Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
ĐỌC SÁCH 1/h (“Trung Quốc của Mao Trạch Đông”"
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET) Sách là ngọn đuốc soi rọi chân lý, là chiếc khăn thấm đẫm máu, nước mắt và lòng nhân ái của loài người!
------------------------------------------------------------------
-Từ
ngày cách mạng vô sản nổ ra và "thành công vang dội", bao nhiêu chiến
sĩ cộng sản ưu tú lâm vào cái chết oan ức, bi kịch vì bị đồng chí mình thanh trừng, mấy
ai được sống trọn vẹn một cuộc đời trong an lành, hạnh phúc? -Hết
nạn đày đọa thanh trừng thì đến nạn thoái hóa, biến chất! Ngày nay, còn
bao nhiêu người cộng sản vẫn hoạt động quên mình vì chủ nghĩa cộng sản,
vì nhân dân phục vụ? -Danh lợi, khi hết thơm rồi thì thối quá chừng! -Ngày
xưa hình tượng người đảng viên cộng sản đẹp bao nhiêu thì ngày nay hình
tượng đó xấu xí, tầm thường, tha hóa bấy nhiêu. Tại sao? -Ôi, khai quốc công thần! Ôi, đấu tranh giai cấp! Ôi, chuyên chính vô sản! Ôi, "định hướng XHCN"!
-Bảo
vệ chủ nghĩa Marx làm gì khi nó đã quá lạc hậu rồi và bộc lộ sai lầm?
Chỉ riêng luận điểm đấu tranh giai cấp mang tính bạo lực và sắt máu,
tiêu trừ một tầng lớp xuất sinh tự nhiên của xã hội (giai cấp tư sản) để
xây dựng một xã hội phi giai cấp đầy lòng nhân ái, nghe đã phản khoa
học và trái khoáy rồi. -Im lặng trước tà ác, chính là ủng hộ cho nó. Có một câu danh ngôn của
Napoleon:“Thế giới chìm đắm trong đau khổ không phải vì tội ác của kẻ
xấu mà là vì sự im lặng của những người tốt”! -Bắt chước Putin: "Ai mãi đi theo CNCS, người đó không có trí não, ai khước từ lòng tốt của nó, người đó không có trái tim!".
Cộng
sản: cần phải xây dựng nhhững cơ xưởng, nhà máy lọc dầu và nhà máy hóa
chất khổng lồ – để Trung Quốc tiến lên trở thành cường quốc công nghiệp.
Ảnh: GEO Epoche.Gesa Gottschalk Phan Ba dịch từ chuyên san lịch sử “Trung Quốc của Mao Trạch Đông” do GEO EPOCHE xuất bản Năm 1957, Mao ra lệnh thực hiện thêm một cuộc cách
mạng nữa: với một cuộc “Đại Nhảy Vọt”, nền nông nghiệp Trung Quốc cần
phải được hiện đại hóa và xuất khẩu những lượng ngũ cốc khổng lồ trong
thời gian ngắn nhất, nhà máy điện cần phải sản xuất điện và lò luyện kim
cần phải nấu chảy thép ở khắp nơi để đất nước qua đó mà trở thành một
quốc gia công nghiệp. Thế nhưng kết quả của sự hiện đại hóa bị cưỡng bức
này thật là khủng khiếp. Thép được sản xuất ra thường là vô dụng, hồ
nước thủy điện bị nghẽn bùn – và hàng triệu người đã trở thành nạn nhân
của nạn đói hẳn là lớn nhất trong lịch sử. Khi Xuân về ở Judong, những người đàn ông trẻ tuổi bỏ đi. Họ bỏ lại
đồng ruộng mà trên đó không còn gì mọc nữa, vợ họ, những người không còn
mang thai được nữa, con họ, những đứa bé sưng húp lên vì đói, cha mẹ
họ, những người quá yếu ớt để mà có thể bỏ trốn. Nhà của họ bị phá tan,
nồi nấu của họ bị tịch thu. Dân quân trong vùng săn lùng bất cứ người
nào bỏ làng trốn đi, đánh chết hàng ngàn người. Thế nhưng những người đàn ông từ Judong [Để ngăn ngừa sự đàn áp –
ngay cả đến ngày nay – tên làng và tên những người dân của nó đã được
thay đổi.] thoát được, họ chạy đến một tuyến đường sắt mà không bị phát
hiện, leo lên một con tàu hỏa, bí mật đến được với những con tàu hỏa
khác, đi cho đến tận rìa của Cao nguyên Tây Tạng, nơi vẫn còn có thức
ăn. Ở làng quê của họ, những người phụ nữ, trẻ em, người già và người
bệnh đã chết trong vòng hai năm sau đó. Họ là nạn nhân của một nạn đói
ngay cho Trung Quốc cũng là không tiền khoáng hậu – được gây ra bởi đảng
đấy, cái đã nhận lấy quyền lực mười năm trước đó với lời hứa hẹn rằng
không bao giờ sẽ có một người Trung Quốc nào chết đói nữa. Được gây ra
trước hết là bởi người đứng đầu đảng này, người 16 tháng trước đó đã
quyết định phóng đất nước này với một nổ lực vĩ đại vào thời Hiện đại
công nghiệp – và đồng thời vào Chủ nghĩa Cộng sản. Phân nửa người dân của Judong và có lẽ thêm 30 triệu người Trung Quốc
nữa đã trả giá bằng mạng sống của mình cho giấc mơ “Đại Nhảy Vọt” này.
[Con số nạn nhân dựa trên ước lượng. Nó dao động giữa 15 và 55 triệu. Ý
kiến thống trị cho rằng đã có 30 triệu người chết.]
Cơ
khí hóa nông nghiệp để tăng sản lượng lên gấp nhiều lần, ví dụ như qua
tưới nước nhân tạo, mà nền tảng của nó cần phải được kiến tạo trong cuộc
Đại Nhảy Vọt. Vì tám năm sau khi lên cầm quyền, Đảng Cộng sản vẫn còn
chưa thể cung cấp lương thực thực phẩn một cách chắc chắn cho người dân
Trung Quốc. Mao Trạch Đông lo sợ một cuộc khủng hoảng lớn, cái mà ông ấy
cố ngăn chận bằng một trận đánh giải phóng. Ảnh: GEO Epoche.JUDONG TRONG TỈNH HÀ NAM ở giữa Trung Quốc là một
ngôi làng nghèo. Nó nằm giữa những cánh đồng trồng khoai lang và lúa mì
trong vùng Tín Dương. Hồ nước lóng lánh giữa đồng ruộng.Người
dân thường phải chịu đựng, họ quen với chiến tranh và thiên tai. Trong
cuộc nội chiến, người nông dân đã đi xin ăn khắp nơi để mà sống qua
ngày. Sau khi nắm lấy quyền lực năm 1949, Đảng đã gán cho họ một thể chế
giai cấp tùy theo sở hữu của họ cho tới nay, cái đảo ngược trật tự của
ngôi làng: “nông dân nghèo” được ưu đãi so với “đại địa chủ”. Ruộng đất
của những người giàu nhất được chia lại, để cho tất cả nông dân có thể
làm ruộng trên đất có giá trị khoảng như nhau.Thế nhưng năm 1957, tám năm sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân,
ĐCS vẫn còn chưa thể lo được cái ăn cho tất cả mọi người Trung Quốc một
cách đáng tin cậy. Cho tới năm 1952, tuy sản lượng thu hoạch có tăng
lên – nhưng hầu như không đạt được đến mức của những năm 1930. Sau đấy,
Đảng tập trung xây dựng công nghiệp. Thêm vào đó, từ năm 1955, người nông dân phải làm việc trong các hợp
tác xã, những cái thường bao gồm nhiều làng và có cho tới 300 hộ dân.
Bây giờ họ không còn được phép bán đất đai, trâu bò và dụng cụ nữa, họ
không còn được phép quyết định gieo trồng những thứ gì. Họ là một phần
của nền kinh tế kế hoạch. Vẫn còn có lỗ hổng: tuy là người nông dân phải bán mọi ngũ cốc lại
cho nhà nước, cái còn lại sau khi trừ đi một phần làm lương thực nhỏ,
thức ăn cho gia súc và hạt giống như là “phần dư ra”. Vì giá mua của nhà
nước thấp nên phần lớn họ đều giữ lại thu hoạch của họ hay mang chúng
ra chợ ở địa phương, nơi có thể bán với giá cao hơn. Nhưng khẩu phần lương thực, tiền ốm đau, tiền hưu thì chỉ có người
dân thành phố là mới nhận được. Nông dân Trung Quốc, người đã đấu tranh
cho ĐCS và đã hy sinh nhiều trong cuộc nội chiến, cảm thấy mình bị bỏ
rơi. Báo chí tường thuật về sự bất bình ngày một tăng của con người ở
nông thôn. Nông dân liên kết lại để ly khai ra khỏi hợp tác xã – về mặt
chính thức, sự tham gia là tình nguyện. Những người khác khinh bỉ các cán bộ trong làng của họ, còn tấn công
cả gia đình của những người đó. Cả ở gần Judong, chỉ qua đêm là có những
khẩu hiệu chống Cộng sản đã xuất hiện trên tường của một hợp tác xã.
Nhiều người biểu quyết chống Cộng sản bằng chân: họ rời bỏ những nhóm
sản xuất của họ và tìm những công việc được trả công tốt hơn ở nơi khác.
Sản xuất nông nghiệp đình trệ: như sản lượng thu hoạch năm 1957 chỉ
tăng có một phần trăm so với năm trước đó. Thêm vào đó, một cuộc điều
tra dân số năm 1953 đã cho thấy rằng không phải tròn 475 triệu người như
dự đoán mà là 582,6 triệu người dân sống ở nông thôn. Trung Quốc hướng đến một cuộc khủng hoảng xã hội và kinh tế. Do vậy
nên Mao cố thử nghiệm một bước đột phá và thề thốt với các đồng chí về
một dự án mới: cuộc “Đại Nhảy Vọt”. Chỉ trong vòng ít năm, đất nước đang
phát triển này cần phải trở thành một quốc gia công nghiệp; đồng thời,
ông ấy muốn cải tạo triệt để nền nông nghiệp. Người Trung Quốc cần phải tăng sản lượng trên đồng ruộng, sản xuất
năng lượng với những đập nước, sản xuất thép, làm việc trong nhà máy,
xây đường lộ và đường sắt. Nếu như mỗi người đều sẵn sàng từ bỏ gia đình và cộng động làng quê
và mang mình vào trong một đạo quân sản xuất mới, thì sau một vài năm
khó nhọc sẽ thành hình không chỉ một Trung Quốc hùng mạnh về kinh tế mà
cả một xã hội mới. Con người Cộng sản sẽ sống ở trong đó, những người đặt cái “chúng ta”
lên trên cái “tôi”: sẵn sàng hy sinh, không có yêu cầu, đầy nhiệt tình
cách mạng. Người chủ tịch muốn tái đánh thức dậy tinh thần hăng hái từ thời của
cuộc nội chiến và chính bản thân mình cũng đầy sự thôi thúc muốn hành
động, khi ông ấy tin rằng đã cảm nhận được sự nhiệt tình cách mạng mới.
Nhưng dấy cũng là niềm tự hào quốc gia và lòng khao khát muốn được công
nhận của Mao, những cái đã dẫn đến việc ông ấy quất roi đẩy dân tộc của
ông ấy tiến lên phía trước một cách không thương xót. Vì trong tháng 11 năm 1957 ông ấy đã đứng trên Lăng Lênin ở Moscow
như là người khách danh dự và nhìn cuộc duyệt binh kỷ niệm lần thứ 40
Cách mạng Tháng Mười. Người Xô viết vừa mới đưa chiếc Sputnik thứ hai
lên quỹ đạo. Sếp Đảng Cộng sản Khrushchev khoe khoang trước những người
khách của ông ấy đến mức Mao cảm thấy bị thách thức và trả lời rằng.
“Đồng chí Khrushchev nói với chúng tôi rằng 15 năm nữa Liên bang Xô viết
sẽ vượt qua Hoa Kỳ. Tôi có thể nói với các bạn rằng rất có thể là 15
năm nữa chúng tôi sẽ đuổi kịp hay vượt qua Liên hiệp Anh.”
Chiến
dịch công nghiệp hóa của Đảng Cộng sản cần hàng triệu sức lao động,
những cái phải được thay thế. Vì thế mà bây giờ phụ nữ phải tiếp nhận
công việc đồng áng và chẳng bao lâu sau đó cả những công việc mới như
thợ cơ khí hay nhân viên đường sắt. Ảnh: GEO Epoche.NHỮNG NGƯỜI NÔNG DÂN ở Judong biết về dự định to lớn
của Mao vài tuần sau đó. Vài người đàn ông được cử đi tham gia xây dựng
một con đập nước. Khắp nơi trong Trung Quốc, các dự án xây dựng khổng
lồ bắt đầu, những cái cần phải cải thiện việc tưới nước cho đồng ruộng
hay cung cấp điện cho công nghiệp. Và Hà Nam đi đầu: chỉ riêng trong
vùng giáp ranh với tỉnh An Huy láng giềng đã có hơn 100 con đập và hồ
nước được xây cho tới năm 1959.Người ta làm việc gần như chỉ với đôi bàn tay không. Chính phủ bù đắp
sự thiếu thốn máy ủi đất và máy đào với lượng người khổng lồ. Ngay
trong tháng 1, cứ sáu người Trung Quốc là có một người đào kênh bằng mai
và xẻng, đổ đất xây đập, gánh đất trong giỏ đi nơi khác, với đòn gánh
bằng tre, nhiều giờ liền, ngày này qua ngày khác. Đạo quân lao động này đã dịch chuyển hơn 580 triệu mét khối đất trong
hai tháng đầu tiên của chiến dịch tưới nước. Các cán bộ ở địa phương
chú tâm đến trước hết là những con số hoành tráng: các chính quyền tỉnh
cố vượt qua nhau với các báo cáo thành công về Bắc Kinh – vì một tỉnh có
thể dịch chuyển càng nhiều tấn đất thì ảnh hưởng chính trị của họ càng
lớn. Rằng các con số đó không hề có tương quan nào đến lợi ích thật sự,
việc này có thể nhìn thấy tại một dự án ở Cam Túc trong miền Tây Bắc
Trung Quốc: 160.000 người làm việc ở đó, để chỉnh dòng cho con sông Tao
chảy qua núi cao và mang nước uống lại cho các ngôi làng ở cách xa lòng
sông của nó. Thế nhưng luôn xảy ra đất lở, lòng sông bị nghẽn bùn. Năm
1962 người ta đã phải hủy bỏ dự án, không có đến một hecta duy nhất được
tưới nước. Trong
sự hấp tấp của họ, khởi động càng nhiều dự án càng tốt, càng nhiều dự
án lớn càng tốt, các quan chức đã cho xây đập ở những nơi sai lầm, không
chú ý đến các kế hoạch của kỹ sư, làm ngơ trước những sự tùy tiện. Một con đập cao hơn 100 mét, được hàng chục ngàn người nông dân xây
dựng ở Hoàng Hà, cái có nhiệm vụ làm sạch trầm tích khỏi nước, thay vì
vậy đã dẫn đến việc nó càng bị bùn lầy nhiều hơn nữa. Thêm vào đó, bây
giờ nạn lụt đe dọa thành phố Tây An: chỉ khi mực nước của hồ được hạ
thấp xuống thì mới có thể ngăn chận được điều đó, thế nhưng qua đấy thì
các tuốc bin lại trở nên vô dụng; người ta lại tháo gỡ chúng ra. Trong khi những người đàn ông phải làm việc ở các công trường xây
dựng cách xa làng quê của họ thì những người phụ nữ phải làm đồng. Các
cán bộ của ĐCS tìm cách giải phóng phụ nữ nông dân ra khỏi những nhiệm
vụ của họ, nấu ăn và chăm sóc người già cũng như nuôi dưỡng trẻ con. Và
họ tìm thấy nó: ở tỉnh Hà Nam Cách Judong không xa lắm, trong tháng 4 năm 1958 quan chức Đảng đã
lập từ 27 hợp tác xã và bốn thành phố nhỏ thành một nhóm được biết đến
dưới tên Công xã Nhân dân “Sputnik”. Tròn 10.000 hộ dân được gộp lại
thành một đơn vị ở đó. Chẳng bao lâu sao đó, cái vào lúc ban đầu không
khác một hợp tác xã khổng lồ là bao đã trở thành một dự án cực đoan hơn
rất nhiều: sở hữu và tiền lương bị bãi bỏ, lương thực và quần áo được
phân phát không mất tiền, những người trong công xã cùng nhau làm việc
và ăn uống.
Lò
luyện thép đơn giản trong làng ở khắp nơi có nhiệm vụ cung cấp thép, ví
dụ như để đóng tàu. Để đạt được các chỉ tiêu hoàn toàn quá mức của
chính phủ, ngay đến dụng cụ nông nghiệp đang hết sức cần thiết cũng bị
mang đi nấu chảy. Ảnh: GEO Epoche
Giới lãnh đạo ở Bắc Kinh hân hoan vui mừng và mở rộng hợp tác xã trên
toàn Trung Quốc. 740.000 hợp tác xã trong nước được liên kết thành
26.000 công xã. Một vài người trong số họ đảm nhận việc chăm sóc cho
người già và trẻ con. Người nông dân phải giao ra trâu bò của họ và nồi
nấu ăn của họ. Người trưởng nhóm sản xuất của họ quy định thời gian của
họ, phân công việc làm cho họ. Họ nhận được điểm cho việc làm, được tính
toán theo một hệ thống phức tạp: loại công việc, giới tính và tuổi của
người lao động, năng suất trung bình của nhóm sản xuất của họ.Trên lý thuyết, người nông dân có thể mua ngũ cốc từ nhà nước với
những điểm đấy. Nhưng trong thực tế, giá trị của những điểm lao động này
chẳng bao lâu sau đó đã giảm đi nhanh chóng, và ngũ cốc không còn được
chào bán ở nông thôn nữa. Và vào lúc ban đầu thì cũng không có lý do để mua thực phẩm. Làng nào
cũng có một cái bếp nhân dân mà người nông dân nhận được thức ăn không
mất tiền ở đó. Các quan chức dường như muốn hiện thực thật sự viễn tưởng
huyền thoại của Karl Marx “Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”. Cả ở
Judong cũng bắt đầu “thời của những cái tô to”, như người dân làng gọi. Wu Tiancheng 23 tuổi tiếp nhận quyền lãnh đạo bếp nấu nhân dân trong
làng. Các gia đình vào nhà ăn để ăn, lúc nào cũng tám người ngồi quanh
một bàn; ngay sau khi những cái tô to được đặt vào giữa. Những người
nông dân được phép chọn từ nhiều món ăn, ai cũng có thể ăn nhiều như
người đó muốn. Đó là thời gian của sự dư thừa, như họ chưa từng trải qua trong làng.
Ai đi qua đất nước đều có thể ăn no trong nhà ăn ở tại bất cứ một nơi
nào. Vào khoảng cùng thời gian đó, nhà cửa ở Judong bị phá hủy – có thể là
vì những bức tường bằng đất sét trộn với rơm cần phải được rải lên đồng
ruộng để làm phân. Ở khắp nơi trong Trung Quốc, các gia dình nông dân
bị bắt buộc phải dọn vào ở nhà người khác hay ở trong những ngôi nhà đơn
giản nhất, bị nhà của họ bị nghiền nát ra. Cả những đống đổ nát của
chuồng nuôi súc vật cũng được ưa thích, vì chúng thấm đầy nước tiểu. Bất cứ vật liệu hữu cơ nào mà các cán bộ tìm thấy được, họ đều cho
mang đến: ở một vài làng, phụ nữ phải cạo trọc đầu nếu như họ muốn tiếp
tục được phép ăn ở torng nhà bếp nhân dân – cả tóc cũng được đổ ra đồng.
Tất cả là chỉ để làm tăng sản lượng thu hoạch. Cũng như ở các dự án xây dựng, bắt đầu có một cuộc chạy đua vì các dự
đoán thành tích. Đảng tổ chức họp trong mọi làng mạc, và Wu Tiancheng,
người lãnh đạo một tổ sản xuất ở Judong, nhanh chóng học được những gì
các bộ muốn nghe. Vì thế mà ông ấy trả lời cho câu hỏi, tổ của ông ấy sẽ
thu hoạch bao nhiêu: rất nhiều. Người lãnh đạo công xã nhân dân là cấp trên của Wu tô hồng cho dự
đoán đó thêm một ít, trước khi ông ấy báo cáo lên huyện – và cho tới khi
các con số cuối cùng đến được với chính phủ tỉnh thì chúng đã được
chỉnh sửa thêm nhiều lần cho tới mức mà các con số thu hoạch cho Hà Nam
được báo lên đến Chủ tịch Ủy ban Kế hoạch chẳng còn có liên quan gì đến
thực tế nữa cả. Ở Bắc Kinh, các mục đích thu hoạch được đưa ra với những con số đó –
và trong lúc đó, dự đoán còn được nâng cao lên thêm một lần nữa. Dưới ấn tượng của các báo cáo tuyệt vời từ các công xã, huyện, tỉnh
khác, trong thời gian sau đấy, các cán bộ Trung Quốc ngày càng thổi
phồng các dự đoán của họ: trước khi công xã mô hình Sputnik được thành
lập, người ta dự tính ở đấy trong tháng 2 năm 1958 với hơn bốn tấn lúa
mì trên một hecta, cho tới mùa Đông, con số đấy được bơm lên đến 37,5
tấn (50 năm sau đấy, một nông dân người Đức sẽ thu hoạch trung bình tám
tấn lúa mì mùa Đông.) Vì thế mà những người nông dân quẳng mọi thứ lên đồng ruộng, để có
thể đạt được những dự đoán điên khùng đó. Nghĩa địa bị cải tạo thành
đồng ruộng và ở một số nơi, những phần xác chết còn lại cũng được nấu
thành phân bón. THÊM VÀO ĐÓ, người dân phải thực hiện nhiều ý tưởng
mới từ Bắc Kinh, những cái thường trái ngược với kiến thức của họ. “Cày
sâu” là một trong những yêu cầu đó, vì rễ mạnh, trên lý thuyết, sẽ cho
cây sung túc hơn. Và bây giờ người nông dân phải trồng sát lại với nhau, vì người ta
cho rằng cả cây cỏ cũng chia nhau chất dinh dưỡng, ánh sáng và nước một
cách chan hòa. “Trong tập thể, chúng dễ tăng trưởng hơn”, Mao quả quyết,
“với tập thể chúng sống dễ dàng hơn.” Và cũng như người Cộng Sản phải đề phòng các thế lực khuynh hữu và phản cách mạng, cây cỏ cũng có một kẻ thù tự nhiên: chim sẻ. Vì người ta cho rằng những con chim đó ăn hết hạt giống nên Đảng đã
đưa ra một chiến dịch chống chim sẻ. Trẻ em cầm quay gỗ đi vòng quanh,
hay đập vào xoong nồi, để liên tục xua chim bay đi, cho đến khi chúng
rơi xuống đất vì kiệt sức.
Để
thực hiện Chủ nghĩa Cộng sản ở nông thôn, nhà nước quy gộp tất cả nông
dân vào trong những công xả khổng lồ. Sỡ hữu đất đai và trâu bò tư nhân
bị bãi bỏ, ngay đến xoong nồi nấu ăn cũng bị tịch thu. Người trưởng nhòm
sản xuất quyết định về công việc làm của những người nông dân thuộc
trong tổ của mình. Ảnh: GEO Epoche.KHÔNG CHỈ TRÊN ĐỒNG RUỘNG là xảy ra cuộc đấu tranh
vì tương lai của Trung Quốc. Ai muốn so mình với các quốc gia công
nghiệp đều phải cần đến thép. Trong vòng 15 năm, sản xuất cần phải tăng
lên gấp tám lần; trong đó, trước hết là giới nông dân phải làm sao cho ý
muốn của Mao được thỏa mãn.Những ai trong số đàn ông của Judong mà không làm việc ở đập nước thì
phải đi lên núi để thu nhặt đá cho một lò thô sơ dùng luyện thép, những
cái bây giờ thành hình ở khắp nơi trong Trung Quốc. Ở những nơi không
có mỏ sắt, nông dân quẳng tất cả những gì mà họ tìm được vào trong lò
như là nguyên liệu: xoong nồi, cày, xe đạp, sắt phế liệu. Năm 1958, tổng
cộng có 140.000 tấn dụng cụ nông nghiệp đã bị nấu chảy ra trong tỉnh Hà
Nam. Để giữ được ngọn lửa, người nông dân đốt cả bàn ghế và kèo nhà.
Rừng rậm cũng trở thành nạn nhân của chiến dịch thép, từ đấy đất không
còn gì để bảo vệ trước mưa gió nữa. Nhưng trong nhiều tỉnh, hơn hai phần ba lượng thép được sản xuất như
thế lại có chất lượng thấp: không thể sản xuất cả xe máy cày lẫn máy bơm
hay cái cày từ đó. Trong mùa Thu năm 1958, một năm của những chiến dịch không ngừng nghỉ
mới chấm dứt. Bây giờ, các dự đoán phải được thực hiện. Thế nhưng nhiều
thiết bị đã bị nấu chảy, nhiều người đàn ông vẫn còn ở trên các công
trình xây dựng. Cây trồng đã chết vì chúng được trồng quá sâu hay quá
gần nhau. Côn trùng tấn công đồng ruộng, vì những kẻ thù tự nhiên của
chúng, chim sẻ, đã bị xua đuổi cho tới chết. Thế nhưng Đảng cứ cương quyết buộc phải thực hiện những con số trong
kế hoạch đã báo cáo. Và chính người nông dân Hà Nam thì lại hầu như
không thể hy vọng được nhân nhượng. Cả mùa Hè qua, họ đã nghe tuyên truyền chống lại người cựu lãnh đạo
tỉnh Pan Fusheng. Người này ngay từ năm 1957 đã phê bình việc tập thể
hóa là quá vội vã và yêu cầu trừng phạt những cán bộ nào đánh chết nông
dân. Ông ấy cũng chỉ thực hiện có giới hạn một “Chiến dịch chống khuynh
hữu”, vì ông ấy lo ngại cho mùa màng. Giờ đây, Pan đã bị cho thôi chức vụ – và người kế nghiệp ông ấy Wu
Zhipu muốn chứng tỏ lòng trung thành của mình, bằng cách thực hiện cuộc
Đại Nhảy Vọt một cách hết sức cực đoan tại Hà Nam. Ông ấy hăm hở theo
dõi những người được cho là “hữu khuynh” trong tỉnh của mình, qua đó dấy
lên một bầu không khí của sự sợ hãi. Không ai còn dám nói đến việc cung
cấp không tốt hay về các dự đoán quá mức. Trong lúc đó, không ai dối
trá các thành tích sản xuất táo tợn như Wu Zhipu. Qua đó, Hà Nam trở thành tỉnh gương mẫu, được báo chí ca ngợi, và
chính quyền của nó được Mao ưa thích. Wu gắn kết số phận của mình với
cuộc Đại Nhảy Vọt – với những hậu quả chết người cho nông dân tỉnh Hà
Nam. Vào cuối mùa Hè 1958, Mao dự định rằng Trung Quốc sẽ có được một vụ
thu hoạch kỷ lục. Trong những chuyến đi xuyên qua đất nước, ông ấy đã
nhìn thấy những đống ngũ cốc ở cạnh đường, những cánh đồng lúa xanh
tươi, xa ngút tầm mắt. Có lẽ ông ấy đã không nhận ra, rằng nông dân đã
tuân theo mệnh lệnh của cán bộ mà trồng lại cây dọc theo tuyến đường đi
của ông ấy, rằng vì ông mà họ đã đổ đống lúa mì ở ven đường – chứ không
phải vì kho chứa đã đầy. Ông chủ tịch dường như hạnh phúc. Ông ấy phấn
khởi khuyên nông dân nên ăn năm lần trong ngày và trong tương lai nên
trồng trọt ít đi. Giới lãnh đạo Đảng đã thật sự bỏ hoang đồng ruộng
trong những năm sau đó ở khắp nơi, để giảm tải cho các kho dự trữ. Thế nhưng vụ thu hoạch kỷ lục đã không đến. Người nông dân phải đưa cho nhà nước phần ngũ cốc thừa. Nhưng Đảng đã
tính toán phần thừa này dựa trên những con số sai lầm. Và không nơi nào
khác trong Trung Quốc mà chúng lại không đúng nhiều như ở Hà Nam, thay
vì 35 triệu tấn ngũ cốc theo dự đoán chỉ thu hoạch được có 12,5 triệu
tấn.
Các
công xã nông nghiệp của Trung Quốc phải đạt được những chỉ tiêu sản
xuất ngày càng cao hơn. Vì sợ bị trừng phạt nên các trưởng nhóm thường
báo cáo vượt chỉ tiêu, trong khi người dân thực ra là đói ăn. Ảnh: GEO
Epoche.
Judong không thể hoàn thành kế hoạch. Hầu như không còn ngũ cốc trong
làng nữa. Người nông dân phải tự bào chữa hàng giờ liền trước các cán
bộ trong những buổi “họp kiểm điểm”, ngày này qua ngày khác. Họ bị trói
lại và bị đe dọa. Có lần Wu Tiancheng đã phải đứng bảy ngày liên tục,
cho tới khi ông ấy nhận rằng có ngũ cốc được dấu ở trong làng của ông
ấy. Thế nhưng những cái bây giờ được giao đi từ Judong như là “phần
thừa” lại là hạt giống cũng như lương thực cho người dân làng.Người nông dân học cách thuật lại cho các cán bộ những lời nói dối mà
họ muốn nghe: chúng tôi sống tốt, chúng tôi có đủ ăn và đủ uống. Thật
sự thì Wu Tiancheng phải hạn chế phần ăn trong căn bếp nhân dân. Những
ngày dư thừa đã qua rồi. Chẳng bao lâu sau đó, nhà ăn chỉ còn phát cháo –
nếu như nói chung là còn chia cái gì đấy – với một cục bột hấp bé tí ở
trong đấy. Để nuôi dưỡng gia đình mình, Wu lấy cắp từ kho dự trữ hay lén ra
đồng, đào khoai lang, đốt lửa trong một cái lỗ, nướng những thứ có được
và ăn chúng ngay tại chỗ. Những người khác lấy đậu chưa chín từ đồng
ruộng, giã nát chúng ra và nấu chúng thành một món xúp bột. Họ chỉ bí mật nấu những bữa ăn đó: vì khi cán bộ phát hiện ra khói ở
đâu đó thì họ sẽ xông vào ngôi nhà đó và tịch thu tất cả những thứ có
thể ăn được. Trong khi nạn đói lan ra trong các làng mạc, giới lãnh đạo Đảng nhìn
các con số thu hoạch không đạt được như là một vấn đề về ý thức hệ:
người nông dân dấu ngũ cốc vì họ sợ nhận được quá ít lương thực. Sau
đấy, tuy Mao đã phê bình những cán bộ quá sốt sắng và ca ngợi tính tinh
khôn của nông dân. Nhưng đồng thời ông ấy cũng yêu cầu các cán bộ phải
trưng thu cho đến một phần ba vụ mùa. Lại chính là bây giờ, lúc họ ít
khi có ít như thế này thì những người nông dân phải giao ra nhiều như
chưa từng có. Mao muốn nuôi dưỡng con người trong thành phố và làm tròn
các hợp đồng quốc tế của Trung Quốc.
Tấm
áp phích năm 1958 này yêu cầu hãy học tập tấm gương Liên bang Xô viết.
Trong năm trước đó, Liên bang Xô viết đã phóng thành công vệ tinh đầu
tiên vào vũ trụ, và sếp ĐCS Krrushchev khoe khoang rằng không bao lâu
nữa sẽ vượt qua mặt Hoa Kỳ. Sau đấy Mao tuyên bố một cuộc chạy đua để
bắt kịp của nước Trung Quốc lạc hậu. Ảnh: GEO Epoche.
Vì nước Cộng hòa Nhân dân đã mua, trước hết là từ nước ngoài xã hội
chủ nghĩa: cần cẩu, xe tải, động cơ, máy bơm, máy gặt đập, cả toàn bộ
nhà máy thép, nhà máy xi măng, nhà máy lọc dầu, nhà máy điện,Thế nhưng những người Cộng sản hầu như không có ngoại tệ để trả tiền
cho hàng hóa. Thay vào đó, họ tiến hành kinh doanh trao đổi – trước hết
là với lương thực thực phẩm: như thịt cho Liên bang Xô viết, gạo và dầu
ăn cho Đông Đức. Giới lãnh đạo quanh Mao cương quyết thực hiện các cam kết của họ,
ngay cả khi người dân của chính họ phải trả giá. Nhận định tình hình
hoàn toàn sai lầm, các quan chức cao cấp trong Đảng đề nghị giải quyết
vấn đề xuất khẩu bằng cách mỗi một người Trung Quốc từ bỏ một vài quả
trứng, nửa cân thịt và một ít ngũ cốc. Bây giờ, có hàng triệu người từ các ngôi làng của những người đang
đói ăn ở khắp nơi trong nước bỏ vào thành phố bất chấp lệnh cấm, nhiều
người cố gắng bỏ trốn qua biên giới với Miến Điện hay Việt Nam hay chạy
đến những tỉnh hẻo lánh. Nông dân vùng Tín Dương nhận được thư từ của họ
hàng và bạn bè từ Thanh Hải và Cam Túc. Họ nhận được tiền và những chỉ
dẫn cụ thể cho một chuyến bỏ trốn. Có lẽ là một lá thư như thế đã khiến cho Wu Tiancheng quyết định bỏ Judong ra đi. Bằng mưu mẹo và trộm cắp, người nông dân trẻ tuổi đó đã mang gia đình
của anh ấy qua được mùa Đông. Nhưng anh ấy nhìn thấy sự khốn khó xung
quanh mình ngày càng lớn hơn. Anh ấy cần phải làm gì? Anh ấy có quen biết ở trong tỉnh Thanh Hải tương đối thưa thớt dân
cư. Ai làm việc ở đấy sẽ nhận được phần ăn đều đặn. Tin tức đấy chắc hẳn
phải giống như những tín hiệu cứu thoát cho Wu. Anh ấy bàn bạc với bạn
bè của anh ấy. Thế rồi, trong mùa Xuân 1959, anh ấy dẫn những người đàn
ông trẻ thuộc nhóm sản xuất của mình đến tuyến đường sắt.
Cán
bộ Đảng Cộng sản yêu cầu tiến hành những dự án xây dựng ở khắp nơi
trong Trung Quốc, để xây đập nước, cung cấp điện hay cải thiện việc tưới
nước. Nhưng kế hoạch cho những dự án này thường hay sai lầm, hay chúng
tự chứng tỏ mình là vô dụng: đập vỡ, hồ chứa nước ngẽn bùn, tuốc bin bị
ngẹt vì bùn. Ảnh: GEO Epoche.BÂY GIỜ KHẮP NƠI Ở NÔNG THÔN Đảng đã thành lập hàng
trăm trạm dân quân mà người chạy trốn bị chặn lại ở đấy, bị bắt giam và
rồi thường là lại được chở trở về. Ở Tín Dương, người nông dân đặc biệt
chịu nhiều rủi ro: họ gọi dân quân trong vùng cực đoan nhất của tỉnh cực
đoan Hà Nam là “đội đánh đập”. Vào lúc nạn đói bắt đầu, giới lãnh đạo
đã cho phong tỏa Tín Dương và để cho đánh đập hàng chục ngàn người tỵ
nạn cho tới chết.Nhưng những người đàn ông từ Judong đã thoát qua được và đến được một
cao nguyên trong tỉnh Thanh Hải cách đó hơn 1000 kilômét. Ở đó, người
ta cần dùng sức lao động của họ, họ khai khẩn đất hoang trong một nông
trại nhà nước và nhận được 360 gram ngũ cốc trong ngày cho việc đó. Nông dân từ khắp nơi trong Trung Quốc kéo đến đây. Ở dưới bầu trời
bao la của vùng cao nguyên, họ trao đổi những câu chuyện, không cần phải
sợ có cán bộ nghe lén. Wu Tiancheng nghe về nạn đói và sự khốn khó
trong tất cả các miền của đất nước: về những người cha người mẹ đã nấu
thịt các đứa con đã chết đói của họ, để mà có thể sống sót được. Cùng
lúc đó, giới lãnh đạo Cộng sản của vùng Tín Dương bắt đầu một chiến
dịch tàn bạo: họ cho rằng các thành viên công xã đã dấu đi vụ thu hoạch
thành công thật sự của họ, để có thể phân phát ngũ cốc nhiều hơn cho
chính người của họ. Vì thế, nhiều làng đã đưa ra hạt giống cũng như
những phần ngũ cốc cuối cùng của người nông dân. Người dân ở Hà Nam bây giờ xay nát cùi bắp và làm từ đấy một “viên
bột Đại Nhảy Vọt”. Họ ăn vỏ cây và lá cây. Ở một bờ sông, họ dùng đất
sét và nghiền nát đá ra để làm “mì sợi” từ đấy. Chẳng bao lâu sau đó, phần lớn người dân trong Judong đã yếu sức đến
mức không thể ra đồng ruộng được nữa. Cơ thể của họ phù lên vì đói. Họ
chết, vì đã nuốt những thứ không thể ăn được. Người thân dấu xác chết
trong nhà, để nhận khẩu phần của người chết: một cục bột hấp, một cái
bánh bằng đậu. Người nông dân đã biết nạn đói từ những thời trước. Nhưng lần này thì
họ không có lối thoát: không ai có dự trữ hay tiết kiệm, họ đã phải đưa
ra tất cả cho các công xã nhân dân. Họ không có đất để bán. Họ hầu như
không được phép trồng củ cải và khoai, vì ở Bắc Kinh chỉ lượng ngũ cốc
là quan trọng. Đảng cấm đi ăn xin cũng như bỏ trốn. Người dân ở Judong
chết vì yếu sức: họ quỵ xuống mà không kêu lên được một tiếng. Và đã có
nhiều người chết: năm đứa con của bà Liu Xinghong, chồng của bà ấy đã
chết vì hậu quả của một cuộc họp kiểm điểm, chết đói. Cả người vợ góa
của một “đại địa chủ” cũng chết vì thiếu dinh dưỡng. Và mặc dù vậy, năm 1959 tỉnh Hà Nam đã cung cấp cho Bắc Kinh hơn
400.000 tấn ngũ cốc. Hơn 1,2 triệu người có thể sống nhờ vào đấy cả một
năm trời.
Năm
1958 không có máy móc hạng nặng để làm việc. Thiếu xe ủi đất và xe xúc
đất, người công dân dùng số lượng khổng lồ của họ để bù đắp vào đó: hàng
triệu người dùng xẻng đào kênh dẫn nước, xây đập nước hay xúc đi cả một
ngọn núi như ở Thiểm Tây. Ảnh: GEO Epoche.
Tháng 7 năm 1959 giới lãnh đạo Đảng họp lại. Vào thời điểm này đã có
một triệu người Trung Quốc chết đói. Bây giờ thật ra là cơ hội để chấm
dứt xuất khẩu và yêu cầu trợ giúp. Thế nhưng Mao không để cho người khác
làm cho mình lúng túng: “Hoàn cảnh hết sức tốt đẹp. Còn nhiều vấn đề,
nhưng tương lai của chúng ta xán lạn.”Bây giờ, sai lầm đáng sợ của Mao trở thành tội phạm lớn nhất của ông ấy. Chỉ có Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Bành Đức Hoài, được những người thân
cận hỗ trợ, là dám nói chống lại người chủ tịch trong một bức thư – với
hậu quả tai hại cho ông ấy và cho toàn Trung Quốc. Bành mất chức vụ bộ
trưởng của ông ấy, các lãnh đạo ĐCS khác đi theo ý của Mao: ngoại trừ
một vài khó khăn, cuộc Đại Nhảy Vọt là một thành công. Trong một nghị
quyết, giới lãnh đạo Đảng lên án những người phê bình Mao như là những
kẻ hữu khuynh. Trong những tháng sau đó, hàng ngàn người Cộng sản bị khai trừ ra
khỏi Đảng hay bị bắt giam như những “tiểu Bành Đức Hoài”. Cán bộ không
còn dám báo cáo nạn đói và số thu hoạch thật sự lên cấp trên. Đồng thời, dân quân kéo qua làng mạc, đập phá tường, đào hầm lên, đập
nát sàn nhà để tìm những dự trữ cuối cùng. Bất cứ những gì tìm thấy
được ở nông thôn đều được mang về Bắc Kinh hay Thượng Hải hay về tỉnh
Liêu Ninh, trung tâm của công nghiệp nặng. Cán bộ nhận được thêm khẩu
phần riêng. ĐCS, tự gọi mình là đảng cho người nông dân, bảo vệ quyền lực của mình bằng cái chết của hàng triệu người ở nông thôn. Mãi đến tháng 10 năm 1960, giới lãnh đạo Đảng mới biết đến cách tiến
hành dã man của giới lãnh đạo ở Tín Dương và quy mô của nạn đói ở đó.
Chỉ riêng trong huyện của công xã mẫu Sputnik, cứ mười người thì có một
người chết. Trong toàn vùng có lẽ đã có hơn 2,4 triệu người chết kể từ
1959 – phần lớn chết đói, hàng chục ngàn người bị đánh chết. Mao gửi 30.000 lính đến Tín Dương, để cho chiếm đóng vùng này, bắt
giam giới lãnh đạo, cung cấp lương thực và thuốc men cho người nông dân.
Thế nhưng ông ấy vẫn bám chặt vào cuộc Đại Nhảy Vọt: ông ấy quy các
diễn tiến trong Tín Dương về cho các thế lực phong kiến, những cái, đầy
căm thù Chủ nghĩa Xã hội, đã thâm nhập vào trong Đảng. Và vì thế mà cuộc
hành quân của những người lính cũng không mang tên cứu hộ thảm họa mà
là “giáo dục cách mạng dân chủ”.
Trong
khi bộ máy tuyên truyền đưa ra những con người hạnh phúc đứng xung
quanh Mao thì nạn đói ghê gớm nhất từ trước tới nay đang hoành hành
trong Trung Quốc. Và chính người chủ tịch này chịu trách nhiệm cho thảm
họa đó: vì ngay khi ông ấy đã biết có người chết hàng loạt, ông ấy cũng
vẫn không thay đổi các kế hoạch của mình. Ảnh: GEO Epoche.TẠI SAO người Chủ tịch lại cứ khăng khăng giữ lấy
chiến lược của ông ấy, khi nạn đói trong nước từ lâu đã quá rõ ràng? Cho
tới chừng nào mà tài liệu lưu trữ của ĐCS vẫn còn khép kín thì sẽ không
có câu trả lời thỏa đáng. Có lẽ ông ấy sợ bị lật đổ. Có lẽ ông ấy lo
ngại cho chỗ đứng của ông ấy trong lịch sử Trung Quốc, năm 1956 ông ấy
đã theo dõi việc những người Cộng sản Xô viết lên án đường lối của
Stalin sau khi người này qua đời như thế nào.Có lẽ ông ấy vẫn còn tin rằng những hy sinh đấy sẽ mang lại thành
quả, rằng Trung Quốc thật sự đứng trước ngưỡng của một quốc gia công
nghiệp. Cả một thời gian dài, ông ấy không muốn thừa nhận toàn bộ quy mô
của nạn đói. Chắc chắn rằng: chậm nhất là trong mùa Hè năm 1961, ông ấy cũng không
còn có thể nhắm mắt trước thảm họa đấy được nữa. Thành viên của giới
lãnh đạo Đảng đã đi xuyên qua đất nước và đã tự mình nhìn thấy lần chết
hàng loạt đó. Họ báo cáo tỉ mỉ cho ông. Thêm vào đó, các dự trữ ở Thượng
Hải và Bắc Kinh cũng hết dần. Đại Nhảy Vọt đã thất bại – ngay cả khi nó
không bao giờ được chính thức tuyên bố chấm dứt. Sau đấy, Mao lui về phía sau và để cho những người lãnh đạo khác cứu lấy người dân của ông ấy. Bây giờ, Trung Quốc nhập khẩu ngũ cốc để cung cấp cho những người
đang đói ăn. Một đạo luật khẩn cấp lại cho phép người nông dân mướn đất
và có việc làm phụ. Được phép họp chợ ở địa phương. Hàng ngàn dự án công
nghiệp không hiệu quả được đình chỉ. Bếp nhân dân được bãi bỏ, công xã
được thu hẹp lại. Khoảng 25 triệu người Trung Quốc, những người đã trốn
vào thành phố, phải trở về làng của họ. Các chỉ thị mới lan truyền đi nhanh chóng. Trong tỉnh Thanh Hải, Wu
Tiancheng và bạn bè của anh ấy nghe nói rằng đất đai được chia lại ở quê
hương. Hai năm sau chuyến đi trốn, họ trở về Judong. Họ về một ngôi làng không còn dân cư. Hẳn phân nửa người dân đã chết.
Chỉ một ít trẻ em là sống sót qua cuộc Đại Nhảy Vọt. Và chết chóc vẫn
còn chưa chấm dứt. Cứ hai người Trung Quốc chết năm 1963 thì có một
người dưới mười tuổi: suy yếu vì đói ăn nhiều năm liền. Trong tháng 1 năm 1962, 7000 cán bộ họp ở Bắc Kinh. Chủ tịch nước Lưu
Thiếu Kỳ, người từng thân cận với Mao, đã dũng cảm nói về sự thất bại
của giới lãnh đạo Đảng: “Phải nói rõ rằng trách nhiệm chính cho các khó
khăn và lỗi lầm trong công việc của chúng ta trong những năm vừa qua là
nằm tại Trung ương Đảng.” Ông ấy đã tận mắt nhìn thấy sự khốn khó của người nông dân, và ông ấy
không đồng ý với đánh giá của Mao, rằng tỷ lệ giữa thất bại và thành
công tương ứng với “chỉ một của mười ngón tay.” “Nói chung thì chắc đấy là ba”, Lưu nói, “và trong vài vùng còn nhiều
hơn thế nữa, như trong vùng Tín Dương.” Nhưng Đảng giữ kín quy mô thật
sự của nạn đói. Đảng gọi thời gian của cuộc Đại Nhảy Vọt là “ba năm cay
đắng”, đổ lỗi, ngoài những điều khác, cho hạn hán và Liên bang Xô viết,
nước được cho là cứ khăng khăng buộc Trung Quốc phải thực hiện các hợp
đồng của mình ngay cả trong nạn đói. Nhưng thật sự thì thảm họa này là do con người gây ra: bởi Mao, người
đã đích thân quyết định về chiến lược của cuộc Đại Nhảy Vọt, và bởi
những cán bộ khác mà trong số đó có nhiều người – từ những thành viên
nhiều quyền lực của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho tới cán bộ Đảng
đơn giản trong làng – sẵn sàng hy sinh con người cho viễn cảnh của một
Chủ nghĩa Cộng sản Trung Quốc. Với lời hứa, không để cho người Trung Quốc nào còn phải đói nữa và
dẫn dắt đất nước đến một tương lai xán lại, Đảng đã gửi không biết bao
nhiêu là người Trung Quốc đi đến cái chết. Phần lớn không được nước
ngoài Phương Tây nhận biết, trong vòng ba năm có lẽ đã có 30 triệu người
chết trong các làng mạc Trung Quốc. Và không phải tất cả đều chết đói:
hàng triệu người bị đánh chết, đâm chết, bắn chết. Không phải bởi một
đạo quân thù địch, mà bởi chính người của họ. Đại Nhảy Vọt là sai lầm lớn nhất của Mao Trạch Đông, tội phạm lớn
nhất của ông ấy. Và ông ấy sẽ không quên rằng ai đã dám nói lên sự thật
về thảm họa này: Lưu Thiếu Kỳ. Người đấy, người mà cả một thời gian dài được xem là người thừa kế
Mao, sẽ phải trả giá bằng mạng sống của mình cho những lời nói công khai
đấy một vài năm sau này. Ông ấy là nạn nhân cuối cùng của 30 triệu nạn
nhân mà nhân dân Trung Quốc phải gánh chịu vì sự điên rồ của mỗi một
người: vì ý tưởng, rằng người ta có thể quất roi thúc một đất nước đang
phát triển nhanh chóng đi vào hiện đại. Gesa Gottschak Phan Ba dịch Giới thiệu tài liệu: Kimberley Ens Manning/Felix Wemheuer (xuất
bản), “Eating Bitterness”, University of British Columbia Press: tập hợp
những bài viết thể hiện một cách ngắn gọn và đầy đủ các kết quả nghiên
cứu mới nhất về từng đề tài riêng lẻ một. (Còn tiếp)
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét