Chuyển đến nội dung chính

CHUYỆN KỂ RÕ NHẤT VỀ WW II 106/9

DANH NGÔN VỀ CHIẾN TRANH:
- Bản năng cao nhất của con người là cố gắng sống còn. Con người bỗng dưng đi vào cuộc chiến thì người đó hoặc bị cưỡng bức, hoặc là tự nguyện. Cả hai trường hợp đều trái với mệnh lệnh của tự nhiên và đều đáng thương, vì xét đến tận cùng lý luận thì các khái niệm chính nghĩa, phi nghĩa, dũng cảm, hèn nhát, cao đẹp, thấp hèn,...đều chỉ có tính tương đối,tùy thuộc vào người đánh giá và qui ước ở bên phe nào trong hai phe. Thử hỏi, suốt chiều dài lịch sử loài người kể từ khi có chiến tranh, loài người gặt hái được thành tựu gì từ nó ngoài năng lực phá hoại, tàn sát!?
-“Được làm vua thua làm giặc. Nhà vua chỉ là tên giặc thắng trận” 
                                                                                       (Lý Chánh Trung ‘Cách mạng và đạo đức’). 
-“Ôi, người ơi, người đừng tìm tác giả của tội ác nữa, tác giả là người đấy. Tội ác người làm hay tội ác người chịu, cả hai đều do người cả”. 
                                                              (Jean-Jacques Rousseau)
- “Một nhân loại không còn tranh chấp là một nhân loại ngái ngủ”.
                                                                                                                (Lý Chánh Trung) 
-“Chúng ta hãy tàn ác. Nếu cứu được nước Đức, chúng ta phải thực hiện một nghĩa cử cao đẹp nhất thế giới . Chúng ta hãy làm quấy. Nếu cứu được nước Đức, chúng ta đã diệt trừ một việc quấy nhất thế giới. Chúng ta hãy vô luân. Nếu cứu được nước Đức, chúng ta đã mở ra con đường phục hồi đạo ".                                               (Hitler, Mein Kamf, tr.686). 
-“Đối với những quốc gia đang trở nên yếu kém và bị khinh thị thì chiến tranh có thể được coi như một liều thuốc, thật vậy, nếu các quốc gia ấy muốn tiếp tục sống còn... Đàn ông phải được huấn luyện cho chiến tranh, đàn bà thì cho sự tiêu khiển của các chiến sĩ, còn ngoài ra tất cả chỉ là điên rồ... Bạn cho rằng chính nghĩa thánh hoá các cuộc chiến tranh? Không! Tôi cho rằng một cuộc chiến tranh tốt thánh hoá bất cứ chính nghĩa nào."                                                                                   (Friedrich Nietzsche)

---------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
 
World War II in HD Colour tập 9




Nguồn gốc của chiến tranh

Hoàng LanTia Sáng (2006)
03:46' CH - Thứ sáu, 22/04/2016

Tại sao con người lại gây ra chiến tranh? Đúng hơn là tại sao con người luôn gây ra chiến tranh? Phát hiện những dấu vết cổ nhất về chiến tranh trong khảo cổ và phân tích nhân chủng học có thể giúp chúng ta hiếu rõ hơn về các cuộc giao tranh thời hiện đại.
Chiến tranh, theo các nhà các nhà nhân chủng học là một dạng bạo lực thường gây ra chết chóc giữa hai nhóm (người), bất kể quy mô của nhóm người đó ra sao và số lượng nạn nhân là thế nào. Nhưng trong chừng mực nào đó, một định nghĩa rộng như chiến tranh, hay nói chính xác hơn là các trường hợp xung đột xã hội cua con người nguyên thủy liệu có soi sáng được nguồn gốc và các hậu quả của các cuộc chiến tranh hiện đại như đã từng xảy ra ở Kosovo, Irắc, Rwanda, Việt Nam và Triều Tiên? Cách đây khoảng 30 năm, các nhà nhân chủng học nghiên cứu về chiến tranh đã từng có lần tụ họp lại trong một căn phòng nhỏ và tranh luận hăng say về chiến tranh. Giờ đã khác. Thời thế thay đổi và nghiên cứu nhân chủng học về chiến tranh đã được tiến hành sâu hơn và chín muồi hơn. Người ta thấy xuất hiện trên báo chí chuyên ngành chính trị cũng như các phương tiện thông tin đại chúng những vấn đề trước kia tưởng chỉ có các nhà chuyên môn quan tâm.
Chiến tranh đến từ đâu?
Vậy thì nguồn gốc chiến tranh từ đâu mà ra? Liệu nó có phải là một trong những điều kiện gắn liền với cuộc sống của con nguời? Thí dụ về Yanomami, một bộ lạc thổ dân da đỏ ChâuMỹ (Anh-Điêng) sống ở khu vực Venezuela và Braxin là một minh chứng điển hình.
Năm 1968, ngay sau khi được công bố thì cuốn sách của Napoleon A.Chagnon dưới tựa đề Yanomamo: The Fierce People (Yanomamo: Dân tộc tự cường) đã trở thành một tài liệu được trích dẫn nhiều nhất trong ngành nhân chủng học. Đối với hầu hết các sinh viên trong lĩnh vực này thì đây được coi là cuốn sách nhập môn duy nhất. Luôn bị cuốn vào các cuộc chiến tranh vì các lý do như phụ nữ, uy tín và các cuộc cãi cọ giữa các dòng tộc, người Yanomami được coi như phiên mẫu của người nguyên thuỷ. Mở rộng lĩnh vực nghiên cứu ra hơn nữa, Chagnon khiến người đọc nghĩ rằng cái hung tợn của con người là do gen gây ra: đây là một phát hiện gây chấn động, kể cả khi phát hiện này là đúng.
Trong năm 1974, nhà nhân chủng học MarvinHarris đã đưa ra một cách nhìn khác. Chiến tranh ở người Yanomamitheo ông là câu trả lời phù hợp đối với một dân tộc phải đối mặt với sự cạn kiệt về các nguồn lương thực, đặc biệt là hết nguồn thú săn. Tuy nhiên, giả thiết đã không đứng vững trước một nghiên cứu khắc sâu hơn về sinh thái của người Yanomami.
Năm 1995, R. Brian Ferguson, Giáo sư nhân chủng học của Đại học Rutgers (Mỹ) miêu tả những người Yanomami đã phải đối đầu với các đợt săn đuổi của người Châu Âu từ thế kỷ XVIII. Theo ông, các cuộc chiến tranh do bộ tộc này gây ra thường gắn liền với những thay đổi do những người ChâuÂu mang tới. Các cuộc xung đột vũ trang gần đây nhất cũng xuất phát từ mối đe dọa mất quyền tiếp cận với các dụng cụ sản xuất bằng sắt và các phương tiện sản xuất khác do người Phương Tây mang tới.
Những mâu thuẫn sâu sắc xuất hiện trong giới khoa học. Những sự tranh cãi dường như bớt ồn ào hơn và chỉ tập trong trong lĩnh vực học thuật khi cuốn sách Darkness in Eldorado: How Scientists and Journalists Devastated the Amazon (Màn đêm Edorado: các nhà khoa học và nhà báo đã tàn phá Amazon thế nào?) được xuất bản vào năm 2000. Cuốn sách này do một nhà báo viết là lời luận tội chống lại Chagnon, kết án cả cái nguồn gốc của chiến tranh mà ông này đưa ra. Các cuộc bút chiến lại tiếp tục giữa các nhà nhân chủng học: những người bảo vệ Chagnon và những người chồng ông này công kích nhau không thương tiếc. Nhiều nhà khoa học nghĩ rằng chính những người truyền giáo là thủ phạm lớn nhất. Kết cục của thời kỳ này là chẳng ai có thể tự nhận là mình hiểu được các cuộc chiến tranh của người Yanomami mà không phải tính đến lịch sử cực kỳ phức tạp của tộc người này.
Ngoài trường hợp đặc biệt của Yanomami, thì dường như tất cả mọi nơi trên thế giới, cái mà người ta gọi là chiến tranh nguyên thủy hay chiến tranh bản địa thường biến đổi, ác liệt hơn và đôi khi nhanh chóng hơn khi tiếp xúc với người phương Tây. Một loạt các nghiên cứu lịch sử của BrianFerguson và NeilL.Whitehead (ĐH Wisconsin-madison) đã kết luận rằng những thay đổi về tính chất chiến tranh như vậy đều đã xảy ra trước khi các nhà dân tộc học bước chân tới những vùng dân tộc hẻo lánh. Chiến tranh bản địa được miêu tả qua hàng thế kỷ gần đây không thể được coi là điển hình cho chiến tranh thời tiền sử. Những phát hiện khảo cổ học đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn vấn đề.
Năm 1996, để trả lời câu hỏi này, LawrcnceH.Kecley, nhà khảo cổ học của Đại học lllinois đã xuất bản cuốn sách: War before Civihza-tion ( Chiến tranh trước thời Văn minh). Bằng cách thu thập một số trường hợp bạo lực tiêu biểu, Keeley dường như chứng tỏ rằng con người luôn luôn gây ra chiến tranh. Điều này cũng được ông tuyên bố trong Tạp chí Nature: chiến tranh cũng giống như thương mại và những trao đổi. Đó là những thứ mà con người tạo ra.
Chiến tranh hiện đại
Mới đây hơn, Stcven A.Leblanc, nhà khảo cổ thuộc Đại học Harvard chứng tỏ rằng tại những nơi còn tồn tại các dấu tích khảo cổ, chiến tranh liên tục xảy ra và hầu như thời nào cũng có chiến tranh. Leblanc đã phát triển một lý thuyết để chứng tỏ kết luận nói trên. Ông cho rằng người tiền sử không hề biết đến việc bảo vệ nguồn lợi thiên nhiên, họ lãng phí các nguồn tài nguyên trong khi dân số gia tăng, họ thiếu thức ăn và điều này dân tới chiến tranh: đây là quan điểm của nhà kinh tế học Malthus. Về phần mình, BrianFurguson cho rằng cần phải xem xét kỹ những bằng chứng khảo cổ lâu đời nhất để có thể đưa ra được nguyên nhân logic của chiến tranh. Mặc dù vẫn đang trong quá trình nghiên cứu những nhận xét đầu tiên của BrianFerguson là phản đối ý kiến cho rằng chiến tranh là một trong các đặc tính trong sự tồn tại của loài người. Ngược lại, nhũng khám phá khảo cổ mới đây đã cho thấy rằng chiến tranh đã từng là một hiện tượng phổ biến cách đây tới cả 10.000 năm.
Bằng chứng hiển nhiên nhất của chiến tranh được khảo cổ chứng minh là một nghĩa trang tập thể dọc theo bờ sông Nit, khu vục Sudan. Được biết dưới cái tên Site 117 (địa điểm 117), nghĩa trang này đã được xác định là có tới 12.000 - 14.000 tuổi. Có 59 bộ xương được bảo quản cẩn thận trong nghĩa trang trong đó 24 bộ xương có các dấu vết bị thương do đá (vũ khí của thời đó). Cần chú ý một chi tiết là thời kỳ này trùng lặp với một thời kỳ khủng hoảng sinh thái: nước thượng nguồn tăng nhanh khiến lòng sông đã biến thành một lũng sâu. Đồng bằng bị nước ngập và sau đó lại bị hạn hán khiến dân cư bị mất nguồn lương thực. Bên ngoài Site 117, kiểm tra kỹ càng khoảng 100 bộ xương thì chỉ khoảng một tá bộ xương người Homo sapiens độ tuổi khoảng hơn 10.000 năm có những dấu hiệu bạo lực giữa người với người.
Nguồn cơn của các trận chiến
Phía Bắc của nước Úc, những dấu vết khác trên đá có tuổi hơn 10.000 năm cho thấy hình của các cuộc chiến tay đôi giữa hai người hoặc hai nhóm nhỏ người. Chiến tranh, nếu tính cả các cuộc đối đầu giữa hai nhóm người đã xuất hiện cách đây khoảng 6.000 năm. Các biến đổi khí hậu đã khiến mực nước biển dâng cao và nhấn chìm dần dần bình nguyên rộng lớn nối liền Úc với TânGhinê.
Vùng Cận Đông cũng có một vài bằng chứng về các cuộc chiến giữa các tộc người vốn rất hòa bình. Nhiều dấu vết được phát hiện ở người hái lượm Natofien, những người sống ở khu vực Israel, Uban, Cận Jordania, Syria, ngày nay nhưng cách đây khoảng 12.800 -10.500 năm. Chỉ có hai trong số 370 bộ xương được kiểm tra cho thấy những dấu hiệu của đánh đập. Những bức tường Jericho đầu tiên (10.500 - 9.300 tuổi) thường được người ta trích dẫn như là bằng chứng về nguồn gốc của chiến tranh nhưng thực tế giờ đã được chứng minh có tác dụng như những con đê chống lụt. Một điều kỳ cục là các bằng chứng mới đây cho rằng cuộc chiến tranh kéo dài bất tận cách đây khoảng 10.000 năm lại bắt đầu từ khu vực Bắc của Irăc hiện nay. Ba khu vực nông nghiệp trong đó cổ nhát là QennezDere lại có đầy dấu vết của những cái chùy, mũi tên với các bộ xương và ngôi nhà kiên cố. Như vậy với các bằng chứng này thì đây có thể được coi là nơi khởi nguồn của chiến tranh.
Các dấu hiệu chiến tranh cách đây khoảng 8.000 năm dọc theo các con đường núi cao ở Thổ Nhĩ Kỳ. Dọc theo sườn núi Anatolien, người ta khai quật được các bàng chứng khảo cổ của cả một ngôi làng được bao bọc bởi một tưởng thành ở Icel. Được xây dựng cách đây 6.300 năm rồi bị tàn phá, ngôi làng được xây dựng bới một nền văn hóa hoàn toàn khác biệt. Dọctheo dòng sông Nit, trong khu vực hiện giờ là Ai Cập, dòng sông đã làm sụt lở các tầng địa chất vào thời điểm cách đây hơn 6.300 năm. Nhưng kể từ thời điểm trên, người ta lại thấy những cái chùy tương tự như đã tìm thấy ở Mesopotamie. Lên tiếp trên thượng nguồn, gần khu vực Khartoum, người ta cũng thấy những chiếc chùy có tuổi còn nhiều hơn 2.000 năm, trước cả thời kỳ xuất hiện nông nghiệp. TạiTrungÁ, ở phía Đông biên Caspie, tại các địa điểm còn lại dấu vết của các trại người hái lượm và những khu vực nông nghiệp đầu tiên, người ta không hề thấy có bất cứ dấu hiệu nào của chiến tranh. Nhưng những nơi này có độ tuổi khoảng 5.000 năm. Tại các vùng thượng Pakistan, những người trồng trọt đã bắt đầu xây dựng các bức tường cách đây ít nhất khoảng 6.000 năm.
TạiTrungQuốc, dù cho các cây kê được trồng cách đây hơn 8.000 năm nhưng những dấu hiệu của chiến tranh chỉ có sau đó khoảng 1.000 năm. Cách đây khoảng 7.000 năm, trong một các tang vân hóa thời đồ đá mới của khu vực này, các đường hào sâu đã được đào xung quanh làng, thậm chí có đoạn bên trên bờ hào có cả các phên dậu. KhápTrungQuốc người ta không tìm thấy dấu vết của bạo lực thời kỳ 4.600 năm về trước ngoại trừ một bộ xương có vết đinh cắm ở xương đùi. Tiếptheo đó, những bức tường đất và những dấu hiệu khác đã chứng tỏ bắt đầu có các cuộc xung đột trong lịch sử TrungQuốc. Trong một cái giếng làng, người ta thấy chất đầy các bộ xương mất đầu hoặc đầu có dấu hiệu bị lột da trước khi chết. Tại Nhật, người ta tìm thẩy dấu hiệu của thâm canh nông nghiệp với sự xuất hiện của người di cư từ lục địa tới cách đây khoảng 2.300 năm. Trong số 5.000 bộ xương được các nhà khảo cổ đào được người ta chỉ thấy có 10 bộ có dấu hiệu của bạo lực gây ra tử vong. Ngược lại trong số khoảng 1.000 bộ xương vào sau thời kỳ di trú thì đã thấy có khoảng 100 bộ xương có các dấu vết của bạo lực.
ChâuÂu và ChâuMỹ
TạiChâuÂu, không có bất cứ bằng chứng xác thực nào của xung đột trong thời kỳ đồ đá cũ dù rằng nhiều nhà khảo cổ vẫn nghĩ ngược lại. Tuy nhiên, cách đây khoảng 10.500 năm, khi dân số nông nghiệp định cư bắt đầu tăng lên, tại nhiều địa điểm người ta đã tìm thấy dấu hiệu của bạo lực cá nhân và cũng có những dấu hiệu của bạo lực tập thể. Trong thời kỳ này, những dấu hiệu bạo lực cũng được tìm thấy tại một số các địa điểm khai quật khác. Bắt đầu cách đây từ 6.500 năm, tại các địa điểm trước kia là đường hào người ta tìm thấy các bộ xương với những vết thủng hình tròn, cũng có nhiều dấu hiệu của các đợt tàn sát tập thể cả ngôi làng. Vào thời kỳ đồ đồng, 2.000 năm sau đó, chiến tranh và quân đội đã thực sự là đối tượng của việc thờ cúng.
VùngBắcMỹ có tình hình rối rắm và phức tạp hơn theo từng khu vực khác nhau. Người Kennewick, bộ xương được tìmthấy tại bang Wash-inglon có tuổi khoảng 7.500 - 9.200 năm có dấu hiệu vết thương ở vùng xương chậu. Nhưng đây chỉ là một trường hợp cá biệt. Tại vùng biền Thái Bình Dương, phía Đông Bắc, người ta tìm thấy các dấu vết đánh đập trên các bộ xuống còn sót lại, trong khi những dấu hiệu của xung đột bắt đầu xuất hiện cách đây 4000 năm trong các khu vực phía Bắc trong khi ở phía Nam, những dấu hiệu tương tự chỉ xuất hiện vài trăm năm sau đó. Nhiều bộ xương đã được tìm thấy trong những khu rừng cỏ phía Tây chứng tỏ rằng đã có những dấu hiệu của bạo lực. Trong một số trường hợp, thí dụ như tại một địa điềm ở bang Florida thời điểm cách đây khoảng 7.000 năm, nhiều cá nhân đã liên quan tới các đụng độ bạo lực. Nhưng những khám phá đặc biệt lại thuộc về thời cách đây khoảng 5.000 năm. Tại khu vục Đồng bằng lớn ở phía Nam, trong số 173 bộ xương có tuổi khoảng hơn 2.500 năm, chỉ có một bộ xương có dấu hiệu của sự giết người: một người đàn bà bị đập hai lần vào đầu. Những dấu vết chiến tranh không thể chối cãi được tại khu vực Đông Bắc cách đây ít nhất khoảng 2.000 năm đặc biệt ấn tượng. Gần như 2/3 thậm chí hầu như tất cả trong số 90 xác chết chôn tại một hang động ở phía Nam băng Utah đều đã bị giết chết.
Một bài báo mới đây nói về địa điểm Oaxaca ở Mêhicô đã khẳng định một cách hùng hồn nguồn gốc của chiến tranh. Tóm lại, nếu chiến tranh là chuyện khá phổ biến thời kỳ tiền sử thì vô vàn nhùng di tích khảo cỏ được tìm thấy phải chứa những dấu vết về nó. Nhưng chúng lại hầu nhu chằng có gì nhiều. Chúng ta đang gặp một trường hợp trong đó "sự vắng mặt của bàng chứng không có nghĩa là có bằng chứng ngoại phạm".
Nhưng tại sao các dân tộc yên lành trong quá khứ lại bỗng trở thành những xã hội đầy bạo lực. Những nguyên nhân chính xác dường như ít thấy hiển hiện nhưng theoBrianFugcrson thì có 5 điều kiện tiên quyết liên quan tới việc xuất hiện chiến tranh thời tiền sử. Một trong số đó là giai đoạn chuyển từ phong tục di cư thành định cư không hoàn toàn gắn với nông nghiệp. Thực ra khi một bộ phận dân cư cảm thấy phù hợp với một khu vục nào đó và thấy ở đó có các nguồn cung cáp lương thực thì họ thường ít phải trải qua những thời kỳ khốn khó.
Một điều kiện tiên quyết khác là sự tăng trưởng nhanh chóng trong nội bộ của một bộ phận dân cư dẫn tới việc cạnh tranh nhau để tiếp cận với nguồn tài nguyên. Tiếp đến là sự phát triển về mặt trật tụ xã hội, một tầng lớp tinh túy xuất hiện cùng với những địch thủ cạnh tranh. Rồi là sự gia tăng thương mại từ xa đến, đặc biệt là việc buôn bán các đồ vật có giá trị: những thứ đáng phải tranh giành nhau. Cuối cùng, việc chiến tranh bắt đầu hoặc gia tăng cường độ chiến tranh thường liên quan tới một thời kỳ biến động lớn về khí hậu khiến các điều kiện cung cấp những vật phàm thiết yếu cho cuộc sống con người bị thay đổi.
Quan hệ phụ thuộc
RaytnondC.Kelly, nhà nhân chủng học thuộc Đại học Michigan cùng đã đưa ra một cách xác định nguyên nhân của chiến tranh. Theo ông, một trong những nguyên nhân của chiến tranh có liên quan tới hiện thực của xã hội. Bàng việc phân tích các ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau để so sánh thực tế xã hội của những người hái lượm có chiến tranh với nhũng người cùng thời nhưng sống hòa bình, ông đã nhận thấy rằng trong một vài trường hợp của các xã hội người hái lượm thanh bình, các tổ chức xã hội không vượt quá phạm vi của họ hàng và một hệ thống lỏng lẻo nhưng lại khá linh hoạt. Ngược lại, các xã hội có chiến tranh thường là tập hợp của các tập thể lớn và được xác định như kiểu các phường hội. Sự tồn tại cua các nhóm người tập trung này dẫn tới việc xuất hiện khái niệm lăng mạ tập thể và mong muốn thay thế tập thể.
Trải qua hàng nghìn năm, chiến tranh giữa các bộ tộc trở thành chuyện thường tình chứ không phải là cá biệt. Khi các điều kiện cho chiến tranh đã trở nên chín mùi thì phần lớn nhất của một dân tộc trong những vùng rộng lớn nhát bỏ đi nơi khác. Sự phát triển này đã phát triển cái ý tưởng gây chiến tranh đối với những nhóm người khác. Thí dụ các Nhà nước cổ sử dụng nhũng kẻ "mọi rợ" ở các khu vực ngoại vi đề mỏ rộng vương quốc của mình và đàm bảo an toàn cho hệ thống thương mại của họ. Cuối cùng, việc bành trướng của người Châu Âu từ sau năm 1492 đã khiến những người bản địa đứng dậy đánh lẫn nhau vì chủ quyền lãnh thổ của họ, bảo vệ những nô lệ và ảnh hưởng thuộc địa của mình. Những nhóm người tị nạn buộc phải trở về nước của họ, những đồ vật chế tạo được đưa vào và các lý do mới của chiến tranh lại xuất hiện (như trong trường họp của người Yanomami). Chính việc phổ biến vũ khí của người ChâuÂu đã khiến các cuộc giao tranh trở nên đẫm máu hơn bao giờ hết.
Khi bắt đầu nghiên cứu về chiến tranh giữa những năm 1960, Ferguson đã bị ảnh hưởng của tư tưởng có tên là văn hóa sinh học mà người hậu duệ hiện văn đang báo vệ cho tư tưởng này là StevenLeblanc. Áp lực của dân số lên các nguồn cung cấp lương thực (đất đai, thú săn, thú nuôi) trong quá khứ luôn được coi là nguyên nhân của các cuộc chiến tranh giữa các bộ lạc. Trong vài trường hợp, thuyết này tỏ ra đúng. Thí dụ như ở những dân tộc sống dọc theo bờ biển Tây Bắc Thái Bình Dương chẳng hạn. Trước khi dân số của các tộc người này giảm đi vào thế kỷ XIX, nhũng cuộc giao tranh dữ dội đã diễn ra để giành quyền tiếp cận tới các nguồn lương thực cơ bản như các cửa sông nơi có các đàn cá hồi sinh sống. Tuy nhiên, chiến tranh tại nhiều khu vực khác của trái đất không phải hoàn toàn bát nguồn từ lý do lương thực.
Ngày nay, thuyết này được nhiều chuyên gia sử dụng lại dưới cái tên "an toàn môi trường". Họ giải thích những lý do gây bạo động thời gian gần đây lý do sự khan hiếm các nguồn lương thực gây ra bởi dân số tăng và môi trường bị hủy hoại. Nhưng khi xem xét một số các trường họp xung đột thời gian gần đây ở Chiapas (Mêhicô) hay ở Rwanda, các nhà nghiên cứu lại không ủng hộ thuyết "sinh học" này. Các nhà nhân chủng học lại khám phá ra rằng nếu một nhóm dân nào đó thiếu các nguồn lực cơ bản thì nguyên nhân chính lại là việc phân chia không công bằng các tài nguyên ngay trong nội bộ của xã hội đó. Đây là một nguyên nhân chính trị và kinh tế chứ không phải là do dân số gia tăng về mặt cơ học và các nguồn lương thực thiếu thốn. Ngành nhân chủng học có thể đưa ra một cái nhìn hoàn toàn khác về các thảm họa diệt chủng ở Rwanda hay các cuộc nội chiến tại các nước Balcan. Nghiên cứu các xung đột hiện đại cho thấy các nguyên nhân chiến tranh khá đa dạng: do nhu cầu lương thực, do quan hệ sinh học khu vực thay đổi, do đấu tranh giành quyền lực giữa các chính phủ hay trong một nước hoặc các nguyên nhân khác như tôn giáo và sắc tộc.
Quyền lợi của các nguyên thủ
Vả lại, các thòi kỳ khủng hoảng được nhìn nhận khác nhau theo từng nhóm người khác nhau. Các quyết định liên quan tơi nhận thức và quyền lợi của mỗi người khác nhau. Thông thường thì việc nhìn nhận một sự việc gắn bó chặt chẽ với quyền lợi của người xem xét vấn đề. Khi một cuộc xung đột xảy ra và các cuộc tàn sát bắt đầu thì các sắc thái nguyên nhân chiến tranh biện mất. Số phận của một người được quyết định đơn giản bởi tôn giáo, dân tộc hay bộ tộc mà người đó tham gia. Cuộc tàn sát những người Tutsi trong đợt diệt chủng ở Rwanda vào năm 1994 là một ví dụ điển hình. Nhưng những khác biệt này không phải là nguyên nhân của xung đột.
TheoR.BrianFerguson, trong nhiều trường hợp (không phải tất cả), quyết định chiến tranh liên quan tới việc theo đuổi quyền lợi riêng của chính những người đưa ra quyết định. Một xung đột có thể liên quan tới các vấn đề lương thực cơ bản nhưng nó cũng có thể nổ ra khi quyền tiếp cận tới nguồn lương thực chỉ được giành riêng cho một nhóm người tinh hoa nào đó. Quyết định chiến tranh còn phụ thuộc vào tính toán hơn thiệt giữa giá phải trả của cuộc chiến với các nguy co tiềm tàng sau đó có đe dọa không chỉ mạng sóng mà cả tài sản của những người tham gia cuộc chiến. Nói một cách nào đó cụ thể hơn thì quyết định liên quan tới vị trí trong bảng thứ hạng chính trị nội bộ: các "đại gia" của Tân Tây Lan là các hoàng thân và tổng thống, các nhà lãnh đạo thường ủng hộ chiến tranh vì chiến tranh tạo điều kiện trở lại cho các lãnh đạo. Tất nhiên, nhưng người muốn thúc đầy chiến tranh không bao giờ đưa ra quyết định bởi chính quyền lợi của mình. Thường điều này liên quan tới mối hiểm nguy và lợi ích của một tập thể. Những người ủng hộ chiến tranh thường luôn đưa ra những giá trị cao cả cần phái bảo vệ, sự cần thiết phải chống trả lại những hành động qủy quái, bảo vệ tôn giáo chính thống hay ủng hộ dân chủ. Chính bằng những lá bài này mà họ tranh thủ được những kẻ còn chần chừ và tạo ra được một quyết tâm đầy cảm tính.
Hành trình của chiến tranh không chỉ, thậm chí không hoàn toàn bởi các mưu mô bị ổi. Cùng có thể nó được tạo ra bởi như cầu tự điều chỉnh về lương thực của con người. Những người tuyên bố chiến tranh bao giờ cũng tin rằng lý lẽ và sự lựa chọn của mình là đúng. Đó chính là khả năng đã biến con người thành một giống loài hết sức nguy hiểm.



Nước - nguồn gốc của chiến tranh và hòa bình

19:30 | 10/05/2016

Khan hiếm nguồn nước là nguyên nhân của nhiều cuộc chiến và quản lý tốt nguồn nước có thể là lực đẩy cho sự phát triển.





Ước tính 330 triệu người, 1/4 dân số Ấn Độ, đang bị ảnh hưởng bởi hạn hán nghiêm trọng trong nhiều năm qua.
Trong khi đó, Ethiopia cũng đang đối phó với hạn hán tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ khiến nhiều vụ mùa thất bát, dẫn đến tình trạng thiếu lương thực và ảnh hưởng đến khoảng 1/10 dân số.
Nguy cơ xung đột
Trong quá khứ, hạn hán nghiêm trọng đã dẫn đến xung đột và thậm chí cả các cuộc chiến tranh giữa các cộng đồng gần nhau hoặc giữa các quốc gia láng giềng. Sử sách ghi lại, một trong những cuộc chiến liên quan đến nguồn nước lần đầu tiên xảy ra khoảng 4.500 năm trước đây, khi đất nước Lagash - nằm giữa sông Tigris và Euphrates ở Iraq ngày nay – tranh chấp nguồn nước với quốc gia láng giềng Umma. Cạnh tranh về nguồn nước cũng gây ra các vụ bạo động ở Trung Quốc cổ đại và bất ổn chính trị tại Ai Cập thời đại các vua Pharaon.
Ngày nay, cuộc chiến thực sự giữa các quốc gia về tài nguyên nước không phổ biến do có các cuộc đối thoại và hợp tác xuyên biên giới được cải thiện. Tuy nhiên, cạnh tranh về nguồn nước giữa các cộng đồng trong một quốc gia lại xảy ra nhiều hơn. Báo cáo mới đây của Ngân hàng thế giới (WB) về mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu tới nguồn nước và phát triển kinh tế chỉ ra rằng, nguồn nước khan hiếm hoặc không ổn định làm giảm tăng trưởng kinh tế, dẫn đến phong trào di cư và nguyên nhân của nhiều vụ xung đột hay nội chiến.
Chu trình này đã xảy ra ở một số khu vực trong nhiều thập kỷ. Chẳng hạn như ở tiểu vùng Sahara châu Phi, thời kỳ khô hạn trong vòng 20 năm qua dẫn đến bạo lực, nội chiến và thay đổi chế độ. Tại nhiều vùng nông thôn ở châu Phi và Ấn Độ, lượng mưa suy giảm đã trở thành nhân tố thúc đẩy các cuộc di cư trong nội địa hoặc xuyên biên giới, đến những nơi nguồn nước dồi dào hơn. Những người di cư này thường đổ về thành phố và tạo áp lực cho cơ sở hạ tầng và các dịch vụ ở đô thị.
Tuy nhiên, các quốc gia hoàn toàn có thể tránh khỏi cảnh nghèo đói, thiếu thốn và xung đột nếu cùng hành động ngay lúc này để thực hiện chính sách nước quản lý hiệu quả và thực tiễn. Làm được như vậy, các quốc gia không những hạn chế được những tác động xấu do tình trạng hạn hán mà còn đạt tỷ lệ tăng trưởng kinh tế khoảng 6% mỗi năm.
Thông điệp từ Morocco
Một đất nước khan hiếm nước đã hành động để cải thiện những tác động của biến đổi khí hậu tới nguồn nước, đó là Morocco. Trong những năm có lượng mưa thấp, quan chức địa phương những vùng gần lưu vực sông Morocco dành ưu tiên thấp cho nước dùng trong nông nghiệp và đặt ưu tiên cao cho nhu cầu nước sinh hoạt của người dân. Bên cạnh đó, chính phủ nước này đã đầu tư hiện đại hóa cơ sở hạ tầng thủy lợi để cung cấp cho nông dân các dịch vụ nước hiệu quả hơn.
nuoc nguon goc cua chien tranh va hoa binh
Một nông dân Morocco đang bắt đầu vụ mùa mới trong điều kiện khan hiếm nước. Nguồn: USAID
Các nhà chức trách Morocco cũng đang nỗ lực cải thiện quản trị nguồn nước ngầm, tránh khai thác quá mức. Người dân làm nông nghiệp sử dụng nguồn nước mưa sẽ được hỗ trợ các kỹ năng để tận dụng tốt hơn lượng mưa, chẳng hạn như kỹ năng gieo hạt trực tiếp. Kết quả không ngờ là sản lượng của các vụ mùa còn cao hơn so với phương pháp sản xuất truyền thống trong những năm khô hạn tương tự.
Từ kinh nghiệm của Morocco, cũng như báo cáo của WB, với các chính sách và biện pháp can thiệp tới nguồn nước một cách thông minh, các quốc gia có thể yên tâm về nguồn nước của quốc gia mình.
Tất nhiên, không phải mọi quốc gia sẽ đi theo con đường của Morocco trong các chính sách về đảm bảo nguồn nước, nhưng thông qua mô hình của Morocco, các nước có thể nảy sinh các ý tưởng sáng tạo, cũng như các bài học kinh nghiệm.





Âm mưu thủ đoạn chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ?

1.Khái niệm chiến tranh đặc biệt là gì?

Chiến tranh đặc biệt là một hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới, được tiến hành bằng quân đội tay sai, dưới sự chỉ huy của hệ thống “cố vấn” Mỹ, dựa vào vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh của Mỹ, nhằm chống lại các lực lượng cách mạng và nhân dân ta.

2.Âm mưu của Mỹ

Âm mưu cơ bản của Mỹ trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” là “dùng người Việt đánh người Việt”
chien-luoc-chien-tranh-dac-biet-cua-my-o-viet-nam-la-gi-hinh-anh

3.Thủ đoạn trong chiến lược Chiến tranh đặc biệt của Mỹ

Tăng nhanh viện trợ cho Diệm, năm 1961 là 500 triệu USD, 1964 là 626 triệu USD.
Đưa vào miền Nam một số lượng lớn “cố vấn” quân sự và trang bị chiến tranh. Năm 1960: 1100 người; cuối 1962: 11.000 người; cuối 1964: 26.000 người và thành lập Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (MACV) ở Sài Gòn 8/2/1962 do tướng Hac-kin cầm đầu.
Phát triển lực lượng quân ngụy trang bằng cách bắt lính. Năm 1961 là 170.000 tên, đến 1964 là 560.000 tên với đầy đủ các binh chủng và các phương tiện chiến tranh hiện đại như: máy bay, xe lội nước M113 thực hiện chiến thuật “trực thăng vận, thiết xa vận”.
Thực hiện quốc sách “ấp chiến lược” để dồn dân vào trại tập trung nhằm kìm kẹp nông dân, tách các lực lượng cách mạng ra khỏi quần chúng, thực hiện chương trình “bình định” miền Nam với 17.000 ấp chiến lược.
Mỹ ngụy dự định thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, trọng tâm là “bình định” qua 2 kế hoạch:
  • Năm 1961 là kế hoạch Xtalây-Taylo: bình định miền Nam trong 18 tháng.
  • Năm 1964 là kế hoạch Giônxơn –Macnamara bình định miền Nam trong 2 năm và tăng cường vai trò chỉ huy của quân Mỹ.

4.Quân và dân miền Nam đánh bại chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ

Để đánh thắng mỹ, Đảng ta quyết định tăng cường lực lượng về mọi mặt, tháng 1/1961, TW cục miền Nam được thành lập thay cho xứ ủy Nam bộ cũ.
15/2/1961, các lực lượng vũ trang miền Nam đã thống nhất thành Quân giải phóng miền Nam cùng với Mặt trận DTGPMN kêu gọi nhân dân tiến lên đánh bại “chiến tranh đặc biệt”.

5.Ý nghĩa của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ

Là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược lần 2 của cách mạng miền Nam và cũng là thất bại lần 2 của đế quốc Mỹ và tay sai.
Chiến thắng đã mở rộng và phát triển toàn diện thế tiến công của cách mạng miền Nam, là cơ sở cho nhân dân miền Nam tiến lên đập tan hoàn toàn những kế hoạch mới của địch.

Chiến lược chiến tranh cục bộ

 - Người đăng bài viết: Nguyễn Thị Lương  - Chuyên mục :  Đã xem: 992 

Chiến tranh cục bộ là gì? do ai đưa ra, được triển khai ra sao mời bạn đọc tham khảo bài viết dưới đây.

1. Nguyên nhân
Tháng 3/1965, đứng trước nguy cơ phá sản hoàn toàn chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh và quân chư hầu vào miền Nam nhằm đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và mở rộng phá hoại miền Bắc.
2. Âm mưu.
“Chiến tranh cục bộ” là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới được tiến hành bằng lực lượng của quân viễn chinh Mỹ, quân chư hầu, quân Ngụy tay sai ở miền Nam, trong đó quân Mỹ giữ vai trò quan trọng và không ngừng tăng lên về số lượng và trang bị, nhằm chống lại các lực lượng cách mạng và nhân dân ta.
3. Thủ đoạn.
-  Với chiến lược " Chiến tranh cục bộ" Mỹ tăng cường lực lượng quân sự ở miền Nam Việt Nam: Cuối năm 1964 là 26000 tên đến 1965 đã tăng lên 200000 tên, đến cuối năm 1967 lên tới 537000 tên, ngoài ra còn có hạm đội 7 sẵn sàng chiến đấu ở Miền Nam.
chiến tranh cục bộ
( Quân viễn chinh Mỹ vào Miền Nam trong chiến lược  "chiến tranh cục bộ")
- Tiến hành nhiều cuộc hành quân lớn nhằm tìm diệt lực lượng cách mạng: “Ánh sáng sao”, phản công chiến lược mùa khô 1965-1966, 1966-1967 vào “đất thánh Việt cộng” là những cuộc hành quân lớn trong chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ. Thông qua chiến lược này Mỹ hy vọng sẽ kết thúc chiến tranh.
- Gây chiến tranh phá hoại miền Bắc nhằm ngăn chặn sự chi viện cho miền Nam.

Chiến tranh Đặc Biệt

 - Người đăng bài viết: Nguyễn Thị Lương  - Chuyên mục :  Đã xem: 606 

Chiến lược Chiến tranh Đặc Biết là gì? do ai khởi xướng ? nội dung cụ thể ra sao chúng ta cùng tìm hiểu bài viết dưới đây.


Để tránh thất bại hoàn toàn ở miền Nam Việt Nam sau cuộc "Đồng khởi" (1959-1960), Mỹ buộc phải thay đổi chiến lược, từ chiến lược "Chiến tranh đơn phương" (l954-1960) sang chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" (1961-1965).
"Chiến tranh đặc biệt'' là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ, được tiến hành bằng quân đội tay sai, dưới sự chỉ huy của hệ thống cố vấn" quân sự và dựa vào vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh của Mỹ nhằm chống lại các lực lượng cách mạng và nhân dân ta. Âm mưu cơ bản của "Chiến tranh đặc biệt" là "dùng người Việt đánh người Việt".
Thực hiện kế hoạch chiến lược Chiến tranh Đặc Biệt trên, Mỹ tăng nhanh viện trợ quân sự cho Diệm, đưa vào miền Nam số lượng ngày càng lớn "cố vấn" quân sự và lực lượng hỗ trợ chiến đấu. Số lượng đó tăng lên hàng năm: cuối năm 1960 có 1.100 tên; cuối năm 1962 có 11.000 ; cuối năm 1964 có 26.000. Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (MACV) được thành lập tại Sài Gòn ngày 8-2-1962 thay cho Đoàn cố vấn viện trợ quân sự (MAAG) được thành lập năm 1950.
Để phối hợp, chính quyền Sài Gòn ra sức bắt lính, tăng nhanh lực lượng quân ngụy, từ 170.000 (giữa 1961) lên 560.000 (cuối 1964). Quân ngụy được trang bị hiện đại, sử dụng phổ biến các chiến thuật mới, như "trực thăng vận", "thiết xa vận".
Được sự hỗ trợ chiến đấu và chỉ huy của cố vấn Mỹ, quân ngụy liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân càn quét nằm trong chiến lược Chiến tranh Đặc Biệt nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng, tiến hành nhiều hoạt động phá hoại miền Bắc, hoạt động kiểm soát, phong tỏa biên giới và vùng biển.
Dựa vào lực lượng quân sự và bằng những cuộc hành quân càn quét, chính quyền Sài Gòn đã ráo riết dồn dân, lập "Ấp chiến lược" (sau đổi là "Ấp tân sinh"), dự định dồn 10 triệu nông dân vào 16.000 ấp trong tổng số 17.000 ấp toàn miền Nam bằng thủ đoạn cưỡng ép. Chúng lập ấp đến đâu thì giăng đồn bốt, lập bảo an, dân vệ, chính quyền đến đó để kìm kẹp. Nhân dân trong các "Ấp chiến lược" bị kiểm soát gắt gao, ngột ngạt, như trong các trại tập trung. "Ấp chiến lược" được coi là "quốc sách" và gần như một cuộc chiến tranh tổng lực nhằm đẩy lực lượng cách mạng ra khỏi các xã, ấp, tách dân khỏi cách mạng tiến tới nắm dân, thực hiện chương trình "bình định" miền Nam.

Tại sao Mỹ không bồi thường chiến tranh Việt Nam?

TP - Đàm phán về bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ thường xuyên lâm vào thế bế tắc vì nhiều vấn đề, trong đó có bồi thường chiến tranh, người Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA)… Năm 1973, Tổng thống Mỹ Richard Nixon gửi thư cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng cam kết “bồi thường” 3,25 tỷ USD cho Việt Nam.




Ông Lê Đức Thọ (trái) và ông Henry Kissinger tại Paris cuối tháng 1/1973. Ảnh: AP
Ông Lê Đức Thọ (trái) và ông Henry Kissinger tại Paris cuối tháng 1/1973. Ảnh: AP

Ông Phan Doãn Nam, thư ký của Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch thời kỳ Việt Nam và Mỹ đang đàm phán Hiệp định Paris, kể lại những câu chuyện liên quan quá trình bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ, trong đó có vấn đề bồi thường chiến tranh và MIA.
Nhà máy thép không thành

“Quá khứ không dễ quên, nhất là khi bị in hằn bởi những vết sẹo do chiến tranh để lại nhưng với tư duy luôn hướng về phía trước, Việt Nam và Hoa Kỳ đã và đang nỗ lực rất nhiều để vượt lên trên quá khứ và định hình quan hệ tương lai”.

            Phó Thủ tướng, 
Bộ trưởng 
Bộ Ngoại  giao 
Phạm Bình Minh
Ông Nam kể, năm 1973, phía Việt Nam muốn nhận tiền bồi thường chiến tranh để xây dựng nhà máy thép 3 triệu tấn; phía Mỹ đồng ý thương lượng về vấn đề này, nhưng không gọi là bồi thường chiến tranh, mà là khoản đóng góp vào quá trình tái thiết Việt Nam. Phía Việt Nam lúc đầu đưa ra con số 5 tỷ USD, sau thương lượng thì rút xuống 3,25 tỷ USD. Tháng 2/1973, Tổng thống Mỹ Richard Nixon gửi thư cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng với nội dung Mỹ sẽ trả khoản tiền 3,25 tỷ USD. Ông Nam nói rằng, lúc đó, các nhà lãnh đạo Việt Nam đang tập trung ký cho xong Hiệp định Paris, nên không phân tích kỹ một câu gần cuối thư có nội dung hai bên sẽ thực hiện thỏa thuận ghi trong thư đúng theo hiến pháp của mỗi nước. Theo ông Nam, chính câu này trở thành cớ để Mỹ sau đó không thực hiện cam kết trả 3,25 tỷ USD; vấn đề bồi thường nếu đưa ra Quốc hội Mỹ chắc chắn không được thông qua vì Quốc hội Mỹ hồi đó chống đối Việt Nam. Báo chí Mỹ về sau đưa tin, tác giả của câu đó chính là ông Henry Kissinger (cố vấn của Tổng thống Mỹ Richard Nixon, sau trở thành Ngoại trưởng), ông Nam nói.
Tại sao Mỹ không bồi thường chiến tranh Việt Nam? - ảnh 1 Ông Phan Doãn Nam (từng là Thư ký/Trợ lý của Thứ trưởng/Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch) trả lời phỏng vấn báo Tiền Phong. Ảnh: Trúc Quỳnh
Trước đó, đoàn đại diện của Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID) Mỹ vẫn tư vấn cho Việt Nam cách chia nhỏ nhà máy thép công suất lớn thành nhiều nhà máy công suất nhỏ để tránh bị Quốc hội Mỹ gạt bỏ nếu cho rằng Việt Nam sản xuất nhiều thép để tiếp tục chiến tranh. Đoàn của USAID còn đưa ra yêu cầu tiền bồi thường phải được dùng để mua hàng của Mỹ và vận chuyển bằng tàu Mỹ, chứ không được trả bằng tiền mặt. Sau mấy tháng làm việc và tư vấn cho Việt Nam, đoàn này về nước và không hồi âm gì, ông Nam kể.
Ông Nam nói rằng, sau đó, Việt Nam mới nhận ra Mỹ chỉ muốn thăm dò xem nước ta có thực sự muốn xây dựng lại đất nước hay tiếp tục chiến tranh. Nhân có dòng chữ cuối thư mà phía Mỹ không đề cập chuyện viện trợ 3,25 tỷ USD nữa. Năm 1975, Mỹ cho rằng Việt Nam không thi hành Hiệp định Paris nên cũng không thực hiện cam kết của họ, trong đó có khoản bồi thường chiến tranh, ông Nam nói. Những cuộc đàm phán sau đó về bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ bế tắc vì nhiều vấn đề, trong đó có bồi thường chiến tranh, MIA… Thời gian đó, Mỹ luôn cho rằng, Việt Nam giữ lại hài cốt lính Mỹ và giấu tù binh Mỹ.
Từ năm 1977 đến 1978, Việt Nam có ba cuộc thương lượng với Mỹ về bình thường hóa quan hệ, nhưng đều bế tắc vì hai vấn đề này, ông Nam kể. Sau đó, các cuộc đàm phán còn bị ảnh hưởng khi Trung Quốc chủ động thúc đẩy bình thường hóa quan hệ với Mỹ, ông nói. Tổng thống Mỹ Jimmy Carter hồi đó không chống Việt Nam, nhưng cho rằng thời cơ đến thì bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc trước, sau đó với Việt Nam.
Về vấn đề MIA, Việt Nam đã nỗ lực giải quyết vấn đề tìm kiếm, trao trả nhiều hài cốt cho Mỹ. Phía Việt Nam phải trải qua nhiều khó khăn, vất vả, thậm chí thương vong trong quá trình đi tìm hài cốt lính Mỹ. Ông Nam kể rằng, một người bạn ông làm việc ở Bộ Ngoại giao đã tử nạn khi có mặt trên chiếc máy bay bị nổ trên đường đi tìm hài cốt Mỹ. Năm 2000, vợ chồng Tổng thống Mỹ Bill Clinton sang Việt Nam được mời ra tận thực địa để chứng kiến việc tìm kiếm hài cốt lính Mỹ khó khăn như thế nào.
Ông Nam kể, phía ta nói với phía Mỹ rằng, Việt Nam còn có hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu chiến sĩ hy sinh trong chiến tranh chưa nhận dạng được, chưa biết mồ mả ở đâu; phía Mỹ dần dần hiểu ra rằng Việt Nam cũng đau lắm. Đến năm 1989, Việt Nam rút hết quân khỏi Campuchia, xóa bỏ trở ngại cuối cùng trong tiến trình đàm phán. Đại sứ Mỹ lúc đó tuyên bố sẵn sàng bình thường hóa quan hệ với Việt Nam.
Henry Kissinger: Chúng tôi kính phục các ông
Ông Nam nói rằng, trong quá trình đàm phán bình thường hóa quan hệ, thái độ của phía Việt Nam rất nghiêm túc, biết “đánh đúng chỗ họ cần”, và được phía Mỹ đánh giá cao. Là người tham gia quá trình đàm phán Hiệp định Paris, ông Nam kể lại câu chuyện sau 5 năm đàm phán ở Paris, buổi cuối cùng vào tháng 1/1973, đoàn Việt Nam mời cơm thân mật đoàn Mỹ. Ông Lê Đức Thọ trong bữa đó đã hỏi ông Henry Kissinger nghĩ sao về đoàn Việt Nam.
“Không phải là người thân Việt Nam, nhưng Kissinger đã nói rằng, chuyện các ông chiến đấu oanh liệt là không ai chối cãi. Nhưng nếu các ông chỉ gan dạ, anh dũng thì chúng tôi cũng dễ đối phó. Nhưng đằng này các ông còn rất khôn ngoan, mưu lược, nên 5 năm nay chúng tôi phải đấu với các ông không phải dễ. Chúng tôi rất kính phục các ông”, ông Nam kể.
Sau khi ký Hiệp định Paris, Mỹ vẫn không đồng ý Việt Nam vào Liên Hợp Quốc, nhưng Tổng thống Nixon nói rằng, Mỹ sẽ không bao giờ xem Việt Nam là kẻ thù, và trong thời gian chưa bình thường hóa quan hệ, sẽ không công nhận bất kỳ chính phủ lưu vong nào chống lại chính phủ Việt Nam, ông Nam cho biết.
Ông Nam cho rằng, Việt Nam và Mỹ từng có không ít cơ hội để có thể “chơi” với nhau từ rất sớm. Ông kể, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara đã tổ chức năm cuộc hội thảo tại Việt Nam và một hội thảo ở Ý để tìm ra trong quan hệ Việt - Mỹ có cơ hội nào bị bỏ lỡ. Sau khi Việt Nam độc lập, Bác Hồ gửi thư cho Tổng thống Mỹ Harry Truman.
Chiến tranh Lạnh khi đó chưa đến, và Tổng thống Truman vẫn nói ủng hộ quyền tự quyết của các dân tộc. Bác Hồ tin tưởng như vậy nên mới gửi thư cho Tổng thống Truman, nhưng ông này không trả lời, ông Nam kể. Bản thân ông McNamara ít nhất 7 lần đề nghị chính phủ Mỹ đàm phán, nhưng cũng bị bỏ qua…

Quan hệ Việt - Mỹ đang phát triển thuận lợi
Trong bức thư gửi Tổng thống Truman ngày 16/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ mục tiêu của Việt Nam là “độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ”. Người cũng khẳng định Việt Nam “sẽ làm hết sức mình để làm cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới”. Thế giới ngày nay đang vận động rất nhanh, đòi hỏi hai nước không được phép bỏ lỡ những cơ hội lịch sử như những giai đoạn trước, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh nhận định. Chặng đường 20 năm qua, nhất là từ khi hai nước xác lập quan hệ Đối tác toàn diện tháng 7/2013, đã chỉ ra rằng, hòa bình và thịnh vượng ở Đông Nam Á nói riêng và khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung có nhiều điều kiện được duy trì hơn khi quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ phát triển thuận lợi; quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kỳ phù hợp với lợi ích chung của tất cả các nước trong khu vực, Phó Thủ tướng khẳng định.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32