BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 158 (Nguyên Ngọc)

(ĐC sưu tầm trên NET)
 
Nhà văn Nguyên Ngọc, Một góc chân dung về vị đại tá cuối đời quyết rời bỏ Đảng, Tại sao?

Ngô Thị Kim Cúc: NGUYÊN NGỌC – ÔNG LÀ AI?

Tác giả: Ngô Thị Kim Cúc
.
KD: Ông không chỉ là một nhà văn với tác phẩm bất hủ” Đất nước đứng lên”, mà còn là một nhà văn hóa uyên bác và một trí thức lớn đầy khí phách. Đăng bài viết này lên, Blog KD/KD mong muốn bạn đọc hiểu thêm một “trí thức tinh hoa” của nước Việt, đã dấn thân và sống với nhân dân mình ra sao.
.
Vì độ nhạy cảm của những ngày này, những bài viết về nhà văn Nguyên Ngọc, chủ Blog xin ko đưa FB. Chỉ để bạn đọc Blog chia sẻ và lưu giữ như tư liệu quý
—————-
Hiếm có người cầm bút Việt Nam nào được như nhà văn Nguyên Ngọc. Ở tuổi tám mươi lăm, ông vẫn tiếp tục những hoạt động hết sức đa dạng và sôi động trên nhiều lĩnh vực, từ văn học nghệ thuật, văn hóa, giáo dục…, cho đến thời sự chính trị, xã hội. Ông nói chuyện, viết sách, dịch sách, mở trường, tổ chức các hoạt động thường xuyên về nhiều mặt, như một người còn trẻ, tràn đầy năng lượng. Nhờ đâu…?
*Xin ông cho biết, vì sao ở tuổi tám lăm, cuộc sống của ông vẫn hết sức bận rộn?
-Tôi là người tham lam. Mà cuộc sống thì bao nhiêu chuyện cần làm, muốn làm, cảm giác có thể góp tay tháo gỡ, dù chỉ đôi chút.

Nào Tây Nguyên tôi đã gắn bó suốt đời và nay đang quá đáng lo; nào giáo dục ở ta chẳng ai có thể yên tâm; nào thực trạng văn hóa không thể không suy nghĩ và lên tiếng; nào Phan Châu Trinh mà tôi cho rằng phải còn giải thích và suy nghĩ về những điều ông phát hiện cho đất nước hơn 100 năm trước và nay càng thời sự hơn bao giờ hết; nào lịch sử và chính con người Việt ngày càng cảm thấy bao nhiêu điều phải căn vặn, đặt câu hỏi và cố trả lời;… Cả chuyện voọc chà vá trên núi Sơn Trà, quá đẹp thế mà đang bị đe dọa mãi mãi biến mất; cả chuyện Hội An vì quá đẹp nên cũng thật mong manh và đang đầy thách thức…
Còn sách hay thì phong phú quá, mới và lạ, lắm cuốn muốn dịch để chia sẻ. Bao nhiêu chuyện khác, theo nghĩa nào đó đều cấp bách. Và còn cả… rong chơi nữa.
Đi để nghe, thấy, cảm, đi để nghĩ và tìm ra cái viết, cách viết, để gặp bao ngẫu nhiên, thường bao giờ cũng hay.
Tôi là người thích di chuyển, dừng lâu thì cuồng chân, bạn bè vẫn nhận xét tôi mà ngồi một chỗ thế nào cũng ốm, cứ đi thì lại khỏe ra. Tôi cũng là người không thích đứng ngoài, đến đâu cũng muốn được vào cuộc.
Hồi chiến tranh xuống đơn vị, dù chỉ là phóng viên, nhưng vẫn xông vào đánh nhau như lính, có khi làm bí thư xã, lăn lộn sống chết cùng anh em. Và cuối cùng, vẫn ảo tưởng mình còn viết được cái gì đó, còn cái gì đó để viết, và chưa mất ảo tưởng có thể viết khác… Ảo tưởng chăng? Để rồi xem…
 Năm 1947, cậu bé Nguyễn Ngọc Báu (tên thật của nhà văn Nguyên Ngọc- bên trái) 
15 tuổi, vừa lấy bằng Diplôme
*Trước khi viết tác phẩm đầu tiên, ông có nghĩ rồi cuộc đời mình sẽ gắn liền với văn chương?
-Tôi vốn học toán, với thầy Hoàng Tụy. Sau này nhiều lần ông bảo tôi có thể đi theo toán được, bỏ mất là uổng. Nhưng rồi cuộc đời đã dắt tôi đi con đường khác.
*Nguyên do nào thúc đẩy ông trở thành nhà văn? Câu chuyện đã xảy ra thế nào?
-Hẳn là do Tây Nguyên. Tôi lên đó năm 1950 và lập tức bị Tây Nguyên mê hoặc.
Không biết người đọc có nhận ra điều này: hể gặp miền núi là tôi viết dễ và dễ viết hay. Tôi với Tây Nguyên cứ như là phát hiện ra nhau. (Về sau gặp người Mông ở Hà Giang cũng vậy, “nhận” ra nhau ngay, có gì đó cứ như là mỗi bên tự phát hiện ra mình do gặp gỡ ấy).
Bấy giờ, năm 1950, tôi làm phóng viên báo Vệ Quốc Quân (mấy năm sau đổi thành báo Quân Đội Nhân Dân) liên khu 5 (tức Nam Trung bộ). Báo thả tôi đi tự do, nên tôi lang thang trên ấy không chịu về, làm lính một đội vũ trang tuyên truyền. Trong đội còn có Nhật Lai và Y Yơn sau này đều trở thành nhạc sĩ có tiếng. Và chị Hải, người Phú Yên, mà chúng tôi gọi là Mai Đua = Chị Hai.
Nhà văn Nguyên Ngọc gặp lại mẹ ở Đà Nẵng, năm 1975, 
sau mấy mươi năm lăn lộn trong chiến tranh
Có lần chúng tôi bị Pháp tập kích ở Buôn Kreah Lớn, chị Hải bị thương, Y Yơn, Nhật Lai và tôi khiêng chị vượt đường 14 rồi đường 21, về núi Dleya, cố cứu mà không được. Chị chết vì khí núi lạnh quá và vì chúng tôi hoàn toàn không có thuốc, một chút bông băng cũng không.
Đấy là người phụ nữ Kinh đầu tiên hy sinh ở Tây Nguyên.
Chúng tôi sống như vậy đó, cũng phải nổ súng khi gặp Pháp, còn thì đi vào các buôn, tuyên truyền kháng chiến và múa hát, sống cùng bà con Ê Đê. Bấy giờ tôi đã biết tiếng Ê Đê kha khá, có thể hiểu được đôi chút Đam San do các cụ già Ê Đê kể.
Năm 1951, thay vì gửi về cho báo các tin tức, tường thuật như thường lệ, tôi đã viết và gửi về… một cuốn tiểu thuyết tên là Pra, lấy tên một địa phương ở Đak Lak, nhân vật chính là Ama Yơk, một ông già Ê Đê, nửa hiện thực nửa huyền thoại, đã tìm đến xin vào đội vũ trang tuyên truyền của chúng tôi.
Báo đăng nhiều kỳ và ghi là “Ký” nhưng ngày nay nhìn lại thì đúng là tiểu thuyết. Đăng được tới kỳ thứ 5 thì tôi lặng lẽ bỏ dở dù cuối bài có ghi “Còn nữa”… Vì tôi viết đến đó thì bí, không biết dắt dẫn các nhân vật của mình đi đâu nữa. Cũng định bỏ cả công cuộc viết lách luôn từ đấy.
Rồi thỉnh thoảng tôi có viết đôi cái ký ngắn, cũng là người và việc Tây Nguyên, nay nhớ lại thì đấy là những phác họa đầu tiên của một giọng văn tôi muốn tạo nên để viết về Tây Nguyên, vừa tự phát vừa ít nhiều có ý thức, đặc biệt trong một bài ký viết về Đinh Nói, một người lính dân tộc Re ở Tây Quảng Ngãi.
Nhà văn Nguyên Ngọc bên người bạn Tây Nguyên xưa cũ…
Không phải nhại theo cách nói của họ khi họ nói tiếng Việt, mà cố diễn đạt cách người Tây Nguyên nhìn thế giới quanh mình, từ toàn bộ cách sống, cách nghĩ, lịch sử, môi trường đặc trưng của họ, tóm lại từ toàn bộ điều gọi là “văn hóa” của họ… Cho đến cuối năm 1955, tập kết ra Bắc, tôi được Tổng cục Chính trị gọi về Hà Nội và giao viết về một anh hùng quân đội tùy chọn. Tất nhiên tôi chọn Núp của Tây Nguyên.
Cũng cần nói thêm: lẽ ra viết xong Núp, tôi sẽ được trả về sư đoàn, chắc sẽ làm một anh cán bộ tuyên huấn kiểu nào đó. Nhưng lại xảy ra chuyện Nhân văn Giai phẩm, bắt đầu từ trong quân đội. Các anh ở phòng Văn nghệ Quân đội: Trần Dần, Hoàng Cầm, Tử Phác, Phùng Quán… bị đuổi ra khỏi quân đội. Chúng tôi được giữ lại để thay thế, có tôi, Nguyễn Khải, Hồ Phương, Nguyễn Trọng Oánh, Lý Đăng Cao…
Về sau còn thêm Hữu Mai, Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Xuân Sách, Xuân Khánh… Cũng là tình cờ cả. Hóa ra đấy là lớp nhà văn lớn lên trong kháng chiến chống Pháp, và định hình giữa hai cuộc chiến tranh. *Trong tác phẩm Đất nước đứng lên, hình tượng anh hùng Núp ông có được từ cảm xúc trước một con người có thật hay từ lý trí của một người cầm bút cần một “hình mẫu”? -Thực ra, Đất nước đứng lên không phải là tác phẩm đầu tiên của tôi. Đấy là một thứ Pra được viết lại, viết tiếp. Phần nào đó Núp chỉ là một cái cớ, để gửi vào đấy tất cả những gì tôi biết và mê say về Tây Nguyên: trời đất, cỏ cây, sông suối, đất đá, núi rừng, dã thú, mưa gió, con người Tây Nguyên… suốt những năm tháng lang thang, la cà trên đó.
May là tôi đã không viết “từ lý trí của một người cầm bút cần một hình mẫu”, chắc sẽ chẳng ra gì. Tôi chỉ muốn khoe với mọi người, với cả nước cái hương sắc Tây Nguyên kỳ lạ và kỳ diệu của tôi, mà tôi đã tìm được cho mình. *Anh hùng Núp có được là nhờ Tây Nguyên hay ngược lại? -Tôi đã may mắn gặp Núp, có thể gửi vào hình tượng của ông hàng chục, hàng trăm con người Tây Nguyên tôi đã biết. Núp của Đất nước đứng lên là một kiểu Ama Yơk của Pra đã tương đối hiện đại và hiện thực hơn.
Nói thật, tôi vẫn tiếc Ama Yơk của Pra. Có thể nói ông Tây Nguyên hơn Núp, một Tây Nguyên còn huyền hoặc, huyền thoại đang bước đầu chen chân vào hiện thực, mà theo tôi sau này Trung Trung Đỉnh phần nào đó đã gợi lên được trong tiểu thuyết Lạc rừng rất lạ và rất hay của anh. *Nói như nhà văn Nguyễn Khắc Phục, ông có một “giọng văn tráng lệ”. Sự trau chuốt trong hành văn của ông xuất phát từ điều gì? Ông thường viết nhanh hay chậm so với những người khác? -Tôi chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn chương Pháp từ thời còn đi học trường Tây.
Đến nay còn thể đọc thuộc lòng từng đoạn dài thứ văn tuyệt đẹp của Alphonse Daudet, Anatole France, thơ Beaudelaire, Musset… Và lần đầu tiên đến Paris, vào vườn Luxembourg, rõ ràng cảm giác trở về, gặp lại cảnh xưa, “lá vàng rơi từng chiếc một trên những đôi vai trắng ngần của các pho tượng”…
Tôi nghĩ trong văn chương, hình thức cũng chính là nội dung. Tôi cũng nghĩ nếu đến nay người ta chưa hoàn toàn quên mất Đất nước đứng lên thì là vì hình thức thẩm mỹ của nó chứ không phải chỉ vì nó viết về một người anh hùng.
Ảnh mới nhứt: Nhà văn Nguyên Ngọc và nhà văn Khuất Đẩu, hai đồng môn cùng học trường Lê Khiết- Quảng Ngãi ở hai thời kỳ, lần đâu gặp nhau tại Sài Gòn, tháng 8/2018 .
Trong nghệ thuật cái dở rất nguy hiểm, nó khiến người ta quen với cái thấp kém, tầm thường, là môi trường của cái ác. Hình như ở ta chưa chú ý đến điều này. Đừng tưởng cứ chiếu phim chợ lăng nhăng suốt ngày trên truyền hình sẽ không liên quan gì đến văn hóa và đạo đức đang xuống cấp trong xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà Dostoievski đã nói “Cái đẹp sẽ cứu thế giới ”. Nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất của văn học là phải Hay.Tôi viết từ cái này qua cái khác rất chậm, còn khi đã bắt tay viết được một cái gì, cảm thấy dòng văn đã chảy, thì lại rất nhanh, đến không kiềm lại được.
*Giờ đây, sau hơn bốn mươi hai năm hòa bình, ông nghĩ gì về những tác phẩm viết trong thời chiến của mình? Những thế hệ tương lai liệu có nhìn nhận chúng như những thế hệ từng sống trong chiến tranh?
-Nói thế này thì có thể nghe hơi lạ, nhưng quả thật tôi không phân biệt những gì đã viết trong thời chiến và sau thời chiến. Thời nào thì cũng phải cố mà viết cho hay, và dù viết trong thời nào cũng thế thôi, cái gì viết được hay thì còn có cơ sống sót với thời gian.
Tôi nghĩ có thể đóng góp của tôi là tạo ra được một cách viết về miền núi trong văn học mình, khác với thời Lan Khai, cũng khác Tô Hoài. Tạo ra một cái giọng riêng, có thể còn nhiễm đến người đi sau muốn động tới miền núi.
Núi không chỉ là đất, đá và cây, núi là một thực thể rất lạ, là sinh thể đặc biệt, của Trời, của Chúa. Nó thăm thẳm bí ẩn, và tiếng nói của nó vừa thiêng liêng vừa tráng lệ.
Tôi có đọc trên trang La vie des idées của báo Le Monde một bái viết có tên là Ce que sait la montagne? (Núi biết những gì?). Núi có những minh triết của nó mà người không biết. Tôi có học được ít nhiều của núi và gắng để nó thấm vào văn chương mình. *Trong bản chất, ông có phải là một người hay đặt ra các vấn đề, một người phản biện? Ông đã viết Mạch nước ngầm (và cả Đề dẫn Đại hội Nhà văn) xuất phát từ điều gì? -Trong cuộc sống, đến một lúc tôi đã học được thói nghi ngờ. Mạch nước ngầm có lẽ là tác phẩm đầu tiên ở văn chương miền Bắc sau 1954 nghi ngờ rằng, người anh hùng trong chiến tranh cũng có thể hư hỏng trong hòa bình.
Còn Đề dẫn viết năm 1979 sau khi tôi đi Kampuchia về thì nói rằng, nếu không biết tôn trọng cá nhân thì sẽ rơi vào tai họa của chủ nghĩa tập thể bầy đàn, như tôi đã bàng hoàng chứng kiến ở bọn Pôn Pốt bên Kampuchia. Tôi muốn cảnh báo.
Cả hai cái này đều bị ông Tố Hữu đánh tơi bời. Nhưng tôi ương ngạnh. Tôi đã trưởng thành. *Là người “khai phá” Tây Nguyên, ông đã nhiều lần cảnh báo về những hiểm họa cho cả thiên nhiên và con nguời nếu không đối xử với Tây Nguyên một cách đúng mực. Vậy hiện trạng Tây Nguyên đang ra sao, về cả văn hóa lẫn chính trị-xã hội? -Trước hết cần nói: sau năm 1975 Tây Nguyên cơ bản vẫn còn nguyên, về tự nhiên và cơ cấu xã hội. Bốn mươi hai năm qua, do quan niệm và chủ trương coi Tây Nguyên là kho tài nguyên vô tận, cần tận khai làm vốn cho phát triển ban đầu của cả nước.
Hì hục suốt hơn 40 năm, ta đã biến vùng đất và người vốn giàu có, phong phú và độc đáo này thành nơi kiệt quệ nhất nước về tự nhiên, đổ vỡ về cơ cấu xã hội, tàn lụi về văn hóa, luôn âm ỉ không ổn định về an ninh. Có những cảnh báo khá sớm về tất cả các hiểm họa này, như của Chương trình nghiên cứu Tây Nguyên I do Gia1o sư Nguyễn Văn Chiển đứng đầu, của nhà dân tộc học tài năng Nguyễn Từ Chi, và nhiều nhà văn hóa, khoa học khác …, tất cả đều bị gác ngoài tai. Cho đến tận hôm nay vẫn chưa có gì thay đổi. *Có thông tin rằng ngành công an từng mời ông đến nói chuyện về Tây Nguyên và cử tọa đều rất bất ngờ trước những thông tin ông cung cấp. Ông nghĩ sao về “hiệu ứng” này? -Họ bất ngờ, còn tôi thì kinh ngạc. Tôi nghĩ họ lên đây đều muốn làm tốt, nhưng hóa ra chẳng ai hiểu chút gì về Tây Nguyên cả. Họ hăm hở muốn cho Tây Nguyên “phát triển” nhưng phát triển từ cái gì và sẽ thành cái gì trong 20 năm, 30 năm, 50 năm nữa ở vùng đất và người rất đặc sắc và đặc trưng này thì không ai có chút hình dung. Nên càng hăm hở làm thì càng phá… cho đến tình cảnh ngày nay!
*Thời đại tràn ngập sự nhộn nhạo đầy bi kịch cho con người, vì sao Việt Nam vẫn chưa có tác phẩm thật sự tương xứng, theo ông?
-Đúng là thịnh suy của văn học không phải bao giờ cũng trùng khớp với thịnh suy của xã hội và chính trị, ngược lại là khác. Tác phẩm lớn, như Kiều, ra đời trong thời loạn ly, khi thân phận con người lâm cảnh đảo điên. Thời tràn ngập nhộn nhạo như hiện nay lẽ ra văn học phải hay. Mà không được thế thì rõ ràng văn học đang đuối sức, nhiều người có thể cảm nhận.
Vì sao? Chắc có vấn đề về tự do sáng tác (cũng như tự do học thuật trong giáo dục và khoa học), nhưng tôi nghĩ giải thích như thế còn rất chưa đủ. Còn một nguyên nhân khác quan trọng hơn, nếu không phải là quan trọng nhất, cơ bản và lâu dài hơn: nền tảng văn hóa mỏng của người cầm bút, khiến họ hụt hơi. *Ông đã từng bỏ nhiều công sức tổ chức một “đại học hoa tiêu” nhưng không thành công. Theo ông, lý do chính của sự thất bại trong dự án giáo dục này là gì? -Bất cứ dự án giáo dục nào ở ta bây giờ cùng sẽ thất bại về cơ bản nếu không thực hiện được điều Giáo sư Hoàng Tụy đã nói: Phải thế tục hóa giáo dục. Tách nó ra khỏi nhà thờ. Giáo dục phải tự chủ. Tự chủ với ai? Tự chủ với nhà thờ. Giáo sư Hoàng Tụy đã cẩn thận nhắc, khi châu Âu làm cuộc cách mạng thế tục hóa giáo dục, thì xã hội châu Âu vẫn là xã hội Thiên Chúa giáo, nghĩa là giáo dục không nhất thiết chờ xã hội thay đổi thể chế. Giáo dục cứ lẹt đẹt theo sau nhà thờ như thế này thì dù đổi mới, cải cách, “hoa tiêu” gì cũng chỉ là đùa chơi tốn tiền thôi, không thể không thất bại.
Đang diễn ra một cuộc di tản giáo dục to lớn mà dân chúng gọi là “lên thuyền”, tức muốn nói nó cũng giống như cuộc di tản chính trị thê thảm mấy chục năm trước. Chẳng lẽ Bộ Giáo dục và Chính phủ không biết? *Từng trực tiếp tham gia cả hai cuộc chiến tranh với Pháp và Mỹ, ông đã có mặt trong cuộc chiến với Trung Quốc thế nào? Ông có từng dự đoán về cuộc chiến tranh này? -Năm 1979, khi nổ ra chiến tranh biên giới phía Bắc, tôi lên Cao Bằng. Trở về, tại Quốc hội, tôi có đọc tham luận mang tên “Nhận mặt kẻ thù”. Tôi không nói kẻ thù mới. Là kẻ thù cũ, từ ngàn xưa. Tôi có cảm giác phương Tây, vì đang bận đối mặt với Hồi giáo cực đoan, còn chưa nhận ra hết hiểm họa Trung Hoa.
Điều nguy hiểm đối với ta hiện nay là đã bị họ cài thế quá sâu. Nếu phải đánh nhau hôm nay, thì họ đã có người phục sẵn ở khắp nơi, cả ở những chỗ hiểm yếu nhất. Đối với Tàu, thì còn rất rất dài… *Là sĩ quan thuộc Quân khu 5, ông có thể nói gì về sự khốc liệt của chiến tranh ở vùng đất này? Đến giờ, đã có con số chính xác về thiệt hại nhân mạng của quân và dân khu 5 ở cả hai phía? -Trong chiến tranh chống Mỹ, tôi có ở Tây Nguyên một ít, cũng có lúc ở Bình Định, còn chủ yếu ở Quảng Đà (bắc Quảng Nam), là chiến trường ác liệt nhất Quân khu 5, quanh căn cứ lớn của Mỹ ở Đà Nẵng.
Ở đây có xã số liệt sĩ bằng cả một huyện, thậm chí một tỉnh nơi khác. Tôi chắc sẽ không bao giờ thống kê được số người chết cả hai phía trên chiến trường này. Có những xã, bằng Tổ quốc Ghi công gửi về không còn biết trao cho ai, cả một đại gia đình không còn người nào để nhận. Gia đình chị Liễu, người đã đào hầm bí mật nuôi tôi hồi tôi về hoạt động ở xã Điện Hòa nay chỉ còn mỗi mình chị, bị thương cưa mất một chân hồi sau Mậu Thân.
Lúc bấy giờ cả xã chỉ còn 7 người trụ bám nuôi và bảo vệ chúng tôi. Sau 1975, chị có thẻ thương binh, được một năm thì bị “trên” về thu mất, vì truy ra chị bị thương khi “không có ai giao nhiệm vụ” (theo quy định của nhà nước). Đúng là hồi đó không có ai giao nhiệm vụ cho chị và mẹ chị phải trụ lại. Chúng tôi còn giục họ đi đi, chạy tránh tạm vào thành phố một thời gian, nhưng bà Vịnh mẹ chị bảo: “Tau đi rồi, chúng mày sống với ai?”.
Quả thật những năm đó, không có họ, chúng tôi đã bị tiêu diệt hết rồi … *Theo ông, báo Văn Nghệ đã làm được gì trong giai đoạn đầu đổi mới? Có chương trình đáng làm nào của báo đã bị lỡ mất sau khi ông phải rời tòa soạn Văn Nghệ? -Trước hết cần nói rõ: hồi bấy giờ báo Văn nghệ đối nghịch với lãnh đạo Hội, cụ thể là Thường vụ Hội Nhà văn, nên cuối cùng tổng biên tập mới bị “thuyên chuyển công tác”. Nói nôm na, thường vụ muốn giữ một nền văn học an toàn. Người tiền nhiệm của tôi ở báo tuyên bố “chỉ đá bóng giữa sân, không ra biên”.
Khi về báo Văn Nghệ, tôi nói rõ với anh em: Nhìn thẳng vào đời sống thực sôi động và phức tạp mà đối mặt. Tôi chủ trương khôi phục thể phóng sự, từng nổi tiếng từ thời Vũ Trọng Phụng, Trọng Lang, Tam Lang… nhưng đã lặng đi trong chiến tranh, để thực tế đời sống ùa vào tờ báo và văn học.
Tôi xin Trần Huy Quang ở báo Độc Lập của đảng Dân Chủ (bấy giờ vừa bị giải tán), rồi Hoàng Minh Tường là những người viết phóng sự hay về, đăng những phóng sự đầu tiên về quản lý kinh tế, về thực trạng nông thôn, lập tức gọi được hàng loạt phóng sự gửi đến sôi nổi, từ Lời khai của bị can (về Vua Lốp) cho đến Cái đêm hôm ấy đêm gì chấn động của Phùng Gia Lộc…
Người đọc từng bỏ tờ báo ế đến mức không còn tiền mua giấy và trả nhà in, trong thực tế đã phải đình bản, ngay lập tức quay lại với tờ báo (và cũng là với văn học). Số in báo có lúc lên đến mười vạn, rồi mười hai vạn. Truyện ngắn cũng thức dậy và lên đến đỉnh cao với Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài…
Tôi không phải người làm báo giỏi. Tôi chỉ là người gắn với đời sống, với dân, điều những năm lăn lộn trong chiến tranh đã dạy cho tôi. Nên trong thời thế bấy giờ, tôi cùng anh em đã có chủ trương đúng. Tôi nói với các anh chị ở báo: “Báo Văn Nghệ có ưu thế hơn xuất bản ở chỗ xuất bản (sách) là công nghiệp nặng, là hàng nằm, còn báo Văn Nghệ là báo, chiến đấu trực diện hàng ngày. Lại có ưu thế hơn các báo khác ở chỗ nó nói chuyện nóng bỏng của đời sống bằng văn học với thân phận con người, nên sâu hơn. Phải nhằm vào ưu thế riêng đó mà làm”.
Nhìn lại thời ấy, chúng tôi đã rất linh hoạt, khá bài bản và toàn diện. Phóng sự là mũi nhọn mở cửa, truyện ngắn cô đọng lại, in sâu ấn tượng, chạm đến chuyện con người. Cũng chính giai đoạn truyện ngắn này (cùng với nỗ lực về đổi mới lý luận văn học) đã chuẩn bị cho một thời bùng nổ của tiểu thuyết. Đỉnh cao là năm 1991 với Mảnh đất lắm người nhiều ma, Bến không chồng và Nỗi buồn chiến tranh… Về lý luận văn học, chúng tôi triển khai loạt bài về những vấn đề rất cơ bản của Lê Ngọc Trà Văn nghệ và chính trị, Văn nghệ và hiện thực …, định đi tiếp Vai trò của nguời nghệ sĩ trong xã hội thì tôi phải rời báo. Nghĩa là báo Văn nghệ thời ấy vừa đưa văn học trở lại với đời sống thực, mở đường cho hiện thực đời sống tràn vào văn học, đánh thức văn học dậy sau giấc ngủ mệt mỏi hậu chiến và bao cấp, đồng thời cũng từng bước chuẩn bị đường đi lâu dài, căn cơ cho văn học.
Chính vào lúc đó thì nó (và chừng nào đó cả văn học) bị ngáng đường bởi các lực lượng bảo thủ. Tôi được “thuyên chuyển”… *Trường Viết văn Nguyễn Du có phải là một trong những việc mà ông tâm huyết nhất? -Năm 1979, khi đang ở quân đội, bỗng được điều sang Hội Nhà văn, tôi được anh Trần Độ bấy giờ là trưởng ban Văn hóa Văn nghệ gọi đến, hỏi nếu về Hội tôi định sẽ làm những gì.
Tôi nói với anh một loạt dự định lớn nhỏ, rồi nói thêm hai việc cụ thể tôi tính sẽ tập trung sức: Làm lại tạp chí Văn học Nước ngoài, nâng cao và mở rộng hơn, giao cho các anh Đào Xuân Quý, Nguyễn Thành Long, Huy Phương phụ trách, khắc phục tình trạng bị đứt với văn học thế giới suốt mấy cuộc chiến tranh; và, mở Trường Viết văn Nguyễn Du.
Bấy giờ xảy ra tranh luận: Có đào tạo được nhà văn không? Tôi nghĩ là không. Có thể lấy một người tay ngang đào tạo thành bác sĩ, kỹ sư, nhưng không thể dạy họ để trở thành nhà văn. Tôi cũng nhận xét tài năng văn học ở ta thường xuất hiện rất sớm: Nguyên Hồng viết Bỉ vỏ năm 16, Chế Lan Viên in Điêu tàn năm 17 tuổi… nhưng lại thường không đi được xa. Vì cái nền xuất phát của họ không đủ cao. Giáo dục, cả ở bậc đại học của ta, không chuẩn bị cho họ cuộc xuất phát tầm xa ấy.
Trường Nguyễn Du muốn làm việc ấy, thay một đại học thật sự chưa có, để họ có thể sung sức đường dài. Là trường đại học, nhưng trường Nguyễn Du chỉ nhận người đã chứng tỏ có năng khiếu văn học rõ rệt. Thí sinh cần nộp sáng tác của mình, cho một hội đồng đánh giá. Trường chủ trương không dạy nhiều về cái gọi là “nghề viết”, các nhà văn có tên tuổi chỉ đến trò chuyện về công việc viết của mình.
Tôi quan niệm chẳng ai có cách viết giống ai, và nếu nhà văn đi trước lại tạo ra một người đi sau giống hệt mình thì chẳng để làm gì. Đặc điểm của văn học nghệ thuật là đơn nhất, có hai ông Nguyễn Du giống hệt nhau thì sẽ thừa một ông…
Suốt 4 năm ở trường Nguyễn Du, sinh viên được gặp các chuyên gia hàng đầu đến nói với họ phần tinh túy nhất trong lĩnh vực họ chuyên sâu. Về Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Thiên chúa giáo, về Lịch sử tư tưởng Việt, về Làng xã Việt Nam, cốt lõi của Lịch sử Việt, về nhân học và dân tộc học, tâm lý học và phân tâm học, về chuyển động của các trào lưu văn học nghệ thuật thế giới, về lịch sử và văn hóa nhân loại Đông Tây, về lịch sử triết học, về âm nhạc và hội họa, điện ảnh và sân khấu, về văn hóa văn học dân gian…, cả một số vấn đề quan trọng của khoa học tự nhiên…
Bảo Ninh nói với tôi rằng anh không còn nhớ được gì các thầy dạy ở Nguyễn Du, nhưng chắc chắn không có trường Nguyễn Du thì anh không thể có Nỗi buồn chiến tranh. Những người học rồi quên hết, là những người thành công nhất. Tất cả những gì anh nghe được, nhận được đã biến thành một tinh chất mới, cấp độ mới trong con người anh. Và từ nay anh viết với cái đó, tiếp tục học và đi xa suốt đời… *Ông nghĩ, nếu thật sự cần một tổ chức, thì một Hội Nhà văn nên được hình thành thế nào, và nên làm gì? -Tôi đã có lần nói với một người quyền lực rất cao hồi ấy là ông Lê Đức Thọ rằng, không nên có Hội Nhà văn của nhà nước như cho đến nay. Hội như thế là không bình thường, chỉ tồn tại trong tình hình không bình thường như trong chiến tranh. Quy luật tồn tại và phát triển bình thường của văn học (và nghệ thuật) là các nhóm tự nguyện độc lập “chơi” với nhau, do cùng khuynh hướng nghệ thuật hay xã hội, hoặc chỉ vì thích nhau, gần gũi nhau thế nào đó…
Trong nhóm, họ trao đổi, kích thích sáng tạo của nhau, giúp đỡ và bảo vệ nhau. Càng nhiều nhóm càng hay, có khi thành “trường phái”…
Có lần anh Trần Độ nói, khi tôi bày tỏ với anh về nỗ lực cho những đỉnh cao mới trong văn học, anh bảo: “Mình đồng ý thôi, nhưng mình nghĩ trong nghệ thuật, muốn có đỉnh cao mới thì phải có trường phái mới…”. Tôi kinh ngạc và kính trọng vì ý kiến sâu sắc đến bất ngờ của anh, và hai anh em càng thân nhau từ đấy … *Theo ông, sự hòa giải hòa hợp dân tộc sẽ bắt đầu từ đâu giữa người Việt nói chung và người viết nói riêng? -Từ xóa bỏ hận thù, ở cả hai phía, ở người Việt nói chung, chắc càng đặc biệt ở người viết. Lưu Hiểu Ba nói: “Tôi không có kẻ thù”. Nelson Mandela nói: “Tha thứ và hòa giải”…
*Ông có thời gian dành cho gia đình không? Vợ ông từng là một tù chính trị nổi tiếng ở miền Nam. Bà có đủ khỏe mạnh để “đương đầu” với cuộc sống hiện nay?
-Tôi ân hận vì không dành được bao nhiêu thời gian cho gia đình.
Tôi là kẻ vác tù và hàng tổng, đi quanh năm suốt tháng. Vợ tôi bị Mỹ bắt nên là tù binh, đã qua hầu hết các nhà tù miền Nam suốt 7 năm trời. Bị tra tấn nhiều vì ngang bướng nổi tiếng, nên bây giờ cô ấy rất yếu. Trong dấn thân của mình cho đến hôm nay, tôi nghĩ tôi có một hậu phương vững chắc ở cô ấy. *Ông có phải một người lạc quan? Ông nghĩ, Việt Nam liệu có thể ra khỏi tình thế hiện nay? Và bằng cách nào? -Theo tôi, không ai yêu nước bằng Phan Châu Trinh, vì thế cũng không ai như Phan Châu Trinh, dám nhìn ra và mắng nặng nề đến vậy những thói xấu căn bản nhất của người Việt, kể cả ở người nổi tiếng nhất cùng thời với ông. Vì vậy ông cũng là người lạc quan nhất về đất nước và dân tộc này. Ông tin có thể chữa bệnh cho dân tộc. Bằng cách học, “Chi bằng học!”.
Chẳng phải người Nhật đã vượt qua cuộc giáp mặt sinh tử với phương Tây và trở thành hùng cường đúng như thế sao? *Xin hãy nói điều gì đó với người đọc Việt Nam ? -Vừa rồi có bộ phim Vietnam War, một lần nữa người Mỹ lại tự vấn về chính họ. Khó nhọc, văn minh, và dũng cảm. Xin hãy ủng hộ văn học Việt Nam làm một cuộc tự vấn như thế về chính dân tộc mình. Về con đường mình đã chọn, để ra hôm nay.
Theo tôi, đã đến lúc cấp bách.
*Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện thú vị và cần thiết này!
Ngô Thị Kim Cúc thực hiện
(Có lẽ nên bổ sung một chi tiết mà mọi người hình như bỏ quên trong tiểu sử nhà văn Nguyên Ngọc: Ông từng là bí thư đảng đoàn khi là Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam).
Bài đã đăng trên Người Đô thị.
———
Theo Blog Tễu

Nguyên Ngọc, Mạc Văn Trang thoái Đảng, ủng hộ GS Chu Hảo



Nhà văn Nguyên Ngọc, Trưởng ban vận động Văn Đoàn Độc Lập
Nguyên Ngọc, đảng viên lão thành và là nhà văn nổi tiếng có tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa cho học sinh trung học Việt Nam, và Mạc Văn Trang, PGS-TS, nhiều năm làm việc ở Viện Khoa học-Giáo dục và có trên 54 năm tuổi Đảng, tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam hôm 26/10, để phản đối quyết định kỷ luật của Đảng đối với Giáo Sư Chu Hảo.
Đảng ‘ngày càng xa rời’ và ‘tự diễn biến’
Quyết định này của ông Nguyên Ngọc, theo lời lý giải của ông trong tuyên bố thoái Đảng, có nguyên nhân trực tiếp là việc Tiến sỹ Chu Hảo, cựu thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ, vừa bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương của Đảng kỷ luật vì có những bài viết, phát ngôn trái với quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng.
“Nay sau việc Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng kỷ luật PGS. TS. Chu Hảo, tôi quyết định ra tuyên bố này, chính thức từ bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ hôm nay,” ông viết trong Tuyên bố được đăng tải trên trên trang Facebook ‘Lão mà chưa an’.
Trong tuyên bố thoái Đảng, Nguyên Ngọc lên án Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị mà ông đã gia nhập, chiến đấu và phụng sự trong 62 năm qua là ‘đảng độc tài đang cướp quyền sống và phát triển của dân tộc’.
“Từ nhiều năm qua, tôi nhận thấy Đảng ngày càng xa rời lý tưởng ban đầu của mình, đã tự diễn biến thành một tổ chức chuyên quyền, phản dân hại nước,” ông viết. “Tôi không thể còn đứng trong một tổ chức như vậy.”
Trong những năm gần đây Nguyên Ngọc đã là một tiếng nói mạnh mẽ phản biện các đường lối của Đảng cộng sản cầm quyền, nhất là các chính sách về tài nguyên, môi trường và đối ngoại với Trung Quốc. Cho nên, việc ông tuyên bố thoái Đảng là điều đã được nhiều nhà quan sát dự đoán từ trước.
Thật ra, trong bản tuyên bố được đăng hôm 26/10, ông Nguyên Ngọc cũng nói rằng ông ‘đã suy nghĩ và định làm việc này (thoái Đảng) từ lâu’ và việc công bố ‘quyết định đã chuẩn bị từ trước’ vào lúc này là để ‘tỏ rõ thái độ’ với quyết định kỷ luật ông Chu Hảo.
Nội dung Tuyên bố thoái Đảng của ông gần như là lời phản đối mạnh mẽ việc Đảng thực thi kỷ luật đối với ông Chu Hảo – người mà ông Nguyên Ngọc cho là ‘có công lớn với đất nước và dân tộc’, người mà ông ‘có vinh dự và tự hào là bạn thân’ và ‘đã cùng làm việc và tham gia các hoạt động xã hội nhiều năm nay’.
Ông lên án việc kỷ luật này là ‘hành động thực hiện chính sách ngu dân, kiềm hãm nhân dân trong vòng tăm tối để dễ lừa dối và đàn áp’ và là ‘chủ tâm đánh vào những người trí thức yêu nước, có tài và có tâm, luôn hành động và phát ngôn theo lương tâm của mình’.
Ông giãi bày rằng ông tự nguyện vào Đảng lúc đầu là ‘vì yêu nước’ và ‘hăng hái tham gia sự nghiệp giải phóng dân tộc’. Sau khi vào Đảng, ông đã tham gia vào cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ở chiến trường miền Nam.
Tuy nhiên, ông nói rằng ông ‘vẫn tin ở tương lai của đất nước, nhất là lớp trẻ’.
Nhà văn Nguyên Ngọc, tên thật là Nguyễn Văn Báu, năm nay 86 tuổi. Mặc dù nguyên quán ông ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, các tác phẩm nổi tiếng của ông đều viết về đất và người và cuộc chiến đấu giữ nước của các dân tộc ở Tây Nguyên do ông có thời gian lăn lộn trong công cuộc kháng Pháp ở Tây Nguyên.
Từng tham gia Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam và từng là tổng biên tập báo Văn Nghệ, các tác phẩm ‘Rừng Xà Nu’ và ‘Đất nước đứng lên’ của ông lâu nay được đưa vào giảng dạy trong sách giáo khoa để dạy cho học sinh Việt Nam về tinh thần chiến đấu bất khuất, kiên cường của người dân Tây Nguyên dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tuy nhiên, với việc ông quay đầu trở thành nhân vật đối lập với Đảng Cộng sản, hiện chưa rõ trong thời gian tới các tác phẩm của ông có bị đưa ra khỏi sách giáo khoa hay không.
Biến chất và tha hóa ‘không thể cứu chữa’
Gần như đồng thới với việc ông Nguyên Ngọc thoái Đảng, một trí thức khác là PGS-TS Mạc Văn Trang, người từng nhiều năm làm việc ở Viện Khoa học-Giáo dục và có trên 54 năm tuổi Đảng, cũng công bố trên Facebook quyết định ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nguyên nhân trực tiếp khiến ông Trang chính thức ra khỏi Đảng, theo lời ông, cũng là để ‘tỏ rõ thái độ’ trước việc ông Chu Hảo bị kỷ luật mặc dù ông đã ‘rời xa Đảng từ năm 2000’.
Cũng giống như ông Nguyên Ngọc, ông Mạc Văn Trang cho rằng ông vào Đảng với lý tưởng ‘độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân’. Nhưng giờ đây ông cho rằng Đảng ‘đã biến chất hoàn toàn’, ‘đảng viên ngày càng tha hóa’ đến mức ‘không thể nào cứu chữa được’.
Ông bác bỏ sự lãnh đạo độc quyền của Đảng Cộng sản ở Việt Nam và kêu gọi ‘đa đảng’, ‘tam quyền phân lập’ và ‘xây dựng xã hộ dân sự’.
“Tôi rời bỏ Đảng vì thất vọng với những gì Đảng đã và đang làm, bất chấp bao ý kiến đóng góp tâm huyết và trí tuệ của những người như Chu Hảo; bất chấp những tiếng kêu thảm thiết của biết bao người dân bị cướp bóc, đàn áp, bất công một cách oan ức, thảm khốc,” ông viết trên trang Facebook cá nhân của ông.
Các ông Nguyên Ngọc và Mạc Văn Trang không phải là những trường hợp đầu tiên đảng viên có tên tuổi tuyên bố thoái Đảng. Hồi cuối năm 2013, ông Lê Hiếu Đằng, cựu phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh, cũng đã công bố quyết định ra khỏi Đảng với lý do tương tự như của ông Nguyên Ngọc và Mạc Văn Trang là ‘Đảng không còn như trước mà đã suy thoái biến chất, là Đảng của những tập đoàn lợi ích, trở thành lực cản cho sự phát triển của đất nước, dân tộc’.
Đến đầu năm 2014, ông Đặng Xương Hùng, cựu tổng lãnh sự Việt Nam tại Geneve, Thụy Sỹ, cũng công bố việc ông đã thoái Đảng để ‘bắt đầu cuộc đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam’ do ‘Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn con đường đi ngược lại nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam’.

Diễn đàn Facebook

Hỏi ông Nguyên Ngọc: Ông có còn nghĩ đến danh dự của mình nữa không?

Written By Huyền Thanh on 19/03/2014 | 17:04

[Bùi Nam Bình]
Tôi – một thanh niên thế hệ 8x, cùng nhiều bạn bè trang lứa của mình được biết đến ông NguyênNgọc khi còn ngồi trên ghế nhà trường, với tinh thần hừng hực của những anh hùng Núp, những người con Xô-man như Tnú, Mai, cụ Mết…, cái tinh thần “Đất nước đứng lên” với lửa rừng xà nu cháy rừng rực. Tôi đã từng kính trọng ông – một nhà văn có tài, có tâm với đất nước, với núi rừng Tây Nguyên.
Van doan doc lap việt nam
Thế nhưng, những năm gần đây, cũng là những năm ông Nguyên Ngọc đã cao tuổi, ông đã liên tiếp làm cho chúng tôi, những độc giả đã từng yêu mến ông, cảm thấy thất vọng vô cùng với những hành xử ngược đời của chính ông.
Đầu tiên là việc ông liên tiếp từ chối nhận các giải thưởng về văn học nghệ thuật – nhưng với cái cách từ chối “không giống ai”.
Năm 2000, ông được nhận Huân chương Độc lập. Nhưng ông không có mặt tại buổi trao Huân chương. Lãnh đạo Hội Nhà văn đến tận nhà riêng của ông để trao Huân chương thì ông nói rằng hôm đó ông bận việc ở Đà Nẵng. Nhưng mọi người đều hiểu nguyên nhân thực sự bên trong, vì trước đó ông được đề cử giải thưởng Hồ Chí Minh, nhưng không đủ số phiếu bầu, nên ông tỏ thái độ dằn dỗi, không thèm nhận huân chương Độc lập. Thiết nghĩ, nếu chưa đủ phiếu bầu là do uy tín của mình chưa đủ, tài năng, đức độ của mình chưa thuyết phục được lòng người. Dằn dỗi không nhận, rồi lại nhận, y như một đứa trẻ con đòi quà. Ông làm như vậy chỉ để cho bọn trẻ như chúng tôi cười chê thôi.
Thế rồi Hội Nhà văn lại đề cử ông một giải thưởng cao quý hơn, là giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (năm 2001). Ông lại giở đúng bài cũ, không thèm đến nhận. Khi người ta mang đến tận nhà, lại nhận. Ôi, Nguyên Ngọc.
Tưởng đã xong, lại nổ ra vụ đình đám nữa. Lần này là năm 2011, vẫn bài cũ, từ chối nhận giải thưởng Hồ Chí Minh. Vẫn biết quyền nhận hay không là ở người nhận, nhưng sao ông đã đồng ý cho người ta làm hồ sơ, thủ tục, rồi đùng cái ông bảo “Không nhận”. Sao ông không thể hiện dũng khí từ chối luôn từ đầu mà cứ đến lúc xong đâu đấy rồi ông mới nói không. Rồi ông lên báo chí chém gió, vỗ ngực bành bạch về danh dự nhà văn và sự vô tư, trong sáng không màng danh lợi. Ôi, ông Nguyên Ngọc, ông làm chúng tôi nghĩ đến những một chiêu trò PR bản thân của chân dài óc ngắn Ngọc Trinh.
Ông lại tham gia vào đủ thứ chuyện khác nữa. Nào là cùng ký tên kiến nghị tước quyền của Đảng. Nào là phản đối Bô-xít Tây nguyên. Nào là kích động chiến tranh với Trung Quốc.
Và bây giờ ông cầm đầu cái nhóm vận động thành lập cái gọi là “Văn đoàn độc lập”. Cái tên hay ho đến nỗi làm người ta liên tưởng đến nhóm Tự lực văn đoàn ngày xưa. Nhưng hỡi ơi, khi nhìn vào cái danh sách thành viên “Văn đoàn” của ông, người ta thấy rặt một phường gian manh, tục tĩu, cơ hội. Xin điểm vài gương mặt tiêu biểu nhé:
Bùi Chát (xếp ngay sau ông Ngọc trong danh sách): thuộc nhóm “Mở miệng” với những vần thơ đạt đến cao độ của sự tục tĩu. Đây ạ (xin lỗi người đọc vì phải trưng ra những câu tục tĩu đó để làm bằng chứng): “Bạn ơi giao hợp nơi đâu”; “Đờm, dãi, thịt, da, tinh, khí, phì, phào”;
Rồi đến Nguyễn Quang Lập, “nhà văn” đã từng kể “cùng với lũ bạn bảy, tám tuổi góp tiền sờ bướm con gái” và những câu văn gây sốc đại loại như: ‘đít thằng Thanh đang nhoáy trên bụng thím L.” Ông Lập còn nổi xú danh vì cho rằng việc thực dân Pháp, đế quốc Mỹ tra tấn, đóng đinh vào đầu tù nhân ở Hỏa Lò, Phú Quốc chỉ là việc “khai thác thông tin”. Xin dành đôi lời với ông Lập: Liệu ông có bằng lòng cho nhà cầm quyền hiện nay “khai thác thông tin” theo cách trên – dù chỉ một chút – đối với bản than ông liệu có được không?
Rồi chốt trong danh sách là Vũ Thư Hiên, người đã không tiếc lời và cả những thủ đoạn hạ lưu hòng bôi đen hình ảnh người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa được thế giới công nhận là Hồ Chí Minh.
Rất tiếc trong danh sách của cái gọi là Văn đoàn độc lập, chưa có tên của “nhà văn” Lê Quỳnh Như với đệ nhất dâm thư “Sợi xích”. Cũng chưa có tên của nhà quản trị trang mạng Lauxanh hay Coithienthai vì những tên này đang bận thực hiện công việc của mình trong nhà đá vì hành vi tán phát văn hóa phẩm đồi trụy.
Vậy đó. Những người mà ông Nguyên Ngọc định tập hợp lại để thực hiện cái mà như ông nói “một trong nhưng chức năng của văn học là thức tỉnh lương tri của con người”. Với bầy đàn như thế kia, thử hỏi ông định thức tỉnh cái gì?
Hệ thống lại toàn bộ những gì ông đã làm, người ta dễ dàng nhận thấy rằng: Không thể nói ông Nguyên Ngọc hoạt động thuần văn chương, không có mưu đồ chính trị. Chẳng những thế, ông giữ cái nhìn lệch lạc, thiếu công bằng về xã hội. Những người mà ông tụ tập xung quanh, dù ông dẫn đầu hoặc ông theo đuôi, không ít thì nhiều đều có cái nhìn hằn học với Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thưa ông Nguyên Ngọc. Với tất cả sự tôn trọng còn sót lại của chúng tôi đối với ông, xin kêu gọi ông hãy để lương tâm, danh dự dẫn lối, đừng để ảo vọng lợi danh che lấp trí tuệ của mình. Trở về đường ngay nẻo chánh, “Quay đầu là bờ”, nhận thức và từ bỏ hành động sai lầm không bao giờ là quá muộn.
Nguồn: http://tiengnoicuadan2012.blogspot.com/2014/03/Nguyen-Ngoc-Van-Doan-doc-lap-viet-nam.html#ixzz2wQ6DuW2Q
Trang chủ : http://tiengnoicuadan2012.blogspot.com.
Vui lòng giữ lại nguồn bài viết để tôn trọng quyền và công sức tác giả !
Nhân dân Việt Nam

Nguyên Ngọc: Minh triết của rừng

Tôi bắt đầu đọc Nguyên Ngọc cũng đã khá lâu. Thú thực, các tác phẩm hư cấu của ông: Đất nước đứng lên, Mạch nước ngầm, Đất Quảng… không hấp dẫn tôi nhiều lắm. Có lẽ vì đó là những tác phẩm của một thời, và không phải là thời của tôi? Nhưng ký Nguyên Ngọc thì khác. Cũng được ông viết trong cái thời chiến tranh ấy, mà sao đến giờ đọc lại bài ký 'Đường chúng ta đi' vẫn thấy gai người trước một thứ văn xuôi đẹp, vừa giàu chất thơ vừa hừng hực lời hiệu triệu.
Nguyên Ngọc là một trong số ít nhà văn Việt Nam mà văn nghiệp không bị đứt đoạn bởi bất cứ lý do nào: chiến tranh, biến động thời cuộc, tuổi tác...Ảnh: TL
Tạng văn Nguyên Ngọc dường như chỉ phát huy đến tối đa năng lực và sức hấp dẫn của nó khi ông dùng đến thể ký. Tập ký gần đây nhất của Nguyên Ngọc, Các bạn tôi trên ấy (NXB Trẻ, 2013), viết về Tây Nguyên, gợi lên khá nhiều điều cần phải suy ngẫm. Nghĩ lại, và nghĩ tiếp.
Trong số hai mươi tư bài của tập ký, bài Nước mội, rừng xanh và sự sống là một bài khá lạ. Nguyên Ngọc không đưa người đọc vào không gian của cao nguyên Nam Trung bộ ngay, mà ông kéo người đọc xuống biển, đúng hơn là xuống vùng đất mấy trăm cây số ven biển Nam Trung bộ, nơi miên man những cồn cát lớn, nơi vốn mặc định trong ý nghĩ của rất nhiều người chúng ta là đất nghèo, nghèo xác nghèo xơ.
Có thật là thế không, có luôn là thế không, khi trong quá khứ, chính ở vùng đất này đã từng hiện diện một vương quốc Champa cực kỳ thịnh vượng? Sự thịnh vượng ấy từ đâu mà có? Câu trả lời: từ nước mội. “Nước mội là nước rỉ ra từ các chân đồi cát, trong veo, mát lạnh, tinh sạch đến mức có thể bụm vào lòng bàn tay, ngửa cổ uống ngay ngon lành. Ở đây người ta vỡ ruộng ngay trên cát, các đám ruộng được gọi là “thổ”, những đám thổ trồng đủ các loại hoa màu. Ở góc thổ bao giờ cũng có một chiếc ao nhỏ, cạn thôi, nhưng quanh năm lúc nào cũng đầy ắp nước, tát đi lại đầy ngay, cả trong những mùa nắng hạn gay gắt nhất” (tr.44).
Vậy đó, nước mội giúp người dân xứ cát phát triển sản xuất nông nghiệp. Nó cũng giúp họ phát triển hoạt động giao thương biển, khi ít nhất, dù muốn hay không, thương thuyền quốc tế khi qua các cảng biển ở đây vẫn phải cập bờ để “ăn” nước ngọt. Ngọn nguồn của nước mội ở đâu? “Chính rừng Tây Nguyên, từ trên Trường Sơn rất xa xôi kia, đêm ngày, hàng triệu triệu năm nay, như một người Mẹ vĩ đại, bao dung mà tảo tần, hứng lấy tất cả các nguồn nước của đất trời, cất lấy, để dành, tằn tiện, tuyệt đối không phí mất một giọt nào, để từng ngày từng ngày chắt chiu mà bất tận cung cấp cho đứa con đồng bằng của mình, cho sự sống có thể sinh sôi nảy nở, trường tồn trên dải đất cát trông chừng rất khắc nghiệt kia” (tr.46). Từ xa đến gần, rốt cuộc rồi Nguyên Ngọc lại trở về với Tây Nguyên, quê hương tinh thần, vùng yêu (mà cũng là vùng đau) của mình.
Tập bút ký Các bạn tôi ở trên ấy đã nhận giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2013. Ảnh: TL
Bằng các trang viết về Tây Nguyên trong tập sách, Nguyên Ngọc đã làm hiển lộ một Tây Nguyên với tất cả sự huyền ảo, mê đắm, đơn giản mà minh triết một cách đặc dị của nó. Có thể nói, xuyên qua những biểu hiện phong phú đến rậm rịt của đời sống, của văn hóa các tộc người Tây Nguyên, ông đã tìm thấy “yếu tố nền”, có ý nghĩa chi phối mọi dạng thức tồn tại ở nơi đây. Đó là Rừng. Tây Nguyên chính là rừng. Nguyên Ngọc khẳng định: “Ở Tây Nguyên, rừng là tất cả, bao trùm. Khởi nguyên là rừng. Chúa dạy: Khởi đầu là Lời. Ở đây, khởi đầu là Rừng. Nguyên lai là rừng. Rừng là bắt đầu và tận cùng của mọi thứ trên đời này. Như không gian, như thời gian, vô tận” (bài Người về Kông Chro, tr.177).
Một không gian rừng, một thực thể rừng kỳ lạ và kỳ diệu. Nó tỏa ra một sức hút, một sức ám đến không thể cưỡng lại được đối với con người. Rải suốt các bài ký, Nguyên Ngọc đã kể cho ta biết, một cách thật thú vị, về nhiều con người bị rừng Tây Nguyên “ám” như thế nào: Nhạc sỹ Y Yơn, nghệ sỹ múa Giang Nga, họa sỹ Su Man, một ông phó tư lệnh quân khu người Hre, rồi Hruck – con trai anh hùng Đinh Núp v.v… toàn những người đang công tác sinh sống yên lành bình thường giữa cộng đồng, bỗng chốc biến mất. Họ “về rừng”, về chỉ để lang thang trong rừng vài ngày, rồi trở lại.
Thậm chí có những con người vốn sinh ra và trưởng thành trong một không gian xã hội khác hẳn, khi đến với rừng Tây Nguyên, lập tức bị chiếm lĩnh hoàn toàn, họ sống trong rừng Tây Nguyên như những người Tây Nguyên suốt hàng chục năm trời. Đó là trường hợp của các nhà dân tộc học Jacques Dournes (tác giả cuốn P’tao, một lý thuyết về quyền lực ở người J’rai Đông Dương) và Georges Condominas (tác giả cuốn Chúng tôi ăn rừng) – những “ông Tây” đã yêu Tây Nguyên và đã thực sự “sống Tây Nguyên”. Nhưng như vậy thì mới chỉ là sự ghi nhận rừng Tây Nguyên ở bề mặt, ở lớp vỏ. Một người gắn bó với Tây Nguyên hơn nửa cuộc đời - cũng là người, nói như nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, “đi rất rộng trong văn hóa, đi rất sát với cuộc sống, với nhân dân, và đi rất sâu trong tư duy” - như Nguyên Ngọc, ắt sẽ còn phát hiện từ đó nhiều điều hơn thế nữa.
Rừng là sức hút và rừng cũng là sức đẩy. Rừng là đam mê và rừng cũng là nỗi sợ. Nếu như tôi không nhầm, có lẽ Nguyên Ngọc là người đầu tiên và cũng là duy nhất cho đến lúc này nhận ra rằng: “Con người Tây Nguyên là con người sống rất chông chênh, trên một ranh giới mong manh, bên này là rừng bên kia là xã hội. Họ luôn bị níu kéo giữa hai bên… Tây Nguyên chính là thế chông chênh kia, một thế chông chênh bền vững, một thế bền vững chông chênh” (bài Các bạn tôi ở trên ấy, tr.72).
Cái thế chông chênh ấy lý giải tại sao người Tây Nguyên, vẫn phải sống ở làng, nhưng lại có những lúc bất chợt tan biến mất vào rừng, lang thang vô định trong rừng, như một thôi thúc tự thân, không thể không thỏa mãn, cho dẫu họ luôn ám ảnh nỗi sợ bị sảy chân, bị rơi tõm vào cái âm u hoang dã của rừng.
Cái thế chông chênh ấy lý giải tại sao vào mùa Ninh Nông hàng năm, khi lúa đã gặt xong, mọi cư dân trong làng người Xơ Đăng lại bỏ tất cả nhà cửa, vật dụng, quần áo mà vào thật sâu trong rừng mươi ngày, nửa tháng, hái lượm tìm cái ăn, cọ đá vào nhau để làm ra lửa, dùng cái cây mà ném con thú… như người nguyên thủy, và năm nào cũng vậy.
Cái thế chông chênh ấy cũng lý giải tại sao đi giữa rừng Tây Nguyên, thỉnh thoảng ta lại bắt gặp một khoảnh đất lạ, mang dấu vết của một nơi từng là làng: mấy cây mít, xoài, vài bụi ớt hiểm, mấy cây cà đắng, dăm cột nhà cháy… Người Gia Rai gọi đó là rngol, “Rngol là một khoảnh nhỏ con người đã mượn của rừng để thuần hóa làm làng, plei, làm văn hóa, nay lại trả về cho rừng, và hoang dã đang chiếm lại, rất nhanh. Cũng có thể một hôm nào đó con người lại đến đây, lại mượn thêm lần nữa, thuần hóa cho mình một đoạn khúc nào đó, rồi lại trả, cho thành rngol, rồi lại mượn, làm plei, và lại trả…” (bài Akhan, mùa xuân, tr.248).
Cứ thế, trên thực địa Tây Nguyên của mối quan hệ rừng, đại diện cho tự nhiên, và người, đại diện cho văn hóa, Nguyên Ngọc đã tiến tới một nhận thức mang tính biện chứng về quan hệ giữa văn hóa và tự nhiên: “Văn hóa là sự cố gắng bứt ra của con người khỏi tự nhiên, bứt ra nhưng vẫn cứ phải dính liền, không chìm nghỉm trong ấy nhưng vẫn còn phải nhúng rễ rất sâu trong ấy, nếu không muốn khô khốc, cằn cỗi, chết rụi” (bài Các bạn tôi ở trên ấy, tr.72). Đây là một nhận thức quan trọng, theo tôi, quan trọng đến mức nó có thể và cần phải trở thành kim chỉ nam cho một định hướng phát triển bền vững về mọi mặt ở Tây Nguyên, và không phải chỉ ở Tây Nguyên.
Những tâm tư của già làng Tây Nguyên được nhà văn Nguyên Ngọc lắng nghe. Ảnh: Xuân Chiến
Trước hết, nó giúp ta hiểu rằng với con người thì tự nhiên chính là bào thai mẹ, là nguồn dưỡng chất, là cái Gốc. Cái cách mà chúng ta đã và đang làm với rừng Tây Nguyên – chặt và đào, hùng hục khai thác, tàn phá rừng đến cùng kiệt – không gì khác hơn, chính là hành động triệt hạ cái Gốc kia. Khô hạn và lũ lụt từ đấy mà ra. Và con người Tây Nguyên, khi không còn rừng nữa, còn có chỗ nào để họ thỉnh thoảng tan biến vào, tự làm mới lại tâm hồn mình bằng cách tắm gội trong ngọn nguồn nguyên thủy?
Còn có không gian nào để từ đó những lễ và hội, những nhà rông nhà dài, những đêm akhan miên man, những ché rượu cần, những cồng và chiêng, những cuộc diễn tấu Klong Put tự nhiên và đầy ngẫu hứng… tồn tại, vận hành trong một thể thống nhất, hữu cơ? Không ít lần Nguyên Ngọc đã lo sợ: “Tây Nguyên đang mất gần sạch rừng xanh rồi. Đại ngàn thì tuyệt đối không còn. Tất cả đang trống trơn, phơi ra đỏ ngầu đất trơ khô cháy. Con người ở đấy rồi sẽ ra sao đây? Thú thật, tôi chưa biết, chỉ lo sợ. Rất lo sợ” (bài Tây Nguyên, mùa lễ hội, tr.270).
Thứ hai, nhận thức trên sẽ giúp ta hiểu đúng về đặc điểm của văn hóa tộc người, tránh được những ngộ nhận, nhờ thế, không ứng xử sai và không dẫm phải vết xe đổ của sự áp đặt văn hóa. Trong tập bút ký này, Nguyên Ngọc đã nêu nhiều dẫn chứng chứng minh điều đó. Người ta xúc phạm đến người Tây Nguyên khi “cả gan” hỏi mua hoặc đặt làm tượng nhà mồ chỉ vì không hiểu rằng tượng nhà mồ không phải thứ làm ra để bán, người chế tác tượng (có thể là bất kỳ ai) không hề nghĩ mình là nghệ sỹ đang sáng tạo nghệ thuật, anh ta thậm chí còn không có chủ định làm ra pho tượng nữa kia. “Ở Tây Nguyên không có người nghệ sỹ chuyên nghiệp. Người ta không làm nghề nghệ thuật. Nghệ thuật tuyệt đối không phải một nghề. Nghệ thuật là đời sống, cách sống, thế thôi. Là hơi thở, là không khí… Ở Tây Nguyên, vậy đó, người ta làm nghệ thuật vì chẳng đừng được. Vì một khao khát tự bộc lộ, tự biểu hiện, tự bóc mình ra, đột ngột ập đến, không cưỡng lại nổi” (bài Tượng gỗ rừng già, tr.33, 34, 35).
Nguyên Ngọc đối tửu bên ché rượu cần cùng nghệ sĩ Glơh một trong những nghệ sĩ khắc gỗ, làm tượng gỗ tài hoa trên Tây Nguyên. Ảnh: TL
Người ta đã vô duyên, đã phí tiền của công sức khi làm và “đem cho” làng Tây Nguyên cái nhà rông đúng kiểu truyền thống, vì không hiểu rằng nhà rông phải do tự làng làm lấy, sống đời sống của làng, nó chính là linh hồn của làng. “Một cái nhà rông đem cho, dù người cho là ai, dù với thiện chí chân thành đến bao nhiêu và đẹp đẽ đến mấy, sao chép giỏi đến mấy kiểu nhà rông đúng nhất, cổ xưa nhất, vẫn là một ngoại vật, một dị vật trong đời sống của làng” (bài Nhà rông, hồn của làng, tr.57).
Cuối cùng, quan trọng hơn cả, nhận thức trên sẽ giúp ta hiểu đúng giá trị của văn hóa tộc người, từ đó tránh được sự kỳ thị (công khai hoặc ngấm ngầm) về văn hóa. Còn nhớ, vào những năm năm mươi của thế kỷ XX, trong một hội thảo quốc tế về chống phân biệt chủng tộc, nhà dân tộc học lừng danh thế giới Claude Levy Strauss trình bày một bản báo cáo có tên Lịch sử và chủng tộc (đã có bản dịch tiếng Việt, của Huyền Giang) trong đó ông nhấn mạnh: không có những nền văn hóa tộc người cao hơn hay thấp hơn, mà chỉ có những nền văn hóa tộc người khác nhau.
Nguyên Ngọc đã thấy mọi vấn đề ở Tây Nguyên, từ tâm linh, tình cảm, tri thức, văn hóa, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng đều nằm ở vai trò của rừng, sự tồn tại của rừng, và cách hành xử với nó, nghĩa là với cộng đồng bản địa. Ảnh: TL
Đọc tập bút ký của Nguyên Ngọc, thấy rõ ràng văn hóa Tây Nguyên là một nền văn hóa khác biệt, và là một sự khác biệt cần phải, rất đáng được trân trọng, cho dẫu đó là sự khác biệt của một thiểu số. Có thể nói, Nguyên Ngọc đã trầm mình vào nó, quan sát, cảm nhận, đánh giá nó với tư cách của một người bên trong chứ không phải một người ở bên ngoài hay ở bên trên. Bởi thế, dễ hiểu tại sao ông đã viết, với đầy sự tự hào về vẻ đẹp của nhà rông Tây Nguyên, vẻ thanh nhã cao quý của già làng Tây Nguyên trong đêm kể sử thi.
Bởi thế, dễ hiểu tại sao ông đã viết, rất say sưa và đầy sự đồng cảm, về bản tính thích đi lang thang vô định của người Tây Nguyên, quan niệm của họ về cái sống và cái chết, đàn ông và đàn bà, hôn nhân và tình dục, làm và chơi, tích lũy và đem cho v.v… Phải đắm đuối với Tây Nguyên đến thế (đắm đuối nhưng tỉnh táo!) ông mới có thể làm được một sự liên hệ thú vị giữa lễ thổi tai với rượu cần, và nhận ra ở đó một triết lý:
Nhớ và quên, ngẫm mà xem, phải chăng nói cho cùng đó là hai lẽ sinh tồn tuy hai mà một, hai mặt chủ yếu không thể tách rời của công cuộc làm người ở đời. Không biết nhớ thì hiển nhiên không thể là con người rồi. Song sống mà không biết quên, không có những lúc biết quên đi đến mức “nẻ cả lỗ tai” thì cũng chẳng thể nào sống nổi trên cõi nhân gian biết mấy khổ đau, quá phức tạp và nhiêu khê này. Cuộc đời này, phải chăng lắm lúc cũng đáng quên biết bao nhiêu, quên phứt đi cho rảnh, cho rồi, mà ngẫm cho cùng cũng lại đáng sống để mà nhớ lấy biết bao nhiêu” (bài Lễ thổi tai và rượu cần, tr.314).
Đó là minh triết mà Nguyên Ngọc nhận được từ văn hóa Tây Nguyên. Minh triết của rừng.
Hoài Nam
 
CHÂN TƯỚNG NGUYÊN NGỌC

Nhà văn Nguyên Ngọc tuyên bố bỏ đảng CSVN

Nhà văn Nguyên Ngọc (phải) cùng giáo sư Nguyễn Huệ Chi trong một lần xuống đường ở Hà Nội biểu tình chống Trung Quốc hồi năm 2011. (Hình: Getty Images)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Hôm 26 Tháng Mười 2018, nhà văn Nguyên Ngọc, một trí thức nổi tiếng ở Việt Nam đưa ra bản “Tuyên bố ra khỏi đảng Cộng Sản Việt Nam,” ngay sau sự kiện, “Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương” của đảng CSVN kỷ luật Giáo sư Chu Hảo với cáo buộc “tự diễn biến” – tội danh mà nhà cầm quyền CSVN đặt ra cho những trí thức có phát ngôn hoặc hành động “đi ngược lại đường lối chủ trương của đảng CSVN.”
Nhà văn Nguyên Ngọc, 86 tuổi, quê Quảng Nam, theo Việt Minh, tập kết ra Bắc, từng là sĩ quan quân đội Bắc Việt, phó tổng thư ký Hội Nhà Văn Việt Nam, tổng biên tập báo Văn Nghệ. Ông là một trong số các nhà văn nổi tiếng của Bắc Việt trong chiến tranh Việt Nam, tác phẩm nổi tiếng là “Đất Nước Đứng Lên,” sau này được dựng thành phim…
Trong những năm gần đây, nhà văn Nguyên Ngọc là một trong những trí thức nổi tiếng tham gia nhiều hoạt động xã hội, lên tiếng phản biện các chính sách của nhà cầm quyền CSVN và nhiều lần xuống đường biểu tình chống Trung Quốc.
Trong bản “Tuyên bố ra khỏi đảng Cộng Sản Việt Nam,” nhà văn Nguyên Ngọc viết: “Tôi đã suy nghĩ và định làm việc này từ lâu, nhưng muốn làm một cách bình thường, không gây ồn ào. Nay sau việc Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương Đảng kỷ luật PGS.TS. Chu Hảo, tôi quyết định ra tuyên bố này, chính thức từ bỏ Đảng Cộng Sản Việt Nam kể từ hôm nay.”
Nhà văn viết thêm cho biết đây là “tuyên bố một quyết định đã chuẩn bị từ trước, đồng thời để tỏ rõ thái độ đối với thông báo của Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương Đảng.”
Nói về quyết định bỏ đảng, Nguyên Ngọc cho hay, ông vào đảng từ năm 1956 và đến nay đã 62 năm. Nhưng, như lời ông, “Từ nhiều năm qua, tôi nhận thấy đảng ngày càng xa rời lý tưởng ban đầu của mình, ‘tự diễn biến’ thành một tổ chức chuyên quyền, phản dân hại nước. Tôi không thể còn đứng trong một tổ chức như vậy.”
Về Giáo Sư Chu Hảo, nhà văn Nguyên Ngọc nhận định: “PGS.TS. Chu Hảo là một trí thức lớn, có công lớn với đất nước và dân tộc, đặc biệt trong công cuộc khai hóa bằng Tủ Sách Tinh Hoa của nhà xuất bản Tri Thức mà ông là giám đốc, tổng biên tập, đưa đến cho người đọc những tri thức căn bản nhất của nhân loại mà chúng ta nhất thiết phải biết, hiểu, nếu muốn thật sự xây dựng một quốc gia văn minh, tiến bộ, cùng thiên hạ năm châu. Tôi vinh dự và tự hào là bạn thân của ông, đã cùng ông làm việc và tham gia các hoạt động xã hội trong nhiều năm nay.”
Nhà văn Nguyên Ngọc gọi việc kỷ luật Giáo Sư Chu Hảo, “Thực chất là một hành động thực hiện chính sách ngu dân, kìm hãm nhân dân trong vòng tăm tối, để dễ lừa dối và đàn áp, vì quyền lợi ích kỷ của một đảng độc tài đang cướp quyền sống và phát triển của dân tộc.”
“Kỷ luật ông Chu Hảo với những lý do đầy tính chất vu khống còn là hành vi có chủ tâm đánh vào những người trí thức yêu nước, có tài và có tâm, luôn hành động và phát ngôn theo lương tâm của mình. Việc làm thất nhân tâm này tất sẽ dẫn đến tình trạng ‘sĩ phu ngoảnh mặt’, hết sức nguy hiểm cho vận mệnh dân tộc.”
Nhà văn Nguyên Ngọc viết thêm: “Tôi vẫn tin ở tương lai của đất nước, nhất là ở lớp trẻ, vì không có lực lượng vô luân nào có thể ngăn trở dân tộc này quyết định vận mệnh của mình.” (KN)

Thuật ngụy biện của Nguyên Ngọc

Ngôn luận của Nguyên Ngọc trong những năm gần đây bộc lộ chất ngụy biện đến mức như Gơben: Cứ nói dối mãi rồi sẽ thành thật. Xin nêu một số trường hợp
LỢI DỤNG – TÂNG BỐC, XUYÊN TẠC CÁC CỤ PHAN: MƯỢN GIẢI THƯỞNG PHAN CHÂU TRINH VỚI Ý ĐỒ XẤU
Tự dựng lên Ngôi đền Danh nhân Văn hóa Việt Nam tôn vinh các cụ Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu lên hàng Danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại. Nhưng đồng thời đưa cả Trương Vĩnh Ký vào đấy với sự tuyên dương công trạng rất ma mị, rằng Trương Vĩnh Ký là một nhà bác học, một thiên tài ngôn ngữ, thông thạo hàng chục ngoại ngữ mà sau đó là các nền văn hóa (sic!), lại được một nhà bác học là Toàn quyền Đông Dương Paul Bert mời về Triều sung vào Nội các với mục đích giúp cho người Pháp hiểu Việt Nam và Việt Nam hiểu Pháp, xem đấy là tâm nguyện của Trương Vĩnh Ký.
Đó là một xảo thuật ma lanh láu cá, mượn các cụ Phan để trộn Trương Vĩnh Ký vào. Hành trạng của Trương Vĩnh Ký ra sao, có phải tâm nguyện của ông ta là giúp cho sự hiểu biết Pháp – Nam hay không, xin dành cho các nhà sử học. Nhưng sự này thì rõ: Họ Trương là một con chiên ngoan đạo hăng hái theo các vị Thừa sai đi mở rộng Nước Chúa. Đã giúp cho hai bên được và mất từ Nam kỳ Lục tỉnh cho đến cả nước Việt Nam. Chỉ một việc Toàn quyền Paul Bert ưu ái thưởng công đưa họ Trương ra Huế sung vào Nội các cũng quá rõ. Tiếc cho họ Trương là Paul Bert được Chúa gọi về quá sớm. Nếu không, biết đâu Trương sẽ thành Thượng thư bộ Lại, thượng Thư đầu triều, rồi các Hoàng đế bù nhìn sẽ phải than thở chua chát: Người Pháp đặt Trương bên cạnh tôi là họ được bảo đảm rồi.
* Giải Văn hóa Phan Châu Trinh và danh hiệu Vì sự nghiệp văn hóa giáo dục (trao cho Phạm Toàn)…
Giải thưởng Phan Châu Trinh hay Giải Phan Châu Trinh (gọi tắt) thì được. Nhưng Giải văn hóa Phan Châu Trinh là không đúng. Sự nghiệp của cụ Phan đáng kính trọng nhưng không phải là một nền văn hóa. Có thể nói nhà văn hóa, tác gia văn hóa Phan Châu Trinh nhưng không thể nói văn hóa Phan Châu Trinh. Nếu không phải là cố ý ngụy biện thì nên xem lại các khái niệm, thuật ngữ văn hóa, nền văn hóa, thời kỳ thời đại văn hóa, nhà văn hóa, nhà nghiên cứu văn hóa… Đừng à uôm. Tâng bốc cụ Phan quá đáng là có hại cho Cụ đấy.
Vì sự nghiệp văn hóa – giáo dục là Danh hiệu mang tính chất ý nghĩa nhà nước, quốc gia, cộng đồng. Một giải thưởng địa phương, một giải thưởng mang danh nghĩa cá nhân không có chức năng đó. Nếu nhà giáo Phạm Toàn là người tự trọng thì phải hổ ngươi lắm.
Giải văn hóa Phan Châu Trinh kiểu này sẽ là một tiền lệ xấu, nguy hiểm, làm rối loạn đời sống văn hóa của cả nước. Rồi địa phương nào cũng có văn hóa riêng sự nghiệp riêng danh nhân văn hóa riêng… Nguyên Ngọc thừa biết câu “đục nước béo cò” mà…
Image1015367
XUYÊN TẠC CÁC CỤ PHAN
Với cụ Phan Châu Trinh:
Lòng yêu nước, tinh thần yêu nước là cốt lõi, nền tảng, tinh hoa của văn hóa Việt Nam từ khi dựng nước đến nay. Các học giả Đào Duy Anh, Phan Ngọc đã làm rõ điều này trên cơ sở khoa học và lịch sử. (Xem Việt Nam văn hóa sử cương – Đào Duy Anh; Nền văn hóa mới của Việt Nam – Phan Ngọc)
Vì vậy, cá nhân nào, hành động nào, tư tưởng nào thực sự là yêu nước, góp phần vào công cuộc cứu nước, giữ nước đều được ghi nhớ, tôn vinh. Cá nhân nào, hành động hành vi nào, tư tưởng nào phương hại đến độc lập dân tộc, đến sự nghiệp cứu nước… đều được nhìn nhận nghiêm túc, không kể đến nhân thân của cá nhân đó.
Đó là một nguyên tắc hiển nhiên trong lịch sử Việt Nam.
Lòng yêu nước, hành động xả thân cứu nước của các cụ Phan sáng tỏ vằng vặc, không chút tì vết, là tấm gương, là tài sản quí giá của dân tộc. Cho đến nay và mãi mãi về sau, các cụ được tôn vinh như thế.
Song đường lối cứu nước của các Cụ không phù hợp với thực tiễn đời sống. Và thực tiễn đã chứng tỏ như thế.
Cụ Phan Châu Trinh đưa ra đường lối cải lương không tưởng. Điều này cố giáo sư Trần Văn Giàu đã vạch rõ.
Suy nghĩ, khao khát của Cụ Phan rất đáng quí đáng kính nhưng nó không đúng lúc.
Khai dân trí chấn dân khí hậu dân sinh là người dân phải được học tập, xã hội có cơ sở như trường học, báo chí, xuất bản, thư viện, sinh hoạt văn hóa nghệ thuật… Nó phải có những điều tối thiểu sau đây:
- Người dân có quyền đi học.
- Có điều kiện đi học (đủ ăn mặc, có thời gian và tài chính).
- Nhà nước, xã hội tổ chức, định hướng nội dung học tập…
Tất cả những điều kiện tối thiểu đó, làm sao có được đối với một dân tộc bị nô lệ, một đất nước không còn chủ quyền, tên nước cũng không còn trên bản đồ thế giới, một nhân dân nghèo nàn đói rách vì bị bóc lột…
Không cần phải lý luận học thuật cao xa gì cũng thấy trước hết phải có độc lập dân tộc, phải giành lại độc lập dân tộc. Muốn dựng tòa nhà phải xây nền đắp móng. Muốn vào nhà phải qua cửa.
Đông Kinh Nghĩa thục mới ra đời được mấy tháng đã bị đàn áp dữ dội..
Hệ thống trường Pháp-Việt trong toàn cõi Việt Nam trước 1945 có phải khai dân trí không? Ai khai và khai theo hướng nào?
Ai khai tâm mở trí cho Trương Vĩnh Ký, cho Phạm Quỳnh…?
Nguyên Ngọc xem cụ Phan Châu Trinh là một đầu óc chói sáng đã sớm nhìn ra thế giới đã khác, đã là “toàn cầu hóa” như cách nói bây giờ. Cụ kêu gọi khai dân trí, chấn dân khí… là kêu gọi vượt thoát ý thức hệ…
Ý thức hệ của cụ Phan Châu Trinh là như thế nào? Cụ đã nhận ra ý thức hệ nào cần đi tới… Nguyên Ngọc hãy đưa ra sở cứ xem nào.
Đây không phải là nhiệt tình tôn vinh ca ngợi quá lời mà là ý đồ đưa Cụ Phan lên cao, rất cao, đến độ chói sáng, để hạ thấp, làm lu mờ, quên lãng Hồ Chí Minh và thành quả của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức lãnh đạo. Một thâm ý được bộc lộ trắng phớ ra như thế.
Khát vọng, tư tưởng, đường lối “cách mạng tân văn hóa” của cụ Phan chỉ được thực hiện sau ngày Cách mạng thành công. Nhân dân được tự do. Có điều kiện học tập. Nhà nước chủ động tổ chức việc học tập cho nhân dân. Đó là thực tiễn. Còn về lý luận, hãy xem cương lĩnh đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1930, hãy xem đường lối và chính sách cụ thể về văn hóa – giáo dục của Nhà nước từ ngay sau Cách mạng tháng Tám đến nay. Hệ thống giáo dục từ Trường mầm non đến Đại học và Cao học… là do đâu mà ra?
Lô gích của Nguyên Ngọc rất giống chàng ruồi La-phông-ten khác ở chỗ là Nguyên Ngọc cũng tham gia tích cực vào đấy, đã từng “Bắn Pháp chảy máu”…
Nhưng xong việc rồi, sự nghiệp xong rồi, lại bảo phải theo đường lối khác, đường lối của Cụ Phan, bất đề kháng, khai dân trí… mới đúng, mới không tổn hao lãng phí xương máu nhân dân… Mị dân quá thể. Nguyên Ngọc hay dông dài về lịch sử lại tỏ ra không hiểu gì. Lịch sử không có chữ nếu. Xưa nay ai học được chữ ngờ. Có cái dại nào như cái dại nào đâu (Dân gian thường nói thế đấy. Chấp nhận cái hiện thực cụ thể cái xã hội đang là như thế, nghiên cứu nó, tìm ra qui luật, kinh nghiệm để chủ động hành động – Hành động trong hiện tại. Đương nhiên là thế. Làm sao quay ngược thời gian dựng lại quá khứ để mà hành động theo chữ “nếu”… Nghiên cứu quá khứ để có kinh nghiệm cho hiện tại chứ không phải để “nếu như”.
Không còn gì phải nghi ngờ là Nguyên Ngọc cố tình xuyên tạc Cụ Phan, gán cho Cụ những sự vĩ đại chói sáng mà cụ không có, với một ý đồ làm lu mờ, phủ nhận giá trị và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản trong công cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc. Cần phải vạch ra như thế.
Với cụ Phan Bội Châu.
Nguyên Ngọc tôn vinh Cụ với lời lẽ hùng hồn lâm li thống thiết rằng “mỗi từ mỗi chữ trong những trước tác thống thiết của ông dường như không chỉ được viết bằng nước mắt mà thật sự bằng máu…” (Thế giới tiếp thị, số 13/26-3-2015).
Có khen cũng phải biết đường mà khen. Cứ như là chuyện con rồng vuông ấy. Con rồng ấy vĩ đại lắm. Dài phải đến hai mét mà to dễ đến hai mét… Nếu thật sự thế thì bản thảo của Cụ đã mất tiêu từ lúc Cụ mới viết xong, lũ kiến gián chuột bọ mà đánh hơi được mùi máu thì chúng đâu có để yên.
Nhưng Nguyên Ngọc làm thế là có ý đấy. Để viết rằng “Lịch sử hiện thực đã đi theo con đường của Phan Bội Châu. Chiến tranh anh hùng và khốc liệt đã đem lại độc lập…” (Báo đã dẫn, tr.19).
Lịch sử hiện thực đã diễn ra là: Con đường của Phan Bội Châu đã chấm dứt vào năm 1926 với bản án tử hình nhưng do nhân dân ta đấu tranh quyết liệt – thực dân Pháp phải giảm án, an trí cụ ở Huế, một hình thức giam lỏng. Cụ Phan qua đời năm 1944. Cụ tự nhận suốt đời thất bại. Cuối đời Cụ tin tưởng, kỳ vọng vào Nguyễn Ái Quốc.
Lịch sử hiện thực nó như thế.
Nhưng Nguyên Ngọc rất gian. Nếu đặt đường lối của Cụ Phan Châu Trinh bên cạnh đường lối của cụ Phan Bội Châu thì đúng như Nguyên Ngọc viết. Nhưng từ 1926, lịch sử hiện thực đi theo con đường nào? Lờ đi. Rồi lại hùng hồn lâm li rất gian lận: “Chiến tranh anh hùng và khốc liệt đã đem lại độc lập” (!). Dễ chừng chiến tranh nó tự nhiên nổ ra như đám cháy rừng do khô hanh, do nóng quá… Chiến tranh theo con đường nào do lực lượng nào thực hiện? Cố lờ đi. Thủ thuật ngụy biện này dễ mê hoặc những người còn hạn chế về nhận thức lịch sử, dễ lôi cuốn họ vào khuynh hướng cực đoan phản khoa học.
CHIÊU TUYẾT CHO TỰ ĐỨC VÀ TRIỀU NGUYỄN
Tự Đức… anh hùng!
Nguyên Ngọc xem Tự Đức là nhân vật đứng đầu trong những nhân vật anh hung và bi đát (!) (Nước Đại Nam… Tsuboi. NXB Tri thức. H.2014. Trang 415) và xem xét công trạng của nhân vật anh hùng và bi đát này một cách quái gở. Nguyên Ngọc viết:
Có lần, tôi đã có dịp tìm hiểu về thái độ của Triều đình Huế trước cuộc tấn công của quân Pháp vào Đà Nẵng hồi 1858. Tôi ngạc nhiên nhận ra rằng thái độ ấy, đặc biệt của Tự Đức, không hề là một thái độ bạc nhược, hèn yếu như trước đó – và cả cho đến nay – ta vẫn thường nghĩ. Trái lại, rất cương quyết. Mỗi trận thua, mỗi vị trí bị mất, mỗi tổn thất không đáng có, mỗi hành động trù trừ, dao động, cho đến đại tướng anh hùng như Lê Đình Dương, cả đến vị tướng tài năng nhất và sáng suốt nhất thời bấy giờ là Nguyễn Tri Phương, và tất cả các cấp tướng sĩ đều nhất loạt bị trừng trị nặng nề, thay thế, bổ sung kịp thời. Tiếp tế, hậu cần cùng tất cả các chính sách và các biện pháp hỗ trợ cho tiền tuyến đều hết sức năng nổ. Cuộc chiến đấu thật sự anh hùng và sự chỉ đạo, chỉ huy của Triều đình hết sức tích cực… vậy mà vẫn thất bại và thất bại tất yếu là ở trong cái mà Tsuboi gọi rất chính xác là “bản thể” của xã hội ấy…” (Sđd, tr.415).
Nếu sau trận đầu thất bại mà Tự Đức điều binh khiển tướng như thế, lấy lại thế lực, và cuối cùng là giữ được đất nước thì đúng là anh hùng rồi. Nhưng mà… kết cục như thế nào? Tự Đức liên tục đầu hàng lui bước trước quân Pháp để lo củng cố ngôi vị, giết cả anh và các cháu ruột thịt, rồi lo đối phó với hậu duệ nhà Lê ở Bắc kỳ, chấp nhận nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp…, rồi cuối cùng mất cả.
Nguyên Ngọc ơi! Quân thua chém tướng. Tướng thua chém ai? Có chỗ này, theo nhận định của Tsuboi, chứng tỏ Tự Đức rất hèn hạ, tự mình gây ra tội lỗi, lại trút tội lên đầu kẻ được cử ra thực thi công việc. Ấy là lệnh cho Phan Thanh Giản phải chấp nhận yêu sách của Pháp, ký hòa ước rất nhục nhã, chịu mất ba tỉnh miền Đông – để rảnh tay lo đối phó với ông anh Hồng Bảo và nội loạn ở Bắc kỳ. Chắc Phan Thanh Giản biết rõ, vào năm 1867, ở Vĩnh Long: chống lại quân Pháp cũng chết mà không chống lại cũng phải chết. Nhưng không vì thế mà biện hộ cho hành động tội lỗi của Phan Thanh Giản: tự dâng thành Vĩnh Long mà còn lệnh cho các thành khác trong ba tỉnh miền Tây hạ vũ khí qui hàng (Nước Đại Nam… Sđd, tr.241-248).
MẤT NƯỚC LÀ “ĐỊNH MỆNH”…
Nguyên Ngọc cho rằng khi các dân tộc phương Đông phải đối mặt với phương Tây, với chủ nghĩa tư bản đang lên, thì không chỉ là chủ nghĩa tư bản mà “còn là một nền văn minh, một nền văn hóa, thậm chí một thời đại hoàn toàn khác lạ…” (Sđd, tr.413).
Thế thì chẳng ai có lỗi cả. Từ kẻ đi xâm lược cho đến kẻ đầu hàng giặc, để mất nước… mà lỗi có khi là ở phía phải tự vệ, phía bị xâm lược, phía văn minh văn hóa kém, dám đề kháng bạo động chống lại… Nguyên Ngọc không có gì mới, chỉ lặp lại người nào năm 1944, cho rằng Hai Bà Trưng chống lại nhà Hán là sai qui luật. Bởi lúc ấy nhà Hán tiến bộ hơn, đại diện cho phương thức sản xuất cao hơn…
Cứ theo học thuyết này thì chống lại chủ nghĩa Tư bản đang lên là chống lại nền văn minh, văn hóa mới, là trái qui luật. Thì bất đề kháng bất bạo động mới là hợp qui luật. Thế thì hành động của anh Núp, dùng nỏ bắn Pháp chảy máu… là không đúng.
Và người Pháp tàn sát dân Việt Nam bằng đại bác, máy bay (ném bom) là không sai. Rồi sau này, người Mỹ dùng máy bay rải chất độc màu da cam, rải bom bằng pháo đài bay B52 cũng là không sai. Đấy là văn minh văn hóa cao hơn… Nguyên Ngọc hay quá. Nhưng cưa sừng làm nghé vụng quá. Nguyên Ngọc sinh năm 1932, được học tiếng Pháp, biết tiếng Pháp ít nhiều làm gì không biết văn minh văn hóa của Tuyên ngôn độc lập (Hoa Kỳ 1777) đến Bình đẳng – Tự do – Bác ái và lá cờ Tam tài của Cách mạng Pháp (1789)… và sự hiện diện của nó ở Việt Nam… Là một đảng viên cộng sản, một nhà văn, Nguyên Ngọc làm gì không biết có Bản án chế độ thực dân Pháp (Nguyễn Ái Quốc – 1925). Nguyên Ngọc cho nguyên nhân mất nước là từ văn hóa. Là do ý thức hệ phong kiến, Nho giáo, “cầm tù xã hội, trói chặt hết mọi năng lực của nó, đánh gục nó không phương cứu chữa. Cái ý thức hệ đã khiến xã hội Việt Nam lạc hậu hơn đối thủ của mình cả một thời đại” và Phan Châu Trinh kêu gọi thống thiết khai dân trí, chấn dân khí, để rồi Hậu dân sinh… là kêu gọi một cuộc vượt thoát ý thức hệ, một cuộc chấn hưng dân tộc, một cuộc cách mạng văn hóa theo nghĩa sâu nhất và đúng nhất của nó” (Sđd, tr.416). Hay ho quá! Học thuật không phải chuyện đánh bốc. Nhưng thao tác khoa học nên vận dụng nghệ thuật đấm bốc. Phải có thế đứng vững chắc dù đánh hay đỡ, nếu không dễ bị nốc-ao.
Nguyên Ngọc cứ nghĩ mình là con voi sắt, voi đồng, voi đá… luôn ở thế thượng phong! Nguyên Ngọc đọc cho kỹ “Chân trần chí thép đi” (NXB Tổng hợp TP.HCM, 2011). Tác giả là con trai Đô đốc Hải quân Elmo Russell Zumwat, người đã hạ lệnh rải chất độc khai quang xuống miền Nam Việt Nam. Họ thừa nhận Mỹ thua ở Việt Nam là thua về văn hóa. MắcNamara cuối cùng thừa nhận: Nếu hiểu Việt Nam thì không tiến hành chiến tranh với Việt Nam. Văn minh văn hóa của người Pháp ở Điện Biên Phủ là thế nào và trước nữa, văn minh văn hóa của Việt Nam thời Lê Lợi – Nguyễn Trãi hơn hay kém Minh Thành Tổ?
Vòng vo mãi Nguyên Ngọc cũng đi đến kết luận sự mất nước dưới triều Nguyễn là một định mệnh. Có là định mệnh hay không xin để giáo sư Lê Thanh Khôi giảng giải cho Nguyên Ngọc: “Thực vậy, cuộc xâm lược của Pháp không phải là một định mệnh không thể tránh bởi vì, cũng vào thời ấy, Nhật Bản phong kiến và Xiêm, dù mới có được một tổ chức chính trị còn thô sơ, cũng đã có thể phản ứng thích hợp hơn trước làn sóng của châu Âu và giữ được nguyên tắc về sự độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của họ” (Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX. Lê Thành Khôi, NXB Thế giới, bản có bổ sung cho đến 1945. H. 2014. Đã là định mệnh thì đừng oán trách bên này bên kia mà phải thay đổi định mệnh bằng cách mạng văn hóa, bằng phục hưng dân tộc, chấn dân khí khai dân trí, Nguyên Ngọc lại dẫn cụ Phan: “Dân
trí đã mở, trình độ ngày một cao, tức là cái nền độc lập ngày sau đấy”.
Cho nên Phan Châu Trinh là chói sáng nhất. Rồi đến Phạm Quỳnh là… Rồi trước đó, Trương Vĩnh Ký là… Danh nhân văn hóa Việt Nam thời hiện đại.
Lời lẽ thì bi hùng ghê gớm nhưng cái lý thì… cùn quá. Muốn qua sông. Mà không chịu lụy đò. Cũng không chịu bơi lội sang. Cứ ngồi ở bờ bên này mà “tài bồi quốc văn”, “khai dân trí, chấn dân khí”. Nguyên Ngọc hãy trả lời cho bạn đọc xem, một người dân, một đất nước, một dân tộc bị nô lệ, đàn áp, bóc lột không có quyền làm người, đói cơm rách áo… thì khai dân trí như thế nào?
Nguyên Ngọc rất có ý thức lợi dụng tình cảm và uy tín của Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt khi cho rằng: Ông (V.V.K) là người khởi xướng và tổ chức, lặng lẽ, kiên định, hiệu quả việc khôi phục những khuôn mặt văn hóa lớn song lại có số phận éo le của Nam bộ, những Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Phan Thanh Giản. – Không chỉ có Nam bộ, ông cũng là người có tác động quan trọng trong việc tổ chức định giá lại công bằng vai trò và công lao của các chúa Nguyễn, các Triều vua Nguyễn… thiết tha trả lại sự công bằng lịch sử cho những trí thức lớn và những triều đại éo le của dân tộc… (Văn hiến, số 1-2/2015, tr.43).
Số phận, thân phận, hoàn cảnh, cảnh ngộ tình huống… éo le là mô-típ là một thủ pháp của nghệ thuật văn chương. Khoa học chính trị và lịch sử không căn cứ vào đó để “xem xét chiếu cố…”. Chúng tôi kính trọng ngưỡng mộ Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, chia sẻ những tình cảm xuất thần với quê hương, dòng họ của ông… Nhưng lịch sử là một khoa học. Không thể bằng tình cảm mà có được.
Trong suy tư, bao giờ cũng có tính cách cá nhân, lặng lẽ. Nhưng khi hành động, thì có quan hệ xã hội. Huống gì Thủ tướng Chính phủ có bộ máy giúp việc, có chương trình làm việc, và trong điều kiện ngày nay, là có lưu giữ mọi hoạt động bằng âm thanh hình ảnh, văn bản. Ông Nguyên Ngọc hãy đưa ra đầy đủ cứ liệu chứng minh cho những điều ông viết về Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.
BẢN THỂ XÃ HỘI?
Nguyên Ngọc có vẻ rất đắc ý khi dùng khái niệm bản thể xã hội. Bản thể là một khái niệm triết học, chỉ cái nguồn gốc của vũ trụ. Nguyên Ngọc hiểu bản thể xã hội như là bản chất, tình trạng, thực trạng bên trong của xã hội như thế này: ông (Tsuboi) không nhìn Việt Nam “với tính chất một thực thể chính trị mà là một bản thể xã hội”. Nói một cách hình ảnh, ông cố tìm hiểu cái đất nước và xã hội này đến trong “nội tạng” sâu xa và cơ bản nhất của nó, ông tìm đến cái “tạng” của nó, từ bên trong, cái bên trong ấy với tất cả cấu tạo cơ bản và lịch sử lâu dài của nó, tất yếu phải phản ứng lại với các thách thức đến từ bên ngoài nhất thiết theo cách như thế, chứ nhất thiết không thể khác, và kết quả, hậu quả như đã diễn ra cũng nhất thiết đương nhiên là thế, như “định mệnh” (Nước Đại Nam…, tr.414). Thế là có một dãy khái niệm đồng đẳng: thực thể chính trị – bản thể xã hội – tạng – nội tạng – cái bên trong… Lảm nhảm quá. Xin gửi tặng các Viện Triết học, Viện Văn học, Viện Xã hội học… món quà giữa giờ của nhà văn nhà triết học nhà giải phẫu sinh lý Nguyên Ngọc! Cũng thư giãn được ít nhiều. Vì xác định được cái tạng của một đất nước một xã hội không còn là câu chuyện của sử học nữa rồi. Tạng, cái tạng và nội tạng thuộc hai phạm trù khác nhau đấy. Ta hình dung khi viết đoạn văn trên Nguyên Ngọc khoác áo blouse đội mũ hồng thập tự cần mẫn lắm. Cám ơn Nguyên Ngọc!
“Bản thể xã hội” như Nguyên Ngọc nói ở đây thuộc phương pháp luận khoa học. Cái khái niệm có tính phương pháp luận này là của Nguyên Ngọc hay của Tsuboi, hay Nguyên Ngọc gán cho Tsuboi, hay do không tiếp thu được ý của Tsuboi rồi cứ hùng hồn như con cháu Dương Chu…
Hóa ra Tsuboi viết thế này:
“Chúng tôi coi chính phủ Việt Nam và người Việt Nam như một thực thể tự tại có phần hành động, chứ không như những đối tượng cam chịu sự đánh phá của người Pháp và người Hoa, và chỉ đáng được nghiên cứu trong chừng mực ấy. Do đấy, chúng tôi tin rằng trước hết cần nghiên cứu tình hình chính trị, xã hội và kinh tế của đất nước bị thuộc địa này để có thể hiểu từ bên trong, cái quá trình lịch sử áp đặt một nền thực dân, và cũng để hiểu rõ hơn về nguồn gốc các phong trào chống thực dân của người Việt Nam như sẽ biểu lộ vào thế kỷ XX. Bởi vì nguồn gốc của cuộc kháng chiến cũng bám rễ sâu rộng từ giai đoạn trước thời thuộc địa (Sđd, tr.39-40).
Không cần bình luận mà chỉ nói gọn lại thế này: Đã không hiểu Nguyên Ngọc lại xuyên tạc nghiêm trọng, nặng nề đối với nhà sử học Nhật Bản này  Nghiên cứu, bình luận lịch sử như thế có lẽ độc nhất vô nhị chỉ có Nguyên Ngọc. Gần đây thấy Nguyên Ngọc xuất hiện rất nhiều, rất lắm lời. Mà toàn là những lời lẽ to tát, lâm ly, hùng hồn, thống thiết, như là “bản thể xã hội”, đầu óc chói sáng, anh hùng bi đát, lịch sử éo le, tính thời sự kỳ lạ và kỳ diệu của Phan Châu Trinh… Thoạt đầu thấy buồn cười, rồi thấy thương thương. Văn chương học thuật mênh mông, dân chủ tự do lắm, có ai cấm đâu mà. Vì thế mà chớ có tham, hùng hùng hổ hổ về cái điều chẳng hiểu nó thực ra là như thế nào. Mới nghe hơi nồi chõ mà cứ ầm cả lên. Tsuboi chắc hiểu biết tiếng Việt, cũng nên giảng giải cho Nguyên Ngọc về cái thực thể và bản thể… tạng và nội tạng… chứ thế này bạn đọc hiểu lầm cả hai, oan cho Tsuboi đấy!
Nhà sử học Tạ Ngọc Liễn thường nói với tôi: Sử học là một khoa học nghiêm túc, có phương pháp, có đối tượng nghiên cứu của nó, nhưng trước hết đấy là một khoa học gắn với đạo đức, quan điểm nghiên cứu có thể khác nhau nhưng phải giữ cái đạo lý, đạo đức có tính phổ quát nhân loại.
Trung Quốc có truyền thống sử học, nhưng cứ điểm danh thì số nhà sử học so với số nhà văn nhà thơ thì rất ít, ít lắm. Nghĩa là, không phải cứ là nhà văn thì đều làm được nhà sử học. Nguyên Ngọc cứ trở về với anh Núp, với các Thào Mị Seo Mị trên cao nguyên đá, với Rừng xà nu, với các Dũng sĩ Điện Ngọc hay Đường mòn trên biển Đông… có khi lại có ích cho bạn đọc hơn. Ấy là tình thật mà nói. Còn lý thuyết thì tóm gọn thế này. Cố tình biện hộ cho thuyết bất đề kháng, cho chấn hưng dân tộc (khai dân trí chấn dân khí… trong hoàn cảnh mất nước mất chủ quyền, nô lệ phụ thuộc, rằng độc lập chỉ là một bước có thể trước
có thể sau… là cố tình dối trá như Gơ-ben.
Còn thành tâm thực lòng, là thiển cận, phản khoa học, cũng là một thứ A.Q mới. Bất chấp lịch sử hiện thực đã diễn ra như thế, cứ nhất định phải, nên như thế như thế. Rất A.Q ở chỗ cứ lấy mình làm trung tâm. Sao không biện luận với người Pháp người Mỹ rằng nếu các ngài không xâm lược áp bức thì chúng tôi không phải đề kháng và cả hai bên được lợi ích đến như thế nào. Nếu các ngài không dùng vũ lực, thực lòng đàm phán hòa bình thì làm gì có Điện Biên dưới đất Điện Biên trên trời. Còn mượn Thánh Gandhi làm khuôn vàng thước ngọc thì hãy xem xét tình hình nội bộ Ấn Độ và thế giới từ 1945 đến 1949. Vào năm 1948 chắc chắn người Anh không mù tịt về tình hình ở Đông Dương và Trung Hoa lục địa. Chỗ này họ tỉnh hơn người Pháp. Và cần xem xét đến cả hôm nay: Cộng hòa Ấn Độ hôm nay cũng là một cường quốc quân sự. Họ phóng được vệ tinh lên vũ trụ – nghĩa là trình độ năng lực cao hơn tên lửa tầm xa mang đầu đạn các loại… Họ có hạm đội mạnh, tàu ngầm và không quân… Sao họ lại đi ngược lại lời răn của vị thánh, Người Cha của dân tộc họ, ngài Gandhi đáng kính.
Cuối cùng, mong nhà văn – nhà triết học – nhà sử học – nhà giải phẫu sinh lý bác sĩ Nguyên Ngọc không nên vận dụng chủ nghĩa đà điểu trong khoa học.
Hà Nội, những ngày tháng Tư 2015
Những câu “bất hủ”của Nguyên Ngọc 
“Trước đây, khi được giao trọng trách làm Bí thư Đảng Đoàn Hội Nhà văn VN, Nguyên Ngọc soạn cương lĩnh văn chương, bản“Đề dẫn” dâng lên“Đảng kính yêu” như sau:
“… Nói về phương hướng nội dung của Văn học trong thời kỳ mới hiện nay, chúng ta muốn trước hết tập trung vào con người. Con người mới ấy, như Đảng đã chỉ rõ, sẽ là kết quả tổng hợp cả 3 cuộc Cách mạng: Cách mạng quan hệ sản xuất, Cách mạng Khoa học Kỹ thuật, Cách mạng tư tưởng và văn hóa. Đảng cũng đã sớm chỉ ra cho chúng ta đó là con người lao động Việt Nam làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa… chủ nghĩa xã hội…”. Rồi gần đây, khi chủ trò tuyên bố lý do thành lập “Văn đoàn độc lập Việt Nam”, Nguyên Ngọc đã viết như sau:
“Sau năm 1975, kết thúc một thời kỳ lịch sử kéo dài hơn trăm năm, đất nước cần một cuộc phục hưng dân tộc căn bản, mà nền tảng là phục hưng văn hóa. Tiếc thay công cuộc cần thiết và nghiêm trang ấy đã không diễn ra như mong đợi. Trái lại văn hóa Việt Nam ngày càng suy thoái nghiêm trọng,
lộ rõ nguy cơ đánh mất những giá trị nhân bản căn cốt nhất, uy hiếp đến cả sự tồn vong của dân tộc…”
Và theo Nguyên Ngọc cái lý do chính yếu dẫn đến tình trạng đó vì:
“… Một xã hội như chúng ta đang có, trong đó cái quyền tự do cơ bản của con người thực tế bị vi phạm trầm trọng, đương nhiên đè nặng lên tâm lý sáng tạo của người cầm bút, làm mờ nhạt và tắt lụi các tài năng…”.
Và bây giờ, trong không khí cả nước sắp kỷ niệm 40 năm ngày 30-4 (30-4-1975 – 30-4-2015) – ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam – thống nhất đất nước, chúng tôi xin giới thiệu mấy câu của Nguyên Ngọc trong bài viết về Phạm Xuân Ẩn trên Vietnam.net cách nay không lâu, để bạn đọc càng hiểu thêm tâm địa của nhà văn“cấp tiến” này:
“Việc dạy sử không nên đặt ra mục đích đắp bồi chủ nghĩa yêu nước”… khi nói đến chủ nghĩa thì tức đã có ý đẩy tình cảm ấy đến thành cực đoan, thành chật hẹp, duy nhất, có màu sắc kỳ thị với những gì không phải là đối tượng yêu đó của mình. Không nên “sử dụng”…
“… Chúng ta tôn vinh các bà mẹ Việt Nam anh hùng từng có nhiều con hy sinh trong chiến tranh, là đúng thôi. Nhưng có lẽ cũng đừng làm quá. Còn có hàng triệu bà mẹ khác có con đi lính cho chính quyền miền Nam và ngã xuống. Mình làm quá các bà mẹ ấy sẽ tủi thân”.
Chu Giang

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32