Có thể nói, thông điệp
của Giáo hoàng Francis đưa ra không chỉ có ý nghĩa với người dân Bosnia
- Herzegovina, mà với cả nhân loại "trong bối cảnh thông tin liên lạc
toàn cầu, chúng ta cảm nhận được một bầu không khí chiến tranh đang bao
phủ" (Lời của Giáo hoàng Francis, theo AFP). Những cuộc xung đột trên
khắp thế giới thực chất "là một kiểu chiến tranh thế giới", và theo Giáo
hoàng thì "Một số người cố tình kích động và xúi giục bầu không khí
chiến tranh này, muốn tạo ra sự chia rẽ để trục lợi từ chiến tranh". Từ
việc khẳng định: "Chiến tranh có nghĩa trẻ em, phụ nữ, người già phải
sống trong những trại tị nạn, trong khi nhà cửa, đường sá, nhà máy bị
phá hủy", Giáo hoàng Francis kêu gọi "Đừng bao giờ có chiến tranh nữa";
đồng thời ông nhấn mạnh: "Việc biến gươm giáo thành lưỡi cày không phải
chỉ là chuyện thi ca trong Thánh Kinh, mà là một mục tiêu có thể thực
hiện được trong thế giới chính trị hiện thực ngày nay".Mục tiêu mà Giáo
hoàng đưa ra có thể thực hiện nếu mỗi bên có thể điều hòa mâu thuẫn bằng
đối thoại với tinh thần xây dựng trong hòa bình. Mục tiêu này rất có ý
nghĩa khi được trình bày tại Bosnia - Herzegovina, nơi đã diễn ra một
cuộc xung đột đẫm máu trong những năm 90 của thế kỷ trước, và kết thúc
với Hiệp định Dayton (Đây-tơn) sau khi các bên đàm phán đạt được thỏa
thuận tại Ohio (Ô-hai-ô) (Mỹ) năm 1995.
Không phải ngẫu nhiên Giáo hoàng Francis lại chọn Sarajevo -thủ đô
của Bosnia - Herzegovina, là điểm đến thăm và đưa ra thông điệp hòa
bình. Thành phố Sarajevo là một điển hình để thấy rõ hậu quả nặng nề của
chiến tranh, cũng như ý nghĩa to lớn của hòa bình. Đây là thành phố với
nhiều văn hóa tôn giáo và sắc tộc rất khác nhau, đó là thành phố lớn
duy nhất ở châu Âu có tín đồ của bốn tôn giáo lớn là Hồi giáo, Chính
thống giáo, Do Thái giáo, Công giáo cùng chung sống từ nhiều thế kỷ.
Nhưng cuộc chiến tranhh giữa người Serbia (Xéc-bia) theo Chính thống
giáo với người Bosnia theo Hồi giáo đã để lại những hậu quả nặng nề.
Trong bốn năm chiến tranh (1992 -1995) đã có khoảng 100.000 người chết,
hai triệu người mất nhà cửa. Sarajevo là thành phố bị bao vây lâu nhất
trong lịch sử chiến tranh hiện đại: 1.425 ngày.
Thành phố tươi đẹp và mang bề dày văn hóa này đã bị tàn phá bằng đạn
pháo hạng nặng, xe tăng và nhiều loại vũ khí khác. Kết quả là 11.541
người đã thiệt mạng, trong đó có 1.500 trẻ em; 56.000 người bị thương,
trong đó có 15.000 trẻ em. Sau khi đạt được thỏa thuận hòa bình Dayton
và nỗ lực tái thiết, Sarajevo hiện nay là thành phố phát triển nhanh
nhất của Bosnia - Herzegovina, được xếp hạng là thành phố đẹp thứ 43 của
thế giới và năm 2009, được coi là một trong 10 thành phố hàng đầu đáng
tới thăm.
Sarajevo được đề cử làm Thủ đô văn hóa của châu Âu vào năm 2014 và sẽ
là nơi tổ chức Vận hội tuổi trẻ châu Âu trong năm 2017. Chuyến thăm
Bosnia -Herzegovina và phát ngôn của Giáo hoàng Francis tại đây đã được
dư luận yêu hòa bình hết sức hoan nghênh. Và điều cần quan tâm là trước
đó, Giáo hoàng Francis cũng đã đến thăm Anbani (An-ba-ni) (tháng 9-2014)
và Srilanka (Xri Lan-ca) (tháng 1-2015), đó là những quốc gia vừa thoát
khỏi các biến động xã hội phức tạp hoặc xung đột, để rồi sau các nỗ lực
hòa giải, đã bước đầu ổn định và ngày càng khẳng định giá trị của hòa
bình.
Việt Nam nằm trên "ngã tư đường" giao lưu kinh tế và văn hóa theo
đường bộ với đường biển, giữa phương bắc với phương nam, giữa phương
đông và phương tây. Vị trí địa lý đặc biệt ấy trở thành một trong các
nguyên nhân buộc dân tộc ta phải đối diện với các cuộc chiến tranh xâm
lược. Trải qua nhiều cuộc chiến tranh với nhiều hy sinh to lớn, nhân dân
Việt Nam luôn yêu quý và trân trọng những giá trị mà hòa bình đem lại.
Trong tiến trình lịch sử, để bảo vệ độc lập dân tộc và phẩm giá của
mình, nhân dân ta đã nhiều lần buộc phải cầm vũ khí. Với kẻ địch mạnh
hơn nhiều lần, dân tộc Việt Nam đã chiến đấu bằng tinh thần "Đem đại
nghĩa để thắng hung tàn - Lấy chí nhân thay cường bạo".
Thời hiện đại, nhân dân Việt Nam cũng đã phải trải qua nhiều cuộc
kháng chiến chống lại các thế lực ngoại xâm và chính trong những cuộc
chiến đấu không cân sức đó, đường lối chiến tranh nhân dân, lòng yêu hòa
bình của nhân dân Việt Nam lại càng được khẳng định. Ngày 3-9-1945, chỉ
một ngày sau khi nước Việt Nam mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra
Thông cáo về chính sách ngoại giao của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, trong đó nêu rõ mục tiêu: "Xây đắp nền hòa bình thế
giới"; và giữa năm 1946, trong chuyến thăm nước Pháp, khi tham quan khu
di tích lịch sử Normandi (Noóc-man-đi), Người lấy bàn tay bịt miệng khẩu
đại bác như một biểu tượng của tinh thần: "Giữ gìn hòa bình! Ngăn chặn
chiến tranh!". Mùa đông năm 1946, khi nguy cơ chiến tranh xâm lược Việt
Nam của thực dân Pháp đã cận kề, ngày 7-12, trả lời phỏng vấn báo Paris -
Sài Gòn, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn
hòa bình.
Chúng tôi không muốn chiến tranh. Tôi biết là nhân dân Pháp không
muốn chiến tranh. Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi
cách" (Hồ Chí Minh - Toàn tập, tập 4, NXB Chính trị quốc gia, H.2011,
tr.526). Dù "Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng", nhưng
trước dã tâm của kẻ xâm lược và chiến tranh không thể tránh khỏi, cả dân
tộc đã bình tĩnh, chủ động bước vào cuộc kháng chiến với ý chí "Thà hy
sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm
nô lệ" (Hồ Chí Minh, Sđd, tập 4, tr.534). Điều này hoàn toàn khác biệt
với những kẻ chỉ "yêu nước trên đầu lưỡi", đã vội vàng bỏ chạy khi không
còn lừa bịp được nhân dân.
Ngày 20-7-1954, Hiệp định về lập lại hòa
bình ở Đông Dương được ký kết tại Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ). Việt Nam tạm thời
bị chia thành hai khu vực bắc và nam vĩ tuyến 17 để hai bên tập kết lực
lượng. Theo tinh thần của Hiệp định, Việt Nam tạm thời chia thành hai
miền, sau hai năm sẽ hiệp thương, tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Tuy
nhiên, trước khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, Mỹ đã dần dà thay
chân Pháp trong cuộc chiến ở Đông Dương.
Âm mưu ngày càng hiện rõ của Mỹ là dùng chính quyền tay sai Ngô Đình
Diệm do Mỹ dựng lên và nuôi dưỡng để thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài
Việt Nam, biến miền nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành tiền
đồn chống cộng sản tại Đông - Nam Á, để "xây con đê ngăn chặn chủ nghĩa
cộng sản tràn xuống Đông -Nam Á ở miền nam Việt Nam".
Với sự hậu thuẫn của Mỹ, Ngô Đình Diệm đã không thi hành Hiệp định
Giơ-ne-vơ và bắt đầu các chiến dịch khủng bố để tiêu diệt lực lượng cách
mạng, thậm chí lập cả kế hoạch "bắc tiến".
Một lần nữa nhân dân Việt Nam lại phải chiến đấu vì một đất nước hòa
bình. Và sau những năm tháng chiến đấu gian khổ với không biết bao nhiêu
hy sinh và mất mát, Tổ quốc Việt Nam đã thống nhất. Ra khỏi chiến
tranh, nước Việt Nam bị tàn phá nặng nề. Số lượng bom dội xuống đất nước
ta nhiều hơn gấp hai lần số bom của Mỹ và Anh đã thả xuống châu Âu
trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Hầu như tất cả các cơ sở hạ tầng
kinh tế, giao thông ở miền bắc đã bị đánh bom nhiều lần. Hàng triệu
người đã chết trong hơn 20 năm chiến tranh. Số người chịu thương tật,
tàn phế còn cao hơn nhiều và vẫn tiếp tục gia tăng trong các năm sau
chiến tranh do hậu quả bom mìn còn sót lại. Và hơn 43 triệu lít chất độc
da cam do quân đội Mỹ rải xuống miền nam Việt Nam còn gây di hại cho
nhiều thế hệ. Để khắc phục hậu quả cần nhiều nỗ lực và thời gian, cần
hơn nữa là nền hòa bình bền vững - điều kiện tiên quyết cho công cuộc
phát triển.
Bài học của mấy chục năm qua cho thấy, bằng việc giữ vững hòa bình và
ổn định, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa rất quan trọng
để chấn hưng và phát triển đất nước sau chiến tranh, trong đó có những
thành tựu đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
"Đừng bao giờ có chiến tranh nữa!". Một thế giới hòa bình là điều cần
thiết trên hết và trước hết với mọi dân tộc, chỉ có hòa bình các dân
tộc mới có cơ hội cùng tập trung trí lực, vật lực giải quyết các vấn đề
toàn cầu vì sự tồn tại, phát triển của dân tộc mình và các dân tộc khác.
Với Việt Nam, điều này càng cần thiết, vì chỉ có hòa bình chúng ta mới
có cơ hội tiếp tục sự nghiệp đổi mới để xây dựng đất nước, cùng nhân
loại chống đói nghèo, bệnh tật, chống chiến tranh và các nguy cơ đe dọa
con người. Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước, là đối tác tin cậy,
là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, chủ động hội nhập,
hợp tác cùng phát triển trong hòa bình, cùng thịnh vượng, cùng góp phần
ngăn chặn xung đột vũ trang, tạo ra môi trường thuận lợi cho quá trình
đàm phán giải quyết hòa bình mọi tranh chấp.
THIÊN PHƯƠNG
Vận dụng học thuyết Mác về chiến tranh và quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
QĐND - Trong hai thế kỷ qua, tên tuổi của C.Mác
(Karl Marx) gắn liền với một học thuyết cách mạng, làm thay đổi đời sống
hiện thực của loài người. Giá trị và sức sống trường tồn của học thuyết
Mác được thể hiện trong hàng loạt nguyên lý, quan điểm mà C.Mác đã
nghiên cứu về các hiện tượng xã hội nói chung, về con đường phát triển
của xã hội loài người nói riêng, trong đó vấn đề chiến tranh và quân đội
có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Học thuyết C.Mác về chiến tranh, quân đội là học thuyết khoa học, luận
giải sâu sắc nguồn gốc, bản chất, vai trò của chiến tranh và quân đội
trong lịch sử. Khi bàn về chiến tranh và quân đội, C.Mác và
Ph.Ăng-ghen (Friedrich Engels) khẳng định: Chiến tranh là một hiện tượng
chính trị-xã hội mang tính lịch sử. Sự ra đời, tồn tại của chiến tranh
gắn với sự ra đời của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và đối kháng
giai cấp. Chiến tranh không phải là một phạm trù vĩnh viễn và càng không
phải là tất yếu định mệnh. Con người có thể loại bỏ được chiến tranh ra
khỏi đời sống xã hội và khẳng định chiến tranh chỉ là sự kế tục của
chính trị bằng thủ đoạn bạo lực.
 |
| C.Mác, một trong những nhà tư tưởng vĩ đại trên thế giới. (Ảnh tư liệu) |
Về quân đội, C.Mác và Ph.Ăng-ghen cho rằng: Quân đội là một phạm trù
lịch sử. Quân đội ra đời và tồn tại gắn với nhà nước, giai cấp tổ chức
ra nó. Ph.Ăng-ghen trong tác phẩm “Quân đội” từng viết: “Quân đội là một
tập đoàn có tổ chức, gồm những người được vũ trang, được nhà nước đài
thọ để thực hiện chiến tranh tiến công hoặc phòng ngự”(1). Định nghĩa
trên phân biệt rõ quân đội với các tổ chức quần chúng vũ trang, các tổ
chức quân sự tự phát, công khai và bán công khai do các giai cấp, lực
lượng xã hội lập ra trong các chế độ xã hội khác nhau. Như vậy, quân đội
ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước và chỉ mất đi khi không còn
nhà nước.
Cũng theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, sức mạnh chiến đấu của
quân đội tạo nên từ nhiều yếu tố, như: Quy mô biên chế, tổ chức, quân
số, chất lượng quân nhân, số lượng và chất lượng vũ khí, trang bị, trình
độ chiến thuật, chiến dịch, chiến lược, tài nghệ quân sự của đội ngũ
tướng lĩnh… Bất luận một quân đội nào nếu thiếu một trong các yếu tố
trên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh chiến đấu của quân đội.
Kế thừa và phát triển những luận điểm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen,
V.I.Lênin (Vladimir Ilyich Lenin) tiếp tục làm rõ những quan điểm về
chiến tranh và quân đội. V.I.Lênin khẳng định: “Chiến tranh là sự tiếp
tục của chính trị bằng những biện pháp khác”(2). Luận điểm này V.I.Lênin
đã phát triển lên một tầm cao mới về bản chất chiến tranh của C.Mác và
Ph.Ăng-ghen, đồng thời khẳng định sự ra đời của quân đội là tất yếu.
Quân đội không thể đứng ngoài chính trị, “quân đội của nhà nước tư sản
là công cụ vững chắc nhất để duy trì và bảo vệ chế độ cũ, là phương tiện
quan trọng để đạt được các mục tiêu chính trị phi nghĩa”(3).
Vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin về xây dựng quân
đội kiểu mới vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã đề ra “Chính cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt” khẳng định
quan điểm bạo lực cách mạng, tổ chức, lãnh đạo quân đội công nông để
giành và giữ chính quyền. Kể từ khi thành lập quân đội cho đến nay, Đảng
ta luôn coi trọng lãnh đạo chặt chẽ và trực tiếp quân đội công nông,
không phân quyền lãnh đạo cho một giai cấp, một tổ chức, một đảng phái
nào khác. Bên cạnh việc tổ chức ra quân đội, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí
Minh chú trọng xây dựng bản lĩnh chính trị cho quân đội, coi đó là cơ sở
để xây dựng quân đội cách mạng, bảo đảm cho quân đội luôn là lực lượng
chính trị trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Hiện nay, nước ta đang thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, hội nhập quốc tế sâu rộng. Tuy nhiên, tình hình quốc tế, khu
vực có những diễn biến phức tạp, nhiều vấn đề đặt ra như: Biến đổi khí
hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, đói nghèo, khủng bố... đòi hỏi sự
chung tay của cộng đồng quốc tế. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch đang
dùng mọi thủ đoạn chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, đẩy mạnh
thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, ra sức tuyên
truyền xuyên tạc học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Mục tiêu của chúng là nhằm
tách rời sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, “phi chính trị hóa” quân
đội, làm cho quân đội mất phương hướng chiến đấu, phai nhạt lý tưởng,
niềm tin vào đảng, vào chế độ, dẫn tới suy yếu, mất sức chiến đấu…
Trước thực trạng trên, vận dụng học thuyết C.Mác về chiến tranh và quân
đội là việc làm hết sức cần thiết, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu
của quân đội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng
toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, đủ sức
ngăn chặn mọi âm mưu, hành động phá hoại của các thế lực thù địch, đáp
ứng với yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong
thời kỳ mới.
PHƯƠNG LINH
-
C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập, Sđd, tập 20, trang 235.
-
V.I.Lênin toàn tập, tập 26, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr.275-276
-
V.I.Lênin toàn tập, tập 38, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.361
Nhận diện và đấu tranh phê phán quan điểm: “Muốn Việt Nam thực
sự dân chủ và phát triển, cần thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối
lập”
(Thứ ba, 24/10/2017 - 22:12)
Lịch sử cách mạng
Việt Nam đã chứng minh, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết
định mọi thắng lợi của cách mạng. Nhận thức rõ vấn đề đó, các thế lực
thù địch luôn tìm cách tấn công, nhằm lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản. Bên cạnh những hoạt động như tác động, chuyển hóa; thúc đẩy
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Đảng thì một mũi tấn công trọng
yếu, thường xuyên được các thế lực thù địch tiến hành thời gian vừa qua
là đẩy mạnh hoạt động phá hoại tư tưởng với nhiều luận điệu “tấn công
trực diện” vào vai trò lãnh đạo của Đảng. Mục đích của các thế lực thù
địch là thông qua hoạt động phá hoại tư tưởng để tác động, nhằm thay đổi
nhận thức, niềm tin của các tầng lớp nhân dân, kể cả cán bộ, đảng viên
vào vai trò lãnh đạo của Đảng, vào tính tất yếu về sự ra đời và lãnh đạo
cách mạng của Đảng, từ đó lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào con đường
chống lại Đảng, hình thành nên các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập
tại Việt Nam, tiến tới thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng. Với mục đích
đó, các thế lực thù địch đã tung ra hàng trăm, hàng nghìn luận điệu
khác nhau, tấn công vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Do sự tác động từ
hoạt động phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch, cộng với sự thiếu
tu dưỡng, rèn luyện, không tích cực học tập, quán triệt chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như nhận thức chính trị non kém nên
trong nội bộ Đảng cũng đã xuất hiện một số cán bộ, đảng viên “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” về chính trị. Đáng chú ý, có một số người tỏ ra
đồng tình, ủng hộ, thậm chí cổ súy cho một luận điểm phá hoại tư tưởng
rất phổ biến đó là chỉ có thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập
thì Việt Nam mới có dân chủ, xã hội Việt Nam mới có thể phát triển sánh
kịp với các quốc gia khác trên thế giới. Và ngược lại, nếu vẫn duy trì
chế độ một đảng thì sẽ đồng nghĩa với độc tài, sẽ cản trở quá trình phát
triển của đất nước.
Có thể thấy rằng, đây
là một luận điệu hết sức nguy hiểm, bởi nó cố tình đánh đồng giữa vấn
đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận
thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu
này, từ đó cổ súy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt
Nam. Việc nhận diện đầy đủ và đấu tranh phản bác, thuyết phục, vạch rõ
những điểm giả dối, phản cách mạng, phản khoa học trong luận điệu “đa
nguyên, đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển” là vô cùng quan
trọng trong cuộc đấu tranh tư tưởng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của chế độ
hiện nay.
Xoay quanh vấn đề
này, thiết nghĩ cần làm rõ một số điểm lớn sau: Thứ nhất, Việt Nam có
cần thiết phải thực hiện đa nguyên, đa đảng không? Thứ hai, cơ sở lý
luận cho việc thực hiện thể chế đa nguyên, đa đảng có thực sự cách mạng
và khoa học? Thứ ba, thực chất âm mưu, ý đồ của các thế lực thù địch
trong việc thúc đẩy đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam là
gì? Trả lời được những câu hỏi này sẽ cho chúng ta nhìn nhận, đánh giá
rõ được về sự sai trái trong luận điểm nêu trên.
Vấn đề thứ nhất, Việt
Nam hiện nay có cần thiết phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng
đối lập không? Câu trả lời là không. Xuất phát từ mấy điểm sau:
Một là,
sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu
của lịch sử. Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã cho thấy, sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước là sự lựa chọn tất yếu
của lịch sử, là ý nguyện của toàn thể nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam
ra đời vừa tuân theo quy luật chung, vừa tuân theo quy luật lịch sử đặc
thù của Việt Nam, giải quyết được cuộc khủng hoảng về đường lối giải
phóng dân tộc. Vào những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cả
nước ta chìm trong lầm than nô lệ của thực dân Pháp. Nhiều phong trào
yêu nước đã xuất hiện như phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế, Yên
Bái nhưng lần lượt thất bại. Việc tìm kiếm con đường cứu nước của các
chí sĩ tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh... đều rơi vào bế tắc.
Trong bối cảnh đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tìm đến với chủ nghĩa Mác -
Lênin và chính Người đã có công truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào
Việt Nam, chuẩn bị điều kiện tiền đề về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho
việc ra đời của Đảng Cộng sản. Cũng chính nhờ sự truyền bá chủ nghĩa
Mác - Lênin vào Việt Nam mà phong trào công nhân và phong trào yêu nước
có điều kiện phát triển mạnh mẽ và dẫn tới sự hình thành các tổ chức
cộng sản. Sự xuất hiện của ba tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản
đảng, An Nam Cộng sản đảng, Đông Dương Cộng sản liên đoàn tiếp tục thúc
đẩy phong trào cách mạng phát triển, nhưng cũng đặt ra một yêu cầu bức
thiết rằng, cần phải hợp nhất ba tổ chức thành một tổ chức thống nhất để
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới. Và sự ra đời
của Đảng Cộng sản sau Hội nghị hợp nhất ngày 03-02-1930 dưới sự chủ trì
của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là một tất yếu của lịch sử cách mạng Việt
Nam, chấm dứt thời kỳ cách mạng Việt Nam khủng hoảng về đường lối, mở ra
một thời đại mới cho lịch sử đất nước.
Giai đoạn từ
1930-1945, lịch sử Việt Nam chứng minh, chỉ có Đảng Cộng sản chứ không
có bất kỳ tổ chức, đảng phái chính trị nào lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 dẫn tới sự ra đời của
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là công lao của Đảng Cộng sản. Đến
năm 1946, do bối cảnh tình hình chính trị lúc đó, tại Việt Nam ngoài
Đảng Cộng sản, xuất hiện thêm hai đảng khác là Việt Nam Quốc dân đảng,
Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội. Tuy nhiên, về thực chất lãnh đạo cách
mạng Việt Nam vẫn chỉ có Đảng Cộng sản, còn hai đảng Việt Quốc và Việt
Cách “theo đuôi Tưởng” không hề đứng về lợi ích dân tộc. Cho đến khi
quân Tưởng rút khỏi Việt Nam, hai đảng này cũng ra đi theo quân Tưởng,
trên vũ đài chính trị chỉ còn lại duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo. Sự xuất hiện và rút lui của hai đảng Việt Cách và Việt Quốc cho
thấy, chỉ có Đảng Cộng sản là được nhân dân và lịch sử Việt Nam lựa
chọn, còn những đảng phái không đứng về nhân dân đã bị chính lịch sử và
nhân dân ta loại bỏ. Thời kỳ sau đó, bên cạnh Đảng Cộng sản cũng tồn tại
hai đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Tuy
nhiên, cả hai đảng này đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản
và sau đó tuyên bố tự giải thể vì đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của
mình.
Thật vậy, Việt Nam đã
từng có chế độ đa đảng, nhưng chính lịch sử và nhân dân Việt Nam đã phủ
định chế độ đó. Thực tế đã chứng minh rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa
bao giờ và không bao giờ tự ban cho mình quyền lãnh đạo nhà nước và xã
hội, mà vai trò đó là nhiệm vụ cao cả mà nhân dân Việt Nam tin tưởng
giao phó. Ngay từ khi thành lập cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn
là đội tiên phong, đại diện cho ý chí, nguyện vọng, trung thành với lợi
ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Đây là sự lựa
chọn của lịch sử.
Hai là,
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã đưa đất nước phát triển. Đảng Cộng sản
Việt Nam là đảng có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đường lối lãnh đạo
đúng đắn, đã đưa cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng
lợi khác. Năm 1945, chỉ 15 năm sau ngày thành lập với khoảng 5.000 đảng
viên, Đảng đã lãnh đạo toàn thể nhân dân làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa
tháng Tám lịch sử, lật đổ ách áp bức của thực dân phong kiến, lập ra Nhà
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa nhân dân Việt Nam bước vào kỷ
nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập, tự do. Sau đó, Đảng lại lãnh đạo nhân
dân làm nên hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ, tạo ra những chiến thắng vang dội địa cầu và bảo vệ vững chắc
độc lập, chủ quyền của đất nước. Với đường lối đổi mới đúng đắn, Đảng
đang lãnh đạo toàn dân thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, đưa đất
nước từ nghèo nàn, lạc hậu, bị tàn phá bởi chiến tranh, trở thành một
quốc gia đang phát triển năng động, đời sống vật chất, tinh thần của
nhân dân từng bước được cải thiện, uy tín, vị thế Việt Nam không ngừng
được nâng cao trên trường quốc tế. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan
hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Việt
Nam cũng là điểm đến hấp dẫn của nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Quốc
phòng, an ninh được giữ vững, văn hóa, xã hội có nhiều bước phát triển.
Có thể khẳng định, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt Nam vẫn đang
trên đà phát triển mạnh mẽ, vì thế không cần thiết phải thực hiện đa
nguyên, đa đảng.
Ba là,
tiêu chí cao nhất của hoạt động chính trị đó là ổn định xã hội vững bền
và sự tăng trưởng, an sinh xã hội được đảm bảo, một đảng hay đa đảng,
đa nguyên hay không đa nguyên cũng đều phải vì vấn đề cốt lõi này.
Việt Nam hiện nay,
dưới vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản đang đáp ứng tốt vấn đề
này. Với chế độ một đảng lãnh đạo, Việt Nam có điều kiện để giữ vững ổn
định chính trị, được đánh giá là một trong những nước có sự ổn định
chính trị cao trên thế giới. Đây là một điểm sáng và là yếu tố quan
trọng trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Việt Nam hiếm khi xảy ra bất
ổn chính trị hay khủng bố, bạo loạn đường phố, điều thường xảy ra ở
quốc gia đa đảng do sự cạnh tranh quyền lực. Chính trị ổn định, an ninh
giữ vững, thu hút được ngày càng nhiều các nhà đầu tư nước ngoài, cho
nên Chính phủ có điều kiện để cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân cũng
như nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế. Nếu hiện nay Việt Nam
thực hiện đa nguyên, đa đảng, đất nước sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn,
mất ổn định chính trị do sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái.
Thực tiễn, nhiều nước trên thế giới hiện nay đang phải đối mặt với sự
bất ổn nghiêm trọng về chính trị do sự cạnh tranh quyền lực giữa các
đảng phái, từ đó dẫn tới kinh tế suy giảm, đời sống nhân dân cực kỳ khó
khăn. Đây là bài học đã từng diễn ra ở nhiều quốc gia như Thái Lan,
U-crai-na, Ai Cập...
Bốn là,
dân chủ, phát triển không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng và thực
hiện đa nguyên, đa đảng không đồng nghĩa với sẽ có dân chủ và phát
triển.
Dân chủ là phạm trù
lịch sử, xuất hiện khi nhà nước xuất hiện và mỗi nền dân chủ phải gắn
với một nhà nước nhất định, được pháp luật quy định về quyền công dân,
nó tuỳ thuộc vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong giai đoạn
lịch sử tương ứng. Trong phê phán cương lĩnh Gôta, C.Mác viết: “Quyền
không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn
hóa, xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định”. Mỗi nước có những đặc thù
và trình độ phát triển về kinh tế, chính trị, lịch sử,... khác nhau, do
đó có nền dân chủ khác nhau. Chính những yếu tố đó quy định dân chủ chứ
không phải là cơ chế đa nguyên, đa đảng hay một đảng. Quan điểm cho
rằng, đa đảng thì có dân chủ và một đảng thì mất dân chủ thực ra là một
trò “lập lờ đánh lận con đen” nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa
nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Chính đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú
Trọng, khi giữ cương vị Chủ tịch Quốc hội, lần sang thăm Ấn Độ năm 2010,
trả lời câu hỏi của phóng viên báo Express Ấn Độ về việc liệu đã đến
lúc chín muồi để Việt Nam có một hệ thống đa đảng, hoặc có các đảng khác
ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam để có thể tính tới các quan điểm của nhiều
nhóm sắc tộc, nhiều dân tộc khác nhau, đồng chí đã khẳng định:
“Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn,
mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan
trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm
no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi
lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Và cũng không nhất thiết cứ
kinh tế thị trường thì phải đa đảng và ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết
khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất cho đến bây giờ”.
Câu trả lời của đồng chí Tổng Bí thư có lẽ cũng là lời giải đáp thuyết phục cho vấn đề đa đảng, một đảng và dân chủ.
Thực hiện đa nguyên,
đa đảng không đồng nghĩa với việc sẽ có dân chủ, với việc sẽ đưa đất
nước phát triển. Thực tiễn, nhiều nước đã chứng minh rằng, có những nước
đa đảng nhưng vẫn thuộc loại nghèo nhất trên thế giới. Tuy nhiên, cũng
có những nước chỉ một đảng lãnh đạo nhưng vẫn là nước rất phát triển với
đời sống nhân dân sung túc. Điều đó có nghĩa là đa nguyên, đa đảng
không phải là cứu cánh cho sự phát triển. Vấn đề quan trọng nằm ở chỗ
không phải là đa đảng hay một đảng lãnh đạo mà quan trọng nhất đó là
đường lối lãnh đạo đúng đắn của đảng cầm quyền. Và như đã khẳng định,
tại Việt Nam hiện nay, với đường lối lãnh đạo sáng suốt, Đảng Cộng sản
Việt Nam vẫn đang đưa đất nước phát triển, người dân cả nước đều được
hưởng thành quả của sự nghiệp đổi mới, dân chủ vẫn đang được mở rộng và
nhân quyền của người dân luôn được đảm bảo. Việc Việt Nam trở thành
thành viên chính thức của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc là một trong
những minh chứng điển hình cho vấn đề Việt Nam có dân chủ, nhân quyền
hay là không.
Hơn nữa, cần phân
biệt rõ giữa đa đảng, đa nguyên với đa đảng, nhất nguyên. Một số người,
kể cả cán bộ, đảng viên mơ hồ vẫn thường lấy thể chế chính trị của Mỹ để
ca ngợi cho tính ưu việt của mô hình đa nguyên, đa đảng. Ấy thế nhưng,
nếu tìm hiểu kỹ thấy rõ một điều rằng, ở Mỹ chỉ có hai đảng thay nhau
lãnh đạo xã hội Mỹ, đó là Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa. Về bản chất,
đây đều là đảng của giai cấp tư sản. Vậy thực chất nền chính trị Mỹ là
đa đảng nhưng nhất nguyên chứ không phải đa đảng, đa nguyên như nhiều
người nhầm tưởng. Tương tự như thế, ở một số nước tư bản phương Tây
khác, mặc dù Đảng Cộng sản có thể được cho tồn tại nhưng nếu giai cấp tư
sản cảm nhận thấy sự tồn tại đó có khả năng uy hiếp, đe dọa đến sự lãnh
đạo, thống trị xã hội của họ thì ngay lập tức, Đảng Cộng sản đó sẽ bị
đặt ra ngoài vòng pháp luật.
Vấn đề thứ hai, cơ sở lý luận cho việc thực hiện thể chế đa nguyên, đa đảng là gì và nó thực sự có tính khoa học, cách mạng?
Về vấn đề này, cần
khẳng định, cơ sở lý luận cho việc thực hiện đa nguyên, đa đảng chính là
chủ nghĩa đa nguyên vốn có từ lâu. Chủ nghĩa đa nguyên là một trường
phái triết học xã hội tư sản do nhà triết học Đức Wolf Chiristian Von
(1679-1754) đề xuất vào đầu thế kỷ XVIII. Thế giới quan của chủ nghĩa đa
nguyên là phủ nhận tính thống nhất của thế giới, cho thế giới là sự kết
hợp các nguyên thể, các yếu tố cường điệu thổi phồng cái riêng. Chủ
nghĩa đa nguyên ít thiên về thế giới quan mà chủ yếu gắn liền với những
vấn đề xã hội. Chủ nghĩa đa nguyên lấy xã hội tư sản trên chế độ tả hữu
làm mẫu, họ cho rằng xã hội luôn được chia nhỏ thành cơ số các cá thể,
nhóm, tầng lớp, tập đoàn, phân biệt bằng tài sản và thu nhập, tín
ngưỡng, tôn giáo, đảng phái, nghề nghiệp, che đậy tính đối kháng trong
mối quan hệ xã hội và đặc biệt là phủ nhận sự phân chia xã hội thành
giai cấp, phủ nhận đấu tranh giai cấp. Chủ nghĩa đa nguyên chủ trương
xây dựng một cơ chế quản lý xã hội theo nguyên tắc đa lực lượng, đa đảng
phái và các tổ chức đảng phái này quan hệ với nhau theo nguyên tắc hiệp
thương. Quan điểm này của chủ nghĩa đa nguyên nếu được áp dụng vào chủ
nghĩa xã hội thì sẽ dẫn đến nguy cơ phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản, hạ thấp đảng thành một tổ chức xã hội bình thường. Nó đối lập
hoàn toàn với lý luận đảng kiểu mới của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Có thể thấy rằng, chủ
nghĩa đa nguyên là sản phẩm của giai cấp tư sản với thế giới quan phi
khoa học, là một trong những công cụ lý luận cho sự tồn tại của chiến
lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chính vì thế, cho
nên, nếu chúng ta chấp nhận thứ học thuyết này, chấp nhận đa nguyên, đa
đảng thì chẳng khác nào một sự thỏa hiệp với giai cấp tư sản trên lĩnh
vực tư tưởng.
Vấn đề thứ ba, âm
mưu, ý đồ của các thế lực thù địch trong việc thúc đẩy đa nguyên, đa
đảng ở Việt Nam là gì và Việt Nam sẽ như thế nào nếu thực hiện đa
nguyên, đa đảng?
Cần khẳng định rằng,
đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nằm trong âm mưu thực hiện
“diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản,
thay đổi chế độ chính trị tại Việt Nam. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là
nhân tố quyết định thắng lợi cách mạng Việt Nam. Chính vì lẽ đó, để
chống phá cách mạng Việt Nam, để chặn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta, các thế lực thù địch tìm mọi cách tấn công vào vai trò lãnh
đạo của Đảng. Đòi hỏi phải thực hiện đa nguyên, đa đảng, về bản chất là
để nhằm tạo điều kiện, tiền đề cho việc ra đời và công khai hóa, hợp
pháp hóa các tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó
cạnh tranh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và tiến tới thủ tiêu vai
trò lãnh đạo của Đảng. Những gì đã diễn ra tại Liên Xô và các nước xã
hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã chứng minh rất rõ âm mưu, ý đồ thâm độc này.
Chẳng phải tại Liên Xô dưới sự tác động của các thế lực thù địch và sự
“phản bội” của một số người lãnh đạo chóp bu, đặc biệt là M.S.Gorbachev,
ngày 15-3-1990 tại Đại hội bất thường của các đại biểu nhân dân, Điều 6
Hiến pháp của Liên Xô (quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản)
bị xóa bỏ. Đây là “dấu mốc” quan trọng dẫn đến hình thành cơ chế đa
nguyên, đa đảng với việc ra đời của nhiều tổ chức, đảng phái chính trị
đối lập cạnh tranh vai trò lãnh đạo. Ngay lập tức, ngoài Đảng Cộng sản
Liên Xô còn có tới 153 tổ chức đảng phái khác ra đời và cạnh tranh vai
trò lãnh đạo với Đảng Cộng sản Liên Xô. Đến đầu năm 1991, sự tồn tại của
Đảng Cộng sản Liên Xô chỉ còn trên danh nghĩa và sự sụp đổ của Liên Xô
vào tháng 8-1991 là một tất yếu khi Đảng Cộng sản đã mất quyền lãnh đạo.
Vậy nếu Việt Nam chấp nhận đa nguyên, đa đảng thì chắc chắn sẽ “mắc
mưu” các thế lực thù địch và đi theo “vết xe đổ của Liên Xô”, bao nhiêu
thành quả cách mạng sẽ tiêu tan.
Ngoài ra, cũng cần
khẳng định thêm rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nghiêm khắc và trách
nhiệm cao với sứ mệnh lãnh đạo của mình. Đảng không bảo thủ, xa rời quần
chúng mà ngược lại, luôn đề cao phê bình và tự phê bình, luôn coi trọng
công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, luôn biết tự đổi mới và gắn bó mật
thiết với nhân dân. Chính điều này đã giúp Đảng nâng cao được năng lực
lãnh đạo và dẫn dắt cách mạng Việt Nam vượt qua biết bao thác ghềnh, bão
tố. Có những thời điểm, tình hình cách mạng rơi vào thế hiểm nguy “ngàn
cân treo sợi tóc” như những năm 1945-1946, những năm 80 của thế kỷ XX
hay sau khi Liên Xô sụp đổ, tuy nhiên, Đảng với bản lĩnh, trí tuệ và sự
sáng tạo đã đưa sự nghiệp cách mạng vượt qua và tiếp tục phát triển.
Hiện nay, Đảng cũng đang rất quyết liệt trong công cuộc chống suy thoái,
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để nâng cao năng lực lãnh đạo, đáp ứng
yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới.
Nghị quyết số
08-NQ/TW ngày 17-12-1998 của Bộ Chính trị về Chiến lược an ninh quốc gia
khẳng định: “Bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; không
chấp nhận đa nguyên chính trị; không để hình thành tổ chức chính trị đối
lập, đối trọng với Đảng và Nhà nước”. Chỉ thị số 05-CT/TW ngày
14-10-2006 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác lãnh đạo đảm bảo an
ninh quốc gia trong tình hình mới một lần nữa nhấn mạnh: “Trong bất cứ
hoàn cảnh nào cũng phải giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững
chắc an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Không để xảy
ra khủng bố, phá hoại, bạo loạn chính trị, biểu tình, gây rối an ninh,
trật tự; kiên quyết không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập
trong nội địa; không để kẻ xấu lợi dụng tự do báo chí để vu khống, bôi
đen Đảng và Nhà nước ta”. Điều này cho thấy, quan điểm nhất quán của
Đảng ta là không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.
Tóm lại, vì nhiều lý
do, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn cho thấy, luận điểm muốn mở
rộng dân chủ và phát triển xã hội, Việt Nam phải thực hiện đa nguyên,
đa đảng là một luận điểm sai trái. Việt Nam hiện nay không cần thiết
phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Với sự cố gắng nỗ
lực của toàn dân, toàn quân, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng
sản, chắc chắn Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển nhanh và bền vững trên
con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Trung tướng, GS.TS Nguyễn Văn Ngọc
Giám đốc Học viện An ninh nhân dân
Kịch bản chiến tranh hạt nhân và những lựa chọn tấn công của Nga
Cập nhật: 12:41 02/11/2018
Nhiều
người cho rằng, Mỹ rút khỏi INF có thể sẽ khoét sâu thêm những bất đồng
hạt nhân giữa Nga và Mỹ, thậm chí xảy ra chiến tranh hạt nhân.
Kịch bản dẫn tới chiến tranh hạt nhân
Hầu
hết các nhà phân tích chính trị đều đặt ra giả thiết rằng những diễn
biến xấu về tình hình chính trị quân sự ở các vùng chiến sự trên thế
giới có thể là yếu tố dẫn tới Thế chiến 3 hay sự đối đầu hạt nhân không
thể tránh khỏi giữa Nga và Mỹ.
 |
Một bệ phóng tên lửa đạn đạo Yars của Nga. Ảnh: Sputnik
|
Các
vùng chiến sự được các chuyên gia nêu ra như: Ấn Độ và Pakistan,
Afghanistan, Iran và Israel, Syria… Nhưng nghiêm túc mà nói, đây là cách
tiếp cận cực kỳ thiển cận. Ngay cả tình hình tồi tệ nhất trong cuộc
chiến Syria cũng không thể gây ra một cuộc tấn công hạt nhân quy mô lớn ở
Moscow hay Washington.
Hầu hết các chuyên gia đã không thể đưa ra những lý do cụ thể có thể khiến Nga và Mỹ rơi vào một cuộc chiến tranh hạt nhân.
Chúng
ta có thể giả thiết rằng Iran và Israel tấn công hạt nhân lẫn nhau.
Nhưng ngay cả kịch bản này cũng khó có thể lan ra ngoài sân khấu Trung
Đông để tất cả các thành viên trong “câu lạc bộ hạt nhân toàn cầu” phải
hành động.
Bất chấp thực tế quan hệ Nga-Mỹ đã xấu đi
gần đây, nhưng hai bên không có những mâu thuẫn về lãnh thổ, tài chính
hay ý thức hệ tới mức có thể khiến 2 bên rơi vào cuộc chiến hạt nhân quy
mô lớn. Do đó, các kịch bản chiến tranh chỉ có thể thảo luận từ quan
điểm chuyên môn. Nói cách khác, trước tiên chúng ta cần mô tả các bước
của một cuộc tấn công hạt nhân và những điểm đặc trưng của nó.
Tổng tư lệnh bật đèn xanh
Ai là người quyết định?
Trước
tiên, hãy nói về quy trình đưa ra quyết định. Ai sẽ ra quyết định vận
hành vũ khí hạt nhân và nó sẽ như thế nào? Nhiều người nghĩ rằng Tổng
thống sẽ tiếp cận “nút ấn đỏ” và nếu ông nhấn nút, các tên lửa đạn đạo
liên lục địa và các tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm sẽ ngay lập tức
được triển khai.
Tuy nhiên, thực tế lại hoàn toàn
khác. Tổng thống sẽ cho phép bắt đầu “mở khóa” và vận hành quy trình tấn
công hạt nhân trong một thông điệp được mã hóa. Các đơn vị quân sự khác
nhau sẽ đảm nhiệm việc triển khai tên lửa đạn đạo liên lục địa và các
tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm, cũng như các tên lửa hành trình có
gắn đầu đạn hạt nhân. Nhưng trước khi điều này xảy ra, các đầu đạn sẽ
được “mở khóa” bởi các mật mã cho phép đặc biệt.
Cơ
bản mà nói, mỗi tư lệnh lực lượng vũ khí sẽ nhận được một mệnh lệnh được
mã hóa từ Tổng thống, nhận chiếc phong bì có dấu niêm phong để đảm bảo
an toàn và mở nó ra. Họ sẽ so sánh thông tin mà mình nhận được từ Tổng
thống với nội dung của phong bì và giải mã thông điệp để lấy mật mã mở
khóa. Mật mã sẽ được nhập vào hệ thống kiểm soát đầu đạn, và mở khóa/cho
phép vận hành.
Vali hạt nhân
Tổng
thống có phần việc của mình với chiếc “vali hạt nhân” mà ông sẽ dùng để
bắt đầu một chuỗi các hanh động liên tiếp. “Cheget” là mật danh cho
chiếc vali hạt nhân này, và thực tế nó là một hệ thống tự động điều
khiển và kiểm soát Các lực lượng hạt nhân chiến lược của Nga được gọi là
“Kazbek”.
Hai chiếc vali khác do Bộ trưởng Quốc
phòng và Tổng tư lệnh (các lực lượng vũ trang) nắm giữ. Một số nguồn tin
nói rằng, sẽ cần phải có xác nhận từ 2 chiếc vali hạt nhân để mở khóa
và lấy mật mã cho phép tiến hành. Một số nguồn tin khác lại cho rằng,
phải có sự xác nhận của cả 3 chiếc vali. Điều này có nghĩa là không ai ở
Nga có quyền lực độc nhất để triển khai vũ khí hạt nhân.
Các lựa chọn tấn công hạt nhân của Nga
Vậy các lựa chọn tấn công của Nga là gì?
Tấn công cảnh báo
Trong
trường hợp phóng cảnh báo, Hệ thống không gian thống nhất (EKS) và Hệ
thống cảnh báo sớm phát hiện vụ phóng ICBM từ lãnh thổ Mỹ và các tên lửa
đạn đạo phóng từ tàu ngầm và tính toán địa điểm mục tiêu bên trong lãnh
thổ nước Nga và thời gian bay.
Tổng thống Nga sau
khi nhận được cảnh báo về cuộc tấn công tên lửa, sẽ đưa ra quyết định về
việc phóng cảnh báo. Các tên lửa trên mặt đất, trên không hay từ tàu
ngầm sẽ được mở khóa bằng mật mã và trong 7-9 phút sẽ có một vụ phóng
hàng loạt vũ khí hạt nhân chiến lược từ Nga và các vùng biển liền kề.
Thời gian gấp rút là cần thiết để thực hiện những hành động này.
Tấn công trả đũa
Trong
trường hợp tấn công trả đũa, kịch bản cũng tương tự, những với ngoại lệ
là các đầu đạn đã tấn công vào lãnh thổ Nga và hệ thống ghi nhận có xảy
ra nổ hạt nhân.
Kịch bản tồi tệ nhất trong một cuộc
tấn công hạt nhân là lãnh đạo nhà nước và quân đội đã bị sát hại để
nước Nga không còn khả năng phát lệnh triển khai một cuộc tấn công hạt
nhân.
Trong trường hợp này Perimeter sẽ thực hiện
vai trò của mình. Perimeter là hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI) tự động
hóa hoàn toàn và được biết đến với biệt danh “Bàn tay Tử thần”. Nhiệm vụ
của nó là bảo đảm một cuộc tấn công trả đũa dù cho đất nước đã bị hủy
diệt hay cơ cấu chỉ huy và kiểm soát của chính quyền bị trục trặc, hoặc
không còn ai sống sót để đưa ra lệnh trả đũa.
Hệ
thống Perimeter sẽ đưa ra quyết định tấn công trả đũa sau khi phân tích
các dữ liệu thu thập được về hoạt động địa chất, các dữ liệu phóng xạ và
khí áp cho thấy đã xảy ra một vụ nổ hạt nhân.
Tấn công phủ đầu
Lựa
chọn cuối cùng là một cuộc tấn công hạt nhân phủ đầu. Theo học thuyết
quân sự, “Nga có quyền sử dụng vũ khí hạt nhân để đáp trả trong trường
hợp nước Nga hoặc đồng minh của Nga trở thành mục tiêu của một cuộc tấn
công bằng vũ khí hạt nhân hay các vũ khí hủy diệt hàng loạt khác cũng
như trong trường hợp có sự gây hấn nhằm vào Nga liên quan đến các loại
vũ khí thông thường có thể đặt sự tồn tại của nước Nga nằm trong mối đe
dọa”.
Bất cứ lựa chọn tấn công hạt nhân nào cũng đều
đồng nghĩa với thảm họa cho các bên liên quan cũng như các nước khác
trên thế giới. “Mùa đông hạt nhân” sẽ được thiết lập ngay sau cuộc “trao
đổi hạt nhân”. Nếu thực sự xảy ra, sẽ rất ít người có thể sống sót qua
“Ngày phán xét hạt nhân”./.
Theo VOV
|
Nhận xét
Đăng nhận xét