Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
CHUYỆN KỂ RÕ NHẤT VỀ WW II 106/7
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
DANH NGÔN VỀ CHIẾN TRANH: -Quân đội Việt Nam Cộng hòa là con rôbốt chiến đấu nhờ đôla Mỹ, thua Quân Giải Phóng vì không có tâm hồn. Mỹ thua trong cuộc chiến tranh Việt Nam vì lòng yêu nước chứ không phải vì ý thức hệ. -Đồng
bào ta gái cũng như trai, trẻ cũng như già cho đến các cháu nhi đồng
cỏn con, ai cũng nồng nàn yêu nước, ai cũng hăng hái kháng chiến, ai
cũng có gan giết giặc.
Hồ Chí Minh
-Chẳng ai sống mà không xô đẩy và bị xô đẩy; trong mọi việc, anh ta đều phải chen lấn qua thế giới, tấn công và bị tấn công. No
man lives without jostling and being jostled; in all ways he has to
elbow himself through the world, giving and receiving offence.
Thomas Carlyle
-Nếu
không có kẻ địch, không có cuộc chiến. Nếu không có cuộc chiến, không
có chiến thắng, và nếu không có chiến thắng, không có vương miện. If there be no enemy there's no fight. If no fight, no victory and if no victory there is no crown.
Thomas Carlyle
-Hạnh phúc giống như những lâu đài trong chuyện cổ tích với cổng được rồng canh gác: chúng ta phải chiến đấu để chinh phục nó. Happiness is like those palaces in fairy tales whose gates are guarded by dragons: we must fight in order to conquer it.
Alexandre Dumas
---------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
World War II in HD Colour tập 7
Sự trở lại của đề tài chiến tranh cách mạng
Thứ Hai, 10/04/2017, 18:55:49
Một số tác phẩm văn học đề tài chiến tranh được đánh giá là thành công.
LTS
- Văn học về đề tài chiến tranh cách mạng luôn được nhiều thế hệ nhà
văn và độc giả Việt Nam quan tâm, là mảng sáng tạo có vị thế riêng trong
sự phát triển của đời sống văn học nước nhà. Nhiều tác giả, với những
trải nghiệm chiến tranh đã khắc họa thật sinh động hai cuộc kháng chiến
vệ quốc vĩ đại của dân tộc, và khẳng định được tên tuổi trong làng văn
học. Trong đời sống đương đại, nhiều cây bút trẻ tiếp tục dành tâm huyết
cho đề tài này với cách nhìn của những con người thời hiện đại. Nhằm
mang lại những góc nhìn sâu hơn về mảng đề tài lớn, luôn giàu sức sống
này của văn học nước nhà, Báo Nhân Dân cuối tuần xin khởi đăng loạt bài
viết với những góc nhìn, kiến giải đa chiều về mảng đề tài chiến tranh
cách mạng.
Có
thể nói không quá rằng, cho đến hôm nay, những tác phẩm viết về chiến
tranh ghi được dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả cơ bản vẫn thuộc về
những cây bút đã trải qua chiến tranh. Gần đây tiểu thuyết tư liệu về
chiến tranh đang nổi lên như một khuynh hướng, song vẫn còn nhiều điều
cần đưa ra bàn thảo. Vẫn là một “siêu đề tài”?
Có quá không khi nói chiến tranh là một “siêu đề tài” và người lính
là một “siêu nhân vật” trong văn chương? Chúng tôi nghĩ, phải có cái lý
và cả cái tình nhất định nào đó trong nhận định có phần khoa trương này.
Nhưng nếu suy ngẫm kỹ nó thể hiện cái nhiệt hứng văn chương của nhà văn
khi không hề cố tình quên đi quá khứ hào hùng và đau thương của dân tộc
từng đánh thắng hai đế quốc lớn trong thế kỷ 20, trong suốt mười nghìn
ngày lịch sử. Khuất Quang Thụy trong tiểu thuyết Những bức tường lửa
(2004) đã viết “Còn chiến tranh thì như chưa bao giờ chấm dứt”. Đúng
như tâm thế ấy, lớp nhà văn chống Mỹ, cứu nước vẫn trăn trở với đề tài
này trong sáng tác của mình. Năm 2010, Khuất Quang Thụy lại công bố tiếp
một cuốn tiểu thuyết mới về chiến tranh, với nhan đề Đối chiến và năm 2016 ông cho ra mắt Đỉnh cao hoang vắng.
Trung Trung Đỉnh dường như sinh ra để gắn bó với Tây Nguyên và chiến
tranh, đã chung thủy với đề tài mình lựa chọn như một cái “nghiệp văn
chương”. Từ Lạc rừng (Giải thưởng Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ nhất, 1998-2000, của Hội Nhà văn Việt Nam) đến Lính trận
(Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2011, Giải thưởng Văn học Đông-Nam Á
2012), Trung Trung Đỉnh được đánh giá là một trong những nhà văn thế hệ
chống Mỹ, cứu nước gặt hái nhiều thành công nhất với đề tài chiến tranh.
Chu Lai được độc giả mến mộ từ Ăn mày dĩ vãng (1992), được coi là một ngòi bút tiểu thuyết “lực lưỡng” viết về chiến tranh. Tiểu thuyết Mưa đỏ
(2016) viết về chiến dịch 80 ngày đêm Quảng Trị máu lửa của ông nhận
được sự quan tâm đặc biệt của độc giả, đã nhận Giải thưởng Hội Nhà văn
Việt Nam, 2016. Nguyễn Bảo sau khi công bố Thượng Đức (2005), dường như vẫn chưa nguôi ngoai về đề tài chiến tranh, năm 2012 ra mắt Đỉnh máu.
Hai cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Bảo được đánh giá cao ở phần trung
thành với lịch sử chiến tranh, sự phong phú của tài liệu sống, nhưng
không vì thế phai nhạt phẩm chất hư cấu vốn được coi là hồn vía của văn
chương và tiểu thuyết.
Trong Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ IV (2011-2015) của Hội Nhà văn
Việt Nam, tác phẩm Mảnh vỡ của mảnh vỡ của Vĩnh Quyền đoạt Giải C, đã
được dịch sang tiếng Anh. Những cứ liệu văn học sử cho phép chúng ta tin
tưởng vào một kho hiện thực bề bộn và phong phú - vẫn là cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước thần thánh và những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ
quốc ở biên giới Tây Nam và phía bắc như: Mùa hè buốt giá (2009) của Văn Lê, Cát trọc đầu (2014) của Nguyễn Quang Vinh, Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 (2014) của Trần Mai Hạnh, Sống được là may (2014) của Từ Nguyên Tĩnh, Miền hoang (2014) của Sương Nguyệt Minh, Trang trại hoa hồng (2016) của Đỗ Kim Cuông, Rừng đói (2016) của Nguyễn Trọng Luân, Thư về quá khứ (2016) của Nguyễn Trọng Tân,…
Nhiều trong số đó là các nhà văn đã trải qua lửa đỏ và nước lạnh.
Trải nghiệm sống và trải nghiệm văn hóa đã giúp họ có được cả bề rộng và
chiều sâu của vốn sống. Họ viết về chiến tranh trước hết như là cách
trả “món nợ tinh thần” cho những người đã anh dũng hy sinh vì lý tưởng
chung. Và sau hết là rút ra những bài học đạo lý cho những người đang
sống, đang cùng chung tay xây đắp cơ đồ Việt Nam. Những cách viết khác nhau Tiểu thuyết tư liệu về chiến tranh đang nổi lên như một
khuynh hướng có triển vọng. Vì sao lại là tư liệu chứ không phải hư cấu?
Bởi vì tư liệu là khách quan. Tất nhiên sáng tác là mang dấu ấn chủ
quan. Nhưng thực tiễn văn học đã chứng minh đôi khi người viết áp đặt
thái quá cái chủ quan vào tác phẩm. Hư cấu biến thành bịa đặt tùy tiện.
Thành thử chân lý đời sống bị bóp méo. Có tác phẩm viết về chiến tranh
khiến độc giả chỉ còn thấy sự bấn loạn của con người. Chỉ thấy sông máu,
núi xương. Thậm chí có nhà văn nhìn và cảm chiến tranh như một cái gì
đó hủy diệt toàn bộ (một thứ “cối xay thịt”). Với họ thì khi “đại bác nổ
họa mi ngừng hót”. Sự hư cấu trong những tác phẩm như thế bị mờ nhòe,
lẫn lộn. Chân lý đời sống bị phủ lấp, thậm chí xuyên tạc. Tác phẩm chỉ
đơn thuần là nơi phô diễn các ý tưởng chủ quan thuần túy. Nơi khoe chữ
mà thiếu hẳn nghĩa.
Vậy nên độc giả hôm nay nếu có “ngả” về tư liệu thì cũng có lý do
chính đáng. Họ cần sự thật trung thành. Họ cần biết thêm về chiến tranh
qua tư liệu gốc, từ đó sẽ chủ động suy đoán, bình giá. Hư cấu nếu thấp
lè tè thì không thể bằng tư liệu ngồn ngộn chất đời, chứa đầy sự thật.
Nhu cầu chính đáng của con người là tiếp cận sự thật. Dẫu cho “thuốc
đắng dã tật sự thật mất lòng”.
Uy quyền của văn học tư liệu đã hiển hiện. Bằng chứng là tiểu thuyết tư liệu - lịch sử Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75
(2014) của Trần Mai Hạnh đã lập kỷ lục in đến 10.000 cuốn (in lần thứ
tư). Tác phẩm nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2014, Giải
thưởng Văn học Đông-Nam Á năm 2015. Trong dự cảm của văn giới và độc giả
thì trong tương lai gần và xa, tiểu thuyết tư liệu sẽ soán ngôi tiểu
thuyết hư cấu. Nhìn sang Giải thưởng Nobel văn chương 2015, thấy tác
phẩm của nữ nhà văn Belarus - Svetlana Alexievich - thuộc về văn học tư
liệu: Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ. Tiểu thuyết có yếu tố tự thuật về chiến tranh chắc chắn cũng
sẽ chiếm lĩnh độc giả. Vì sao? Vì thế hệ nhà văn chống Mỹ, cứu nước về
cơ bản vẫn còn là “chủ lực quân” của văn học. Riêng trong lĩnh vực văn
xuôi, những cây bút lực lưỡng vẫn thu hút sự quan tâm của độc giả. Nếu
bây giờ họ vẫn viết về chiến tranh thì cần phải vượt qua lối văn “tả
trận”. Chiến tranh hiện lên không trong tiếng ùng oàng súng đạn. Chiến
tranh không phải chỉ là những cảnh đầu rơi máu chảy. Bây giờ chiến tranh
sẽ nối với hòa bình, quá khứ sẽ nối với hiện tại. Và ở cái dấu nối ấy
sẽ xuất hiện cái chủ thể viết đã từng tham chiến. Đã bắt đầu xuất hiện
yếu tố tự thuật từ tiểu thuyết Thân phận của tình yêu (1991) của Bảo Ninh - tác phẩm nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, 1990. Sau đó là Lính trận (2011) của Trung Trung Đỉnh. Gần nhất là Rừng đói (2016) của Nguyễn Trọng Luân, Thư về quá khứ
(2016) của Nguyễn Trọng Tân. Họ là lính chiến thực thụ. Nhiều năm sau
chiến tranh họ vẫn có cái cảm giác không thoát ra được khỏi nó. Nghĩa là
chiến tranh vẫn như còn hiện diện trong đời sống của cả cộng đồng và
mỗi cá nhân. Tiểu thuyết Thư về quá khứ của Nguyễn Trọng Tân
xuất hiện gần đây nhất đã có tiếng vang trên văn đàn. Đó là câu chuyện
của chính người cầm bút, trải nghiệm có dư mười năm chiến tranh, trở về
và thực hiện được mơ ước của mình - trở thành sinh viên Văn khoa, sau đó
hành nghề văn và nghề báo.
Không có gì lạ khi tự truyện và hồi ký đang tràn ngập thị trường
sách. Câu khách cũng có, vì lợi nhuận cũng có, thích phô diễn, đánh bóng
bản thân cũng có. Nghĩa là muôn nẻo lý do viết. Nhưng nhu cầu được bộc
lộ cái “tôi” chính đáng bằng ngôn từ văn chương thì không thể không chấp
nhận. Vì thế tiểu thuyết có yếu tố tự thuật về chiến tranh cũng là một
cách viết trong nhiều cách viết. Và đã có thành tựu đáng ghi nhận.
Nỗi buồn chiến tranh của
Bảo Ninh là một tác phẩm có số phận đặc biệt. Xuất bản lần đầu tiên năm
1990 với tiêu đề do các biên tập viên nhà xuất bản Hội nhà văn lựa chọn
– Thân phận của tình yêu – chỉ một năm sau đó, cuốn sách
đầu tay của nhà văn cựu chiến binh thuộc những thế hệ sinh viên đầu của
Trường viết văn Nguyễn Du được tái bản với tiêu đề của chính tác giả – Nỗi buồn chiến tranh.
Cũng trong năm đó, cuốn sách được giải thưởng của Hội nhà văn, một
trong những giải thưởng văn chương quan trọng nhất ở Việt Nam. Khác với
những tiểu thuyết khác cùng được trao giải trong năm này (Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Bến không chồng của Dương Hướng), sự lựa chọn của Hội đồng xét giải dành cho tác phẩm của Bảo Ninh đã khiến cho trường hợp Nỗi buồn chiến tranh trở
thành một trong những lựa chọn bị tranh cãi nhiều nhất trong số các
giải thưởng văn chương của tổ chức văn học này cho đến hôm nay. Tính
phức tạp của những đánh giá về tác phẩm thể hiện ngay từ cuộc tọa đàm về
cuốn tiểu thuyết do Hội Nhà văn và Tuần báo Văn nghệ tổ chức trong năm
1991 và một loạt các bài viết sau cuộc tọa đàm. Bên cạnh những ý kiến
đánh giá cao tác phẩm về nội dung và đặc biệt hình thức nghệ thuật (của
Đỗ Đức Hiểu, Nguyên Ngọc, Trần Đình Sử…), có không ít nhà phê bình coi
cuốn sách của Bảo Ninh là “điên loạn”, “rối bời”, “lố bịch hóa hiện
thực”, “bôi nhọ quân đội” (bài viết của Đỗ Văn Khang trên tuần báo Văn
nghệ số 43, ra ngày 26/10/1991). Và sau đó là sự im lặng và lãng quên.
Cuốn sách hầu như vắng bóng trong các công trình, các tác phẩm phê bình
và các chuyên luận về văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
Trong khi đó, ngay sau khi dành được
giải thưởng ở Việt Nam, cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh được dịch và giới
thiệu ở nhiều nước trên thế giới và xuất phát từ nhiều mục đích cũng như
hệ giá trị khác nhau, được đánh giá một cách nồng nhiệt. Tờ Independent,
một trong những nhật báo có uy tín của nước Anh đã nhận xét về cuốn
tiểu thuyết của Bảo Ninh : “Vượt ra ngoài sức tuởng tượng của người Mỹ, Nỗi buồn chiến tranh đi ra từ chiến tranh Việt Nam đã đứng ngang hàng với cuốn tiểu thuyết chiến tranh vĩ đại của thế kỷ, Mặt trận phía Tây vẫn yên tĩnh của
Erich Maria Remarque(…). Một cuốn sách viết về sự mất mát của tuổi trẻ,
cái đẹp, một câu chuyện tình đau đớn…một thành quả lao động tuyệt đẹp”.
Hơn mười năm sau lần xuất bản đầu tiên, năm 2003, cuốn sách của Bảo
Ninh lại lặng lẽ được tái bản và xuất hiện trong đời sống văn học ở Việt
Nam : với tiêu đề Nỗi buồn chiến tranh (NXB Hội nhà văn, trong tuyển tập Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới – một sự thừa nhận ?) và Thân phận của tình yêu(NXB
Phụ nữ). Lặng lẽ bởi ngoài các mục tin sách và thống kê doanh thu sách
bán chạy của một vài tờ báo, cuốn sách hoàn toàn vắng bóng trong đời
sống phê bình báo chí và đại học. Như vậy là gần mười lăm năm sau khi
cuốn tiểu thuyết ra đời, những câu hỏi đặt ra từ chính tác phẩm dường
như vẫn còn bị bỏ ngỏ. Là một cuốn tiểu thuyết về tình yêu bi thảm trong
chiến tranh – về Thân phận của tình yêu– hay là một tiểu thuyết về Nỗi buồn chiến tranh –
những suy nghiệm của một cá nhân, một nhân vật có vấn đề (un héros
problematique – khái niệm của Lukacs) về thực tại lịch sử? Là một cách
tân nghệ thuật dẫn tới một độ chênh với “tầm đón nhận” của công chúng và
giới phê bình hay là một cuốn sách suy đồi về chiến tranh? Những câu
hỏi vẫn còn đó và trong tất cả mọi trường hợp, sự im lặng hay lảng tránh
không phải là một câu trả lời lý tưởng. H.G. Gadamer từng khẳng định :
“Chúng ta chỉ thực sự hiểu một văn bản nếu chúng ta thực sự đã hiểu câu
hỏi mà văn bản đó trả lời”.
Trước một hiện tượng văn học phức tạp như Nỗi buồn chiến tranh,
chúng tôi giả định một cách đọc của riêng mình, ngõ hầu có thể chạm
được đến bản chất của tác phẩm, chạm đến “câu hỏi mà văn bản đó trả lời”
cũng như những câu hỏi đặt ra từ chính tác phẩm. Sự bùng nổ của những
trường phái phê bình trong thế kỷ XX, đặc biệt ở các nước phương Tây, mở
ra cho người nghiên cứu muôn vàn những ngả đường dẫn đến tác phẩm văn
học. Dẫu vậy, cũng chính sự bùng nổ đó cũng khẳng định một thực tế :
không một phương pháp nào có đủ khả năng trả lời được đầy đủ các câu hỏi
đặt ra từ văn bản. Trước thực tế đó, một mặt cách đọc của chúng tôi sẽ
đi thẳng vào tháo dỡ cấu trúc hình thức và từ đó khôi phục lại trường
ngữ nghĩa của văn bản tiểu thuyết. Đồng thời, xuất phát từ một lối “đọc
sâu” (close reading) cấu trúc văn bản chúng tôi đề xuất một thao tác đọc
liên văn bản (intertextualité) tiểu thuyết của Bảo Ninh trong hệ thống
sáng tác của chính anh và trong đời sống văn chưong giai đoạn đầu thời
kỳ Đổi mới, đặc biệt, trong sự đối chiếu với những cây bút tiêu biểu của
văn học chiến tranh thập niên 80 (Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Minh
Châu…). Với một cách đọc như vậy, chúng tôi giả định có thể chạm đến
tầng ngữ nghĩa thực sự ngõ hầu chạm đến những “câu hỏi còn bị treo lại”
về một trong những tác phẩm phức tạp nhất của văn học Việt Nam thời kỳ
Đổi mới mà phác hoạ ra được những thay đổi có tính quy luật của văn học
viết về chiến tranh sau chiến tranh ở Việt Nam.
1.Từ những thách thức của lối viết
Có thể khẳng định, ở thời điểm Nỗi buồn chiến tranh ra
đời, Bảo Ninh là một trong những cây bút quan trọng góp phần làm nên
một cuộc cách mạng trong nghệ thuật tiểu thuyết ở Việt Nam. Anh đã
chuyển dịch toàn bộ phạm vi tồn tại của nhân vật trung tâm từ đời sống
xã hội vào đời sống tâm lý. Nhân vật chính trong tiểu thuyết của anh
không phải là một con người hành động, anh không mô tả, kể, tái hiện lại
đời sống xã hội của một con người (tồn tại trong xã hội, tiếp xúc với
những nhân vật khác, xung đột và giải quyết xung đột … ) để từ đó khái
quát những vấn đề nhân sinh. Trái lại, anh tái hiện lại một thế giới tâm
lý đầy những dằn vặt, ẩn ức (trong đó có cả những ẩn ức tình dục – một
yếu tố cho đến thời điểm đó không phải là quen thuộc đối với văn học
Việt Nam), những hồi ức và những ám ảnh. Toàn bộ thiên truyện được xây
dựng trên một tình huống giả định về một tự sự hai lần hư cấu. Trước
hết, đó là cuốn tiểu thuyết đầu tiên và duy nhất của nhà văn – cựu chiến
binh Kiên về tuổi thơ, tuổi trẻ, những năm tháng trận mạc, cuộc đời hậu
chiến và chính hành trình viết tiểu thuyết của anh. Đó là một cuốn tiểu
thuyết được sáng tạo trong những cơn dằn vặt tinh thần và những xung
đột nội tâm khủng khiếp nhưng câm lặng của Kiên, một cuốn tiểu thuyết
mãi mãi không bao giờ được hoàn thành. Ngày Kiên rời bỏ khu phố và “ngọn
hải đăng Ha le” – căn phòng viết của anh – cuốn tiểu thuyết chỉ là một
đống bản thảo, không đánh số trang, bị xáo tung và nhiều trang bị đốt.
Đến lượt mình, cuốn sách lại được người trần thuật (xưng tôi, lộ diện
trong phần cuối cùng của tiểu thuyết – mà qua sự hé lộ ít ỏi về tiểu sử,
người đọc có thể biết rằng cũng là một nhà văn – cựu chiến binh) tiếp
nhận, sắp xếp lại, định dạng và hoàn chỉnh lại trong dạng thức cuối
cùng. Tình huống hư cấu này chi phối toàn bộ nguyên tắc kết cấu của tác
phẩm khiến cho Nỗi buồn chiến tranhmột mặt mang dáng dấp
của một tiểu thuyết dòng tâm tưởng (nhưng không trong dạng thức thuần
tuý nhất của thể loại này như những tác phẩm của M. Proust, J. Joyce hay
W. Woolf); một mặt là một tiểu thuyết trong tiểu thuyết – hay chính xác
hơn tiểu thuyết về tiểu thuyết (tương tự như Bọn làm bạc giảcủa A. Gide)[3].
Những dạng thức kết cấu nói trên khiến cho Nỗi buồn chiến tranh trở
thành một thách thức đối với việc đọc của công chúng ở Việt Nam ít nhất
cho đến thời điểm đó. Nó không có những xung đột nguời – người (ta –
địch, người xấu – người tốt, người lạc hậu – người tiến bộ …) xuyên suốt
toàn bộ thiên truyện. Nó không được phân chia thành những chương phần
với những đường dây cốt truyện mạch lạc. Về cơ bản, toàn bộ tiểu thuyết
được chia thành 7 phần dựa trên các cách trang thống nhất trong cả bốn
bản in (năm 1990, 1991 và hai bản năm 2003). Những hồi ức của cựu chiến
binh Kiên bị cắt vụn và phân tán trong các phần của văn bản. Có những
hồi ức xuất hiện ngay từ trong phần đầu tiên (hồi ức về cái chết của
người nữ giao liên Hoà, về nhà ga Thanh Hoá và Phương) như là những khúc
ouverture báo hiệu những chủ đề chính của tác phẩm (cái chết của những
người lính và sự huỷ diệt tình yêu…) và chỉ được tái hiện trọn vẹn trong
những phần cuối cùng của thiên truyện. Và đa phần những hồi ức không
được gắn bó theo một trật tự nhân quả hoặc thời gian đảm bảo cho sự
trong sáng của kết cấu. Nó tương hợp với đời sống tinh thần của Kiên,
một thế giới tâm lý đầy những ám ảnh và những dằn vặt khủng khiép. Nó
tạo nên cho người đọc một thứ cảm giác đúng như cảm giác của người kể
chuyện khi lần đầu tiên tiếp xúc với toà núi non bản thảo của Kiên :
“Một sáng tác dựa trên cảm hứng chủ đạo của sự rối bời”.
Trong tiểu thuyết của Bảo Ninh, sự thách
thức đối với việc đọc còn được gia tăng bởi tính chất gây sốc của những
chất liệu cấu thành nên tiểu thuyết. Sự bạo hành tràn ngập trong tác
phẩm. Và song hành với bạo hành là những cái chết. Có cái chết buồn thảm
như cái chết của cha và dượng Kiên hay cái chết của Can, người lính đào
ngũ; có cái chết bi thảm như cái chết của những người đồng đội của Kiên
trong chiến tranh. Có những trường đoạn miêu tả cái chết (trận thảm sát
xóa sổ cả một đơn vị “mùa khô đầu tiên sau Hiệp định” – xuất hiện ngay
từ phần đầu tiên của tiểu thuyết). Có những hình ảnh trở thành một thứ
âm bản của sử thi chiến tranh (mùa mưa, những cánh rừng đại ngàn, thời
kỳ bài bạc, ma tuý “hồng ma”, mối quan hệ dị thường giữa những người
lính trinh sát trong đơn vị của Kiên và những cô gái thủ kho trong rừng
già…). Có hình ảnh buồn bã về ngày chiến thắng trĩu nặng những dự cảm
kinh hoàng về sự tổn hại của nhân tính trong nhà ga hàng không Tân Sơn
Nhất. Và đồng thời, lần đầu tiên, những ẩn ức và đời sống tình dục được
người viết đưa vào tác phẩm và trở thành một chiều kích không thể quy
giản trong cuộc đời của nhân vật chính.
Vậy phải chăng Nỗi buồn chiến tranh là
một “tiểu thuyết đen” về chiến tranh, bấn loạn, “rối bời” và đầy những
hình ảnh kinh hoàng về chiến tranh giải phóng dân tộc và những mảnh đời
chiến bại của những cựu chiến binh trong những năm tháng hậu chiến ?
2. Những mạch ngầm văn bản
Như đã trình bày, Nỗi buồn chiến tranh là
một tiểu thuyết hướng nội và chủ quan hoá triệt để. Những xung đột và
những vận động cơ bản của tiểu thuyết đều diễn ra trong thế giới nội tâm
của nhân vật. Mở ra bằng mùa mưa đầu tiên ở Cánh Bắc sau chiến tranh và
cuộc hành trình đi tìm hài cốt đồng đội của Kiên trong những cánh rừng
già, những dự cảm của Kiên báo hiệu những xung đột cơ bản trong cuộc đời
anh. Trước hết đó là xung đột giữa một ham muốn trở về với cuộc sống
hoà bình và quên đi quá khứ với dự cảm về chuyện “quên thật là khó”,
“chẳng biết đến bao giờ thì lòng mình mới có thể nguôi nổi, trái tim
mình mới thoát khỏi gọng bàn tay xiết chặt của những kỷ niệm chiến
tranh. Những kỷ niệm có thể là êm đềm, có thể là ác hại nhưng đều đã để
lại những vết thương mà tới bây giờ một năm đã qua, hay mười năm, hay
hai mươi năm nữa vẫn còn đau, đau mãi”. Dự cảm đó cụ thể dần thành ý
thức về một cuộc đời “khác nào con thuyền bơi ngược dòng sông không
ngừng bị đẩy lùi về dĩ vãng” mà “lòng tin và lòng ham sống không phải
là những ảo tưởng mà là nhờ sức mạnh của hồi tưởng”. Tiếp đó là xung đột
giữa những “tín niệm văn chương và nhân sinh sâu bền nhất của anh” và
sự thôi thúc bên trong của việc viết, một thứ “nghịch lý hiểm nghèo của
bút pháp”. Anh cảm thấy bị thôi thúc bởi việc viết, “viết sao cho xao
xuyến nổi lòng dạ, xúc động nổi trái tim con người như thể viết về tình
yêu, về nỗi buồn, sao cho có thể truyền được vào cuộc sống đương thời
luồng điện của những cảm xúc chỉ có thể diễn đạt bằng thì quá khứ và
quá khứ của quá khứ” nhưng đồng thời đó lại là một cái viết đối lập với
tất cả những gì anh đã sáng tạo và cố gắng sáng tạo. Hai xung đột nội
tâm cơ bản trong cuộc đời của Kiên được anh ý thức một cách thiêng
liêng thành một “thiên mệnh” chi phối sự sinh tồn của anh trong những
ngày hậu chiến, “thiên mệnh” dẫn dắt anh trong hai cuộc phiêu lưu cuối
cùng cả cuộc đời : hành trình tìm lại và phục sinh quá khứ và hành trình
sáng tạo văn chương.
Nỗi buồn chiến tranh là
hành trình đau đớn của một số phận dị kỳ tìm lại quá khứ của mình. Suốt
dọc hành trình sống của Kiên, số phận giống như một thứ lực ly tâm hất
văng những người thân thiết nhất ra khỏi cuộc đời anh. Hoặc họ lặng lẽ
rời bỏ khỏi anh (Mẹ, Phương…) hoặc cái chết giật họ khỏi cuộc đời anh
(cha, dượng, những người đồng đội…) Những cái chết và khoảng trống tâm
hồn để lại sau những cái chết chính là nguồn động lực thúc đẩy cuộc hành
trình ngược về quá khứ của Kiên – cuộc hành trình tìm lại ý nghĩa ẩn
dấu sau những cái chết buồn bã / hoặc đau đớn của những người thân,
người đồng đội. Toàn bộ cuộc đời hậu chiến của Kiên bị trôi đi trong
cuộc hành trình “đi tìm thời gian đã mất” đó, từ những dự cảm ban đầu
cho đến những giác ngộ của anh về nỗi buồn chiến tranh (phần 3) và chân lý về những cái chết trong chiến tranh (phần 4).
Song song với hành trình tâm tưởng tìm
về ký ức là cuộc hành trình của sáng tạo văn chương. Mạch vận động này
được khởi phát từ phần thứ hai của tiểu thuyết từ những thôi thúc nội
tâm về một cái viết kỳ lạ gắn liền với một “thiên mệnh” của cuộc đời,
một cái viết xung đột với tất cả những tín điều văn chương mà Kiên vẫn
tin tưởng và theo đuổi. Chỉ đến những phần cuối cùng của thiên truyện
thì thiên chức ấy mới được hiển hiện trong một sự thức nhận toàn vẹn
những chân lý về chiến tranh, về trách nghiệm của chính anh – người sống
sót sau chiến tranh – trong cuộc đời hậu chiến và về ý nghĩa thực sự
của nghề viết văn. Không phải vô lý khi Kiên thừa nhận “cuốn tiểu thuyết
đầu tay cực kỳ bấp bênh và còn vô cùng dang dở này như là một cuộc
phiêu lưu cuối cùng trong cả cuộc đời làm lính của anh, đồng thời là một
sự thách thức nghiêm trọng nhất đối với sự sinh tồn của anh không chỉ
trên tư cách một người cầm bút”. Đối với Kiên, một người sống sót qua
những khủng khiếp của cuộc chiến, sống nghĩa là mang món nợ với những
người đã khuất, đúng như anh thú nhận : “Thực ra thì trong chiến tranh
Kiên được hưởng nhiều may mắn hơn thời bình, bởi vì trong chiến tranh
anh đã được sống, chiến đấu, trưởng thành lên bên những người đồng chí
thật tốt. Tuy nhiên, giá của sự may mắn ấy là anh đã lần lượt mất hết
những người bạn, người anh em, người đồng đội chí thiết nhất. Họ bị giết
ngay trước mắt Kiên hoặc là đã chết trong vòng tay anh. Nhiều người đã
chết để gỡ cho tính mạng Kiên. Nhiều người hy sinh bởi lỗi lầm của anh”.
Và như vậy, đối với Kiên, sống gắn liền với trách nghiệm nói thay lời
trăn trối của những nguời đã chết trong chiến tranh, những “đồng đội
thân yêu và ruột thịt, vô số và vô danh, những liệt sĩ của lòng nhân, đã
làm sáng danh đất nước này và đã làm nên vẻ đẹp tinh thần cho cuộc
kháng chiến”, để làm cho tiếng nói chung của một thời đại “đau thương
nhưng huy hoàng, những ngày bất hạnh những chan chứa tình người” không
bị chìm vào quên lãng và sự vô tình của “nền hòa bình thản nhiên” hậu
chiến. “Thiên mệnh” ấy chính là sức mạnh duy nhất duy trì cuộc sống thời
hậu chiến của Kiên, là sức mạnh níu kéo anh lại với cuộc đời trong
những phút giây cận kề cái chết và sự suy sụp tinh thần (phần 3). Công
cụ duy nhất của anh để thực hiện chức trách ấy chính là văn chương. Đó
chính là con đường khiến cho Kiên trở thành một nhà văn “tồn tại đến
trót đời với thiên chức là một cây bút của những người đã hy sinh, là
nhà tiên tri của những năm tháng đã qua đi, người báo trước thời quá
khứ”. Có thể nói, đối với Kiên, thiên chức văn chương cũng chính là thiên chức cuộc đời.
2.Thế giới nhân vật – biểu tượng và ý nghĩa
Nhân vật là một chất liệu có tính bản
thể của tự sự. Tương tự như văn bản, chất liệu đó có thể được soi sáng
từ nhiều chiều kích khác nhau. Nhân vật của một tự sự có thể được hành
xử như một thực thể sống, có đời sống tâm lý và đặc biệt những ẩn ức tâm
lý được dấu kín[4]. Nhân vật cũng có thể là hình chiếu của những dồn
nén tâm lý hoặc sự phản chiếu thế giới tư tưởng của tác giả hoặc được
coi như hình chiếu của đời sống xã hội. Dẫu vậy, trước hết, nhân vật –
chính xác hơn thế giới nhân vật – là một cấp độ chất liệu của văn bản và
trong ý nghĩa đó, nếu như văn bản cógiá trị tạo sinh nghĩa độc lập thì
nhân vật cũng cần phải được ứng xử như một hệ thống có quan hệ nội tại
và giá trị của các yếu tố được tạo sinh từ mối quan hệ giữa các yếu tố
cấu thành nên hệ thống này. Từ nhận thức đó, chúng tôi đề xuất một cái
nhìn có tính ký hiệu học về nhân vật tự sự đối với tác phẩm của Bảo
Ninh.
Có ba tuyến nhân vật chạy song song
trong cuộc đời của Kiên : những người phụ nữ, những người đồng đội và
những người thân (cha, mẹ, dượng). Đa phần trong số họ hiện diện trong
hình hài của những ký ức, không tiểu sử, thậm chí, có những nhân vật chỉ
là những tiếng nói vang vọng trong lương tâm của Kiên. Trong hành trình
tâm tưởng của Kiên, ký ức về những người đồng đội luôn
gắn liền với cái chết. Hoặc họ là nạn nhân của cái chết, hoặc họ là
người gây ra cái chết. Cái chết phản ánh bản chất hai mặt của chiến
tranh. Nó gắn liền với bạo lực,thứ bạo lực tăm tối hủy diệt con người
“chà đạp, hành hạ, (…), làm nhục, (…), giết chết, (…) chôn vùi, quét
sạch, tuyệt diệt”, nó chà đạp lên nhân tính của con người và hủy diệt
“những người ưu tú nhất, tốt đẹp nhất, xứng đáng hơn ai hết quyền được
sống trên cõi dương”, nó khơi dậy bạo lực và sự tàn bạo trong con người,
sự dửng dưng với cái ác. Ở phương diện đó, vết thương khủng khiếp nhất
mà chiến tranh để lại không chỉ là sự thương tổn và cái chết cụ thể mà
quan trọng hơn, là sự chà đạp lên nhân tính. Ở một phía khác, cũng chính
cái chết của những người đồng đội phản ánh một phương diện khác của
chiến tranh : cái đẹp của tình người. Điều đó được đúc kết trong một
chân lý thật đơn giản : “những con người xứng đáng hơn ai hết quyền
được sống trên cõi đời này nhưng đã lẳng lặng chấp nhận quy luật đơn
giản của chiến tranh : mình chết thì bạn mình sống !”. Tiếng nói, kỷ
niệm và những hồi ức của những đồng đội đồng vọng vào dòng tâm tư của
Kiên, chiếu dọi vào hiện thực tàn bạo của chiến tranh, làm phát lộ nỗi
đau đích thực của con người trong chiến tranh – nỗi đau của nhân tính
(mà trong đó vang vọng lời cảnh báo của người lính ở phi trường Tân Sơn
Nhất trong ngày giải phóng : “liệu mà coi chừng nhân tính”) – và làm
ngời sáng vẻ đẹp của tình người trong chiến tranh.
Một tuyến nhân vật chủ đạo khác trong Nỗi buồn chiến tranh lànhững người phụ nữ đi
qua cuộc đời Kiên. Trong tiểu thuyết, người phụ nữ là hiện thân của
tình yêu – đối âm của chiến tranh. Tình yêu gắn liền với cái đẹp, với
nhân tính là cái đối lập với bạo lực hủy diệt nhân tính. Nếu như chiến
tranh đánh thức trong Kiên phần tàn tạo, biến anh thành một cỗ máy, “âm
thầm và mệt mỏi” – nghĩa là vô cảm – của sự giết chóc thì những người
phụ nữ từ Hạnh cho đến Phương, đến người nữ y tá trong Điều trị 8 (một
hóa thân của Phương) lại đánh thức trong anh tình yêu, một tình yêu mà
cho đến tận cuối cuộc đời anh, vĩnh viễn không trọn vẹn. Những người phụ
nữ hóa thân thành những tiếng gọi níu kéo Kiên không chỉ với cuộc sống
và cả với cái thiện, nhân tính và tình người. Trong khoảnh khắc khi anh
chuẩn bị thực hiện cuộc hành quyết những người lính đối phương, chính
tiếng nói của Phương (“Anh sẽ giết nhiều người chứ ?” “Sẽ thành anh hùng
chứ?”) đã níu kéo anh ở lại ở phía bên này của cái thiện. Trong những
khoảnh khắc tuyệt vọng của cuộc đời, người phụ nữ hiển hiện như nơi trú
ẩn của cuộc đời anh (hiển hiện qua hình ảnh người thiếu phụ ở Đồi Mơ) và
là ngọn nguồn nuôi dưỡng cảm hứng sáng tạo trong anh (Phương và người
đàn bà câm). Có thể nói trong tiểu thuyết của Bảo Ninh, người phụ nữ là
biểu tượng cho cái Đẹp và Nhân tính, những thứ có ý nghĩa với cuộc đời
Kiên như một sự cứu rỗitrong một thế giới khủng khiếp của chiến tranh.
Trong ý nghĩa đó, hình tượng người phụ nữ trong Nỗi buồn chiến tranh có
một sự đồng vọng với hệ thống hình tượng những người đồng đội đã chết
của Kiên. Người phụ nữ không chỉ là ánh sáng cứu rỗi cuộc đời con người
mà còn là nạn nhân của sự hủy diệt. Điều đó được biểu thị
tập trung trong hình tượng Phương, người phụ nữ xuyên suốt cuốn tiểu
thuyết. Đối với Kiên, Phương là người đánh thức tình yêu trong anh thời
tuổi trẻ, là nguồn sức mạnh chập chờn trong quãng đời chiến trận của anh
nhưng đồng thời, Phương cũng là một nạn nhân của chiến tranh, bị làm
nhục ngay trong những giờ khắc khởi đầu của cuộc chiến và mối tình của
họ mãi mãi là một mối tình đau khổ không thành với những vết thương
không thể chữa lành trong cuộc sống thời bình. Cái chết của những người
lính, sự tan vỡ của tình yêu và sự chà đạp nhân phẩm người phụ nữ là
những mặt biểu hiện sức mạnh hủy diệt của chiến tranh, sức mạnh chà đạp lên đời sống con người.
Từ góc nhìn này, có thể dọi một ánh sáng
khác vào mối quan hệ kỳ lạ vượt qua tuổi tác giữa cha của Kiên và
Phương. Cha và dượng của Kiên thuộc về cùng một hệ thống, chính xác hơn,
một kiểu nhân vật. Họ nổi bật ở sự yếu đuối và lạc loài. Họ là những
hình ảnh cuối cùng buồn bã của một lớp người đã qua, một thứ chứng tích
của thời thuộc địa, những “nhà thơ thời tiền chiến” (dượng của Kiên) và
những hoạ sĩ thời “mỹ thuật Đông Dương” (cha của Kiên). Cắm rễ vào một
thời đại “nhất khứ bất phục phản”, không thể hoà nhập vào đời sống và
thời đại hiện tại (những dằn vặt về sáng tạo bộc lộ qua những cơn mê
sảng của cha Kiên), họ như những cái bóng hiu hắt của quá khứ giữa thời
hiện tại. Ở phương diện đó những con người này vừa có ý nghĩa như một sự
đối chiếu (cái lãng mạn và một thứ tự do cá nhân của một thời đã qua và
cái anh hùng của một thời đang đến, một thời bão táp và cách mạng của
thế hệ Kiên), vừa nổi bật ở một khả năng tiên cảm về thời đại sắp tới.
Khả năng tiên cảm ấy thể hiện ở những lời tiễn biệt buồn bã như một lời
trăn trối của dượng với Kiên trước ngày anh ra trận trong ngôi nhà nhỏ
bên sông Hồng. Nó thể hiện trong cái nghi thức “man rợ và dấy loạn” của
cha Kiên đốt đi toàn bộ tác phẩm của mình trước khi ông từ dã cõi đời.
Đối với ông, hành vi đốt tác phẩm thể hiện điểm tột cùng của một sự lạc
loài của một tâm hồn trong thời đại mới đồng thời cũng là tiên cảm về
mặt bên kia của một thời đại chiến tranh đang tới, một thời đại anh hùng
nhưng tột cùng đe doạ đối với cái Đẹp – cái giá đau đớn của chiến
tranh. Mối quan hệ và những tình cảm của cha Kiên giành cho Phương vượt
ra ngoài trường ngữ nghĩa của những tình cảm thông thường của con người.
Đó là sự chiêm ngưỡng Cái Đẹp (ở ý nghĩa phổ quát) của một người nghệ
sĩ và sự lo âu của một người thấu thị trước tương lai về những mối đe
doạ đối với Cái Đẹp.
Trong tiểu thuyết của Bảo Ninh, hình
tượng người cha nghệ sĩ của Kiên cũng có giá trị như một thứ Đạm Tiên
báo trước cuộc đời anh. Đi qua chiến tranh với hành trang là những kỷ
niệm “có thể là êm đềm, có thể là ác hại”, Kiên trở thành người bị cầm
tù của quá khứ với một thứ “thiên mệnh” thiêng liêng ngược về quá khứ.
Anh cũng phải trải qua những vật vã trong sáng tác và những đau đớn
trong cuộc đời hiện tại như cha mình. Và hành động cuối cùng trong cuộc
đời nghệ sĩ của anh cũng là một nghi lễ thiêu huỷ toàn bộ sản phẩm tinh
thần của cuộc đời mình. Hành động đó mang một ý nghĩa hai mặt. Với Kiên,
hoàn thành cuốn tiểu thuyết đồng nghĩa với việc hoàn tất một thiên
chức, thiên chức “kể lại, viết lại, làm sống lại những linh hồn đã
mai một, những tình yêu đã phai tàn, bừng sáng lại những giấc mộng xưa”,
thiên chức nói thay lời trăn trối của những người đã khuất, lời trăn
trối về “sự nghiệp liêng đau khổ của người lính chống Mỹ”, để cho tiếng
nói của “cả một thế giới, một thời đại, cả một lịch sử” không bị vùi
xuống lòng sâu đất ẩm cùng với thân xác vô danh của những người lính,
cho dù “bản thân việc nhận thức ra được lời trăn trối đó chẳng mang lại
gì nhiều cho đời sống hiện tại”. Đối với Kiên, nếu như thiên chức viết
văn đồng nghĩa với thiên chức cuộc đời thì khoảnh khắc khi anh hoàn
thành tác phẩm, thách thức cuối kết của cuộc đời, cũng là thời điểm anh
thức nhận được trọn vẹn nhất chân lý của cuộc đời anh cũng như những năm
tháng trận mạc. Vượt qua những kinh hoàng và bạo hành của chiến tranh,
vượt lên trên cái sức mạnh huỷ diệt của chiến tranh, cái còn lại, cái
sức mạnh thực sự “làm nên vẻ đẹp tinh thần của cuộc kháng chiến”, cái
bất tử mà chiến tranh không thể huỷ diệt nổi chính là Nhân tính và Tình
người “bất diệt những tình nguời”. Chỉ khi thức nhận được chân lý bình
dị nhưng cũng đau đớn đó Kiên mới có thể giải thoát khỏi gánh nặng của
những ám ảnh đen tối của quá khứ. Ở đó hành vi đốt bản thảo và từ bỏ
“ngọn hải đăng Hale”, căn phòng và khu phố kỷ niệm có ý nghĩa như một
giải thoát trong một sự giác ngộ thiêng liêng. Khác với những nhân vật
điển hình của mỹ học phản ánh xã hội, những hình chiếu của những tấng
lớp xã hội, hình tượng Kiên và người cha của anh trước hết cần được hiểu
những số phận dị thường, những thực thể cô độc và cá biệt mà một thứ
“thiên mệnh vô danh, thiêng liêng và cao cả, song tuyệt đối bí ẩn” đã
buộc họ phải trải qua những cảnh huống đầy trái ngược của lịch sử, đúng
như Kiên đã thú nhận : “Chính bởi thiên mệnh ấy mà anh có một tuổi thơ
như thế, một tuổi hoa niên, một thời chiến trận như thế và tóm lại, một
cuộc sống như đã sống suốt bốn chục năm qua với những đau khổ và hạnh
phúc như thế. Cũng vì mang trong đời một định mệnh huyền cơ nào đấy nên
anh mới có thể sống sót qua cuộc chiến tranh với những hoàn cảnh mà bình
thường ra không thể có cơ hội thoát chết. Ánh sáng trong suốt và hình
bóng vô hình của một thiên mệnh như thế thực ra đã từng biểu hiện trong
đời anh nhưng thoảng lướt và bất chợt đến nỗi không bao giờ anh kịp
hiểu, không bào giờ kịp níu giữ”.Vị thế cô độc và số phận dị thường ấy
giúp họ nhìn thấy được những góc khuất của lịch sử. Cái nhìn của họ
không phải là sự phản chiếu cái nhìn cộng đồng về lịch sử mà nó là một
cái nhìn, một suy nghiệm cá nhân về lịch sử. Chỉ có điều, nếu như cha
của Kiên sau khi đã thấu thị những đe doạ của một thời đại mới đối với
cái đẹp, ông dừng lại ở bên này cánh cửa của lịch sử (cái chết về tinh
thần – đốt tranh – và thể xác trước chiến tranh) thì Kiên lại đi theo
một hành trình khác : dấn thân vào chiến tranh, trải nghiệm những cảnh
huống kinh hoàng của chiến tranh và ra khỏi chiến tranh với gánh nặng
của những kỷ niệm đau đớn. Tuy vậy, bằng một ý chí sống thấm đẫm màu sắc
chủ nghĩa anh hùng, trong những ngày tháng hậu chiến, anh đã vật lộn
với những ám ảnh quá khứ để đạt đến một sự thấu thị về ý nghĩa cao cả
của cuộc chiến tranh, về những gì bất diệt trong chiến tranh, về những
gì mà bạo hành và cái chết không thể huỷ diệt : “vĩnh cửu những tình
người”. Theo chúng tôi, đó chính là chìa khoá để “đọc sâu” (close
reading) tác phẩm vào loại gây tranh cãi nhiều nhất của văn học đương
đại này. Sự thức nhận của nhân vật chính trong thời điểm kết thúc cuộc
hành trình tâm tưởng của anh trong những ngày hậu chiến phản ánh một
dạng thức của chủ nghĩa anh hùng : đối diện với sự thật đau thương
của chiến tranh để chạm đến ý nghĩa đích thực, đẹp đẽ và cao cả của
cuộc chiến – một thứ chân lý cao cả được giác ngộ từ những trải nghiệm
đau đớn. [5] Ở đó, anh nhận ra cái bản chất hai mặt của chiến
tranh : “Những ngày đau thương nhưng vinh quang. Những ngày bất hạnh
nhưng tràn ngập tình người”. Chính vì vậy nên với Kiên trở về với những
hồi ức của chiến tranh không chỉ là trở về với những ám ảnh kinh hoàng
của trận mạc mà còn là cuộc hành trình trở về để được “sống trong mùa
xuân của những tình cảm mà ngày nay đã biến mất, đã già cỗi hoặc biến
tướng. (…) về gần với tình yêu, với tình bạn, tình đồng chí, những tình
cảm đã giúp chúng ta vượt qua ngàn nỗi đau đớn của chiến tranh”. Và bay
bổng trên cuộc hành hương ngược về quá khứ, trên sự thức nhận nhọc nhằn,
đau đớn nhưng tuyệt đẹp đó là nỗi buồn chiến tranh, nỗi
buồn của những con ngưòi đã đi qua và trải nghiệm chiến tranh, đã chứng
kiến sức mạnh huỷ diệt của chiến tranh, chứng kiến sự trỗi dậy của cái
ác trong chiến tranh, chứng kiến những gì tốt đẹp nhất bị giết chết
trong chiến tranh, chứng kiến “những người ưu tú nhất, tốt đẹp nhất,
xứng đáng hơn ai hết quyền được sống trên cõi dương” bị tước đoạt sự
sống trong chiến tranh. Nhưng cũng chính sự dai dẳng của nỗi buồn ấy
cũng là minh chứng cho một cái gì không thể bị huỷ diệt bởi chiến tranh
: Nhân tính và Tình người. Đó chính là cảm giác mà Người trần thuật
khái quát trong điểm kết thúc cuốn tiểu thuyết : “Nhưng chúng tôi cùng
chia xẻ chung một nỗi buồn, nỗi buồn chiến tranh mênh mông, nối buồn cao
cả, vượt lên trên mọi niềm hạnh phúc, mọi nỗi bất hạnh. Nhờ có nó,
chúng tôi đã sống sót qua cuộc chiến, thoát khỏi cảnh giết chóc triền
miên, thoát khỏi sự bao vây đau đớn của súng đạn, lưỡi lê, sự ám ảnh của
bạo hành để trở về, mối ngưòi theo một con đường khác nhau, với cuộc
đời, một cuộc đời, không chắc đã hạnh phúc hơn, (…), nhưng đó là cuộc
đời tốt đẹp nhất mà chúng tôi có thể mơ ước, cuộc sống trong hoà bình”.
Trong ý nghĩa cuối cùng của tác phẩm đó, có lẽ, đã đến lúc phải trả lại
tên thật cho cuốn tiểu thuyết : Nỗi buồn chiến tranh.
4. Cái nhìn mới về hiện thực chiến tranh và con đường mới viết về chiến tranh trong thời hậu chiến
Ở điểm cuối cùng của một hành trình
xuyên qua các lớp cấu trúc hình thức và biểu tượng của văn bản tiểu
thuyết, có thể khằng định, trong Nỗi buồn chiến tranh, Bảo
Ninh đã xác lập một cái nhìn mới về hiện thực lịch sử – hiện thực chiến
tranh. Mới trong sự đối chiếu với văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa
trong chiến tranh và trước 1986. Cái mới ở đây được xác định không chỉ ở
việc anh đưa vào trong tác phẩm của mình những chất liệu hiện thực chưa
từng có trong văn học chiến tranh (dẫu điều này cũng có giá trị thẩm mỹ
riêng) mà trước hết thể hiện ở việc anh đã tìm đến một phương pháp tiếp
cận hiện thực khác với phương pháp điển hình hoá của văn học hiện thực
truyền thống. Anh không tiếp cận hiện thực thông qua những nhân vật
điển hình, hoặc mang tính phản ánh, hoặc mang tính lý tưởng (trong văn
học hiện thực xã hội chủ nghĩa sẽ là sự kết hợp cả hai yếu tố này). Anh
xây dựng và tô đậm tính cá biệt của số phận nhân vật. Anh rời bỏ phạm vi
tồn tại xã hội và đi sâu vào chiều kích tâm lý của nhân vật. Chính vì
vậy, nhân vật chính trong cuốn sách của Bảo Ninh có giá trị vừa như một
số phận đặc biệt, vừa như một thứ Nhân vật – Người chứng. Dạng thức này
tạo nên một khoảng cách giữa nhân vật và hiện thực lịch sử đồng thời
thay đổi bản chất quá trình phản ánh hiện thực trong tác phẩm. Theo đó,
nhà văn không mô tả trực tiếp hiện thực mà “ghi lại” hình chiếu của hiện thực qua tấm gương một ý thức cá nhân.
Trong một tham luận tại Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ II (TP Hồ
Chí Minh – 2004), chúng tôi xác định phương thức phản ánh hiện thực này
là một phương diện của quá trình cá nhân hoá hư cấu.
Trong một cái nhìn rộng hơn, sự xác lập
cái nhìn mới về hiện thực trong tiểu thuyết của Bảo Ninh tương ứng với
những thay đổi về quy chế tồn tại của người nghệ sĩ và đời sống văn học
và đời sống xã hội. Nỗi buồn chiến tranhđược ra đời từ những thay đổi của văn học Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới mà một trong những tiến trình nòng cốt chính là khẳng định vai trò độc lập của cá nhân nghệ sĩ trong đời sống văn học nghệ thuật. Đó cũng là thời điểm cố nhà văn Nguyễn Minh Châu công bố tiểu luận Hãy viết lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ trên
tuần báo Văn nghệ. Xuyên qua lớp ngôn từ gây sốc của bài tiểu luận có ý
nghĩa như một lời di chúc của nhà văn quân đội đã trải qua chiến tranh
giải phóng dân tộc, có thể nhận thấy một tiếng gọi khẩn thiết kêu gọi
tinh thần trách nghiệm của từng cá nhân nghệ sĩ trong mối quan hệ với
đời sống xã hội, theo đó, người nghệ sĩ không chỉ phản chiếu cái nhìn về
hiện thực của cộng đồng mà còn có trách nghiệm, bằng lao động nghệ
thuật, làm phong phú hơn cái nhìn đó bằng những sáng tạo cá nhân. Trong
một cái nhìn có tính liên văn bản (intertextualité), có thể thấy kiểu
Nhân vật – Người chứng, hành trình “đi tìm thời gian đã mất” của kiểu
nhân vật này và môtíp chuyến đi tìm hài cốt đồng đội (có ý nghĩa như một
ẩn dụ) trong tác phẩm của Bảo Ninh cũng từng được báo trước trong những
tác phẩm có ý nghĩa như một cuộc cách mạng trong văn học chiến tranh
của Nguyễn Minh Châu : Mùa trái cóc ở miền Nam và Cỏ lau.
Khoan hãy nói đến những quan hệ kế thừa và ảnh hưởng thì cũng có thể
khẳng định sự đồng vọng của một loạt vấn đề lớn của văn học viết về
chiến tranh thời hậu chiến đồng vọng trong sáng tác của những tác giả
này : thân phận con người trong chiến tranh (sự mất mát tuổi thanh xuân
và sự tan vỡ của tình yêu…), sự sám hối trước những món nợ của chiến
tranh, suy tư về nhân tính trong chiến tranh và sau chiến tranh. Mở rộng
trường khảo sát, có thể nhận thấy sự tương đồng trong cái nhìn về mặt
trái của hiện thực chiến tranh (những thất bại trên chiến trường, hình
ảnh kẻ đào ngũ, những cái chết trong chiến tranh…) trong tiểu thuyết của
Bảo Ninh và một trong những tác giả đầu tiên của làn sóng đổi mới văn
học chiến tranh : Nguyễn Trọng Oánh và tiểu thuyếtĐất trắng.
Như vậy, với những đối chiếu vừa mang
tính xã hội học văn học, vừa mang tính liên văn bản, có thể xác lập lại
cuộc đối thoại giữa tác phẩm của Bảo Ninh và đời sống văn học đương
thời. Cuốn tiểu thuyết của anh nằm trong một dòng chảy chung của văn học
viết về chiến tranh sau chiến tranh. Có những thao thức xuyên suốt sáng
tác của những nhà văn viết về chiến tranh thời hậu chiến này. Là những
công dân, họ viết về chiến tranh trong một trách nghiệm văn hoá : tìm
đến cội nguồn lý giải sức mạnh của con người Việt Nam đi qua cái tàn
khốc của chiến tranh và làm nên Chiến thắng. Là những người lính, họ
viết về chiến tranh trong một món nợ tinh thần với những người đã khuất :
làm sống lại hình ảnh của những “đồng đội thân yêu và ruột thịt, vô số
và vô danh, những liệt sĩ của lòng nhân, đã làm sáng danh đất nước này
và đã làm nên vẻ đẹp tinh thần cho cuộc kháng chiến”. Là những nghệ sĩ
có bản lĩnh trí thức, họ đối diện với thực tại của chiến tranh để phản
ánh được những mất mát thật sự đối với một dân tộc : sự tổn thương nhân
tính và tình người. Điều này đặc biệt được thể hiện một cách đậm đặc
trong hai bản di chúc nghệ thuật cuối cùng của Nguyễn Minh Châu : Mùa trái cóc ở miền Nam và Cỏ lau.
Độ lùi thời gian sau chiến tranh và nền văn hóa hậu chiến đặt ra cho
tác phẩm của họ những câu hỏi khác với văn học viết về chiến tranh trong
chiến tranh.
Riêng Bảo Ninh, anh đã đẩy những khuynh
hướng nghệ thuật của những nhà văn đi trước đến một chiều kích mới. Anh
quyết liệt từ bỏ hình thức tiểu thuyết hiện thực truyền thống (theo kiểu
tiểu thuyết – ký sự như Đất trắng) để theo đuối tiểu
thuyết tâm lý. Anh đưa vào những chiều kích hiện thực chưa từng có
trong tiểu thuyết của những nhà văn thế hệ trước : yếu tố tình dục,
những “hình ảnh đen” về chiến tranh,… Nhưng đồng thời, anh cũng sáng
tạo nên một sắc thái anh hùng mới của văn học viết về chiến tranh.
Trong Nỗi buồn chiến tranh, những mất mát và đau thương mà
con người phải chịu đựng trở thành một chiều kích không thể quy giản.
Không lẩn tránh hoặc trừu tượng hoá chiều kích đó, Bảo Ninh cụ thể hoá
nó thành những dòng tâm tư khủng khiếp của những ám ảnh theo đuổi cựu
chiến binh Kiên suốt quãng đời hậu chiến. Dẫu vậy, trong anh, những đau
đớn của cuộc sống hiện tại còn xuất phát từ sự lạc lõng của anh trước
“nền hoà bình thản nhiên thời hậu chiến”. Chính sự xung đột ấy khơi dậy
trong anh cái thiên mệnh phải làm phục sinh lại quá khứ, như một cuộc
đấu tranh chống lại sự lãng quên. Và cũng chính trong cuộc hành trình
đau đớn để làm phát lộ những chân lý đầy nhân bản về chiến tranh và con
người trong chiến tranh đó, hắt lên một ánh sáng khác vào toàn bộ quá
khứ trận mạc của anh. Đối với Kiên, “sống ngược trở lại con đường của
mối tình xưa, chiến đấu lại cuộc chiến đấu”, “làm sống lại những linh
hồn đã mai một, những tình yêu đã phai tàn, bừng sáng lại những giấc
mộng xưa” có ý nghĩa như một “con đường cứu rối của anh”. Cứu rỗi bởi lẽ
quãng đời chiến trận dẫu là quãng đời khủng khiếp nhất mà anh đã phải
trải qua những cũng là quãng đời đẹp đẽ nhất mà một con người có thể
được sống. Trở về với quá khứ chính là trở về với tất cả những gì đẹp đẽ
nhất đó, trong một thứ ánh sáng thiêng liêng. Cảm giác đó sau này sẽ
được tô đậm trong một truyện ngắn tuyệt đẹp của chính Bảo Ninh về Hà Nội lúc không giờ.
Đó là cảm giác của một con người tìm thấy lại được quá khứ của mình
trong một giác ngộ thiêng liêng : “(…) thời gian càng nhích sâu vào trời
khuya để đến với ngày mai thì chúng tôi càng về gần hơn với Hà Nội
những đêm xưa, với Hà Nội trong vắt lúc không giờ. Về gần hơn với bạn bè
một lứa bên trời, về gần hơn với tình yêu ban đầu, về gần hơn với tuổi
thơ non dại. Sinh ra, lớn lên, rồi làm lụng, rồi chiến đấu và hy sinh
cho thành phố này, thế hệ chúng tôi được hưởng phép mầu của nó, trở
thành một thế hệ mãi mãi tuổi thanh xuân của một thành phố trẻ trung
vĩnh hằng”.
Nếu như ký ức chiến tranh trở thành một ám ảnh đeo đẳng nhân vật trong tiểu thuyết của Bảo Ninh thì đối với anh, Nỗi buồn chiến tranh cũng trở thành một tác phẩm ám ảnh toàn bộ sự nghiệp sáng tác của anh, ít nhất cho đến thời điểm hiện tại. Sau Nỗi buồn chiến tranh,
anh hầu như chỉ sáng tác những truyện ngắn. Thế giới những truyện ngắn
đó giống như những mảnh vỡ của tiểu thuyết hoặc phản chiếu, hoặc soi
sáng thế giới của tiểu thuyết. Một loạt chủ đề truyện ngắn của anh như
những mất mát của tuổi trẻ và tình yêu trong chiến tranh (Hà Nội lúc không giờ, Khắc dấu mạn thuyền, Rửa tay gác kiếm…), ký ức về thời thuộc địa và những con người thời thuộc địa (La Mácxâye, Tiếng vĩ cầm của kẻ thù,…),
.. giống như một vệt kéo dài vang vọng của những môtíp đã hiển hiện
trong cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh. Có những chủ đề mà đối chiếu
với Nỗi buồn chiến tranh, ngưòi đọc có thể tìm thấy một sự soi sáng những ý nghĩa còn ẩn dấu của cuốn tiểu thuyết (Hà Nội lúc không giờ). Có những chủ đề như một sự tiếp nối và mở rộng của Nỗi buồn chiến tranh : khát vọng hoà giải dân tộc sau chiến tranh (Lá thư từ Quý Sửu) hay rộng hơn, những suy tư về toàn bộ lịch sử dân tộc và sư hàn gắn những chia rẽ giữa con ngưòi sau những bão táp lịch sử (Thời tiết của ký ức). Một lối đọc có tính soi sáng lẫn nhau như vậy cho phép phát lộ bản chất đích thực của Nỗi buồn chiến tranh,
nó không phải là một đối âm của những tượng đài văn học chiến tranh mà
văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa đã tạo dựng qua hai cuộc chiến tranh
lớn của lịch sử dân tộc. Nó là một sự đào sâu hiện thực chiến tranh bằng
những trải nghiệm cá nhân để làm phong phú thêm cái nhìn của cộng đồng
về hiện thực lịch sử.
Bảo Ninh thuộc về một kiểu người viết
đặc biệt của văn học Việt Nam đương đại : những nhà văn từng đi qua
chiến tranh với tư cách người lính. Ở Việt Nam, hầu hết những thành tựu
chính của văn học viết về chiến tranh đều thuộc về kiểu tác giả này. Một
số người trong số họ không còn nữa, một số người vẫn tiếp tục sáng tác
(Nguyễn Trí Huân, Chu Lai, Bảo Ninh …). Nhưng, bằng những thành tựu nghệ
thuật không thể phủ nhận của văn học viết về chiến tranh từ 1986 đến
nay, những nhà văn này đã khẳng định cho một con đường tìm tòi nghệ
thuật : nhìn thẳng vào hiện thực chiến tranh, bằng những trải nghiệm và
cái nhìn cá nhân, tái hiện lại cái chiều kích đau thương và bộ mặt tàn
khốc không thể quy giản của chiến tranh, nói lên tiếng nói cảnh báo về
những hiểm hoạ của chiến tranh để lại sau chiến tranh nhưng đồng thời,
phục dựng lại hình ảnh của những con người bằng sự chịu đựng và sức mạnh
anh hùng đã thực sự làm nên sức mạnh cho cuộc kháng chiến, tái sinh lại
những khát vọng nuôi dưỡng cả một dân tộc trong chiến tranh. Ở điểm đó,
có thể khẳng định về sức sống không thể phủ nhận của một con đường nghệ
thuật.
Aix en Provence, 12/2004
[1] Nguyễn Trãi, Cáo Bình Ngô. Dịch : Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân để thay cường bạo
[2] A. Camus, Discours de Suède (Diễn từ ở Thuỵ Điển). Dịch : Nhà văn phục vụ những kẻ chịu đựng lịch sử
[3] Về sự đối chiếu mô hình tiểu thuyết của Bảo Ninh và một số tiểu thuyết gia Âu Châu thế kỷ XX, xin xem Đỗ Đức Hiểu, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, in trong sách Thi pháp hiện đại, phần III- Phê bình truyện, NXB Hội nhà văn, HN, 2000
[4] Về khuynh hướng tiếp cận phân tâm
học các tác phẩm của Bảo Ninh và một số nhà văn đương đại khác (Nguyền
Minh Châu, Dương Hướng, Võ Thị Hảo,…), có thể xem một số bài viết của
nhà phê bình Đoàn Cầm Thi công bố trên website www.evan.com.vn : Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn học Việt Nam đương đại và Về nhân vật Phương, người phụ nữ Hà Nội và chủ đề chiến tranh trong tiểu Nỗi buồn chiến tranh.
[5] Trong một cuộc trả lời phỏng vấn gần
đây, khi được hỏi về cuộc sự xung đột giữa nhân vật trong tiểu thuyết
và thực tại như “một dạng Hămlét muộn màng”, Bảo Ninh thú nhận : “Nhân
vật của tôi có dằn vặt, có nội tâm nhưng chưa phải là trí thức. Họ là bộ
đội, họ suy nghĩ như vậy, thế thôi”. Chúng tôi hiểu phương diện “bộ
đội” (ở ý nghĩa thiêng liêng nhất của khái niệm) trong những nhân vật
của Bảo Ninh, đặc biệt trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh ở phương diện đầy mầu sắc anh hùng này.
BÙI VIỆT THẮNG
Họ đã nói về cuộc chiến Việt Nam
TP - Sau 36 năm kết thúc cuộc chiến Việt Nam (1954-1975), quan hệ giữa
hai cựu thù Mỹ - Việt Nam đã được bình thường hóa và có những bước phát
triển. Tuy nhiên, cuộc chiến vẫn là chương đau thương đối với người dân
Việt Nam, cũng như công chúng yêu chuộng hòa bình Mỹ nói riêng và thế
giới nói chung.
Nhân dịp 30-4 năm nay, hãy cùng đọc lại và suy ngẫm
những câu nói nổi tiếng (theo nhiều nghĩa) của những người “phía bên kia
chiến tuyến” về cuộc chiến.
John F. Kenedy.
“Hiện giờ chúng ta gặp vấn đề trong việc chứng minh sức mạnh của mình, và Việt Nam là nơi đang diễn ra điều đó”. (John F. Kenedy)
Tổng thống Mỹ John F. Kennedy năm 1961 nói với phóng
viên James Reston như vậy. Ông Kenedy lúc ấy đang e sợ tiếp tục thất bại
tại nam Việt Nam.
Curtis LeMay.
“Giải pháp của tôi là nói thẳng với người Việt Nam
rằng họ liệu mà co vòi lại hoặc chúng ta sẽ ném bom đưa họ quay trở về
Thời kỳ đồ đá”. (Curtis LeMay)
Đầu năm 1964, tình hình chính trị và quân sự của chế độ
Sài Gòn ngày càng xấu đi. Tháng 5-1964, khi được hỏi có giải pháp nào
có thể cứu vãn tình thế, Tư lệnh Không quân Mỹ, tướng Curtis LeMay đã
nói như trên.
Lyndon B Johnson.
“Chúng ta sẽ không phái các chàng trai Mỹ đi tới
một nơi cách nhà 9-10 ngàn dặm để làm những việc mà những chàng trai
châu Á lẽ ra phải tự giải quyết với nhau”. (Lyndon B Johnson)
Tháng 10-1964, Tổng thống Mỹ Lyndon B Johnson vấp phải
sự phản đối từ dân chúng Mỹ khi chính phủ nước này dựng lên cái gọi là
“sự kiện” Vịnh Bắc Bộ trước đó không lâu (5-8-1964). Người ta bình luận
ông Johnson muốn xoa dịu dân chúng Mỹ.
“Cuộc chiến tranh chống Việt Nam chỉ đơn thuần là
sự hiện hình ghê sợ nhất của cái tôi gọi là “chủ nghĩa địa phương đế
quốc”, vốn đã làm khổ sở cả nền văn hóa Mỹ: chỉ công nhận lịch sử của
chính nó, vô cảm với mọi thứ không mang những thuộc tính của bầu không
khí bản địa”. (Stephen Vizinczey)
Nhà văn Canada gốc Hungary, Stephen Vizinczey, nói về cuộc chiến Việt Nam, năm 1968.
“Tôi sẽ không trở thành tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thua trong một cuộc chiến”. ”(Richard M. Nixon)
Tổng thống Mỹ Richard M. Nixon, tháng 10- 1969. Lúc này
người ta đã bóng gió về sự thất bại của quân đội Mỹ trên chiến trường
Việt Nam.
“Chúng ta hãy hiểu rằng: Bắc Việt không thể đánh bại hay làm bẽ mặt nước Mỹ. Chỉ người Mỹ mới có thể làm được điều đó”.(Richard M. Nixon)
Ngày 3-11 -1969, Tổng thống Mỹ Richard M. Nixon có bài
phát biểu trên truyền hình trong bối cảnh Mỹ đang sa lầy tại Việt Nam và
nội bộ nước Mỹ đang chia rẽ.
Nguyễn Văn Thiệu.
“Nếu người Mỹ không muốn hỗ trợ chúng tôi nữa, hãy để họ đi, hãy biến khỏi Việt Nam. Hãy để họ quên đi những lời hứa nhân từ”! (Nguyễn Văn Thiệu)
Tổng thống Việt Nam cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu “tố”
người Mỹ “đem con bỏ chợ”, ngày 10-3- 1975, trong khi quân ta mở cuộc
tấn công vào Buôn Ma Thuột.
Henry Kissinger.
“Vài bình luận gia nhận định (cuộc chiến) Việt Nam
là một vở kịch đạo đức trong đó kẻ xấu phải bị trừng phạt trước khi hạ
màn, là nơi mọi nỗ lực cứu chuộc hay vớt vát lòng tự trọng đều trở nên
sai lầm. Tôi coi cuộc chiến này là bi kịch chính cống. Không ai có độc
quyền về sự thống khổ”. (Henry Kissinger)
Cố vấn an ninh liên bang, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ,
người sát cánh cùng nhiều đời tổng thống Mỹ, nói về ngày 30-4-1475, khi
nhìn nhận lại cuộc chiến Việt Nam, năm 1979.
Martha Gellhorn.
“Người Mỹ đã không bồi thường chút gì cho người
Việt Nam, không gì cả. Chúng ta giàu nhất thế giới, và họ nằm trong số
nghèo nhất. Chúng ta tàn ác với họ dù họ chưa bao giờ làm ta đau, và
chúng ta không tìm thấy điều ấy trong tim, trong danh dự, để chìa tay
giúp đỡ họ, bởi vì chính phủ Việt Nam là những người cộng sản. Và có lẽ
còn bởi vì họ là người chiến thắng”. (Martha Gellhorn)
Nữ nhà văn, nhà báo Mỹ, viết trong cuốn sách The face of war (Bộ mặt của chiến tranh) năm 1986.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét