giải phóng) cũng đọc báo Mỹ, và biết về phong trào phản chiến. Họ
biết nếu họ có thể gây thiệt hại nặng cho chúng tôi thì có thể chúng
tôi phải thay đổi chiến thuật. Và ở một mức độ nào đó thì điều đó đã xảy
ra." Thách thức từ địa hình
Đồi Thịt Băm nằm
cách Khe Sanh khoảng 100 km về phía nam, và chỉ cách biên giới với Lào
chưa đầy 2 km, trong thung lũng A Sầu. Theo tài liệu của phía Mỹ, mặc dù
bản thân điểm cao này có rất ít giá trị chiến lược, thung lũng này lại
là nơi diễn ra nhiều cuộc giao tranh ác liệt trong suốt cuộc chiến vì nó
nằm trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại.
Cả thung lũng
và ngọn đồi đều nằm ở vị trí hẻo lánh và được rừng che phủ dày đặc,
khiến công tác trinh sát của Mỹ gặp rất nhiều khó khăn. Họ chủ yếu dựa
vào các báo cáo từ những cuộc tuần tra và thông tin từ những tù binh.
Do
đó, phía Mỹ rất mơ hồ về vị trí đóng quân và quy mô thực sự của lực
lượng quân giải phóng. Thậm chí rất ít binh lính Mỹ tham gia trận chiến
được thông báo trước rằng ngọn đồi chính là mục tiêu của chiến dịch. Dự kiến chỉ vài giờ, trận chiến kéo dài nhiều ngày
Khi
tiểu đoàn 3, thuộc trung đoàn 187 sư đoàn không vận 101, tiếp cận ngọn
đồi vào ngày 10/5, các chỉ huy Mỹ ước tính điểm cao sẽ bị chiếm sau vài
giờ. Nhưng trên thực tế trận chiến kéo dài đến 10 ngày với 12 lần công
kích.
Lực lượng Mỹ thả hơn 1.088 tấn bom, 142 tấn bom napalm, 31.000 viên đạn cỡ 20 ly và 513 tấn hơi cay.
Một
lính Mỹ trực thuộc sư đoàn 101 bị thương và được đồng đội đưa ra ngoài
từ đồi A Bia trong Trận Đồi Thịt Băm tháng 5/1969. Ảnh: AP
"Cảnh
tượng như bề mặt Mặt Trăng vậy. Nó không khác gì chiến trường Mặt trận
phía Tây của Thế chiến thứ 1, tất cả chỉ là một cảnh hoang tàn" - một nhà nghiên cứu lịch sử của Mỹ nhận xét.
Khi
giao tranh kết thúc, 72 lính Mỹ thiệt mạng (một số là do bị đồng đội
bắn nhầm) và hơn 370 bị thương. Theo giáo sư sử học James Wright tại Đại
học Dartmouth thì 4 đại đội của trung đoàn 187 đổ bộ vào ngày đầu tiên
của cuộc chiến có tỷ lệ thương vong từ 50% đến 75%. Nhanh chóng rút lui
Nhưng
chỉ vài ngày sau đó, 5/6/1969, lực lượng Mỹ phải rút khỏi ngọn đồi và
quân giải phóng nhanh chóng chiếm lại vị trí này. Tuy điều này vẫn
thường diễn ra trong cuộc chiến, ông Wright cho rằng quyết định bỏ Đồi
Thịt Băm bị ảnh hưởng một phần bởi trận Khe Sanh đầu năm 1968.
Trong trận chiến đó, lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ đồn trú phải chống đỡ trận vây hãm suốt 77 ngày đêm.
Thương vong của quân Mỹ trong Trận Đồi Thịt Băm là rất lớn. Ảnh: AP
Ông
Harkins cho rằng một lí do chính đằng sau những tranh cãi của trận Đồi
Thịt Băm là công chúng cho rằng người Mỹ đã đổ quá nhiều máu nhưng cuối
cùng vẫn thất bại, phải rút chạy và các toan tính của chỉ huy lực lượng
Mỹ ở chiến trường là rất sai lầm. Trong khi đó, lực lượng Mỹ tham chiến
thì biện hộ rằng mục tiêu của chiến dịch chỉ là tiêu hao sinh lực đối
phương chứ không phải chiếm đóng vị trí. Phản ứng của công luận Mỹ
Vào
20/5, ngày mà lực lượng Mỹ chiếm ngọn đồi, thượng nghị sĩ Edward
Kennedy ra tuyên bố phản đối chiến dịch này. Nhiều chính trị gia và nhà
hoạt động chính trị khác cũng cho rằng máu của người Mỹ đã phải đổ một
cách vô ích.
Đây chính là một bước
ngoặt của cuộc chiến. Trước đó, công chúng chủ yếu chỉ trích khía cạnh
địa chính trị hay tổn thất nhân mạng của binh lính Mỹ. Tiếp đến, họ lên
án thương vong cho dân thường và tính phi nghĩa của cuộc chiến. Sau trận
Đồi Thịt Băm, ngay cả những toan tính chiến thuật và năng lực của các
chỉ huy chiến trường cũng trở thành mục tiêu chỉ trích của công chúng.
Vào thời điểm năm 1969, 4 năm sau khi Mỹ trực tiếp tham chiến trên quy mô lớn Việt Nam, người Mỹ đã quá mệt mỏi với cuộc chiến.
Hơn 30.000 lính Mỹ đã thiệt mạng trong thời gian này và phong trào phản chiến đã lớn hơn bao giờ hết.
Đồi Thịt Băm là một cú sốc lớn với người Mỹ.
Trực thăng y tế sơ tán lính dù Mỹ bị thương trong Trận Đồi Thịt Băm. Ảnh: Getty Images
Tác động đến chiến lược của Mỹ tại Việt Nam
Ngay
sau trận Đồi Thịt Băm, Mỹ bắt đầu thay đổi chiến lược. Lầu Năm Góc hạn
chế tối đa vai trò của lực lượng Mỹ trong các chiến dịch, cho dù gặp sự
phản đối của nhiều chỉ huy cấp cao.
Vào ngày 8/6, chưa đầy 3 tuần
sau khi trận chiến kết thúc, tổng thống Nixon công bố chiến lược Việt
Nam hóa chiến tranh (vốn đã được bắt đầu lên kế hoạch từ trước trận Đồi
Thịt Băm). Từ sau đó, quân đội Việt Nam Cộng hòa sẽ gánh vác trách nhiệm
chính trong các chiến dịch và quân đội Mỹ sẽ bắt đầu triệt thoái.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét