BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 159/b (Nguyễn Hoàng Đức)

-Hiện tượng ngông cuồng trí tuệ!
-Đức tin là niềm tin vô điều kiện. Một kẻ còn đức tin không bao giờ có thể là nhà triết học chân chính.

----------------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)

Bàn Về Cách Đọc Sách Với Triết Gia Paul Nguyễn Hoàng Đức

Trích lời bác Paul: “Triết học là nguồn gốc cho nhận thức, nó vẫn thường xuyên được nhắc đến là: khoa học của khoa học, nghệ thuật của nghệ thuật!

Vậy thì sinh viên triết học không thể không biết đọc sách. Thứ nhất là đọc sách gì? Như có danh ngôn: “Anh hãy nói anh đọc sách gì, tôi sẽ nói anh là ai?!” Cuốn sách luôn luôn “tố cáo” người đọc nó. Nhà buôn thì đọc sách kinh doanh, nhà chính trị đọc sách chiến thuật và chiến lược, còn đám nghê nga mới lớn thì đọc ngôn tình để gãi ngứa…

Còn cũng một cuốn sách, người ta đọc thế nào? Có người đọc xong chỉ lấy thông tin chém gió. Người thì nắm được nguyên lý sau đó chế tạo. Đọc thông tin chỉ là chiếc ngăn kéo đựng chữ. Còn đọc sáng chế là một hệ thống máy đã tiêu hóa và lập trình sáng chế. Ta gom lại cho các trò mấy kiểu đọc sách cơ bản sau:

1- Nhiễm thư: đây là lối đọc như miếng bọt biển, hút cạn chữ nghĩa của cuốn sách, sau đó nhai lại như trâu nhai cỏ. Đó là cỏ thông tin. Đây là thứ đọc sờ được vào quần áo nhưng không thể thấy được vẻ đẹp của cơ thể, còn chiếm đoạt cả linh hồn bên trong, thì càng không bao giở. Đây cũng là cách đọc của nô tài chỉ có thể thụ động hà hít.

2- Công thư: là cách đọc luôn mang tinh thần phản biện, rõ ràng đây là cách đọc của một người muốn vươn lên ông chủ – hiệp sĩ luôn muốn lật đổ đối thủ cho dù người đó là thầy?!

3- Sáng thư (sáng tạo): Đây là người đọc đã có thể coi sách của người khác chỉ là cái cớ để nhen lên nguồn men sáng tạo của mình.

Người Do Thái có một câu rất hay về đọc sách: “Đọc sách mà không hiểu nghĩa thì chẳng khác gì thư tín viên đi cả ngàn dặm chỉ để chuyển lá thư cho người khác!”
-Lu Hà: Bác Paul viết hay lắm về cách đọc sách theo một sơ đồ tiến hoá của trí tuệ tư duy của con người về nhận thức, ý thức, tâm thức để mà tiến tới hướng thượng và hướng tha. Hướng thượng là biết tuân theo luật trời luật tự nhiên, huớng tha là yêu thương bảo vệ tha nhân. Nhiễm thư, công thư và sáng thư.
Theo tớ: Trong 3 cái sáng thư là quan trọng hơn cả. Nhiễm thư là lối đọc học gạo đọc mà không suy xét tà ma ngoại đạo thứ sách báng bổ thần linh đức tin hủy hoại tiêu diệt con người mà vẫn đọc cho bằng được gọi là cuồng tín. Đọc sách kiểu này là vô tác dụng. Công thư còn biết tranh luận phản biện lại nếu thấy sách có điều gì sai trái lầm lạc. Còn sáng thư là cách đọc sách tốt nhất nhằm nuôi dưỡng trình độ của mình cho thật hoàn hảo về nhận thức, ý thức, tâm thức đễ mà phát minh sáng tạo. Tránh trường hợp đọc cả một núi sách mà một cái đinh ốc cũng  không làm được. Ngồi chai đít ở các trường đại học Nga và Tàu, tham dự các khóa học nhồi sọ ngu lâu. Toàn sách nhồi sọ ngu lâu mà cứ lăn xả vào đọc cho bằng được.
Tớ còn đưa ra một khái niệm đọc sách nữa là phản thư. Xin nhấn mạnh là phản thư chứ không phải phản biện thư. Nghĩa là đọc sách không phải để học cái hay cái tốt của người ta mà đọc để bới lông tìm vết cắn xén xuyên tạc lăng nhục hiền nhân. Đây là lối đọc sách của bọn hạ nhân tiểu nhân cặn bã dưới đáy của xã hội. Đơn cử mới đây có một thằng cha ky chú kiết nào đó không rõ danh tánh, không nhận vật, không là gì cả chỉ là cái nickma vô danh ma qủy cũng nhảy vào bàn xới với các bậc tao nhân thức gỉa để ỉa đùn đái bậy trên chiếu thư còn đòi mọi người phải lịch sự nhã nhặn với y có phải là trò hề nhố nhăng không? Cái thằng Heathcliff gì đó.
Đọc để bới lông tìm vết nhưng không nhặt được sợi lông thừa nào thì la lối gào thét dãy giụa điên điên khùng khùng.
Vậy lối đọc sách này cần phải tẩy chay. Đọc không phải vì văn minh tiến bộ biết công tâm ca ngợi chân thiện mỹ , mà đọc để tâng bốc ca ngợi những cái dối trá bịp bượm, thối tha, khốn nạn đểu cáng vô liêm sỉ nhất lên làm thần thánh.
Ngày xưa đã có những bậc cao nhân đọc sách như bác Paul nói là chỉ cốt nắm cái ý chính của nội dung cuốn sách chứ không học vẹt học thuộc lòng mà chả hiểu gì mỗi khi tranh cãi với ai thì Mác nói thế này, Lê Nin nói thế kia. Ông Mao nói không bao giờ sai. Đọc sách theo kiểu ngu dân nhồi sọ lúc nào cũng kè kè trước tác Mao Trạch Đông. Đọc sách theo kiểu thông qua nghị quyết đầu đội chủ chuơng vai mang chính sách. Trình độ chuyên môn không cần biết chỉ cần biết lập trường quan điểm có kiên định không? Bắt phải học thuộc lòng những thứ vô nghĩa nhàm chán. Đi học chỉ cốt có bằng cấp làm cái cần câu cơm. Vênh vang học vị mà chỉ làm tôi tớ cho người ta sai vặt. Học giỏi như Ngô Bảo Châu thì để làm gì, Việt Nam có độc một anh chàng học lỏi khôn lỏi ở nước ngoài và làm chân giảng dạy  chỉ một thứ nghề kiếm tiền nhẹ nhàng mà chả có phát minh sáng kiến gì cho nhân loại. Thà rằng Việt Nam có đội ngũ kỹ sư tiến sĩ thực sự có trình độ cao cỡ quốc tế hơn là có một Ngô Bảo Châu học ngày không đủ tranh thủ học đêm đạt được vài cái giải khuyến khích. Trong cái giải khuyến khích toán gì đó có phải riêng Việt Nam đâu? Nghe nói Do Thái có hai người, Pháp , Đức và nhiều nước đều có cả. Tại sao người ta không cổ động biểu dương hoành tráng báo đài rầm rộ tâng tiền tặng nhà? Người ta không phong hàm giáo sư mà chỉ Việt Nam lấy tư cách gì mà phong hàm giáo sư toán cho ông Châu?  Việt Nam và Tàu thường có nhiều học sinh giỏi toán những học sinh này phần lớn tập trung ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Hà Nội. Các em đạt giải toán cao nhưng khi học xong đại học thì vô dụng cả, chẳng có phát minh gì. Giống như bông hoa bị ép nở sớm thì cũng chóng lụi tàn. Học như kiểu ma mị say men, học trong trường, còn học thêm ngoài giờ nên các em bị cướp trắng tuổi thơ. Lắm thần đồng trẻ tuổi lúc trên 30 tuổi thành thần đất sét, thần sắt rỉ cả. Chả làm nên trò trống gì cái số này hơi nhiều, rồi khùng khùng điên điên mặc dù thời thơ ấu học cực giỏi mà chỉ độc có một chiêu học toán. Những môn tâm linh xã hội văn chương thơ phú thì ù ù cặc cặc.
Kiến thức thiên hạ mênh mông vô tận thì đốt hết đi cho là văn hóa đế quốc tư bản, tư sản đồi trụy. Đồi trụy chỗ nào thì không có bằng chứng.
Vậy chỉ còn sách vở mạo hóa Macxitleninit thôi thì bắt phải đọc. Lại còn bày ra trò công an văn hóa, cơ quan kiểm duyệt sách báo để cản trở con người tiến bộ, bắt phải dật lùi chậm tiến. Tao đã lạc hậu í ạch ngu dai thì mày đừng hòng khá hơn tao. Mày phải kém tao.

Khi Gia Cát Lượng sang làm thuyết khách ở Giang Đông thì Lỗ Túc có kéo đến thăm nhà Chu Du. Lỗ Túc ngạc nhiên hỏi đại đô đốc cái gì cũng biết cổ kim binh thư đều lầu thông cả, nhưng trong nhà chả thấy có cuốn sách nào cả, chỉ có độc một chiếc đàn? Chu Du bảo: Tôi có thói quen đọc sách xong chỉ cốt nắm lấy  ý chính xong thì đốt đi chả để lại làm gì? Gia Cát Lượng cũng cười ha ha. Công Cẩn giống tôi qúa. Khi còn ở lều tranh sách vở Luợng đọc xong đều đốt đi chỉ giữ có quyển lịch để biết ngày tháng năm và cái quạt lông để phe phảy cho mát thôi.

Bác Paul mới bàn đến 3 cách đọc sách: Nhiễm thư, công thư và sáng thư. Hôm qua tớ đã bàn khái niệm phản thư. Hôm nay thấy trong lòng vui vẻ nên đưa ra thêm 2 khái niệm mới nữa là dâm tình thư và tà động thư. Dâm thư là một danh từ, tớ cũng viết hai bài bình luận rồi bàn về dục tính. Trong sách dâm thư nổi tiếng của Tàu hình như có hai tác phẩm Kim Bình Mai và Nhục Bồ Đoàn. Các sách dâm thư nghe nói ở Mỹ bán rất chạy nhất là giới phụ nữ rất thích đọc. Thật ra tôi không cho dục tính là đạo đức mà coi đó là điều đáng mừng của trạng thái sức khoẻ. Chỉ những ai lạm dụng dục tính để vi phạm pháp luật như tội cưỡng dâm, hiếp dâm, giết người thì mới đáng bị lên án trừng trị. Tôi lại coi dục tính là nguồn gốc của mọi sự sáng tạo văn hóa tinh thần triết học nghệ thuật v. v…

Bây giờ tôi bàn tới tà động thư. Các sách vở có tính chất ma mị lừa đảo khuyến khích chiến tranh, đấu tranh giai cấp, tuyên truyền nhồi sọ hòng hủy diệt nhân cách lương tri nhân phẩm con người như chủ nghĩa Mác Lê chẳng hạn gọi là tà thư. Ngày xưa Hitler cũng viết một cuốn tự truyện tôi coi là tà thư. Cuộc Chiến Đấu Của Tôi ( Mein Kampf ).

Tà thư cốt lõi của Hitler đã định hình từ thời tuổi trẻ của ông ta ở thủ đô Viên nước Áo. Khi rời Wien để đi đến Đức vào năm 1913 ở tuổi 24, đầu óc Hitler đã sục sôi đầy chủ nghĩa quốc gia Đức, ác cảm với nền dân chủ, cùng người Do Thái, và lòng tin rằng Ơn Trên đã chọn giống dân Aryan, đặc biệt là người Đức, là chủng tộc ưu việt.
Vì thế, quyển sách trước nhất vạch ra nước Đức tương lai và cách thức mà Đức sẽ trở nên „chủ nhân của thế giới“

Hitler diễn giải dài dòng về vấn đề mà nguyên văn Đức ngữ gọi là Lebensraum, là chủ đề ám ảnh ông ta cho đến ngày cuối cùng. Theo Hitler, Hoàng tộc Đức ngày xưa Hohenzollern đã sai lầm khi tìm kiếm thuộc địa xa xôi ở Châu Phi. Nhưng đất ở Châu Âu đã bị chiếm hết rồi. Hitler nhận ra là đúng như thế, „nhưng thiên nhiên đã không dành sẵn đất này đặc biệt cho quốc gia hoặc chủng tộc nào, đất này là để cho dân tộc nào có đủ sức mạnh mà lấn chiếm.“ Nhưng nếu chủ nhân hiện tại phản đối thì sao? „Thế thì luật tự sinh tồn sẽ phát huy; nếu không có phương pháp ôn hòa thì phải dùng vũ lực.“

Theo Hitler, „chỉ có thể chiếm đất ở miền Đông… Nếu cần đất ở châu Âu thì chỉ có thể chiếm lấy đất của Nga“.
„Chỉ có một vùng đất rộng trên quả địa cầu này mới đảm bảo một quốc gia được trường tồn… Phong trào Quốc xã phải có can đảm để… đưa dân ta từ diện tích hạn hẹp hiện giờ đi đến vùng đất mới… Chúng ta phải kiên trì với mục tiêu này… để đảm bảo dân tộc Đức có đủ đất sống.“

Sách vở Mác Lê Nin Mao Trạch Đông Hiler là những tà thư khủng kiếp của lịch sử nhân loại. Dùng để tà động, sách động, cổ súy vinh danh xác chết. Muốn cho tà thư bành trướng thì phải tuyên truyền cổ động bằng báo chí truyền thanh truyền hình. Nga và Tàu đã chịu chi hàng tỉ tỉ dollar để làm việc này và họ đã thành công làm ô nhiễm một nửa trái đất từ những thập niên giữa thế kỷ 20. Hoa Kỳ và các nước dân chủ Tây Âu thì lại coi nhẹ tà thư mà không chịu chi tiền cho công cuộc đấu tranh văn hóa tinh thần báo đài sách vở chống lại tà thư mà xuýt nữa cả thế giới bị hủy diệt.

Người Việt cộng sản phổ biến tà thư có kết qủa bằng thứ nhất rỉ tai thứ hai mã tấu, họ thành lập mặt trận tổ quốc, tôn giáo quốc doanh, các tổ chức đoàn thể như thanh niên, thiếu niên, nông hội, phụ nữ, cựu chiến binh, tổ khối xóm phường, dân phòng, dư luận viên v. v… để tuyên truyền nhồi sọ tà thư cho bằng được vào đầu 90 triệu người dân Việt Nam hòng làm tay sai mạt hạng cho hai đại đế quốc xã hội Nga và Tàu xâm lăng nhuộm đỏ toàn cầu.

Tóm lại có 6 cách đọc sách: Nhiễm thư, công thư, sáng thư, phản thư, dâm tình thư và tà động thư.

Như vậy tôi và bác Paul đã tạm thời đưa ra 6 cách đọc sách. Đáng trân trọng nhất là cách đọc sáng thư và ghê tởm rùng rợn nhất là đọc sách kiểu tà động thư. Tà động thư là lối đọc thụ động ngu xuẩn thiếu suy nghĩ nguy hiểm khốn nạn hơn nhiễm thư và phản thư nhiều lần. Ví dụ trong vụ án cải cách ruộng đất của lịch sử có người với bút danh là CB viết bài báo: “Địa chủ ác ghê”!

Bài “Địa chủ ác ghê” của CB đăng trên báo Nhân Dân ngày 21/7/1953 được cho là một ngày trước khi xử bắn bà Cát Hanh Long. Người đàn bà 47 tuổi xấu số đã bị đấu tố và bị kết án từ 2 tháng trước đó (ngày 22/5/1953). Điều này chứng tỏ bản án tử hình dành cho bà Cát Hanh Long đã có một thời gian dài gần 60 ngày nằm chờ quyết định thi hành án hay ân xá. Cái bóng quan Cố vấn Tàu Lã Quý Ba lởn vởn khiến người cộng sản sợ sợ và bà Cát Hanh Long phải chết?

Bà Nguyễn Thị Năm tức Cat Hanh Long là địa chủ yêu nước kháng Pháp có công nuôi dưỡng các lãnh tụ cộng sản, bà cống hiến không biết cơ man nào là vàng bạc châu báu ruộng đất cho cách mạng. Bà là người phụ nữ nhân hậu hiền từ có hai con trai là trung doàn trưởng bộ đội Việt Minh. Thế mà tay CB cha ky chú kiết nào đó dám viết một bài báo hoàn toàn bịa đặt vu khống bà. Các ông trung uơng cộng sản cũng làm ngơ. Đại đa số bần cố nông, du kích, cán bộ đội cải cách đã đọc sách theo lối tà động thư . Bản thân họ không nhựng bị tà động, tẩu hỏa nhập ma khi đọc bài báo này còn tuyên truyền phổ biến vận động nhiều nguời cùng đọc, ai không biết chữ thì đọc cho nghe.

Trong tác phẩm Đèn Cù của ông Trần Đĩnh đã miêu ta cảnh họ xử bắn bà Năm như sau:
„Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van: ‚Các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh‘. Du kích quát: ‚Đưa đi chỗ giam khác thôi, im!‘ Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng. Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất. Và không được lộ là mua chôn địa chủ. Sợ như thế sẽ đề cao uy thế uy lực địa chủ mà. Khổ tớ, đi mua cứ bị nhà hàng thắc mắc chưa thấy ai đi mua áo cho người nhà mà cứ đòi cái rẻ tiền nhất. Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: ‚Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?‘ Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…”

Bàn Luận Với Triết Gia Paul Nguyễn Hoàng Đức Về Văn Hóa Tàu


 -Paul Nguyễn Hoàng Đức:
“ Chỗ nào có người Trung Hoa là có đấu đá, người Trung Hoa vĩnh viễn không đoàn kết được, tựa hồ trên thân thể họ có những tế bào thiếu đoàn kết. Vì vậy khi người nước ngoài phê phán người Trung Hoa không biết đoàn kết thì tôi chỉ xin thưa... Vì Thượng Đế muốn thế. Bởi vì nếu một tỉ người Hoa đoàn kết lại, vạn người một lòng, anh có chịu nổi không? Chính ra Thượng Đế thương các anh nên mới dạy người Hoa mất đoàn kết!. Tôi tuy nói thế nhưng rất đau lòng…“


Có ở trong chăn mới biết chăn có rận, người Trung Hoa cũng không phải là trung hoa, vì họ có cái cái gì đáng gọi là tinh hoa đâu? Anh ta không có triết học, không có nền học vấn về vũ trụ uyên thâm. Khổng Tử chỉ là một anh chàng bợm những gì anh ta nói toàn từ ý nghĩ chủ quan. Anh ta không có hệ thống suy tư lo gic, anh ta chỉ làm người soạn sách tìm ra những cái hay của nhà Chu, theo anh ta là kiểu mẫu. Người Trung Hoa không thể là trung tâm của tinh hoa cổ học. Luận ngữ Trang Tử, Lão Tử đáng để ta tham khảo có chừng mực.



Người Trung Quốc cũng không phải là Trung Quốc, khi ngành thiên văn học chưa phát triển thì Trung Quốc vẫn tự nghĩ trái đất hình vuông, và mình là trung tâm của vũ trụ, nhưng sau này mới biết trái đất hình tròn và nửa bên kia bán cầu là phương Tây hiền triết và khoa học. Vậy gọi Trung Hoa, Trung Quốc là sai. Phải nên gọi họ là người China.


Người Tàu là những tập hợp các dân tộc hổ lốn lạc hậu, họ không thể đoàn kết là phải vì họ khác nhau về chủng tộc dòng máu tiếng nói.

Họ tự tiêm nhiễm nặng lối sống gia trưởng tiểu nông lãnh chúa điạ phuơng cát cứ. Sự thống nhất Trung quốc bằng bạo lực theo kiểu Tần Thủy Hoàng cũng chỉ được 15 năm sau lại xé lẻ. Đến thời Mao Trạch Đông lại thống nhất và rồi lại xé lẻ đấu đá nhau là cái chắc. Lịch sử Tàu không có triều đại nào thống nhất đại lục qúa 100 năm. Sở dĩ người Tàu ra nước ngoài làm ăn giỏi và bắt buộc họ phải dựa vào nhau, không phải vì đoàn kết mà chỉ là sở đoản sự ranh mãnh láu cá nham hiểm mà thôi.


Ông Phạm Bá Dương gì đó viết cuốn Người Tàu Xấu Xí là bởi ông ấy người Tàu. Bác Paul Nguyễn Hoàng Đức chỉ là người chăm đọc sách mà từ cuốn sách đó bàn rộng thêm rộng ra mà thôi. Tôi thấy ý kiến bác Đức rất khách quan, suy luận rất lo gic.


Ta phải lấy cái đại thể về người Tàu mà nói, chứ không thể nhắm vào một vài nhóm người Tàu gọi là chú Ba, khách Chệt mà bảo người Tàu có tinh thần đoàn kết dân tộc. Trên thế giới không có dân tộc nào giết đồng bào mình để làm nhân bánh bao, hay mổ lấy nội tạng đem bán kinh tởm như người Tàu.


Tại sao các lãnh tụ Tàu có tham vọng bành trướng lãnh thổ, thích đất đai các nước khác chính bởi cái ngu muội của triết lý dở ngô dở ngọng cổ hủ lâu đời dạy gọi là đấng nam nhi phải là tề gia trị quốc bình thiên hạ, chuyện học hành chỉ mục đích cá nhân là làm quan. Tô Tần là cái guơng thuyết khách xui thiên hạ đại loạn đâm chém nhau vì mục tiêu tiến thân cá nhân chứ không phải lo cho nhân quần ấm no hạnh phúc, phát triển kinh tế phú cường.

Cái máu tham ngu xuẩn cá nhân của các hoàng đế Trung Hoa là liên miên đánh nhau cướp đất đai và đàn bà, nó thành bản tính chúa đất phong kiến di truyền khó bỏ.

Người Việt Nam cũng chả khá gì hơn người Tàu. Chỉ khi biết sắp chết cả nút bị dồn xuống tận cùng thống khổ của người Tàu thì họ mới nổi lên khởi nghĩa chống lại. Lúc đó có thể kêu gọi đoàn kết chả cần khai dân trí, trấn dân khí, hậu dân sinh làm quái gì cho nhọc nhằn. Một khi họ vẫn còn thoi thóp dật dờ thì họ còn cắn xé nhau đạp lên nhau mà sống. Tình cảm cảm xúc thị mụ mị dễ tin vào phình phờ, thích ăn bánh vẽ. Ngay cái tẹn gọi của một nước cũng sai , cả thế giới người ta đều gọi nước Tàu là China. Tại sao dân ta cứ quen miệng gọi là Trung Hoa, Trung Quốc. Lại còn làm thơ láo:

Việt Nam Trung Hoa, sông liền sông, núi liền núi, mối tình hữu nghị không bao giờ lìa tan. Ngu đến thế là cùng. Tên một nước cũng gọi sai đi. Bản thân tôi khi làm thơ cũng phải gọi là Trung Quốc, Trung Hoa theo thói quen người Việt. Tôi cố gắng viết chữ China, thì người Việt nhiều khi không hiểu, nghe lạ tai. Trong khi cả thế giới đều gọi là nước China. Còn gọi nước Tàu thì hiểu, nhưng bị đảng cộng sản cấm. Ai bắt ép người Việt gọi nước Tàu là Trung Hoa hay Trung Quốc thì kẻ đó là Hán gian đó, Việt gian đó. Nên gọi là China cho quen dần vừa đúng với tên gọi Quốc Tế. Trong các cuộc họp liên hợp quốc vẩn viết:

United States of American ( U S A )

Germany ( Deutschland)

England

Việt Nam

China ( nước Tàu )


Tại sao không gọi toẹt luôn ra là China hay Tàu mà cứ Trung Hoa, Trung Quốc mãi?

Việt Nam mấy nghìn năm nay luôn là cái đuôi của Tàu. Trông trên bản đồ cũng giống cái đuôi, chỉ là khúc đuôi thừa muốn chặt phăng đi cũng khó. Các triều đại hoàng đế Việt Nam tuy đánh Tàu thắng trận oanh liệt nhưng lại le te sang triều cống xin được sắc phong làm chư hầu. Chỉ riêng có Đinh Tiên Hoàng, Lý Thường Kiệt, và Quang Trung có thể khinh thường Tàu to xác nhưng ngu. Việt Nam có thể chinh phục cả nước Tàu nếu có một minh quân sáng suốt.


Nền văn hóa văn chương học thuật Tàu kém cỏi lạc hậu nhưng các đời vua Việt Nam vẫn coi là mẫu mực. Cụ Nguyễn Du đi xứ Tàu mới vỡ lẽ ra nước Tàu này kém cỏi dân chúng điêu linh khổ cực. Vua tham lam bất tài cư khư khư bế quan tỏa cảng không chịu giao thuơng học tập Phương Tây. Đến thời Nguyễn Ánh tức Vua Gia Long phải nhờ Bá Đa Lộc giúp đỡ mới đánh bại nhà Tây Sơn, nhưng không đánh bại Vua Cha mà đánh bại Vua con là Quang Toản. Nhờ người Phương Tây lại phản bội họ không cho buôn bán truyền đạo, nghi Ki-tô giáo là ma giáo thờ Chúa chứ không thờ tổ tiên. Nhờ Bá Đa Lộc lại tìm cách đầu độc ông ta. Do dốt nát và qúa ngu chả hiểu đạo Ki-tô là gì?  Chả hề đọc kinh thánh cựu ước tân ước. Đạo Ki-tô lại rất kính hiếu cha mẹ, nhưng vì không có bàn thờ bát hương ông bà ông vải mà chỉ có ảnh Chúa và tượng Chúa. Gia Long  dạy dỗ con trai ông ta bài trừ Tây Phương là Minh Mạng giết hại quá nhiều nguời Ki-tô và chém đầu linh mục Pháp như phạt chuối. Vua Gia Long rước voi về dày mả và để phá luôn cả giang san. Nếu có chính sách giao hảo buôn bán như Thái Lan thì người Pháp không thèm đô hộ xâm chiếm Viêt Nam làm gì. Chuyện đời muớp đắng mạt cưa, tham thì thâm. Nếu Nhật Hoàng cũng bài Phương Tây chặt đầu giáo sĩ như Tàu và Việt Nam thì nước Nhật muôn đời chỉ là hoang dã mọi rợ mà thôi. Bên Tàu cũng vậy mà làm các nước Phương Tây nổi giận và họ có cớ mang quân sang xâm lược. Trong Khi người ta hô hào tự do bình đẳng bác ái thì mình lại gây hận thù chia rẽ. Chiến tranh nổ ra người ta có súng đồng đại bác có nền triết học duy tâm siêu hình lo gic học dẫn lối nên thua là phải.


Lịch sử thì xuyên tạc nhân vật Gia Cát Lương là một tay đạo sĩ rất hung bạo tham lam quyền bính, thích gây hấn chiến tranh lại ca ngợi như tôi hiền, đại trí thức. Tào Tháo bị vu khống gian hùng dã man văn chương La Quán Trung như còn lắt léo dối trá lắm khi viết bộ truyện Tam quốc, hay Chu Nguyên Chuơng bất tài chuyên nấp sau hậu phương chờ cho các anh hùng thao luợc đánh nhau với quân  phương Bắc như Hung Nô, Kim, Đột Khuyết, Thiết Đang v. v… lại ca ngợi minh quân sáng suốt. Cái trò hộ khẩu, hợp tác xã, kiểm duyệt thơ văn đã có từ thời Tần Thủy Hoàng do chính sách cai trị lưu manh của Thương Ưởng, Lý Tư .Bây giờ áp dụng y xì ở Việt nam bảo chủ nghĩa Mác Lê Nin đấy, con đường lên chủ nghĩa xã hội.

Thời Tần Thủy Hoàng chia nước thành Chậu, Quận. Nước lớn như vậy chỉ có 9 châu, ngót 100 quận cho dễ kiểm soát, bây giờ là 22 tỉnh theo kiểu độc tài. Thật ra nước này có thể làm thành một liên bang như Hoa Kỳ nhưng họ không làm vì họ sợ dân chủ dân quyền tự do bác ái.


9.2.2017 Lu Hà 


16.7.2017 Lu Hà


Nhận diện bộ mặt thật của chiến tranh

Nguyễn Hoàng ĐứcÝ hướng tính văn chương, NXB Văn hóa dân tộc (2009)
08:31' CH - Chủ nhật, 24/04/2016

1. “Chiến tranh và hoà bình”

Sau đạo lý làm người chúng ta hãy dấn thân vào một thảm hoạ mới nhất của lương tâm, lương tri và đạo đức làm người, đó là chiến tranh.


"Chiến tranh và hoà bình” cũng là tên gọi của một cuốn tiểu thuyết được xếp hạng trong số chưa đầy chục cuốn sách lừng danh nhất thế giới. Qua cuốn sách đồ sộ này, đại văn hào Leo Tolstoi đã dùng thiên tài của mình để diễn tả nỗi trăn trở nhức nhối của con người trong chiến tranh. Chiến tranh luôn luôn là cơn đau của nhân loại, song đó là cơn đau thảm khốc. Một nỗi đau tràn bờ khỏi ý nghĩa của từ đau đớn, bởi đó là nỗi đau chết người, nỗi đau bê bết máu chảy, nỗi đau cầm tù tâm hồn, nỗi đau phi tang thân phận, hình hài, tâm linh và tin tức về con người, nỗi đau mẹ mất con, vợ mất chồng, nỗi đau khắc khoải của lương tri lịch sử và nỗi đau chua xót của một nụ cười mỉa mai trước tâm thức nhân bản nghịch lý của con người. Chiến tranh là nỗi đau không biên giới, một nỗi đau vượt khỏi mọi nỗi đau bằng đôi cánh không hoá kiếp nổi của cái chết còn ghi dấu nặng nề niềm luyến tiếc nhức nhối và đau xót. Chiến tranh không chỉ là nỗi đau thống khổ về thân xác, mà còn là nỗi đau của sự xói lở công lý con người. Một kẻ tội đồ mắc tội giết người sẽ bị xử trảm, trong khi đó những chiến sĩ càng treo lủng lẳng nhiều đầu lâu của đối phương quanh cổ mình thì càng được lãnh thưởng nhiều huân chương; và hơn nữa những tướng lĩnh, vua chúa đẩy hành triệu người vào cuộc chiến tranh đang hoan hỉ hào hùng đầy khí phách khi bước lên khán đài giăng đèn kết hoa để loan báo về sự nghiệp tôn vinh ánh sáng nhân bản của con người và tôn vinh thắng lợi của chiến cuộc đã thánh hoá tâm hồn nhân loại ?!
Chiến tranh là vậy! Bằng máu, cái cao quí nhất của con người, nó có thể biện chính cho cuộc chiến tranh vì công lý, lại có thể biện hộ cho trò chơi giết người vụ lợi. Ngang trái thay cho chiến tranh, bởi lẽ có thể “Được làm vua thua làm giặc. Nhà vua chỉ là tên giặc thắng trận” (Lý Chánh Trung ‘Cách mạng và đạo đức’, tr.88). Chúng ta hãy thử nghe tiếng than của nhà đạo đức Rousseau : “Ôi, người ơi, người đừng tìm tác giả của tội ác nữa, tác giả là người đấy. Tội ác người làm hay tội ác người chịu, cả hai đều do người cả(1)
Quả vậy, con người vừa là thợ săn vừa là con mồi của con người. Bằng chiến tranh con người đã săn đuổi con người đến tận thâm sơn cùng cốc. Con người dùng súng cùng thuốc nổ để săn lùng con người; dùng trại giam nhà tù để giam cầm con người; dùng bộ máy thông tin, cơ quan tâm lý để hành hạ truy bức tâm hồn con người; dùng chất độc hoá học để vấy bẩn hơi thở sống của con người, dùng hàng rào cấm vận để ngăn cản dạ dầy của con người, và cuối cùng triệt để nhất người ta dùng bom nguyên tử như một chiếc nơm tứ phía để chụp xuống “đàn kiến” con người. Chúng ta thử xem chàng thợ săn con người trang bị từ chân đến răng đã săn được bao nhiêu con người trong đại chiến thế giới thứ nhất và thứ hai.
- Chiến tranh thế giới thứ nhất: 33 tay súng quốc gia săn lẫn nhau, kết quả: bắn chết 8 triệu người, bắn bị thương 21 triêụ người khác, tiêu tốn 200 tỉ đô la.
- Chiến tranh thế giới thứ hai: Hơn ba mươi tay súng kéo theo cả thế giới vào cuộc săn bắn đồng loại khổng lồ, kết quả theo con số thấp nhất: 28 triệu người chết, con số thủ tiêu không lường hết được vì cho đến nay chẳng có thợ săn nào thành thật thú nhận mình đã phi tang bao nhiêu con mồi trong lò sát sinh hay dưới hố chôn tập thể, con số bị thương lên đến hàng trăm triệu, nhiều đến mức làm nản chí những nhà thống kê, số tiền tiêu tốn 2000 tỉ đô la, gấp mười lần chiến tranh thế giới thứ nhất ( theo Encyclopedia Compton’s).
Thật là vụ đại thu hoạch những cái xác của lương tri nhân loại.
Tuy nhiên, chiến tranh dù tàn khốc, tàn bạo, phi nhân bản là vậy, nhưng nó vẫn cứ xảy ra mỗi ngày và loài người chẳng thời khắc nào ngừng chuẩn bị cho chiến tranh với phương châm: “Muốn có hoà bình hãy chuẩn bị chiến tranh”. Người ta bỏ mặc dân lành đói khổ thất nghiệp để đổ tiền vào mua những khẩu ca nông ngày càng lớn, những trái bom ngày càng nặng bằng cách nói rằng: đó là vũ khí để bảo vệ cho quyền lợi rách rưới của dân nghèo.
Chúng ta hãy ngắm hai bộ lạc ở gần nhau vừa xung sát. Bộ lạc thua trận thì vật vã đau đớn, khóc lóc tang thương trong cảnh thiêu huỷ tro than và giữa những người thân đã nguội tanh hơi thở của sự sống. Còn bộ lạc thắng trận, họ đem xác những chiến sĩ hy sinh lên đài tưởng niệm tôn vinh những cái xác trong những giọt nước mắt và vòng hoa hoan hỉ. Chiến tranh là vậy. Nó là nỗi cay đắng cho kẻ này, nhưng lại là miếng mồi vinh quang cho kẻ khác. Và chẳng kẻ nào khi bước vào cuộc săn lại không tự nhủ: mình sẽ là thợ săn, còn đối phương của mình sẽ là con mồi.
Song đó là hình ảnh của cuộc chiến tranh mang một ngoại diện hết sức cụ thể và còn ở cấp độ nhận thức phổ quát. Đi sâu hơn nữa, một cuộc chiến tranh nằm trong bản tính gây hấn của con người đã trở nên huyễn hoặc khó nắm bắt, ca ngợi, phê phán hoặc lảng tránh như chính con người vậy. Nếu chiến tranh nằm trong bản tính gây hấn, thì nó có phải là sự ngược chiều của bản tính ái tình như là trạng thái tình cảm Ghét và Yêu của con người hay không? Đây là một vấn nạn nằm sâu trong căn để, nó bắt nguồn từ bản tính của loài người.
Trong Kinh Thánh, khi Chúa Trời nói: “Ta cho các ngươi hoà bình và chiến tranh giống như kỳ gieo cấy và mùa gặt hái”, thì con người rơi vào câu hỏi đầy hoang mang rằng: không hiểu Chúa có cổ xuý cho chiến tranh không? Một cách rõ nét và dứt điểm hơn, nhiều triết gia đã cổ xuý cho chiến tranh bằng cách dè bỉu hoà bình như sau: “Hoà bình chỉ là trang trắng của lịch sử”. Theo họ thì hoà bình chỉ làm cho người sống hèn nhát trong ôi ươn thụ động, con người không được đào luyện mình trong ngọn lửa thử vàng, con người không biết đến dũng khí can trường vượt thắng hoàn cảnh trong thời khắc trọng đại của lịch sử. Họ cho rằng: “Một nhân loại không còn tranh chấp là một nhân loại ngái ngủ” (Lý Chánh Trung)(2). Theo quan điểm này thì chiến tranh không được nhìn như những sự kiện phi nhân bản xấu xa, mà để biện chính cho hành động căng thẳng tột độ nhắm đến việc đào luyện con người - một con người phải gặt hái những giá trị chín rũ của mình để gieo trồng một vụ mùa mới đầy sức sống hơn. Ngoài cơn khát chiến tranh mang nặng yếu tố duy niệm của một số triết gia, chiến tranh đã bước từ tư tưởng xuống cuộc đời để xung sát tung hoành mong gặt lấy vinh quang cho ông hoàng bạo lực. Trang Tử nói: “Trộm một cái mốc thì bị giết, cướp một nước thì được gọi là vua”.
Làm vua, hai từ đó nghe như một tham vọng thôi thúc nhất, còn gì sướng bằng được làm vua thiên hạ, với quyền lực trong tay sẽ có rượu ngon, gái đẹp tối ngày cung phụng hầu hạ. Bởi vậy, người ta không chỉ thích làm vua trong nhà, mà còn thích làm vua ở xã, ở tỉnh, ở quốc gia, và còn khát vọng làm vua cả thế giới. Làm vua... làm vua nữa... lúc bấy giờ thì thế giới cũng trở thành quá nhỏ. Chính vì thích làm vua hoàn cầu, Hitler đã lôi kéo dân tộc Đức vào cuộc chiến tranh qui mô toàn cầu bằng cách khích lệ vào khoái cảm sô-vanh đế quốc của họ như: “Chúng ta hãy tàn ác. Nếu cứu được nước Đức, chúng ta phải thực hiện một nghĩa cử cao đẹp nhất thế giới . Chúng ta hãy làm quấy. Nếu cứu được nước Đức, chúng ta đã diệt trừ một việc quấy nhất thế giới. Chúng ta hãy vô luân. Nếu cứu được nước Đức, chúng ta đã mở ra con đường phục hồi đạo lý” (Hitler, Mein Kamf, tr.686).
Hãy tàn ác! Hãy làm quấy! Hãy vô luân! Khẩu hiệu phi nhân bản đó đã lôi kéo đánh lừa được cả một dân tộc, một lực lượng quân đội đông đảo hăm hở kiên gan chiến đấu đến tận giây phút cuối cùng của chiến tranh. Cái gì có lý do ở đó? Lý do duy nhất cho những lời phách lối đó là mặc cảm biện hộ chủng tộc của một dân tộc. Vì lợi ích chung của dân tộc ta có quyền làm tất cả. Còn lợi ích của loài người, giá trị nhân bản thì sao? Điều đó có ích gì?
Nghe nói trong những ngày cuối cùng của chiến tranh thế giới hai, người ta thu được hằng hà sa số sổ tay của những binh lính Đức trân trọng ghi tên Nietzsche và tư tưởng cổ xuý chiến tranh của ông. Theo cách nhìn của Nietzsche thì chiến tranh được nhắc đến như một phương thuốc chữa trị mặc cảm yếu ớt của một dân tộc, mặc cảm không được làm vua. Nietzsche nói: “Đối với những quốc gia đang trở nên yếu kém và bị khinh thị thì chiến tranh có thể được coi như một liều thuốc, thật vậy, nếu các quốc gia ấy muốn tiếp tục sống còn... Đàn ông phải được huấn luyện cho chiến tranh, đàn bà thì cho sự tiêu khiển của các chiến sĩ, còn ngoài ra tất cả chỉ là điên rồ... Bạn cho rằng chính nghĩa thánh hoá các cuộc chiến tranh? Không! Tôi cho rằng một cuộc chiến tranh tốt thánh hoá bất cứ chính nghĩa nào(3).
Song ở mức độ nào đó những người lính Đức đã hiểu nhầm đôi chút về Nietzsche, bởi vì họ chỉ nhìn ông ở góc độ biện hộ cho bạo lực chém giết của họ; vả lại Nietzsche cũng đáng để dính mắc vào sự hiểu lầm đó, bởi ông đã bàn đến chiến tranh như một thái độ cực đoan của triết học. Tuy vậy chúng ta không nên dừng ở chỗ kiểm thảo Nietzsche, mà chúng ta hãy vượt tới để nắm bắt cùng đích ý tưởng của ông về chiến tranh. Nietzsche nói: “Vì lợi ích của một chủng loại rất cần thiết để tất cả những hạng yếu đuối , suy nhược, bất thành nhân chết đi”. Ham muốn tối cao của Nietzsche là khát vọng tinh chế con người khỏi suy nhược, yếu đuối và thoái hoá giá trị làm người. Theo cách nhìn của Nietzsche thì một nhân loại không cần Lượng mà chỉ cần Phẩm. Phẩm để xây lên những con người siêu hạng – siêu nhân, và sau đó là những xã hội của những siêu nhân.
Chiến tranh không chỉ là cuộc biện hộ tối hậu cho quyền lợi lãnh thổ, tham vọng quyền lực, hoá giải căn bệnh suy nhược thân xác ươn hèn, mà chiến tranh còn được dùng để biện chính cho giá trị cao cả của linh hồn...
Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII, toàn bộ châu Âu cất một đội quân hùng hậu bao gồm từ ông già đến những chú nhi đồng, bảy lần ào ạt tấn công đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ với lý do bảo vệ miền đất Thánh. Lá cờ của đội quân hào hùng hiếu chiến này chẳng lúc nào suy giảm nhuệ khí với hình ảnh thánh giá và hàng chữ “God will it” – “Chúa muốn vậy” bay phần phật trên vó ngựa. Cuộc Thập tự chinh kéo dài 175 năm kể từ 1096 đến 1270 khiến xương chất thành núi, máu chảy thành sông, bao nhiêu vùng đất bình yên bị tàn phá và dẫm nát trong vó ngựa quần thảo của những chiến binh thiện chiến đầy sát khí. Tại sao cuộc chiến tranh kéo dài đến vậy? Bởi vì người ta đã tìm cách nuôi dưỡng linh hồn hiếu chiến bằng cách thổi một luồng khí siêu việt vào những thân xác có nguy cơ suy giảm và rệu rã tinh thần. Chúa muốn vậy! Đó là sự phấn khích của mệnh lệnh Thiên Chúa. Và khi linh hồn đã không chán chiến tranh thì thân xác có bao giờ chán.
Vượt hơn cả sự biện hộ cho linh hồn, chiến tranh còn được coi như một phương tiện hoàn hảo của công chính cao cả, một phương tiện tinh chế siêu việt để đào luyện và hoàn tất con người. Chúng ta hãy xem một đoạn tả cuộc chiến tranh giành ngôi báu giữa Arjuna và những nam tử Pan-đu anh em của mình:
“...Tôi ở đây , giữa hai đạo quân...
Tôi rất đau đớn khi nhìn thấy bà con thân thích đang đứng ngoài mặt trận, sẵn sàng chém giết lẫn nhau...”
Tôn giả Krishna:
Này Arjuna, linh hồn ở bất cứ thể xác của người nào cũng chẳng bao giờ bị huỷ diệt. Vậy nhà ngươi không việc gì phải than tiếc cho những phù sinh.
Đối với một Kshattrya, không có gì đáng khát khao hơn là một cuộc đấu tranh công lý. Những bậc Kshattrya sung sướng đón nhận một cuộc đấu tranh công lý, bởi trong lúc đấu tranh, thình lình họ biết mở những cánh cửa của trời.
Nhưng nếu nhà ngươi không muốn nhận cuộc đấu tranh công lý này, tức là nhà ngươi vứt bỏ bổn phận và danh dự của mình đi trước gió, và như thế nhà ngươi sẽ phạm vào một tội.
Loài người sẽ mãi mãi kể cho nhau sự mất danh dự của nhà ngươi, còn đối với một kẻ biết trọng danh dự thà chết còn hơn.
Vậy nhà ngươi hãy hoàn tất một hành động công lý, - “Hành động bao giờ cũng tốt hơn thụ động”. Nếu nhà ngươi thụ động, thì ngay đến việc lo lắng cho thân xác của nhà ngươi cũng không thể nào thực hiện nổi.
Hãy biết rằng, đức hy sinh do bản ngã giác ngộ mà có, và bản ngã giác ngộ lại đến từ vĩnh cửu, vĩnh cửu truyền vào vạn vật, vậy vật vĩnh cửu luôn nằm trong đức hy sinh” (Kinh Gita, tr.12- 20).
Tác giả: Nguyễn Hoàng Đức

- Sinh năm 1957, học đại học An Ninh
- Anh là một người khác thường mà nhà thơ Đỗ Minh Tuấn gọi là "Anh hề triết học, chàng Đông-ki-sốt văn chương"

Tác phẩm đã in
1. Ý hướng tính văn chương. Chuyên luận và 9 cuốn khác.

Tác phẩm sắp in
1. Ngưỡng cửa làm người (tiểu thuyết, 2 tập, và 12 cuốn khác)
2. Người Việt Nam tự ngắm mình (chuyên luận)
3. Hành trình nhận thức duy niệm của nhân loại(chungta.com đăng nhiều kỳ)
4. Hành trình tâm linh nhân loại(chuyên luận, chungta.com đăng nhiều kỳ)

5. Công lý và Dục vọng(chungta.com đăng nhiều kỳ)
6. Quan phẩm và Nhân phẩm(chungta.com đăng nhiều kỳ)
7. Tự do nền móng thiết yếu của con người (chungta.com sẽ đăng nhiều kỳ)

Theo Kinh Gita thì chiến tranh là hành động, là công lý, là danh dự, là phẩm chất tối cao, là linh hồn lần về bất tử. Đó là phẩm chất siêu việt của chiến tranh được nhìn theo con mắt tín điều của huyền thoại hay tôn giáo. Tuy vậy. chúng ta hãy tham chiếu cái nhìn đầy biện chứng khoa học của các sử gia cận đại, và nhận thấy nó cũng chẳng kém cạnh gì. Các sử gia cho rằng cuộc Thập tự chinh tuy thất bại, nhưng phương Đông đã gặt hái một nhãn quan về phương Tây; còn phương Tây với đạo quân thắng chẳng ra thắng bại không ra bại đã gặt hái chính mặc cảm suy nhược của mình, và bởi chính ý thức về mặc cảm đó, họ đã khởi sự xây cất nền móng cho thời Phục Hưng - một đỉnh tháp chói lọi của lịch sử nhân loại.
Đến đây thì chiến tranh dường như đang mở ra những cánh đồng đầy tiếng ngựa hý vang, tiếng binh khí loảng xoảng, tiếng hò hét kiêu hùng, và máu có đổ thì cũng chỉ để tôn vinh cho sự nghiệp chí dũng can trường của con người? Và con người có muốn vùi quên dĩ vãng hoang tàn của chiến tranh thế giới thứ nhất và chiến tranh thế giới thứ hai ? Không! Dù thế nào, dù có đem lại những lợi ích nào đi nữa, chiến tranh vẫn khoét sâu trong tâm hồn con người một đổ nát tàn phế hơn cả ngoài chiến địa.
Chiến tranh có phải bao giờ cũng mã thượng đâu? Để chiến thắng người ta sẵn sàng tiến hành những thủ đoạn dù là nhơ bẩn nhất, phi nhân nhất, sự tin cậy giữa những con người bị phá đổ, con người còn xấu xa hơn cả những con thú khi vừa dùng sức mạnh, vừa dùng các chiến lược - chiến thuật, thủ pháp, binh pháp tấn công triệt thủ lẫn nhau. Hai quả nguyên tử rơi xuống Hiroshima và Nagasaki, đâu có phải chỉ huỷ diệt trọn vẹn hai thành phố, mà cho đến ngày nay đám khói hình nấm phóng xạ uranium vẫn còn gieo rắc vào giấc ngủ bình yên của nhân loại những cơn ác mộng hoảng loạn đầy sợ hãi. Tại sao người Mỹ đã nhất quyết lẳng hai trái bom nguyên tử xuống đầu người Nhật? Có một lý do chính yếu khiến người Mỹ uất khí chẳng run tay làm điều đó, vì họ phát hiện: mười một nghìn khuôn mặt hoảng loạn tột độ của những tù binh Mỹ trước tín điều nhân bản của con người, khi bị những chiến sĩ Nhật hoàng đem đi thủ tiêu tập thể.
Bản chất của chiến tranh là sức mạnh, mà sức mạnh luôn luôn nhằm vào kẻ yếu để áp chế và tước bóc. Trong chiến tranh thế giới hai, mảnh đất đầu tiên mà Hitler muốn phô diễn sức mạnh của mình là miếng mồi Ba Lan vừa quyến rũ vừa yếu ớt. Chúng ta không thể nào không sửng sốt trước một chứng cứ sờ sờ ra đấy một chứng tích biện giải xác quyết rằng: những kẻ yếu chỉ là miếng mồi – là vật thí thân cho kẻ mạnh. Trong số 13 triệu dân thường bị chết vì bom đạn trong Đại chiến II, thì Ba Lan, một dân số quá nhỏ so với các nước tham chiến đã đóng góp con số thiệt mạng là trên 5 triệu.
Chiến tranh không chỉ là trò chơi bất công, trò chơi biện hộ cho “công lý của kẻ mạnh”, mà chiến tranh còn cướp đi cơm ăn áo mặc và làm bần cùng những tầng lớp dân nghèo vốn đã quá khổ sở. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, chính phủ Mỹ tuyên bố: Trong ba năm vừa chuẩn bị chiến tranh vừa tham chiến, nước Mỹ đã tiêu pha số tiền bằng tất cả 124 năm, từ 1791 đến 1914 cộng lại. Thật là một con số khổng lồ. Thật là một mỉa mai nghịch lý 3 năm bằng 124 năm. Một năm chiến tranh tiêu tốn tiền của bằng 40 năm xây dựng. Một số chuyên gia chiến tranh tính rằng: một năm chiến tranh thường ngốn đi số vốn của 27 năm sản xuất và xây dựng.
Cho đến ngày nay, khi con người đã có một tâm thức khá chín muồi nhờ trải qua những biến cố đau thương của lịch sử, thì chiến tranh không còn có cơ hội được biện chính cho sự nghiệp của sức mạnh một cách dễ dàng nữa; ngược lại nó ngày càng trở nên một mặc cảm xấu hổ của lương tri con người về thứ lề luật bạo hành đó, lề luật phi nhân bản và có khuynh hướng hạ cấp nhân phẩm của con người xuống muông thú. Giáo Hoàng Gioan XXIII nói: “Có một niềm tin ngày càng xâm chiếm các tâm trí thời đại ta là những tranh chấp giữa các dân tộc cần được giải quyết không phải bằng vũ lực, nhưng bằng điều đình”.
Xu hướng đối thoại là xu hướng của con người, bởi con người là trí tuệ hơn là bắp thịt. Bởi thế chúng ta hãy hướng về xu thế đối thoại, và muốn vậy trước hết hãy giải phẫu bản chất của chiến tranh.
Chiến tranh trước hết là sự vay trả bằng máu, nghĩa là con người đã đòi nợ máu như đòi nợ tiền, đòi nợ đồ vật. Kẻ bị thiệt hại cho cá nhân, gia tộc và quốc gia bằng sức mạnh thì chăm chăm dùng sức mạnh để trả thù món nợ đó. Bejamin Foudane nói: “Chiến tranh sẽ hoàn tất công trình của hận thù”.
Song chiến tranh chỉ là màn biểu diễn của sức mạnh, nó là một vở tuồng đã được các diễn viên thi thố cuộc tranh sát tương tàn, nhưng chiến tranh không chỉ bắt đầu từ lúc khai hoả say sưa khát máu của bạo lực, giống như vở tuồng đã được tập dượt trước khi trình diễn, chiến tranh thực sự đã được khởi sự từ những diễn viên thích tuồng bạo lực.
Chiến tranh là gì?
Mô thức của nó là bạo lực, bản chất của nó là bạo lực, và cứu cánh của nó là bắt kẻ khác phải thần phục bằng bạo lực. Thánh Gandhi nói: “Ai tin tưởng vào bạo lực, thì kẻ đó đang chuẩn bị chiến tranh” (Que celui qui croit a la force prepare la guere) (4).
Chiến tranh là sự bất lực của tín phục, của lý lẽ, của trí tuệ con người, và để cướp “cái” mong giành ưu thế với người khác, người ta chiếm cứ sức mạnh để gây áp chế hơn là muốn đối thoại tìm ra công lý. Vả lại, con người luôn bị lòng tham lợi quấy nhiễu và lôi cuốn, bởi vậy nó không muốn sống theo công lý để chia sẻ với người khác một cách công bằng, mà ngược lại nó muốn kiếm lời bằng chính sự thiệt hại của người khác. Muốn vậy phải chiếm lấy sức mạnh, Pascal nói: “Vì không thể bắt mọi người phục tùng lẽ phải, người ta biến lẽ phải thành sự phục tùng sức mạnh(5).
Chính vì muốn thống lĩnh cai trị thế giới dưới tay mình, Hitler đã cổ động, tuyên truyền, khích lệ, khơi chảy trong dân tộc Đức một tinh thần vũ trang, thích dùng vũ khí, thích bạo lực hòng lấn át và đè bẹp các dân tộc khác bằng sức mạnh. Hitler nói: “Vấn đề là làm thế nào mang lại quyền lực cho người Đức, không phải ở chỗ ta có thể tạo vũ khí thế nào, nhưng ở chỗ làm cách nào gây được tinh thần khiến cho một dân tộc có khả năng mang vũ khí. Một khi có được tinh thần ấy rồi thì một dân tộc có trăm nghìn cách để đi đến vũ trang cần thiết.”
Câu nói thẳng tuột của Hitler “làm thế nào mang lại quyền lực cho người Đức” không chỉ bày tỏ khát vọng quyền lực của dân tộc Đức, mà còn bày tỏ khát vọng của các dân tộc khác, rồi của những cá nhân có một cái tên, và tiếp theo sẽ lôi kéo tuồn tuột dây chuyền lây lan những hành động phản kháng bạo lực để bảo vệ hay tạo dựng quyền lực cho mình. Khi mọi cá nhân, mọi thế lực, mọi quốc gia chỉ thích quyền lực thì trật tự xã hội, công lý chỉ là trật tự của sức mạnh. Lề luật là lề luật sức mạnh, ở đó kẻ có nhiều sức mạnh nhất sẽ đúng nhất, kẻ yếu ớt nhất sẽ xấu nhất. Robes Pierre nói: “Cho đến bây giờ nghệ thuật cai trị chỉ là nghệ thuật của thiểu số đàn áp đa số, và luật pháp chỉ là phương tiện để biến những tội ác đó thành hệ thống(6).
Khi có sức mạnh trong tay mới mong lấn át, đàn áp và bóc lột kẻ khác, bắt kẻ khác phải phục dịch làm tôi tớ cho mình . Bởi thế càng có nhiều quyền lực thì càng có nhiều người sợ hãi, càng có nhiều người sợ hãi thì càng có nhiều kẻ nô dịch và hầu hạ. Khi đó thì quyền lực trở thành thứ tài sản đầu tiên của mọi tài sản, có quyền lực sẽ có tất cả. Được tự do làm ông chủ, có pháp lý, có nô bộc, có tiền của, có xe hơi nhà lầu, có “lẽ phải” và mặc sức tung hoành ăn chơi xa xỉ... Song ngược lại, khi quyền lực được thủ đắc trong tay ai, được dùng để ức hiếp, áp chế, bóc lột kẻ khác thì càng ngày nó càng làm cho xã hội trở nên phi nhân, bởi lẽ giá trị nhân bản cùng với nền văn minh của con người càng ngày càng trở nên nơi thi thố luật muông thú ở rừng rậm, và chúa sơn lâm với nanh vuốt dữ tợn nhất của mình sẽ điều khiển tất cả trật tự và giá trị con người. Dần dần sức mạnh sẽ thay thế công lý, và toàn bộ xã hội chỉ còn là các giai tầng đè nén của hệ thống sức mạnh. Ở đâu sức mạnh càng bành trướng, thì ở đó giá trị bình đẳng giữa người với người càng teo rút. Fustel Coulanges Nói: “Những bất bình đẳng xã hội bao giờ cũng tỉ lệ nghịch vớid sức mạnh của nhà cầm quyền”.
Điều đó càng đúng trong trường hợp một thể chế chỉ lo đến việc củng cố quyền lực một cách thái quá, điều đó có nghĩa họ chỉ coi trọng sức mạnh mong áp chế người khác về thể chất hơn là thực thi những giá trị luân lý và công chính. White Head nói: “Bất cứ kẻ nào khi có sức mạnh về thể chất, dù là tên kẻ cướp, viên thẩm phán, hay nhà cai trị, kẻ đó có sức mạnh cưỡng chế về thể chất”.
Song nhân loại ngày nay không chỉ là nạn nhân của bạo lực, là “miếng mồi của những guồng máy cưỡng chế thể chất”, mà từ thẳm sâu tinh thần con người đã trở nên những nạn nhân của những người lính không chỉ được trang bị từ chân đến răng mà được trang bị từ chân vào sâu não trạng “ý thức giết người”. Chúng ta đã nghe Hitler trang bị cho dân tộc Đức và quân nhân Đức triệt để như thế nào rồi “làm thế nào gây được tinh thần khiến cho một dân tộc có khả năng mang vũ khí... rồi thì... có trăm nghìn cách để đi đến vũ trang cần thiết”. Jasper nói: “Ý thức hệ là nguyên nhân chính của phân tán và chia rẽ nhân loại ngày nay(7).
Chúng ta hãy ngắm cảnh hai đội quân Pháp và Nga ở hai bên bờ con sông nhỏ sau trận đánh, trong tác phẩm “Chiến tranh và hoà bình” của Leo Tolstoi. Người lính bên này xuống sông múc nước nấu cơm ăn, người lính bên kia cũng múc nước, họ nhìn nhau bình thản vì nhiệm vụ chiến đấu đã tạm ngừng, và lúc đó họ trở về làm con người bình dị, họ chẳng phải kẻ thù của nhau nữa, họ ý thức rằng con người chỉ là kẻ thù của nhau trong cuộc chiến mà thôi. Còn ngày nay, chúng ta hãy nhìn chiến tranh thế giới thứ nhất và chiến tranh thế giới thứ hai, người ta rình mò nhau tận thâm sơn cùng cốc, rình mò giết nhau cả khi ăn, khi ngủ, khi đầm ấm với vợ con, và tệ bạc hơn nữa họ chôn sống thủ tiêu những tù binh của đối phương đã hết khả năng chống cự, giết cả phụ nữ lẫn trẻ em chỉ vì tội không cùng phía với họ. Tại sao vậy? Bởi vì kẻ thù ngày nay không chỉ đơn giản là những con người tranh chấp về lãnh thổ hay quyền lợi cụ thể nào đó của con người, mà kẻ thù ngày nay là kẻ thù từ chân răng kẽ tóc, kẻ thù thâm sâu tận sâu thẳm tâm hồn, kẻ thù của những phe phái và hệ tư tưởng. Hắn là kẻ thù của ta chỉ vì tư tưởng của hắn trái nghịch với tư tưởng của ta hoặc chẳng giống ta.
Đó là hình ảnh tàn khốc tột cùng của chiến tranh nhân loại ngày nay, Chiến tranh thế giới thứ hai là một ví dụ: cầm tù hành hạ dã man về thể xác, tra tấn tinh vi về tâm lý, thủ tiêu tù nhân, và cuối cùng ném cả bom nguyên tử khiến con người chẳng còn nẻo mà chạy. Đó là cuộc chiến tranh người ta chẳng còn để ý đến truyền thống mã thượng của các hiệp sĩ cổ xưa nữa mà chỉ nghĩ đến việc làm sao phải tiêu diệt đối phương càng nhiều càng tốt, kể cả bắn lén. Đó là cuộc chiến tranh mà con người trở thành kẻ bị săn đuổi tuyệt đối trước trái tim đồng loại với ý thức tiêu diệt tuyệt đối của đối phương.
Đối phương của nó không được quyền trốn thoát ở bất cứ ngõ ngách nào của ý thức cũng như thực tại cuộc đời,nó phải bị săn lùng ở khắp thâm sơn cùng cốc. Chính vậy mà thánh Gandhi đã nhìn nhận những cuộc xung đột ngày nay như những cuộc tương sát tuyệt đối nhằm đẩy nhân loại đến miệng hố diệt vong. Ông nói: “Thế giới bị dồn đẩy đến cái chết bởi nền chính trị đẫm máu của nó” (Le mond est frappe’ a mort par sa politique sanguinaire) (8).

Chú thích:
1- S. Radhakrishnan “Chiến tranh và bất bạo động” (CTVBBĐ), dịch giả Thích Quảng Độ, Hoa Muôn Phương 1970, tr.43
2- Lý Chánh Trung “Cách mạng và đạo đức” (CMVĐ Đ), tr.57
3- Nt, (1), tr.446
4- sđ d (La Pensee de Gandhi), tr.62
5- sđ d (CMVĐ Đ), tr.58
6- nt, tr.59
7- Lê Thành Trị “Hiện tượng luận về hiện sinh”, Sài Gòn 1969, tr.166
8- Nt (1), tr.37

Việt nam: quốc gia của bầy chuột nhắt?

Biết và chơi thân với Paul Nguyễn Hoàng Đức đã lâu. Ông là một triết gia hồn nhiên và duy lý. Ông thấy điều đúng thì tin, thấy điều hay thì làm và đặc biệt rất thẳng thắn với chính mình và mọi người.

Chính vì vậy, từ một cán bộ công an chống phản động tôn giáo, Ông đã đến với Đức Hồng Y F.X Nguyễn Văn Thuận và sau đó trở thành Kito Hữu. Ngoài việc nghiên cứu lĩnh vực chuyên môn là triết học và văn chương, có lẽ điều ông đau đáu thường trực là làm sao cho người Việt ngày một tốt hơn. Bài viết sau đây đề cập đến nhiều điều xấu của người Việt trong các lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, nghệ thuật đến chính trị và pháp luật, không nằm ngoài mong muốn đó.
Paul Nguyễn Hoàng Đức
Paul Nguyễn Hoàng Đức

————–o0o————-
Việt Nam, ôi quê hương yêu dấu rừng vàng biển bạc của chúng ta, nhưng mà có phải nó đang tụt xuống hàng “hố rác” của nhân loại? Từ Bắc chí Nam, từ Quảng Ninh đến Cần Thơ các cô gái trẻ nườm nượm đi thi để lọt qua vòng tuyển lấy chồng Hàn Quốc. Với một lý do mở màn rất đơn giản, ít nhất người ta được xuất ngoại lần đầu, được đáp máy bay lên bầu trời. Trái lại, nếu không dám dứt bỏ một lần làm sao thoát cảnh lội bì bõm bên bờ ruộng để leo lên phi cơ phản lực vượt ra quốc tế?
Những cô gái Việt này ao ước đàn ông Hàn Quốc chẳng khác gì “tây mũi tẹt”, giống cha ông châu Á đã từng khao khát phương Tây như thần thánh cái gì cũng có. Trời ơi, quả là một trời một vực, cùng da vàng mũi tẹt như nhau, chỉ sau vài thập kỷ, một đằng thì thành tây, đi đâu cũng leo lên xe hơi và máy bay; một đằng thì bán cả đời mình chỉ để nếm một lần leo phi cơ. Tại sao? Có phải tại trí khôn của người Việt mà rất nhiều người chúng ta lúc nào cũng thường trực tự hào?
Có nhiều người Việt phản ứng rất mạnh mẽ khi thấy ai nói về cái xấu của người Việt, như thể nói thế là chạm đến quốc hồn – quốc túy, nói xấu tổ tiên, ông cha… và họ phản đối như thể đó là thước đo chứng minh lòng yêu nước của mình rằng: tôi yêu tổ quốc, tổ tiên, dân tộc, giống nòi, và tôi phản đối lại là để bảo vệ tổ quốc. Họ có bảo vệ tổ quốc không? Thực ra, họ chỉ bảo vệ cái xấu trong chính con người họ.
Hoàng đế Napoleon có nói “Bao dung với cái xấu là sự đồng tình với nó”. Đúng vậy một kẻ ăn cắp thường có cái nhìn vô tội với một thằng ăn cắp khác. Kẻ nói dối cũng vậy. Kẻ độc ác, đố kỵ, ích kỷ cũng thế, nó không giành cho những ai giống nó một cái nhìn phán xử khác lạ…
Kết quả bao dung cũng là bao che cho cái ác tràn lan vô bờ đến vậy dẫn đến dân tộc Việt ngày nay theo các bảng sắp hạng đều không ngoi ra khỏi vị trí đội sổ, thua xa cả những nước trong khu vực từ 50 đến 100 năm. Nói đâu xa, nước Lào là nước nhỏ bé nghèo nàn bậc nhất thế giới, nhưng từ xưa đến nay luôn trở thành giấc mơ của người Việt.

Thời bao cấp, mấy anh sinh viên Lào chỉ có vài cái nhẫn vàng đeo ngón tay đã trở thành niềm ao ước của nhiều cô gái Việt. Còn giờ đây, xe hơi loại bán tải của Lào nhiều như xe đạp từ quê lên phố vẫn là mơ ước của giới trung lưu Việt Nam. Còn giới cán bộ trung lưu Việt hí hửng về thu nhập cỡ dăm chục triệu đồng mỗi tháng thì vẫn còn thua loại rửa bát, làm thuê ở Singapore, một nước nằm trong khu vực.
Sự bao dung – bao che – cũng là đồng hóa đó đã gây ra vô số cái xấu cái ác ở Việt Nam: nào ăn cắp nắp cống, tháo đinh đường tầu, tháo đinh rầm cầu, cắt đường dây điện thoại, rải đinh “đa cạnh” ra đường, rồi xi măng cốt tre…đã gây ra nhiêu tai nạn khủng khiếp. Mới nhất là nạn pha trộn tạp chất vào xăng dầu đã gây ra hàng loạt vụ cháy xe gây thiệt hại tài sản và chết chóc tang thương.
Đó là một thảm họa! Nhưng còn thảm họa hơn ngay khi đã tìm ra mầm mống của những vụ pha trộn thì người ta vẫn triển khai sự bao dung. Nghĩa là vẫn bao che cho những thứ nguy hiểm chết người rình rập ngay trong chiếc xe của người dân. Tại sao? Vì các công ty xăng dầu đều thuộc các ông lớn, chẳng lẽ ông lại muốn phơi áo sân sau của mình! Trong một buổi gặp mặt các phóng viên. Một vị quan chức nêu ra ý kiến chỉ đạo: để kích thích du lịch Việt Nam báo chí cần khai thác đưa tin về những lời nói tốt đẹp của khách thăm quan nước ngoài, như vậy mới lôi kéo được du lịch.
Vậy những lời nói về cái xấu của người Việt thì sao? – một nhà báo hỏi lại.
Vị quan chức cười xòa “cái này thì…” – có nghĩa là không được đăng.
Tóm lại, người Việt chỉ quen với những “sự thật” được biên tập, nói thẳng ra chỉ thích lời khen mà không muốn bị chê. Như vậy là người Việt chưa trưởng thành, chỉ là những đứa trẻ thích nghe lời khen mà không muốn bị chê.
Mới đây có nhiều bài báo như của học giả Vương Trí Nhàn tập hợp những bài viết của các học giả lớn như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi, Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai … hoặc của nhà báo Hoàng Tùng… đã nêu ra từ xưa, nhiều chuyên gia phương Tây đã nhận xét người Việt rất nặng như: “nói dối”, “ăn cắp”, và “sát nhân”. Đặc biệt có chuyên gia nói: “Việt Nam là quốc gia của những con chuột”.
Trong một phóng sự truyền hình, người ta phản ánh nạn người Việt qua các nước Tây Âu, có rất nhiều người tham gia trồng cây cần sa. Họ bị giam trong nhà kín, không được ra ngoài, suốt ngay lo chăm bón các cây cần sa dưới ánh đèn điện. Việc họ bị giam cầm trong nhà không được nhìn thấy ánh sáng mặt trời liệu có phải là những con chuột?
Gần hơn, một loạt các vụ giam cầm công nhân người Việt tại Nga, ăn ở và làm việc trong nhà hầm như súc vật, đến khi cháy không có đường thoát hiểm đành ôm nhau chết. Liệu có phải họ bị đối xử như những con chuột và chết như những con chuột?
Và ai đã đối xử với họ như chuột? Bọn thực dân ư? Không, đó chính là những người Việt mới đó vẫn còn chân lấm tay bùn nhưng đã sớm bước vào con đường lưu manh hóa tiểu nông, rồi thành tư bản đỏ học đòi. Ai mà nói về cái xấu của người Việt thì đám này uất ức đầu tiên. Tại sao? Vì đó là những cái xấu mà chính họ mới là đại biểu cao cấp nhất.
Một quốc gia muốn trưởng thành và tiến bộ thì nó phải kiện toàn pháp luật bởi vì không có pháp luật không thể thành quốc gia mà đó chỉ là sắc tộc gia đình trị bán khai. Điều kiện đầu tiên để có pháp luật là không ai cho dù là vua chúa, chủ tịch hay thủ tướng được ở trên pháp luật. Vua phạm tội xử như thứ dân. Nhưng cái điều hiển nhiên đó cho đến nay đã đầu thiên niên kỷ thứ ba người Việt vẫn không được sống trong Nhà nước pháp quyền.
Cái gọi là nhà nước của chúng ta là thứ hầm bà làng, đồng nát như lãnh đạo vẫn thường cất tiếng nói cửa miệng “đảng, nhà nước, và nhân dân”. Trong câu nói này dù “bao sân” nhưng vẫn thiếu một cơ quan trực tiếp của pháp luật đó là “chính phủ”, và như thế chẳng có ai chịu trách nhiệm cả. Trong khi đó ở các nước người ta luôn phải tuyên bố: chính phủ đã làm việc này việc kia…
Việt Nam làm sao có pháp luật khi điều bốn (4) của hiến pháp, Đảng tuyên bố “lãnh đạo tất cả”, cả quốc hội là cơ quan lập hiến, cả chính phủ là cơ quan hành pháp. Người ta nói “Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao”, nhưng mở màn kỳ họp quốc hội, người ta lại đem nghị quyết của trung ương đảng vào đọc như một định hướng bất khả biện, thì làm sao quốc hội còn là cơ quan tối cao được. Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất nhưng lại chịu sự lãnh đạo cao nhất hơn của đảng, thử hỏi ai thứ nhất? ai thứ nhì? Có một việc giản dị như vậy sao người ta vẫn ấp úng che đậy, không thể minh bạch?
Vì thế ở Việt Nam, từ lập pháp đến hành pháp đều chỉ là lối tập trận giả, nhưng có một sự thực bên trong đó: là mong muốn và định vị tuyệt đối của quyền lực. Quyền lực tuyệt đối để làm gì? Để có được quyền lợi tuyệt đối! Quốc hội Việt cộng ở trình độ nào? Quốc hội đúng nghĩa là bàn của chủ tịch đoàn ngồi thấp hơn ghế của các nghị viên, được đặt ở giữa, để các nghị viên thoải mái tranh biện. Trái lại quốc hội Việt cộng thì nghị viên ngồi dưới như xem kịch, còn chủ tịch đoàn ngồi phía trên như ban giám khảo. Chủ tịch bước ra bệ nói như Mc, còn ở dưới giơ tay tán thưởng. Đúng là hình thức văn công chẳng giống ai. Đó là bằng chứng sờ sờ chứng tỏ cái gọi là quốc gia của chúng ta còn ấu nhi đến mức nào? Hội trường quốc hội đúng nghĩa của Việt nam vẫn đang xây để chờ cơ hội sánh bước với loài người. Than ôi vào thiên niên kỷ thứ ba rồi mà người Việt vẫn chưa nhấc chân bước đầu tiên vì hiến pháp đích thực. Thử hỏi người Việt là người hay là chuột?
Theo các chuyên gia, chuột là thứ sống theo bầy và thuộc loại thông minh bậc nhất, chúng không bao giờ để bị dính bẫy đến lần thứ hai. Một con bị sập bẫy, cho dù bẫy sắt, bẫy tre hay bẫy dính, thì chúng liền tụ lại họp hành rút kinh nghiệm rồi thông báo cho cả bầy trên toàn lãnh thổ cống ngầm cách thức nhận biết và tránh bẫy. Nhưng dù bầy chuột có khôn đến mấy, chúng cũng không phải là thứ kiêu hãnh của ánh sáng. Sự khôn ngoan của chúng chỉ là chui rúc để tồn tại, mà không phải là vươn thẳng để sống minh bạch và tiến bộ.
Đó là quan lại cũng như dân chúng.
Giờ đến văn hóa. Thơ là thứ phổ biến cũng như dễ nhất của Việt Nam hiện nay. Thôi thì tiểu nông, tiểu thương, các cụ hưu trí, các em mới lớn đua nhau làm thơ. Giờ hãy nhìn tập đoàn làm thơ, có đông rinh rích và rúc ríc làm thơ không? Mới đây Trung quốc lĩnh giải Nobel văn học lần hai. Tại sao họ có hai thành tựu đó? Bởi vì cách đây hơn nửa thế kỷ người Trung Quốc đã bỏ làm thơ, và coi thường thơ.
Ai chẳng yêu quê hương. Nhưng người đi xa về bao giờ cũng yêu quê hương hơn, yêu da diết và đau đáu. Tại sao? Bởi vì tình yêu của họ đã lên men rất nhiều bởi nỗi nhớ cồn cào. Người làm thơ sẽ yêu thơ hơn nếu người ta biết từ bỏ thơ để sống trong một cuộc đời toàn diện có công lý, tình yêu, tranh đấu, sám hối và cứu chuộc.
Văn là người! Thi ca là cuộc đời! Người làm thơ sẽ trở về với thơ như nước nguồn từ đỉnh cao ùa xuống, chứ không phải như tí nước mài mực rồi cọ lên giấy vòi vĩnh khúc vinh quang. Hãy viết văn làm thơ như những con đại bàng sà xuống từ lý tưởng cuộc đời, chứ không phải bằng những khúc rúc ríc lẩn trốn khôn ngoan của bầy chuột chỉ quen thủ thế trong cơ chế xin cho của bóng tối. Một chút thành công tem phiếu bao cấp chỉ là cách con chuột chui qua kẽ hở kiểm duyệt bé tí của ông chủ, đó không phải là cách con ngựa phi nước đại cùng những con khác trên thảo nguyên để tìm xem con nào mạnh nhất?! Dám ra gió cuộc đời! Dám ganh đua minh bạch! Mới có thể tìm được giải quán quân đại bàng, hay những con chiến mã! Còn đua trong ao hợp tác ư? Chính những nhà quán quân mậu dịch đã thừa nhận “chúng ta chỉ là tép”.
Mong rằng mọi người Việt đều biết vượt qua tự ái để phấn đấu cho một xã hội tiến bộ, minh bạch và kiêu hãnh thực sự. Để những cô con gái Việt không phải nhìn đàn ông hàng xóm kiêu sa như “tây mũi tẹt”. Rất cám ơn!
Nguyễn Hoàng Đức
Theo blog Lê Quốc Quân.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32