Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
BÀI VIẾY HAY 50
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
TS Lê Kiên Thành: 'chúng ta đang phản bội nó, đi ngược lại nó, xa rời nó...' *
TS Lê Kiên Thành: “Tôi cầu mong, chúng ta sẽ thức tỉnh…”
Lan Hương
(Tuổi Trẻ & Đời Sống)
Khi
tôi ngỏ ý muốn có một cuộc trò chuyện với TS Lê Kiên Thành, ông nghĩ
tới và muốn nói tới nguồn tài nguyên con người Việt Nam - thứ đã từng là
bảo hiểm của dân tộc trong những năm tháng gian khó, ngặt nghèo...
TS Lê Kiên Thành
Tự hào và trăn trở
- PV: Vì sao lúc này, vào thời điểm này, điều ông muốn nói tới lại là về người Việt Nam?
Vì bạn biết không, tôi tự hào. Và tôi trăn trở.
Một lần, khi tôi sang Hàn Quốc, có một ĐBQH Hàn Quốc đã nói với tôi rằng: “Nếu
nói về kinh tế, chúng mày thua chúng tao không dưới 30 năm. Nhưng nói
về thống nhất đất nước, chúng tao không biết sẽ thua chúng mày đến bao
giờ…”.
Người Hàn Quốc
và Triều Tiên có lẽ còn mất rất lâu để chờ đến ngày thống nhất. Hoặc có
thể là không bao giờ. Nhưng người Việt Nam đã làm được điều đó, trong
một cuộc chiến mà chúng ta là kẻ yếu trước một đế quốc Mỹ hùng mạnh, một
cuộc chiến mà kể cả khi cả thế giới đều đứng về phía ta, thì họ cũng
không tin chúng ta sẽ chiến thắng.
Thế mà cũng dân
tộc đã làm nên kì tích đó, ngày hôm nay lại đang đối mặt với sự xuống
cấp trầm trọng về mọi thứ: là sự tham ô của những người lãnh đạo; là sự
suy thoái về đạo đức của xã hội; là sự lạnh lùng, tàn nhẫn đến ghê người
giữa người với người.
Niềm tin và lí tưởng đã giúp chúng ta giải phóng đất nước
- PV: Có bao giờ ông tìm cách lý giải những kì tích mà chúng ta đã tạo ra trong quá khứ ấy?
Đó là vì niềm tin và lý tưởng mà chúng ta đã cùng nhau tạo ra.
Ngày bé, ba tôi (cố TBT Lê Duẩn - pv) từng chứng kiến bà nội tôi nhìn sang nhà hàng xóm và ước rằng: “Đến bao giờ nhà mình mới có một nồi khoai to như nồi khoai nhà họ để ăn?”.
Ba tôi đã khóc
nhiều vô cùng. Ông đi làm cách mạng, cũng vì mơ ước rất giản dị là bà
nội tôi và những người dân nghèo giống bà nội tôi không còn phải mơ ước
về nồi khoai đó. Rất nhiều người Cộng sản thế hệ đó cũng giống ba tôi.
Người Cộng sản
có xuất thân nghèo khó đi làm cách mạng không chỉ vì gia đình nghèo khổ,
mà họ đi làm cách mạng bởi vì những gia đình khác cũng nghèo khổ như
gia đình họ.
Những người
Cộng sản sinh ra trong gia đình giàu có đi làm cách mạng không vì gia
đình họ, cá nhân họ, vì nếu chọn một cuộc sống hạnh phúc, hưởng thụ và
vị kỉ, họ sẽ không bao giờ dấn thân vào con đường không biết sống chết
đó… Họ đi, vì hiểu đây là điều đúng đắn, là điều có lợi cho dân tộc, cho
đất nước, cho nhân dân.
Ba tôi thường
kể đi kể lại câu chuyện về người bạn tù cùng buồng giam với ông trong
nhà tù Côn Đảo. Trước khi chết đi, người bạn tù ấy đã đưa cho ông manh
áo duy nhất của mình mà nói: “Tao muốn cống hiến một cái gì đó cho Đảng quá mà không còn cơ hội. Mày hãy mặc cái áo này của tao”.
Ba tôi không
nhận chiếc áo đó, vì không đành lòng để bạn mình chết mà không có mảnh
vải che thân. Nhưng câu chuyện đó khiến ông nhớ mãi một điều: Hạnh phúc
nhất của người Cộng sản như ông là được cống hiến, cho Đảng. Vì có những
người muốn cống hiến mà không bao giờ có cơ hội để cống hiến.
Tôi luôn nghĩ
về niềm tin vào lý tưởng của những người Cộng sản. Đó là một niềm tin
không thể cắt nghĩa. Có lần đi thăm Bảo tàng, tôi đọc một bài thơ của
một người chiến sĩ tình báo.
Bài thơ đó có
1.000 câu thơ, được viết trong 1.000 ngày ông bị giặc giam giữ trong căn
hầm phân hôi thối, nóng bức và ngột ngạt. Và mỗi ngày trong suốt 1.000
ngày đó, ông viết một câu thơ.
Tại sao người
Cộng sản đó có thể viết được bài thơ 1.000 câu ấy, nếu không phải vì
niềm tin vô bờ bến, là lý tưởng tuyệt đối mà ông dành cho lý tưởng mình
theo đuổi. Chỉ có sức mạnh đó, thì một người bình thường mới có thể tạo
ra sự đối kháng mãnh liệt trong hoàn cảnh kinh khủng như thế.
Và niềm tin ấy
không chỉ là đơn lẻ của một người Cộng sản. Đó là niềm tin của nhiều
người Cộng sản. Với cách sống như thế, với hành động ấy, họ đã lan toả
được niềm tin.
Hồi đó Đảng
CSVN chỉ có vài nghìn Đảng viên, nhưng mỗi người Cộng sản có thể lan toả
được niềm tin ấy sang hàng vạn người khác, tạo thành một sức mạnh không
thể bị khuất phục. Và niềm tin ấy, khi được lan toả, đã tạo nên được
những điều phi thường.
-
PV: Tôi đã từng gặp những bà mẹ VNAH đã mất cả 18 người con, cháu trong
quá khứ. Tôi từng gặp những người chiến sĩ tình báo bị CIA cưa chân đến
6 lần vẫn không khai ra bí mật của cách mạng. Theo ông, vai trò của họ
với đất nước là gì?
- Họ là tài nguyên vô giá của đất nước, là "bảo hiểm" của dân tộc trong những lúc nguy nan và thách thức.
Có thời điểm,
người nước ngoài nhận định về xã hội ta là một xã hội “cứ ra ngõ là gặp
anh hùng”. Đó là sự thật. Một nhà báo nổi tiếng nước ngoài khi nhìn thấy
cô du kích áp giải phi công Mỹ đã thốt lên: “Súng thì dài hơn người ,
chiến công thì nhiều hơn tuổi”!
Con người Việt
nam có thời điểm trong lịch sử đã từng bừng sáng đến vậy, và nhờ đó đã
giúp dân tộc vượt qua được những thách thức vô cùng to lớn, những hoàn
cảnh vô cùng ngặt nghèo. Đó là những con người rất bình thường, nhưng đã
dám hi sinh vì dân tộc.
Nhưng con người
Việt Nam không chỉ có những anh hùng. Con người Việt Nam ngày ấy có sự
yêu thương và chia sẻ. Và tôi nghĩ, đó mới là cội nguồn của sức mạnh.
Ngày bé, tôi
từng phải về nông thôn sơ tán. Những người nông dân ở nông thôn nghèo
hơn gia đình chúng tôi ở thành phố. Họ sống thiếu thốn hơn chúng tôi.
Ngày xưa chúng ta chiến đấu để bảo vệ nhân dân, để giải thoát nhân dân
Nhưng họ luôn
dành cho chúng tôi chỗ ngủ tốt nhất trong nhà họ, luôn chia cho chúng
tôi miếng ăn mà họ có. Vì họ nghĩ rằng, con cái họ tuy nghèo nhưng còn
được gần bố mẹ nên thương vô cùng những đứa trẻ phải đi sơ tán như chúng
tôi.
KHi đó còn bé, tôi chưa cảm nhận được nhiều. Nhưng càng sau này, tôi càng ngẫm nghĩ và xúc động về tình yêu thương đó.
Khi một người
nghèo có thể yêu thương những người giàu hơn mình, may mắn hơn mình, thì
đó thực sự là tình thương nhân văn nhất, vĩ đại nhất.
Không nghèo, không đói như ngày xưa, tại sao lại ác hơn ngày xưa?
-
PV: Và người Việt Nam bây giờ, trong mắt ông, có khác gì với người Việt
Nam của những năm tháng cũ? Nguồn tài nguyên vô giá mà chúng ta từng
có trong quá khứ giờ ra sao?
- Dù đau lòng, tôi không thể không thẳng thắn nói rằng, chúng ta đã mất đi rất nhiều nguồn tài nguyên ấy!
Trong những năm
vừa rồi, điều rõ nhất tôi cảm nhận được là chưa bao giờ cái xấu và tội
ác đến với chúng ta bình thản như thế này. Người ta nhìn nó thản nhiên,
như là điều tất yếu. Đó là buổi sáng, khi tôi đọc tin về một cậu thanh
niên cứa cổ đứa bé 8 tháng tuổi; Đó là khi tôi đọc tin về những người
dân cùng xông vào đánh chết một kẻ trộm chó…
Có những người trong chúng ta hôm nay dùng cái ác và cái xấu để sinh tồn. Có những người nhìn nó thản nhiên một cách lạ kỳ.
Việc một tên
cướp bị tuyên án tử hình vì chém đứt tay một người và trước đó đã chém
14 người, nhưng bà mẹ đẻ ra thằng bé đó không hề mảy may ân hận. Bà ta
chửi bới cả xã hội và nghĩ rằng tại sao phải chém tay mà không chém
đầu…, thì đó là hình ảnh đáng sợ nhất: Hình ảnh một người mẹ biết quý
con mà không còn coi sự sống của người khác ra gì.
Tôi luôn nghĩ,
có thể con người Việt Nam hôm nay dường như đang gặp phải một sai lầm
nào đó trong tổ chức cuộc sống, khiến cho tình cảm, lòng thương người,
sự vị tha đang bị biến dạng một cách ghê gớm. Đó là điều quá lạ lùng với
xã hội này.
Có lẽ chưa từng có một giai đoạn nào trong quá khứ mà người Việt Nam phải trải qua tình cảnh như ngày hôm nay.
Người Việt từng
sống dưới ách nô lệ cả nghìn năm của các triều đại phương Bắc, từng bị
đế quốc, thực dân đô hộ, chịu đựng đủ sự tàn ác, bóc lột từ ngoại bang.
Nhưng chưa bao giờ, khi tìm hiểu về lịch sử, tôi nghe được về chuyện
người Việt tàn ác với chính đồng bào của mình.
Thế nên giờ mỗi
ngày mở báo ra, đọc tin về một người nào đó bị cả làng xúm lại đập chết
vì ăn trộm chó; Cứ dăm bữa nửa tháng lại có vụ thảm sát nào đó ở tỉnh
này đến tỉnh kia, tôi rùng mình. Chưa bao giờ người Việt Nam đối xử với
nhau hằn học đến thế, man rợ đến thế.
Chúng ta không nghèo như ngày xưa, không đói như ngày xưa? Tại sao chúng ta lại ác hơn ngày xưa?
Thế mà những
người có trách nhiệm chưa bao giờ nghĩ đến việc nghiên cứu, cắt nghĩa,
để tìm ra được điều gì đang bị lỗi trên đất nước này, cái gì đang sai
trong hệ thống này?
Những gì đang
diễn ra ở đất nước ta hôm nay, có lẽ cần phải được suy nghĩ cho thật kỹ.
Ví dụ, tại sao nhiều người có tiền mà vẫn tham nhũng khủng khiếp như
vậy?
Có lẽ đó không
phải văn hóa. Người ta hay nói “bần cùng sinh đạo tặc” – nhưng nhìn vào
xã hội mình, đúng là đạo tặc có một phần từ bần cùng đi lên, nhưng một
phần rất đông đạo tặc lại sinh ra bởi những người không bần cùng.
Những quan chức phạm hàng loạt tội ác mà chúng ta thấy trong những năm qua, họ đâu phải là những người bần cùng?
Hãy nhìn qua
những vụ án gần đây nhất sẽ thấy rằng những người hiểu pháp luật, bảo vệ
pháp luật, họ vi phạm pháp luật một cách nghiêm trọng và đầy tính toán
để khi người ta bị bắt, người ta chỉ nói một câu rất nhẹ nhàng là: chứng
minh đi. Tức là người ta đã chuẩn bị cho tình huống đó. Người ta đã
nhạo báng và thách thức cả xã hội.
Đoạn kết đã tạo nên sức mạnh cho dân tộc Việt Nam
- PV: Dùng từ tàn ác, dã man để miêu tả, ông có thấy nó nặng nề và khắt khe quá?
- Thế theo chị,
chúng ta có thể dùng từ gì khác? Khi mà một con người có thể cứa cổ một
đứa bé 8 tháng tuổi. Khi mà một cậu thanh niên còn đang đi học có thể
giết chết cả một gia đình để cướp của, hay một chàng trai trẻ mặt mũi
sáng ngời có thể giết cả gia đình bạn gái để trả thù.
Mà sự tàn ác
không chỉ xuất hiện ở đó. Tôi nhìn thấy sự tàn ác cả ở những vụ án tham
ô, tham nhũng, cướp đất dân nghèo của những người có quyền lực.
Tôi nhìn thấy
sự tàn ác trong những vụ án oan mà những người đại diện pháp luật bằng
sự lạnh lùng, vô tình, vô trách nhiệm của họ , đã vội vã đưa ra những
kết luận điều tra vô lý nhất mà không cần quan tâm đến việc họ có thể
đẩy một con người vô tội vào con đường chết.
Phải nghiêm túc nhìn thẳng vào vấn đề trước khi quá muộn
-
PV: Theo ông, điều gì đã khiến xã hội chúng ta, chỉ trong mấy chục năm,
từ một thế hệ có thể cùng nhau vào sinh ra tử, một thế hệ có thể vừa đi
vào chỗ chết vẫn đủ tinh thần hát vang cả dãy Trường Sơn lại có thể
thay đổi đến nhường này?
- Không biết
các nhà lãnh đạo đất nước có bao giờ ra đường nhìn những người nông dân
đi biểu tình không. Nhưng tôi cứ nhìn những bà già trùm khăn ngồi bên vệ
đường trong đoàn biểu tình, càng nhìn càng không tin nổi họ đang làm gì
xấu hay đang cố giành về cho mình những thứ không phải của mình.
Nếu bản chất họ
thế thì sẽ không có việc họ đi theo Đảng, theo cách mạng trong suốt
cuộc kháng chiến đó. Họ sẽ không hiến cả nhà cửa của mình, gia sản của
mình, con cái của mình cho cách mạng.
Vậy mà chúng ta
đã làm gì để khiến họ thành ra như thế? Tại sao những cái đã tạo ra sức
mạnh phi thường cho chúng ta trong quá khứ thì giờ đây chúng ta lại
đang phá vỡ nó? Giờ chúng ta không phải đương đầu với những khó khăn như
thời chiến.
Giờ chúng ta
chỉ phải đương đầu với chính những khó khăn do chúng ta tự gây ra, vậy
mà cứ mỗi ngày ngồi ở đất Sài Gòn, nhìn thiên nhiêu ưu đãi thế này mà
chúng ta không ngẩng đầu lên được, tôi cảm thấy xót xa vô cùng. Những
người đã khuất nhìn thấy điều này sẽ càng xót xa hơn.
Khi góp ý cho
Đại hội Đảng, tôi từng nói một điều rất đau khổ là bản thân chúng ta
chưa tạo được một cơ chế dân chủ cho chính Đảng của mình. Và khi chưa
thể làm được điều đó, ta khó lòng tạo ra sự dân chủ cho cả xã hội.
Và sự mất dân
chủ này sẽ làm biến dạng ghê gớm, biến dạng sâu sắc Đảng. Sự biến dạng
này nó sẽ gây ra những sự biến dạng trong các vấn đề khác: vấn đề về
kinh tế, về xây dựng, về giáo dục, về con người…. Mà sự biến dạng đó sẽ
vô cùng nguy hiểm!
Việc những
người Việt sẵn sàng trói và đánh đến chết một kẻ trộm chó không đúng với
bản chất của dân tộc này. Việc 5 người công an cùng đánh một nghi can
của vụ án đến chết cũng không đúng với những gì tôi biết về dân tộc
này.
Tôi không tin
một người có thể cứa cổ đứa trẻ 8 tháng tuổi có thể chết vì dân tộc
mình. Những người không biết động lòng, không biết xót xa trước sự đau
khổ của người khác thì không thể nào chờ đợi tình yêu đất nước từ họ.
Thế thì chúng ta phải nghiêm túc nhìn thẳng vào nó trước khi quá muộn.
Tôi cho rằng, có lẽ chúng ta đang gặp một lỗi lầm nghiêm trọng về hệ thống.
Có lẽ, những
điều mà chúng ta đã từng vì nó mà chiến đấu ngày xưa, thì giờ chúng ta
đang phản bội nó, đi ngược lại nó, xa rời nó.
Ngày xưa chúng
ta chiến đấu để bảo vệ nhân dân, để giải thoát nhân dân khỏi những bất
công, bóc lột, thì bây giờ sự bất công đang quay trở lại trong sự phân
chia lợi ích giữa những người có chức có quyền với những người dân
thường, giữa những người giàu với những người nghèo.
Và như một cỗ
xe, khi bộ phận này hỏng hóc mà chưa kịp sửa chữa, sự hỏng hóc ấy sẽ lan
sang những chỗ khác và làm cỗ xe ấy xuống cấp trầm trọng.
Và có lẽ phải
rất bình tĩnh, rất chân thành, rất tha thiết, rất thẳng thắn để nhìn
thẳng vào vấn đề, đối mặt với nó, chúng ta mới giải quyết được những vấn
đề ấy.
- PV: Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta không chịu đối diện...
Niềm tin về ngày đất nước thanh bình đã gắn trong tiềm thức của người nữ chiến sĩ
- Tôi kể bạn
nghe một câu chuyện do một lãnh đạo Đà Nẵng kể lại tôi nghe. Ở Đà Nẵng,
có một vị cán bộ cao cấp bị điều tra tội tham ô. Một người phụ nữ đã đến
gặp những lãnh đạo thành phố và nói rằng, bà tin vị cán bộ kia không
thể nào phạm tội được.
Trong chiến
tranh, người cán bộ đó bị giặc đuổi chạy trốn vào nhà bà. Khi địch đến,
chúng giơ súng vào chồng bà, hỏi: “Mày giấu nó ở đâu?”, bà ấy im lặng
không nói. Và “bùm”, chồng bà ấy bị bắn chết. Địch lại giơ súng vào con
trai bà, hỏi: “Mày giấu nó ở đâu?”. Bà ấy vẫn im lặng, và chúng nó giết
luôn đứa con của bà.
Bọn địch bỏ đi, vì chúng nghĩ không có người mẹ, người vợ nào dám bảo vệ một người dưng nước lã đến hi sinh cả tính mạng mình.
Chính vì thế,
người phụ nữ ấy đã tin rằng, cái người cán bộ mà vì ông ta, bà ấy đã mất
cả chồng, cả con sẽ phải có trách nhiệm sống xứng đáng với niềm tin ấy.
Bởi ông ta đã sống bằng cái giá của hai mạng người, đã sống bằng sự hi
sinh đắt đỏ và bi thương của cả gia đình bà.
Khi nghe câu
chuyện đó, tôi cứ cầu mong niềm tin của bà ấy là thật, và vị cán bộ đó
tốt nhất là hãy xứng đáng với niềm tin đó. Nhưng lỡ không may nếu người
cán bộ đó đã phản bội sự tin yêu đó, thì người đàn bà đó sẽ phản ứng
thế nào, sẽ có thể quay lưng và oán trách như nào? Tôi thực lòng không
muốn nghĩ đến chuyện đó.
Khi người dân
yêu ta, họ sẽ yêu đến tận cùng. Nhưng để đến lúc họ quay lưng lại, thì
sự quay lưng ấy cũng có thể sẽ khủng khiếp hơn cả những gì mà chúng ta
có thể hình dung. Tôi cầu mong, chúng ta sẽ thức tỉnh sớm để vẫn giữ gìn
được bản chất tốt đẹp của dân tộc này!
- Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!
------------------
* Tựa đề do VNTB đặt
Chúng ta đã thực sự tin nhân dân?
09:29 02/01/2016
Là con trai của một người Cộng sản đã hy sinh cả cuộc đời mình
cho đất nước, Tiến sĩ Lê Kiên Thành có một khao khát tột cùng, là Đảng
sẽ thực sự vững mạnh, sẽ thực sự là Đảng của dân tộc, của nhân dân, quên
mình vì lợi ích của dân tộc, của nhân dân…
Chỉ còn chưa đầy một tháng nữa, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII sẽ
diễn ra. Đến thời điểm này, Đảng đã tròn 85 tuổi, với 70 năm lãnh đạo
đất nước.
Là con trai của một người Cộng sản đã hy sinh cả cuộc đời mình cho
đất nước, tôi có một khao khát tột cùng, là Đảng sẽ thực sự vững mạnh,
sẽ thực sự là Đảng của dân tộc, của nhân dân, quên mình vì lợi ích của
dân tộc, của nhân dân…
Nhưng những đêm vắt trán nằm suy nghĩ về đất nước, tôi hiểu chúng ta
còn thiếu và sai nhiều. Một trong những cái sai đó là chúng ta chưa thực
sự biết tin dân!
Ở châu Âu, Thụy Sĩ là một quốc gia nhỏ bé, không giáp biển, không tài
nguyên thiên nhiên. Đất nước Thụy Sĩ không có ngôn ngữ chung: 40% nói
tiếng Pháp, 30% nói tiếng Đức, 20% nói tiếng Italia và một số nói thổ
ngữ…
Nhưng nước Thụy Sĩ có thịnh vượng không? Rất thịnh vượng!
Vì sao nước Thụy Sĩ thịnh vượng, với hoàn cảnh đất nước phức tạp như thế?
Đó là vì cái gì họ cũng trưng cầu dân ý. Mọi quyết định lớn nhỏ của
đất nước giàu có đó, đều được Chính phủ Thụy Sỹ thực hiện trưng cầu dân
ý, hỏi ý kiến nhân dân.
Khi Chính phủ trưng cầu dân ý có nên hạn chế lương của người giám đốc
công ty chỉ được cao hơn 12 lần so với lương của công nhân không? Người
Thụy Sĩ bảo không. Họ nói người tài đã ít, chúng ta muốn giàu thì phải
tôn trọng người tài!
Khi Chính phủ hỏi nhân dân, người Pháp làm 35 giờ một tuần, chúng ta
có nên làm theo không? Người Thụy Sĩ nói không, nước mình nghèo nên mình
vẫn phải làm 40 giờ một tuần… Nhờ đó, Chính phủ Thụy Sĩ biết nhân dân
cần gì, muốn gì. Mọi quyết định hệ trọng của đất nước đều được sự góp ý
và đồng thuận của nhân dân.
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan khi sang gặp Tổng thống Thụy Sĩ, đã
từng được Tổng thống Thụy Sĩ tiếp đón trong một bốt bưu điện, với chỉ
một cái giường, một cái bàn, hai cái ghế. Theo luật, Tổng thống nước họ
không được ở khách sạn mà phải ở nhà của bưu điện. Và người làm Tổng
thống của họ không có quyền hành gì ghê gớm mà là do các Bộ trưởng thay
nhau làm tổng thống trong vài tháng. Tổng thống chỉ đơn thuần sẽ có vai
trò báo cáo lại với nhân dân. Nghĩa là ở đất nước đó, người dân giám sát
chính phủ một cách gần như tuyệt đối và có quyền đồng ý hay phủ quyết
với mọi việc chính phủ làm.
Đó chính là ví dụ rõ nét nhất về sự giám sát và làm chủ của nhân dân.
Đó là lý do khiến Thụy Sĩ trở thành quốc gia được cả thế giới tôn trọng về những thành tựu đã đạt được.
Việc thừa nhận vai trò của người dân và lắng nghe ý kiến của người dân là bài học mà chúng ta phải học từ đất nước này!
Năm 1284, khi quân Nguyên Mông mang 50 vạn quân xâm lược nước ta lần
thứ hai, nhà Trần đã biết tổ chức Hội nghị Diên Hồng, để hỏi ý kiến nhân
dân về việc chủ hoà hay chủ chiến. Nhờ nhân dân cả nước đồng lòng đánh
giặc, nhà Trần đã đánh bại đội quân hùng mạnh nhất thế giới khi đó.
Tiến sĩ Toán - Lý Lê Kiên Thành, con trai cố Tổng Bí thư Lê Duẩn.
Nghĩa là từ cả nghìn năm trước, những người đứng đầu đất nước ta thời
kỳ đó đã biết hỏi ý kiến nhân dân, biết tin nhân dân, và biết cách để
quân dân trên dưới một lòng trong những quyết định lớn lao của dân tộc.
Và thực tế đã chứng minh, khi có được sự đồng lòng, thì một dân tộc
nhỏ bé cũng có thể trở thành vĩ đại. Cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân
tộc ta cũng mang vóc dáng đó, và cũng vì thế mà ta đã chiến thắng được
Mỹ.
Nhưng ngày hôm nay, Đảng còn tin vào sự sáng suốt của dân như đã từng tin trong quá khứ hay không?
Tôi vẫn thường nghĩ đi nghĩ lại, là tại sao, Đảng Cộng sản Việt Nam
chọn con đường theo tư tưởng của Karl Marx, lấy giai cấp công nhân là
nòng cốt, ngay từ thuở ban đầu chưa có thành công gì mà lại có thể hấp
dẫn quần chúng nhân dân ở một đất nước nông nghiệp như nước ta thuở
trước? Điều đặc biệt là Đảng đã thu hút được những người tinh túy nhất
của xã hội vào trong lòng nó, hấp dẫn được cả dân tộc tham gia vào sự
nghiệp đó.
Năm xưa, khi bà mẹ miền Bắc gửi con vào miền Nam đánh giặc, khi bà má
miền Nam đào hầm nuôi giấu bộ đội, họ - những người phụ nữ ấy, chẳng
thể hiểu thế nào là Chủ nghĩa Xã hội, cũng chẳng biết ông Karl Marx, ông
Lenin là ai. Nhưng họ vẫn theo Đảng, theo Bác Hồ. Không phải họ chọn
chúng ta vì lý thuyết đó, mà vì thời điểm ấy, ngay khi ra đời Đảng đã
đặt mục đích của giai cấp, mục tiêu của giai cấp nằm trong lòng mục
đích, mục tiêu của dân tộc.
Chưa bao giờ ở thời đó Đảng đặt vị trí của giai cấp, vị trí của Đảng
lên cao hơn mục đích, lý tưởng của cả dân tộc này. Và khi biết đặt mục
đích của dân tộc, của đất nước lên cao, không phải vì một nhóm người
nào, Đảng đã quy tụ được những người ưu tú nhất vào trong hàng ngũ của
mình và có được sự ủng hộ mãnh liệt nhất của cả đất nước này. Suốt một
thời gian dài, Đảng gần như dựa hết vào người dân, người dân nuôi, người
dân bảo vệ, người dân ủng hộ. Người Cộng sản có thể gửi gắm cả tính
mạng mình cho nhân dân khi bị kẻ thù uy hiếp.
Nhưng khi sự nghiệp lớn đã thành công, những người Cộng sản trở thành
những người lãnh đạo đất nước, họ dần dần trở thành giai cấp cầm quyền
và có lúc “nhìn xuống” nhân dân của mình.
Bác Hồ nói “người lãnh đạo là người đầy tớ của nhân dân”. Nhưng một
số người Cộng sản, khi đã trở thành quan chức, khi đã đi xe hơi, ở nhà
lầu thì họ không còn nhìn thấy phần “đầy tớ” thực thụ của họ trước nhân
dân. Tôi cho anh quyền ở cái nhà này, đi cái xe này, nhưng anh phải làm
như trâu như ngựa cho tôi. Đó mới là thân phận thực sự, là ý nghĩa thực
sự, bản chất thực sự của hai từ “đầy tớ”.
Cũng có nghĩa là, anh chỉ là người lái xe ôtô, còn người chủ thực sự
là tất cả những người mua xe đó, ngồi trong xe đó, và bất kể anh muốn
lái chiếc xe đó đi theo con đường nào, lái nhanh hay lái chậm, đều phải
có được sự đồng thuận từ chủ nhân thực sự của nó, là nhân dân.
Người lãnh đạo ở Thụy Sĩ hiểu một điều, nếu người dân không đồng ý
thì anh sẽ không được nắm quyền. Quyền đó là người dân trao cho anh, chứ
không phải tự anh sinh ra đã có.
Người Cộng sản Việt Nam cũng phải hiểu điều đó!
Nhưng tôi vẫn lo sợ rằng, cách mà chúng ta đang điều hành bây giờ có
thể đó đây phần nào đã làm lu mờ đi vai trò của nhân dân với tư cách
“làm chủ”.
Những cụm từ “Đảng soi đường”, “Đảng chỉ lối”, “Đảng dẫn dắt” mà
chúng ta vẫn hay dùng, vô hình trung đã khiến cho tất cả chúng ta đều
có cảm giác Đảng đang vượt lên cả dân tộc và làm cho vai trò rất lớn của
nhân dân phần nào bị lu mờ đi. Tôi rất lo sợ, qua năm tháng, chính
những câu chữ đó cũng đã tạo ra sự ngộ nhận cho chính những người trong
Đảng. Nhưng người Cộng sản không được phép quên rằng, Đảng sinh ra là từ
dân tộc này, tồn tại được cũng nhờ dân tộc này, vinh quang được cũng là
nhờ dân tộc này, thành công này cũng là do cả dân tộc cùng đồng lòng
trả bằng xương bằng máu. Vượt lên trên dân tộc là điều không bao giờ
được phép!
Năm nay là tròn 70 năm Đảng lãnh đạo đất nước, nhưng theo tôi nhớ
chúng ta chưa một lần trưng cầu ý dân. Phải mãi đến ngày 25/11/2015,
đúng một tháng trước, sau rất nhiều lần nâng lên đặt xuống, Luật Trưng
cầu dân ý mới được Quốc hội chính thức thông qua, trong khi đó đáng lẽ
là điều phải làm từ lâu lắm rồi!
Lẽ nào đất nước mình tốt đẹp đến mức, hùng mạnh đến mức không còn bất cứ vấn đề nào cần thiết để trưng cầu ý dân?
Tất cả chúng ta đều biết sự thật không phải vậy! Những người đứng đầu
Đảng và Nhà nước đã báo động về sự tồn vong của Đảng, sự tồn vong của
dân tộc trước sự tha hoá của một bộ phận không nhỏ đảng viên. Những ai
thẳng thắn nhất, sòng phẳng nhất đều phải đối diện với sự thật này.
Một đảng cộng sản đã từng được nhân dân che chở từ những ngày đầu,
nhờ nhân dân mà trở nên hùng mạnh, nhờ dân tộc mà trở thành Đảng lãnh
đạo, không có lý do gì lại không nhờ nhân dân hiến kế để sửa chữa những
vấn đề của mình.
Nếu không làm được việc này, chỉ có thể là vì chúng ta đã chưa thực
sự tin vào nhân dân và không hiểu được đến tận cùng sức mạnh của nhân
dân. Mà, muốn tin nhân dân, thì phải có trí tuệ, phải có lòng dũng cảm.
Tôi mãi băn khoăn một điều, tại sao ở nước ta, hình thức bầu cử là
“Đảng cử, dân bầu” mà không phải là “Đảng cử, dân cử, dân bầu”, để nhân
dân cũng được quyền trực tiếp đề cử và lựa chọn những người lãnh đạo mà
họ thực sự mong muốn?
Tôi cũng mãi băn khoăn một điều, khi Quốc hội - cơ quan đại diện cho
nhân dân giám sát Đảng và Nhà nước mà lại có đến 90% là đảng viên thì
mình sẽ hình dung được cách làm của Quốc hội như thế nào? Khi một cơ
quan của dân và không nhiều người dân ở trong đó đến như vậy, thì chúng
ta đã tin dân hay chưa? Tất nhiên Quốc hội đang phấn đấu thay đổi tỷ lệ
này trong khóa tới.
Với những chính sách ràng buộc khiến 90% đại biểu Quốc hội là đảng
viên, vô hình trung, chúng ta đã khiến Quốc hội không còn là cơ quan nói
lên tiếng nói của dân. Mà cơ quan dân cử phải là của dân, đó là lẽ
đương nhiên. Những sự ràng buộc đó chỉ chứng tỏ rằng bản thân chúng ta
không tự tin vào sự sáng suốt của người dân, chúng ta không đủ dũng cảm
để tin vào người dân như chúng ta đã từng tin trong quá khứ.
Trước đây sự sống còn của Đảng là do người dân, và tất cả những đảng
viên đều hiểu điều đó. Vậy mà giờ đây, khi vận mệnh của Đảng đang khó
khăn như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói, chúng ta lại không dám hỏi ý
kiến dân.
Trước đây khi chúng ta muốn nói điều gì với dân, chỉ dùng một tờ
truyền đơn là người dân tin. Trong khi đó hiện chúng ta có đến khoảng
800 đầu báo mà chúng ta lại lo sợ nhân dân sẽ hiểu sai về Đảng khi đọc
những tiếng nói trái chiều trên những trang báo lề trái. Đó là điều phi
lý mà tôi không cắt nghĩa được.
Lẽ nào chúng ta không đủ tự tin vào sự nhận thức của nhân dân? Vào
khả năng phân biệt đúng sai của nhân dân trước những luận điệu đó?
Thật ra có lẽ điều đáng sợ nhất hôm nay, điều mà người Cộng sản nên
lo lắng nhất hôm nay, không phải là những bài viết mà chúng ta quy kết
là “phản động”, là “chống phá” trên mạng xã hội. Điều đáng sợ là tại sao
người dân bây giờ lại ít mua báo?
Ngày xưa những bài báo làm nức lòng người nhất là trên báo Nhân Dân,
ngược lại ngày nay những tờ báo như vậy hầu như không bán được ở sạp,
vậy mà không lãnh đạo nào để ý, hay cảm thấy lo lắng, khi mà điều đó đã
đánh động rằng, tiếng nói của Đảng và dân đang ngày càng cách xa nhau.
Thế giới đang thay đổi theo từng giờ, từng ngày. Mọi thứ đều phải đổi
mới, đương nhiên dòng sông không chảy thì sẽ thành một vũng nước, con
chim không đập cánh thì sẽ trở thành một bộ xương ở gốc cây và cá nhân
một người Cộng sản, mặc dù vẫn là con người ấy, chính thể ấy nhưng vẫn
phải đổi thay từng bước. Ngày hôm nay, Đảng Cộng sản cũng cần phải thay
đổi để tránh những nguy cơ ấy.
Đầu tiên, có lẽ là học cách tin vào sự sáng suốt của nhân dân! Tiến sĩ Lê Kiên Thành
Tiến sĩ Lê Kiên Thành: Cha tôi không bao giờ biết vì sao mình là người được lựa chọn
15:36 10/07/2016
Chưa bao giờ, trong những cuộc trò chuyện, tôi hỏi Tiến sĩ (TS)
Lê Kiên Thành những câu hỏi thẳng thắn, sòng phẳng, thậm chí đôi khi có
thể khá khó chịu về cha ông - cố Tổng Bí thư (TBT) Lê Duẩn như trong
buổi trò chuyện này. Và ông đã đáp lại bằng sự thẳng thắn thậm chí còn
vượt cả sự chờ đợi của tôi.
LTS: Với 79 năm tuổi đời, gần 60 năm hoạt động Cách mạng,
26 năm liên tục trên cương vị Bí thư thứ Nhất và Tổng Bí thư Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng bí thư Lê Duẩn là nhà lãnh
đạo chính trị kiên định, nhà chiến lược xuất sắc, nhà tổ chức tài năng,
nhà tư tưởng chính trị lớn của Cách mạng Việt Nam. Hôm nay là kỷ niệm 30 năm ngày mất của cố Tổng Bí Thư Lê Duẩn
(ngày 10/7/1986 - 10/7/2016), Báo điện tử CAND xin đăng lại bài trò
chuyện với TS Lê Kiên Thành, con trai cố Tổng bí thư Lê Duẩn. Bài đăng
trên Báo ANTG cuối tháng 4-2015.
****
40 năm sau ngày đất nước thống nhất, có lẽ đây là thời điểm hợp lý
hơn bao giờ hết để hiểu thêm một phần về cố TBT Lê Duẩn và những đóng
góp của ông trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất
nước... - Phóng viên: Thời điểm năm 1957, khi Bác Hồ mời
ông Lê Duẩn từ miền Nam ra miền Bắc và được Trung ương bố trí làm Tổng
Bí thư, đã có rất nhiều người bất ngờ. Khi đó, ai cũng đinh ninh rằng
một số đồng chí có uy tín cao ở miền Bắc và là những học trò xuất sắc
của Bác sẽ được chọn vào vị trí đó. Nhưng cuối cùng, cha ông lại là
người được chọn. Có bao giờ, lúc còn sống, cha ông kể cho ông nghe về lý
do của quyết định ấy? - Tiến sĩ Lê Kiên Thành: Đối với cha tôi, đó mãi
mãi là một câu hỏi cho đến tận cuối đời. Cha tôi từng tâm sự với tôi
rằng, thật ra cho đến trước thời điểm ông ra miền Bắc năm 1957, ông là
một trong những người ít gần Bác Hồ nhất. Cha tôi hoạt động cách mạng
suốt từ Bắc vào Nam. Nhưng ông chưa từng gặp Bác trước đó cho đến lần
gặp đầu tiên sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, cha tôi trở về từ
nhà tù Côn Đảo. Ông ra Bắc gặp Bác Hồ ở Hà Nội. Trong cuộc gặp đó, ông
là người “cãi” lại Bác trong nhiều chuyện.
Cha tôi kể lúc đó Bác Hồ đã nhìn ông với ánh mắt đầy ngạc nhiên, bởi
xung quanh hầu như mọi người đều nhất mực nghe Bác. Chính cha tôi cũng
không biết, buổi gặp đầu tiên đó, ấn tượng của Bác dành cho ông là thế
nào. Nhưng với tính cách của cha tôi, ông không bao giờ ngại những điều
đó.
Năm 1948, Bác Hồ và Trung ương cử ông Lê Đức Thọ vào miền Nam chấn
chỉnh Xứ ủy Nam Kỳ vì đã có những hoạt động khác với đường lối chung của
Trung ương Đảng chỉ thị. Và có thể sẽ bố trí ông Lê Đức Thọ làm Bí thư
Xứ ủy.
Suốt 5 ngày đầu tiên khi ông Lê Đức Thọ thay Trung ương phê bình Xứ
ủy, nhiều người trong Xứ ủy xôn xao bàn tán, nhưng cha tôi ngồi im ghi
chép tất cả ý kiến của Trung ương. Hai ngày cuối cùng, ông mới nói. Ông
giải thích tất cả những việc Xứ ủy làm, tại sao làm, kết quả như thế
nào. Sau hai ngày đó, ông Lê Đức Thọ đứng lên đánh giá ghi nhận việc làm
của Xứ ủy Nam Kỳ và nói một câu cuối cùng trước khi kết thúc hội nghị:
“Tôi sẽ xin phép Bác Hồ ở lại làm phó cho anh Ba”.
Tôi không biết bằng cách nào, cha tôi, sau hai ngày nói chuyện, đã
thuyết phục được ông Sáu Búa (tên gọi thân mật của ông Lê Đức Thọ) - một
người nổi tiếng cứng rắn có thể thay đổi hoàn toàn suy nghĩ của mình.
Năm 1955, khi bộ đội và cán bộ cách mạng tập kết ra Bắc, cha tôi xin
Bác ở lại miền Nam. Ngày chia tay, cha tôi nói với ông Lê Đức Thọ một
câu: “Anh ra báo cáo với Bác, không phải hai năm, mà có thể phải hai
mươi năm nữa, tôi mới được ra gặp Bác”. Ngay thời điểm mà nhiều người ở
cả miền Nam và miền Bắc vui mừng về Hiệp định Genève, chúng ta đã biết,
sẽ không bao giờ có tổng tuyển cử, không bao giờ chỉ là hai năm. Cha tôi
nói ông đã khóc rất nhiều khi nhìn những gia đình miền Nam trước khi ra
Bắc tập kết đã giơ hai ngón tay - hẹn 2 năm sau gặp lại...
Nhưng sau khi ông Lê Đức Thọ ra, miền Bắc vướng phải sai lầm trong
cải cách ruộng đất. TBT Trường Chinh xin từ chức. Lúc đó Trung ương đang
tìm người thay thế ông Trường Chinh. Như lời ông Lê Đức Thọ sau này kể
lại thì ông chính là người đề cử cha tôi với Bác Hồ. Ông Lê Đức Thọ nói:
“Thời điểm này, với những nhiệm vụ cách mạng được đặt ra, không ai xứng
đáng hơn là anh Ba”. Có lẽ, việc cha tôi là người gắn bó hơn cả, hiểu
cách mạng miền Nam hơn cả, là một trong những nguyên nhân ông được Bác
gọi ra Bắc.
Thế nhưng lúc đó cha tôi lại nghĩ rất khác. Ông nghĩ rằng, nếu nói
ông là người hiểu miền Nam, thì tại sao không để ông ở lại? Mà ông thì
vô cùng muốn ở lại sát cánh cùng đồng bào miền Nam. Cha tôi từng kể,
thời điểm đó, ra miền Bắc là điều ông không muốn, vì cách mạng miền Nam
còn bao việc bề bộn, số phận của cách mạng miền Nam có nguy cơ đi đến
hồi chấm hết, khi mà Mỹ - Ngụy đi đến từng thôn ấp tìm diệt những cán bộ
cách mạng còn ở lại, trong khi chúng ta, vì tôn trọng cam kết Hiệp
định, đã không thể vũ trang chống lại. Nhưng dù ông tha thiết xin ở lại,
Bác Hồ lại vô cùng cương quyết. Bác đã đánh 3 bức điện vào miền Nam yêu
cầu cha tôi ra.
Sau này, cha tôi nhận ra rằng, việc ông được điều ra là đúng. Bởi vì
ra là đấu tranh để đi đến thống nhất về đường lối cách mạng miền Nam. - Liệu khi ra miền Bắc, cha ông có phải đối mặt với khó khăn?
- Thời điểm cha tôi ra, ảnh hưởng của cải cách ruộng đất đến uy tín
của Đảng vẫn còn nặng nề. Bác Hồ đề nghị cha tôi là Bí thư thứ nhất,
kiêm chức vụ khác. Nhưng cha tôi nói: “Thưa Bác, tôi đề nghị Bác bố trí
các đồng chí khác cùng gánh vác”. Sau khi tính toán kỹ, Bác cùng Trung
ương sắp xếp ông Trường Chinh làm Chủ tịch Quốc hội, ông Phạm Văn Đồng
là Thủ tướng.
Trong sâu thẳm, cha tôi nghĩ rằng, sẽ là không công bằng với ông
Trường Chinh khi một mình ông phải chịu trách nhiệm toàn bộ cho những
sai lầm cải cách ruộng đất, nhất là với những công lao, những cống hiến
của ông cho cách mạng - người vào sống ra chết với cách mạng Việt Nam
suốt từ những năm 1930 đến giờ.
Đề nghị đó của cha tôi cùng những quyết định sáng suốt của Bác đã
khiến những nguy cơ xung đột trong lãnh đạo Đảng, như một số người lo
ngại không xảy ra. Sự thay đổi lớn về vị trí lãnh đạo này đã không tạo
ra những mâu thuẫn, mà ngược lại đã khiến trong những người đứng đầu của
Đảng có sự đoàn kết cao, trừ những khác biệt trong quan điểm về đường
lối cách mạng sau này về chủ trương thống nhất đất nước bằng con đường
đấu tranh vũ trang hay không?
- Nói về ảnh hưởng của TBT Lê Duẩn với đường lối cách mạng miền
Nam, Đại tướng Lê Đức Anh đã nói, Nghị quyết 15 được xây dựng trên nền
tảng “Đề cương Cách mạng miền Nam” do cha ông soạn thảo. Có phải từ thời
điểm đó, những quan điểm khác nhau về đường lối giải phóng miền Nam của
TBT Lê Duẩn và một vài người khác đã bắt đầu thể hiện?
- Tôi được biết Nghị quyết 15 được khởi thảo từ khi cha tôi còn chưa
ra Bắc. Ông Hoàng Tùng cùng ông Võ Nguyên Giáp là người khởi thảo bản
nghị quyết đó. Nhưng nội dung Nghị quyết 15 cuối cùng chỉ được hoàn
thành sau hai năm, với không biết bao nhiêu cuộc họp và tranh luận để đi
đến thống nhất.
Nội dung quan trọng của bản Nghị quyết được đưa ra là vấn đề đường
lối giải phóng miền Nam. Trong quá trình tranh luận, một bên ủng hộ
thuyết hòa bình, cho rằng miền Bắc tự mạnh lên thì sẽ là tấm gương đầy
thuyết phục với miền Nam, và miền Nam tất yếu sẽ đi theo chúng ta và
cuối cùng đi đến thống nhất. Cha tôi thì ủng hộ quan điểm về con đường
vũ trang cách mạng và cho đó là con đường tất yếu, không thể tránh khỏi. - Và dường như đó là tư tưởng xuyên suốt của TBT Lê Duẩn trong
giai đoạn chống Mỹ. Điều gì đã khiến ông cho rằng, đó là con đường tất
yếu phải đi để giải phóng miền Nam?
- Cha tôi và nhiều người cho rằng, với một nước Mỹ mạnh như thế, một
nước Mỹ chưa từng thua trong bất cứ cuộc chiến nào trước đó, nhất là một
nước Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ 2, thì không có một lý do gì Mỹ từ
bỏ Việt Nam và để cho Việt Nam thống nhất trong hòa bình. Mà Mỹ đánh
Việt Nam, là để đánh vào thành trì của Chủ nghĩa xã hội, chứ không riêng
gì Việt Nam.
Những khác biệt về quan điểm đấu tranh đã khiến Nghị quyết 15 chỉ
được thông qua sau 2 năm trời. Tôi nghe nói, chưa từng có một hội nghị
Trung ương nào dài đến như vậy. Có những Ủy viên Xứ ủy Nam kỳ ra miền
Bắc, nghỉ lại tại chính nhà tôi, chỉ để hàng tháng chờ đợi kết quả của
hội nghị đó.
Có lần cha tôi kể, khi đó những người bạn lớn của Việt Nam đã cảnh
báo chúng ta: Khi mà các đồng chí chưa đủ lực lượng, các đồng chí tiến
hành cuộc chiến tranh miền Nam, không những không giải phóng miền Nam
được mà còn có khả năng mất luôn cả miền Bắc. Các đồng chí có biết Thế
chiến 3 có thể bắt đầu từ chính cuộc chiến này? Nghĩa là áp lực từ các
nước xã hội chủ nghĩa đối với cách mạng Việt Nam lúc đó là vô cùng khủng
khiếp. Mà chúng ta đương nhiên rất khó chiến đấu với một nước mạnh như
nước Mỹ mà không có sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em.
Khi mà trong nội bộ Đảng đã thống nhất được - sau 2 năm về đường lối
giải phóng miền Nam, thì Bác Hồ giao cho cha tôi sang thuyết phục những
người bạn lớn, nhưng họ không đồng ý việc ta sử dụng con đường vũ trang
cách mạng, vì họ đều nghĩ rằng nước Mỹ là một thế lực khủng khiếp mà
Việt Nam không thể cản được.
Có một lần cha tôi đi sang và một đồng chí lãnh đạo của nước bạn đã
nói với cha tôi trong hội đàm: “Các đồng chí sẽ không bao giờ thắng được
Mỹ. Mỹ mạnh đến mức chúng tôi còn phải ngại thì Việt Nam không có cách
gì thắng Mỹ”. Lần đầu tiên mọi người chứng kiến cha tôi đập bàn, nói rất
gay gắt với đồng chí lãnh đạo nước bạn. Cha tôi kể lại câu chuyện vui
rằng, sau khi miền Nam giải phóng, cha tôi gặp lại ông ta, mặt ông ta
buồn rười rượi, bởi ông ấy nhớ tất cả lời ông đã nói với cha tôi trước
kia.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, thế giới đã nhìn thấy hình ảnh những
con người nhỏ bé của một dân tộc nhỏ bé, nhưng yêu tha thiết đất nước
mình, chống lại một nước Mỹ hùng cường. Nên khi đó, thế giới dấy lên một
sự ủng hộ với Việt Nam. Họ cho rằng người nào ủng hộ Việt Nam chiến đấu
thì người ấy là người tốt. Đó là một thứ tình cảm rất khó cưỡng lại. Và
chính việc chúng ta làm đã ngày càng giúp nước Bạn lớn nhận ra rằng
Việt Nam có khả năng chiến thắng, hoặc ít nhất là khả năng cầm cự lâu
dài. Và khi Mỹ bị sa lầy ở Việt Nam, thì chính họ, những người bạn lớn
của chúng ta rất có lợi.
Cha tôi, với sự chỉ đạo của Bác Hồ đã bằng mọi cách, để tiến dần từng bước thuyết phục để các nước này phải ủng hộ mình. - Con đường mà cha ông và Đảng ta tin tưởng và lựa chọn là con
đường mà như chúng ta đã biết, đã giúp đất nước thống nhất. Nhưng chúng
ta phải hy sinh nhiều xương máu. Tôi từng nghe những ý kiến cho rằng sự
cứng rắn của Trung ương mà đứng đầu là Bí thư thứ nhất đã khiến cho
chúng ta phải trả giá quá nhiều cho chiến thắng đó. Tướng Westmoreland
của Mỹ cũng từng nói về điều đó.
- Những bài học và kinh nghiệm về chiến thắng giải phóng miền Nam đã
được chúng ta tổng kết nhiều rồi, tôi có nói cũng không bao giờ đủ.
Nhưng về vấn đề này, tôi nghĩ như hai miền Nam - Bắc Triều Tiên bây giờ
chưa thống nhất, thì đến sau này thống nhất, điều gì sẽ xảy ra với họ -
tôi không hình dung ra được! Liệu nó có bi thương hơn sự chết chóc mà
chúng ta từng phải gánh chịu hay không, khi mà bóng ma của một cuộc
chiến tranh nguyên tử luôn đe dọa họ? Chúng ta đều không thể nói trước
được!
Tôi cũng thường nghĩ về việc nếu đất nước mình không lựa chọn con
đường đấu tranh vũ trang, nếu chúng ta chưa thống nhất, thì điều tồi tệ
nhất có thể xảy ra là gì? Điều đó chúng ta cũng không thể mường tượng
được. Nhưng tôi tin rằng, đất nước Việt Nam thống nhất hôm nay là giấc
mơ của rất nhiều người Triều Tiên, nhất là những người phải chịu cảnh
gia đình ly tán về sự chia cắt đó.
Một lần tôi sang Hàn Quốc, một ông Đại biểu quốc hội Hàn Quốc đã nói
với tôi thế này: “Về kinh tế, các ông có thể thua chúng tôi 30 năm,
nhưng về thống nhất đất nước, chúng tôi cách các ông không biết bao
nhiêu năm!”.
Chắc chắn những người lính đã nằm lại trên chiến trường miền Nam sẽ
cảm thấy sự hi sinh của mình cho độc lập dân tộc, thống nhất đất nước,
cho một nền tảng để chúng ta dựng xây tương lai là xứng đáng và tự hào.
Nếu không có những sự hi sinh đó, có thể trong tương lai sẽ có những sự
hi sinh gấp vạn lần như vậy.
Giống như ta không thể nói vua Quang Trung đã hi sinh bao nhiêu
người để giành lại đất nước? Và đất nước này có đáng để giành lại hay
không?
Giống như ta không thể thắc mắc tại sao các vị Vua nhà Trần phải lãnh
đạo nhân dân 3 lần chống lại vó ngựa của quân Nguyên Mông mà không đầu
hàng để bảo vệ tính mạng của người dân?
Nói thế là vô cùng vô nghĩa!
Khi phải chống lại một nước Mỹ mạnh hơn chúng ta cả trăm lần, sự hi
sinh là không thể tránh khỏi. Chính người Mỹ cũng từng nói, họ nghĩ đáng
lẽ ra người Việt Nam sẽ phải đổ máu nhiều hơn thế cho độc lập này, khi
mà bom đạn Mỹ đã đổ vào miền Nam trong mấy chục năm chiến tranh như thế.
Cái suy nghĩ của nhiều người bây giờ cho rằng sự hi sinh của những
người lính cho độc lập dân tộc, là một sự hi sinh không xứng đáng - đó
là một sự phản bội, một sự vô ơn với người đã khuất.
Tôi tin Tướng Westmoreland không hiểu hết nước Mỹ. Nếu đặt nước Mỹ
trong hoàn cảnh bị xâm lược như chúng ta, ví dụ như người ngoài hành
tinh xuất hiện và đe dọa họ chẳng hạn, thì trong hoàn cảnh đó, tôi tin,
sẽ có không ít người Mỹ xả thân để bảo vệ đất nước họ. Mà, để đạt được
mục đích là chiến thắng, nước Mỹ đã từng ném hai quả bom nguyên tử xuống
nước Nhật, nên Westmoreland càng không có lý do để nói câu này. - Ông có biết có quyết định của TBT Lê Duẩn đến giờ vẫn gây tranh cãi. Như cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 chẳng hạn...
- Nói về Tết Mậu Thân năm 1968, chúng ta sẽ phải nhớ đó là thời điểm
Westmoreland đề nghị Mỹ tăng gấp đôi số lượng quân Mỹ tại Việt Nam lên 1
triệu quân và đưa chiến tranh ra miền Bắc. Khi đó Chính phủ Mỹ đang
đứng giữa hai lựa chọn hoặc là tăng quân viện trợ, tiếp tục cuộc chiến,
mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, hoặc dần rút khỏi chiến tranh Việt Nam.
Nếu chiến tranh mở rộng ra miền Bắc, nếu ta mất Hải Phòng, mất Quảng
Bình, nghĩa là mất tất cả những con đường chi viện cho miền Nam thì đó
sẽ là điều vô cùng tồi tệ. Và cú đánh Tết Mậu Thân - một trận chiến tổng
lực, đánh vào cả Đại sứ quán Mỹ và Dinh Độc Lập đã làm người Mỹ choáng
váng. Cú đánh đó đã khiến người Mỹ quyết định ngồi vào bàn đàm phán và
tính đến phương án rút quân khỏi Việt Nam. Tức là cuộc chiến đã bẻ ngoặt
sang một hướng khác hoàn toàn có lợi cho cách mạng Việt Nam.
Chúng ta đã phải trả giá không ít cho bước ngoặt ấy. Nhưng sẽ phải
đặt một vấn đề như thế này: Chúng ta sẽ trả giá cho đợt tổng tấn công
đó, hay chúng ta sẽ trả giá cho hai mươi năm nữa, hoặc thậm chí lâu hơn
mới giải phóng miền Nam? Có gì đảm bảo sự trả giá lâu dài đó sẽ bớt đắt
đỏ hơn?
Khi tôi ngồi với ông Võ Văn Kiệt trong một cuộc trò chuyện thân mật,
ông nói: “Chú nói thật với mày, chú thấy đánh Mậu Thân là xác đáng, là
phải đánh bằng được. Chú chỉ không hiểu tại sao lại đánh đợt 2, đợt 3,
vì khi đó yếu tố bất ngờ, bí mật không còn”. Thú thật tôi đã rất hoang
mang khi nghe điều đó. Nhưng tình cờ, khi xem bộ phim tài liệu về ông
Phạm Xuân Ẩn, tôi đã biết được một chi tiết. Ngay sau đợt tấn công đầu
tiên, ông Ẩn chuyển một tài liệu mật ra Hà Nội mà ông Ẩn cho rằng vô
cùng quan trọng, đó là nội dung bức điện của Johnson gửi Westmoreland,
lệnh cho bằng mọi giá không thể để xảy ra chuyện tương tự. Chính vì nắm
được bức điện đó, mà chúng ta phải có cuộc tấn công đợt 2, đợt 3. Đó là
lý do người Mỹ đồng ý ngồi vào bàn đàm phán. Việc biết được tài liệu này
khiến tôi càng tự tin hơn vào những quyết định của Trung ương và cha
tôi trong Tết Mậu Thân. Và càng hiểu điều đó, tôi càng trân trọng những
người lính đã hi sinh vì đại cục. - Và sau 20 năm trời lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, với bao
nhiêu mất mát đó, cha ông đã đón nhận tin thống nhất như thế nào?
- Lúc 11 giờ 30 phút, khi nhận được điện thoại báo tin từ Bộ Tổng
Tham mưu, cha tôi không nhảy cẫng lên vui mừng như nhiều người khác.
Nhưng khi đó ông đã gọi chú Phú - người cần vụ lâu năm của ông châm cho
ông một điếu thuốc. Đó là điếu thuốc đầu tiên ông hút sau 20 năm ra miền
Bắc. Đó là lần đầu tiên sau 20 năm, ông cho phép mình làm một điều rất
cá nhân, một điều có hại đến sức khỏe - chỉ hút một điếu thuốc mà thôi! Lan Hương (thực hiện
Tiến sĩ Lê Kiên Thành: Nếu cha tôi là người độc đoán...
17:15 03/05/2015
Tiếp theo phần I cuộc
trò chuyện với Tiến sĩ (TS) Lê Kiên Thành về người cha - cố Tổng Bí thư
(TBT) Lê Duẩn và những quyết định của ông liên quan đến cách mạng miền
Nam, Chuyên đề ANTG Cuối tháng xin giới thiệu với bạn đọc phần II cuộc
trò chuyện này, khi TS Lê Kiên Thành đã thẳng thắn đối diện và trả lời
sòng phẳng về những nhận định, cả những nhận định thiện chí và không
thiện chí về cố TBT Lê Duẩn.
- Phóng viên: Khác với một số nhà cách mạng
nổi tiếng khác, cố TBT Lê Duẩn là người không có nhiều cơ hội học hành.
Có bao giờ điều đó làm giảm sự sáng suốt của ông trong những quyết định
lớn của đất nước? - Tiến sĩ Lê Kiên Thành: Thật ra tri thức của con
người là một sự tích lũy tổng thể. Tri thức của cha tôi, không đến
nhiều từ học hành, nhưng đến một phần từ tình yêu nước, một phần từ sự
sáng tạo và từ kinh nghiệm của ông. Tri thức của ông đến từ những lần
lăn lộn từ Bắc chí Nam đấu tranh cách mạng, từ hết nhà tù này cho đến
nhà tù khác, tiếp xúc với đủ loại người, va chạm với không biết bao
nhiêu sự kiện. Và một điều quan trọng là cha tôi không bao giờ ngừng suy
nghĩ. Suốt đời ông, trong tất cả những câu chuyện với con cái, hầu như
không có những lời nói đùa. Điều mà ông luôn nghĩ, cái mà ông luôn nói
với tôi, là những câu chuyện về đất nước, về con người. Trong tất cả các
quyết định cha tôi đưa ra khi còn làm Tổng Bí thư, từ chuyện giải phóng
miền Nam cho đến chiến tranh biên giới phía Nam và chiến tranh biên
giới phía Bắc, cha tôi đã quyết định những việc đó với lòng yêu nước đến
tận cùng. - Khi nhìn lại quãng thời gian ông Lê Duẩn ra miền Bắc rồi trở
thành TBT trong suốt 26 năm, nhiều người nói ông đã tìm cách củng cố dần
dần quyền lực về mình?
- Nếu cha tôi là người như thế, thì đã không có chuyện ông năm lần
bảy lượt xin ở lại miền Nam. Sẽ không có chuyện, ông đề nghị với Bác Hồ
và Trung ương phân công ông Trường Chinh và ông Phạm Văn Đồng giữ chức
Chủ tịch Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ.
Nhưng có những người, có thể vì không đủ thiện chí, hoặc cũng có thể
vì không đủ thông tin mà không hiểu và có cái nhìn sai về lịch sử. Khi
ông Võ Nguyên Giáp được phân đi phụ trách công tác kế hoạch hóa gia
đình, nhiều người nói, cha tôi và ông Võ Nguyên Giáp có hiềm khích vì
ông Võ Nguyên Giáp là người tài. Trước hết theo tôi, việc tung tin như
thế là ý đồ của kẻ xấu nhằm chia rẽ nội bộ của Đảng. Và thực tế, theo
nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, cha tôi đâu phải là người có quyền lực
tuyệt đối. Mọi quyết định lớn của đất nước đều phải có sự nhất trí của
tập thể Bộ Chính trị cơ mà. Nhà báo Lương Bích Ngọc trong một bài phỏng
vấn cách đây mấy năm trên Báo Vietnamnet, cũng không ngần ngại hỏi tôi
về mối quan hệ của cha tôi và ông Giáp. Nguyên văn câu trả lời của tôi
là thế này: Ông Võ Nguyên Giáp đã từng đến gặp riêng cha tôi và nói:
“Cuộc đời cách mạng của tôi có được một phần lớn là nhờ anh Ba”.
Cha tôi chưa bao giờ thích thể hiện mình là người có quyền lực. Hầu
như mọi cuộc tiếp xúc quốc tế, tôi được biết, ông đều phân công cho ông
Phạm Văn Đồng. Thế nên có những giai đoạn, chính những người Mỹ cũng đã
không nhận ra rằng cha tôi mới chính là người nắm vai trò lớn trong việc
hoạch định chính sách cho cuộc chiến tranh ở miền Nam. Và sau này có
người Mỹ nói với tôi, đó là một trong những lý do khiến họ thất bại. - Nếu giờ tôi hỏi ông, cố TBT Lê Duẩn có phải là một nhà lãnh đạo độc tài, ông sẽ nói...
- Chắc chắn không! Tôi không tin, những người mang tính độc tài lại
có thể sáng tạo trong tư duy và đường lối lãnh đạo. Có thể có người nói
cha tôi độc tài. Nhưng thời điểm đó, những người xung quanh cha tôi đã
được cháy sáng hết mình nhất vì đất nước. Nếu có sự độc tài của cha tôi,
hẳn là họ không bao giờ có cơ hội đó. Nếu cha tôi là người độc tài,
liệu chúng ta có được sự đồng thuận trên dưới để đi đến ngày đất nước
thống nhất? Như người ta vẫn nói Lý Quang Diệu là nhà độc tài, nhưng
tôi không nghĩ thế. Đôi khi người ta dễ bị nhầm lẫn giữa sự cương quyết
và độc tài. Khiến Singapore trở thành một đất nước năng động như bây
giờ, mà bảo ông ấy là người độc tài thì tôi thấy thật khó thuyết phục.
Đến giờ, nếu bảo đất nước chúng ta làm cách nào để tạo ra một lớp
lãnh đạo như lớp lãnh đạo thời điểm đó với sự sáng suốt, sự hi sinh đến
tận cuối đời, có lẽ rất khó. Cứ nhìn vào gia đình họ, con cái họ, là có
thể hiểu sự hi sinh của họ.
Rất nhiều người có thể hi sinh bản thân mình nhưng không sẵn sàng hi
sinh con cái. Còn những người đó, họ đương nhiên đã hi sinh bản thân
mình, hi sinh gia đình mình, con cái mình.
- Thế tại sao, ông Lê Duẩn không bao giờ viết hồi ký, để lịch sử sau này có cơ hội hiểu rõ hơn những việc ông làm?
- Tôi cho rằng, lịch sử, dù “lười biếng”, cuối cùng cũng phải đi đến
đích. Nó có thể đến đích sớm hay đến đích muộn, nhưng thay đổi nó là
điều không thể. Tôi tin rằng tất cả những tài liệu mà Trung ương chưa
công bố, rồi đến một ngày sẽ công bố. Sẽ có ngày, chúng ta có cơ hội
được hiểu rõ hơn về quá khứ.
Tôi may mắn được sống cạnh cha tôi, hiểu ông, và tôi có thể tự tin
nói rằng cha tôi là người mà việc ông làm chỉ là bởi ông thấy đó là điều
cần phải làm. Không bao giờ ông nghĩ đến những vụ lợi bản thân mình
trong đó. Cha tôi là người không bao giờ nghĩ rằng, ở đâu đó ông phải
nhắc lại những việc ông đã làm để người ta biết đến ông và biết rằng ông
chính là người làm việc đó chứ không phải ai khác. Chính điều đó làm
tôi tự tin rằng cái đó sẽ mãi là của ông .
Tôi nhớ có những lần sau khi nghe được những câu chuyện về lịch sử từ
cha tôi, tôi đã nhiều lần thắc mắc với ông: “Nếu những chuyện như vậy
mà mọi người không biết đến thì có xác đáng không?”. Cha tôi trả lời:
“Cái quan trọng nhất là mình đã làm chuyện đó và mình đã được làm chuyện
đó”. Với ông, chỉ cần được làm việc ông muốn làm, đó đã là hạnh phúc.
Cha tôi cứ nhắc đi nhắc lại mãi về câu chuyện một người bạn tù trước
khi chết đã trăng trối với ông lúc còn ở trong nhà tù Côn Đảo: “Tao muốn
làm cái gì cho Đảng quá. Mày có thể mặc cái áo này cho tao không? Cứ để
tao chết trần truồng”. Nhưng cha tôi không chịu, dù với ông, cái áo đó,
vào những năm tháng tù đày thiếu thốn đó, là vô cùng quý giá. Đó là câu
chuyện mà ông nhớ mãi. Nó nhắc ông mãi mãi nhớ rằng, được hi sinh cho
Dân tộc, cho Đảng là một hạnh phúc, chứ không phải là công lao. Người
Cộng sản chân chính thì không cần kể công với đất nước. Vì rất nhiều
người muốn hi sinh mà không được hi sinh. - Vậy một người như cha ông, chỉ cần làm những gì mình cho là
đúng và không bao giờ giải thích hay kể công, sẽ nghĩ gì khi nghe những
lời không thuận tai từ dư luận, vì như tôi được biết, không phải bây giờ
mà ngay từ thời đó đã có một số người không đồng tình với cha ông trong
nhiều chuyện?
- Sau giải phóng, cuộc sống ở hai miền Nam - Bắc rất khó khăn. Có
những người dân đứng trước cổng gia đình tôi nói: “Ông Duẩn ơi, người ta
ức hiếp tôi này”. Hồi đó tôi đi chơi ở nhà một số người bạn, có những
chuyện rất đau lòng. Ông bà, bố mẹ bạn tôi biết tôi là con ai, cứ cố
tình nói bóng gió: “Dân tình khổ lắm! Có ai biết không?”. Tôi biết họ cố
tình nói để cho tôi nghe. Tôi có mang điều đó về kể với cha tôi, và ông
nói: “Những cái khó khăn nhất của dân tộc qua rồi. Những cái như bây
giờ sẽ qua”.
Khi tôi quyết định ứng cử đại biểu quốc hội cách đây vài năm, tôi có
đến hỏi ý kiến chú Trần Phương, nguyên Phó Thủ tướng. Chú ấy cho tôi lời
khuyên và kể cho tôi câu chuyện giữa chú và cha tôi rằng, có lúc chú
đến gặp ông, nói cho ông nghe nhiều chuyện trái tai, thậm chí đọc cho
ông nghe cả bài vè về ông, nhưng ông rất bình thản. Nghe xong cả buổi
sáng, ông bảo chú về ăn trưa, đến chiều lại đến nói tiếp. Thú thật, chú
ngạc nhiên với sự bình thản của ông. - Ông nói, việc ở cạnh cố TBT Lê Duẩn khiến cho ông có cơ hội
nhìn thấu suốt và hiểu cha mình hơn rất nhiều người khác. Nhưng ông có
nghĩ, sự gần gũi và mối quan hệ ruột thịt đó cũng có thể khiến ông nhìn
cố TBT Lê Duẩn với một sự thiên vị nào đó?
- Tôi luôn cố gắng tách cá nhân mình ra để nhìn ông như một nhân vật
lịch sử, chỉ khác là nhân vật lịch sử đó tôi được tiếp xúc nhiều hơn mọi
nhân vật khác. Nếu tôi muốn tự huyễn hoặc mình, tôi sẽ không mất công
tìm tòi những điều liên quan đến ông trong suốt cuộc đời mình.
Mặt khác, cũng có thể có những lúc tình cảm ruột thịt sẽ chi phối ở
một mức nào đó những suy nghĩ của tôi về ông. Cái đó tôi luôn cố tránh,
nhưng không dám khẳng định là tuyệt đối không có. Tôi vẫn nhìn thấy
những thứ mà từ đó giúp tôi thấy cha tôi không phải người toàn bích.
Nhưng nó khiến tôi hiểu, cha tôi dù sao cũng là một con người bình
thường, có đúng, có sai, chứ không tuyệt đối hoàn hảo.
Nhưng có một điều khiến tôi tin vào những gì mà tôi nhận định về ông,
là một người cha, có thể giấu giếm con người mình lúc ra ngoài xã hội,
nhưng không thể lừa dối con cái mình. Và tôi đã quan sát ông cả cuộc
đời. Nên tôi tin vào sự cảm nhận của tôi về ông.
Ảnh: Minh Trí - Đức Sơn
- Đến giờ vẫn không ít người cho rằng, cha ông, cố TBT Lê Duẩn là
người phải có trách nhiệm với cuộc chiến tranh biên giới, cũng như
những khó khăn, sai lầm mà ta mắc phải trước đổi mới. Và có người nói
đại ý, nếu ông Lê Duẩn chỉ dừng lại ở thời điểm năm 1975, thì ông đã mãi
mãi là anh hùng. Ông nghĩ gì về ý kiến ấy?
- Cũng giống như khi bạn hỏi sẽ là đúng hay sai nếu ta chọn con đường
hòa bình, chứ không phải chọn con đường đấu tranh vũ trang ở miền Nam.
Tôi cũng sẽ lại lật ngược vấn đề thế này: Nếu chỉ dừng lại ở 1975, mà
không giúp nhân dân Campuchia giải phóng dân tộc mình khỏi họa diệt
chủng của Pôn Pốt, không thực hiện cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở
biên giới phía Bắc, thì bây giờ đất nước sẽ thế nào? Tôi cần phải nhắc
lại rằng khi đó, Campuchia, với sự hỗ trợ từ nước ngoài, đã gây ra cuộc
chiến tranh xâm lược ở các tỉnh biên giới phía Nam và đe dọa, phá hoại
thành quả của cuộc kháng chiến mà chúng ta đã phải hi sinh xương máu 20
năm trời mới giành được. Nên những nhận định của Huy Đức trong Bên thắng
cuộc (chắc là bạn nhắc đến nhân vật này), tôi chỉ thấy sự thiên kiến và
thiếu hiểu biết mà thôi.
Cha tôi từng nói với tôi, đến 60 tuổi, ông sẽ nghỉ và ở nhà viết
sách. Nhưng giải phóng miền Nam xong là lúc đất nước bộn bề, ngổn ngang,
kinh tế khó khăn. Sau đó xảy ra chiến tranh biên giới phía Nam, chiến
tranh biên giới phía Bắc. Liên Xô và các nước Đông Âu thì rơi vào khủng
hoảng. Đủ mọi sóng gió đến với chúng ta vào đúng thời điểm ấy. Lúc này
cha tôi hiểu phải tìm ra một phương thức tồn tại mới cho xã hội mà từ
sau giải phóng, ông đã nhận ra là những cái cũ đã không còn đúng, không
còn phù hợp. Trong một bài viết trên Tạp chí Xưa và Nay, nhà nghiên cứu
kinh tế Đặng Phong đã công bố những tư liệu về việc ngay từ những ngày
đầu tiên sau giải phóng, khi Đại hội IV diễn ra năm 1976, cha tôi đã
hình thành tư duy đổi mới. Bác Lê Đức Anh trong một bài viết cách đây
vài năm, cũng đã nói về tư tưởng đổi mới của cha tôi từ thời điểm đó.
Khi ấy, những ý kiến đổi mới của cha tôi đã được đưa vào văn kiện dự
thảo. Chỉ tiếc là ông đã không thể làm được việc đó ngay tức thì, vì
không dễ để có thể ngay lập tức thay đổi tư duy của cả một xã hội.
Khi ông Kim Ngọc làm khoán hộ ở Vĩnh Phúc, một đồng chí lãnh đạo chỉ
đạo viết một bài phê bình trên Báo Nhân dân. Cha tôi đọc xong bài báo,
đã ném xuống bàn, trước mặt ông Trần Quỳnh, nét mặt vừa châm biếm, vừa
buồn rầu: “Các anh phải đọc bài báo này đi!”. Nhiều người có thể nghĩ
cha tôi không ủng hộ ông Kim Ngọc. Nhưng ít ai biết hai ông đã ngồi ăn
cùng nhau và nếu không có sự ủng hộ từ cha tôi, ông Kim Ngọc đã không
còn là Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc.
Có thể có người nghĩ cha tôi là người nắm chức vụ cao nhất trong
Đảng, tại sao lại không có quyền quyết định? Nhưng ông từng nói với tôi:
“Đời ba đi làm cách mạng như đi làm dâu trăm họ. Đôi khi phải biết
nhượng bộ người này điều này, để họ đồng ý với mình ở những việc khác
lớn hơn mà có lợi cho đất nước, cho dân tộc. Có những lúc, chúng ta
không còn cách nào khác là phải chờ đợi”. Theo tôi hiểu, nhiều người đã
ủng hộ ông trong sự nghiệp thống nhất đất nước, thì bây giờ, ông phải
chấp nhận nhượng bộ họ, chờ đợi họ thay đổi, để giữ được sự đoàn kết
trong nội bộ. Đó cũng là một quy luật bình thường trong đổi mới tư duy
thôi.
Có một sự thật rất buồn cười là bây giờ chúng ta phê phán bao cấp,
nhưng ngày đó, những người muốn giữ bao cấp nhất chính là các cán bộ
công chức nhà nước - những người sống bằng chế độ bao cấp. Nhiều người
phê phán cuộc cách mạng Giá - Lương - Tiền. Nhưng giống như trận đánh
Mậu Thân 1968 mà chúng ta đã phải hi sinh rất nhiều, Giá - Lương - Tiền
cũng đã làm được một điều quan trọng là bẻ ngoặt tư duy của xã hội Việt
Nam, buộc họ phải chấp nhận việc xóa bỏ chế độ mậu dịch. Liên Xô lúc đó
đã rất cản trở kế hoạch này của chúng ta, vì họ cảm nhận được chúng ta
đang thay đổi, đang đi theo một con đường khác. Đó là điều họ không hề
mong muốn. Nhưng chúng ta vẫn quyết tâm làm đến cùng.
Đúng là chúng ta có thể đổi mới kinh tế sớm hơn, nhưng với những khó
khăn mà chúng ta phải đối mặt trong giai đoạn đó, thì việc mất 11 năm để
chính thức bắt đầu đổi mới, tôi nghĩ nó không phải là một quãng thời
gian dài với lịch sử một dân tộc.
Và, những người trung thực nhất với chính mình, nếu để viết ra một
kịch bản khác cho quãng thời gian 11 năm sau giải phóng, với hoàn cảnh
của đất nước khi đó, có thể sẽ có một kịch bản tốt hơn một chút, nhưng
tốt hơn, hay hơn rất nhiều thì tôi tin là không có.
Ngay cả Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, khi họ muốn thay đổi nền kinh tế
của họ, họ đã phải đi bước đầu tiên là thay đổi chính thể. Và kể cả khi
đã thay đổi chính thể rồi, giá cả của họ cũng đã tăng lên cả nghìn lần.
Tổn hại mà họ phải đánh đổi cho sự đổi mới là không kể xiết. - Người ta đều mặc định khi ông là con trai Tổng Bí thư, gia đình
ông là gia đình danh giá của Việt Nam thì bản thân gia đình ông sẽ có
những quyền lợi mà nhiều người khao khát. Thậm chí, còn có những lời đồn
về việc, cố TBT Lê Duẩn đã để lại cho con trai mình tài sản khá lớn.
Tôi thực sự muốn biết, ông nghĩ gì về những lời đồn đó? Và sự thực thì
gia đình ông được - mất gì từ vị trí mà cha ông đã nắm giữ?
- Tôi không bao giờ để ý đến những tin đồn ấy. Vì nó đến từ những
người tôi chưa bao giờ gặp mặt. Những người đồng đội của tôi trong quân
ngũ, những người bạn của tôi, những người từng cộng sự, làm ăn với tôi
bao năm qua mà nói như thế mới là đáng lo. Với những người đã chứng kiến
tôi từng phải đi ra chợ trời bán cả bộ quần áo mới của mình để mua sữa
cho con, họ sẽ hiểu tôi đến tận cùng. Và đừng nói với tôi, chỉ cần những
người đó thôi cũng đã thấy tin đồn đó kệch cỡm đến mức nào.
Còn mất mát? Khi đó, vì sự nghiệp cách mạng, mẹ tôi phải viết đơn xin
ly dị cha tôi, nhưng Trung ương không đồng ý. Tuy nhiên, bà đã phải
chấp nhận sống xa chồng con trong mấy chục năm trời. Tôi chứng kiến sự
đau khổ của bà trong suốt mấy chục năm trời đằng đẵng và thương bà vô
hạn vì bà đã phải hi sinh hạnh phúc của mình cho sự nghiệp mà cha tôi
theo đuổi.
Anh em chúng tôi, cũng phải chịu nhiều thiệt thòi. Nhưng việc được
làm con của ông là cái được lớn nhất của chúng tôi. Cha tôi trước khi
mất có nói với tôi rằng: “Ba chết đi có lẽ không để lại cho con một đồng
xu nào. Có chăng là để lại cho con cái tiếng của ba”. Sau này tôi
nghiệm ra rằng điều đó đúng vô cùng. Tôi đi làm kinh tế tư nhân từ hai
bàn tay trắng. Cha tôi, đúng như lời ông nói, đã chẳng để lại một chút
tiền bạc nào. Nhưng sau này, kể cả khi cha tôi đã mất mấy chục năm, thì
cũng có những đối tác làm ăn, nếu vô tình biết tôi là con trai ông Lê
Duẩn, tức khắc họ dành cho tôi sự kính trọng, tin tưởng, và tôi không
giấu giếm một điều rằng, điều đó đã cho tôi nhiều cơ hội và thành công
trên thương trường. Và đó là điều tôi vô cùng hạnh phúc và tự hào! - Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này! Lan Hương (thực hiện)
Con trai cố Tổng Bí thư Lê Duẩn: 'Lịch sử đã không công bằng với ông'
Thiếu tướng Lê Kiên Trung, Phó Tổng cục
trưởng Tổng cục An ninh, Bộ Công an đã có những chia sẻ thẳng thắng về
cha mình - cố Tổng Bí thư Lê Duẩn.
Thiếu tướng Lê Kiên Trung
Là Thiếu tướng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, Bộ Công an, nên
khi nhận lời trò chuyện với Chuyên đề An ninh thế giới Giữa tháng –
Cuối tháng về Tổng Bí thư Lê Duẩn nhân kỷ niệm 30 năm ngày mất của ông,
tôi đã nghĩ Tướng Lê Kiên Trung khó mà thẳng thắn, sòng phẳng với những
câu hỏi mà tôi sẽ hỏi anh. Nhưng sau buổi trò chuyện 2 tiếng đồng hồ,
tôi biết mình đã vội vàng khi dự đoán thế! Cha tôi quyết đoán, nhưng không bất chấp - Thưa Thiếu tướng Lê Kiên Trung, khác với nhiều người thân trong
gia đình mình, anh hầu như chưa từng xuất hiện trên báo chí và chia sẻ
những câu chuyện về Tổng bí thư (TBT) Lê Duẩn?
Thực ra tôi đã từng viết một bài trên Báo An ninh thế giới
nhiều năm trước với những câu chuyện của tôi về cha. Nhưng đặc thù công
việc khiến tôi không phải lúc nào cũng thấy mình nên xuất hiện trên mặt
báo để chia sẻ những suy nghĩ trong lòng. - Thế thì, khi nhận lời trò chuyện với Chuyên đề ANTG Giữa tháng -
Cuối tháng chúng tôi, với cương vị mà anh đang nắm giữ, anh có ngại
ngần nếu tôi hỏi anh những câu hỏi mà bao năm qua, nhiều người vẫn cho
là nhạy cảm, về TBT Lê Duẩn?
Bạn hãy cho tôi một lý do để một người con phải ngại ngần, né tránh
khi nói về cha mình?! Đặc biệt, một con người của dân tộc, của nhân dân,
hết đời cống hiến hy sinh vì sự nghiệp của đất nước. - Vậy thì, tôi muốn bắt đầu với một điều giản dị. Có phải khi còn
bé, anh là người con được gần gũi với TBT Lê Duẩn và được ông thương
yêu, cưng chiều nhiều nhất? Ký ức của anh về người cha chính khách có gì
khác với ký ức của những đứa con bình thường?
Ký ức bao trùm trong tôi về ba có lẽ là ký ức về tình thương. Nói là
ba thương tôi hơn những anh chị em khác cũng không hẳn là đúng. Tôi
không dám nói ba tôi dành cho tôi nhiều tình thương nhất, nhưng tôi may
mắn là đứa con được gần ba nhiều nhất so với các anh chị trong nhà.
Thật ra ba tôi đi hoạt động cách mạng từ sớm, thời gian ông gần gũi
gia đình, con cái gần như không có. Các anh chị tôi, từ lúc đẻ ra cho
đến khi trưởng thành, hầu hết đều chỉ được gặp ba khi ông ghé thăm nhà.
Tôi may mắn sinh ra khi ba tôi đã ra Hà Nội, trong bối cảnh miền Bắc đã
được hưởng hoà bình.
Mẹ tôi khi đó đang học ở Trung Quốc, tôi lại là con út trong nhà, nên
ba tôi, với tâm trạng của một người cha “gà trống nuôi con”, thương tôi
phải xa mẹ, đã luôn dành cho tôi tình yêu thương đặc biệt.
Dù là TBT và phải đảm đương trách nhiệm lớn lao với việc giải phóng
miền Nam, thống nhất đất nước, nhưng ông đã luôn để tôi là “cái đuôi”
của ông trong suốt nhiều năm trời. Tôi ăn cùng ba, quanh quẩn bên ông
khi ông làm việc và tôi ngủ cùng giường với ông cho đến tận khi học lớp
7, lớp 8. - Điều đặc biệt nhất mà anh cảm nhận ở ba mình?
Cũng là tình thương! Nhiều người nghĩ với vị trí người lãnh đạo đất
nước, ba tôi là người lạnh lùng, cứng rắn, nhưng thực ra, ông vô cùng
tình cảm với người xung quanh.
Không chỉ là tình cảm của người cha dành cho con, tình cảm của người
chồng dành cho vợ, mà còn là tình cảm giữa người với người. Ba tôi coi
những người giúp việc cho ông như người thân trong nhà. Ông cũng là
người mà nếu đi ra đường, gặp một người nghèo, sẽ dễ dàng rơi nước mắt.
Nhiều người đi làm cách mạng bắt đầu từ lý tưởng, từ lý trí, nhưng ba
tôi đi làm cách mạng bắt đầu từ tình thương.
Khi còn nhỏ, có lần bà nội tôi nói với ba tôi: “Đến bao giờ nhà mình mới có một nồi khoai như nồi khoai nhà bên cạnh?”.
Ông kể ông đã khóc khi nghe câu nói ấy, dù khi đó ông chỉ là một đứa
trẻ nhỏ đang ngồi trong lòng mẹ. Ông thương xót cái ao ước nhỏ bé đến
tội nghiệp của bà nội tôi bao nhiêu thì ông thấy căm giận chế độ đã tạo
ra cả một dân tộc nghèo khổ, với một lớp người mà ước mơ của họ chỉ là
một nồi khoai để ăn bấy nhiêu. Và vì muốn thay đổi điều đó, ông đã đi
làm cách mạng.
- Anh nói, TBT Lê Duẩn đi làm cách mạng từ tình thương, nhưng
trong một giai đoạn lịch sử dài sau này, khi nhắc về TBT Lê Duẩn, người
ta vẫn cho rằng ông rất độc đoán trên cương vị của mình khi ông còn nắm
quyền?
Tôi vẫn luôn biết có những người nhìn ba tôi theo cách đó. Nhưng, như
những gì tôi đã được chứng kiến về cha mình, thì cảm nhận của tôi hoàn
toàn khác. Năm 1954, sau Hiệp định Geneve, ba tôi đưa mẹ tôi lên tàu ra
miền Bắc, còn ông thì bí mật ở lại miền Nam.
Trước lúc chia tay, ông nói với bà: “Anh thương vợ con anh như thế
nào, thì anh cũng thương đồng bào, đồng chí của mình như thế, cho nên
anh phải ở lại, cùng với đồng bào đồng chí miền Nam chiến đấu để giành
độc lập thực sự”.
Và nếu không phải vì Bác Hồ đã kiên quyết yêu cầu ba tôi ra miền Bắc
năm 1957 để nhận nhiệm vụ mới, có lẽ ba tôi sẽ vẫn ở lại miền Nam, dù có
lẽ ông hiểu, khi Trung ương gọi ông ra miền Bắc, có nghĩa là ông sẽ
được tin cậy giao những vai trò quan trọng hơn trong bộ máy lãnh đạo đất
nước. Một con người độc đoán, sẽ khó có tình cảm như thế với đồng bào,
đồng chí.
Một điều nữa, trong cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài 20 năm mà mỗi
gia đình ở cả phía bên này và phía bên kia đều phải gánh chịu nỗi đau
mất mát, cộng thêm với sự khác biệt về ý thức hệ, thì sự thù hận là khó
tránh khỏi.
Trong nhiều cuộc chiến tranh, phe thắng cuộc đã có sự trả thù với
những kẻ thất bại. Nhưng sau khi giải phóng xong, Đảng ta mà người đứng
đầu là ba tôi đã đưa ra mệnh lệnh: Bằng bất cứ giá nào cũng không được
động chạm đến những người thuộc chính quyền cũ. Và, thay vì một cuộc tắm
máu như báo chí nước ngoài đã dự đoán trước giải phóng, những người
thuộc chính quyền cũ chỉ bị đưa đi cải tạo, giáo dục…
Tôi nghĩ ba tôi là người quyết đoán. Nhưng sự quyết đoán của ông nằm
trong chừng mực của một người làm chính trị có cân nhắc trước sau, chứ
không phải bất chấp.
Ông vẫn nói, làm chính trị là phải biết chờ đợi. Vì có những việc dù
mình nghĩ đúng, nhưng mình vẫn phải chờ đợi sự đồng lòng từ những người
xung quanh. Chính từ những việc đó, mà sau này, đã có những người hiểu
không đúng hoặc đánh giá không chính xác về phương pháp và cách làm của
ông.
Nhiều người phê phán cha tôi vì việc duy trì nền kinh tế bao cấp quá
lâu. Nhưng ngay sau khi giải phóng xong, khi mà nhiều người trong chúng
ta vẫn còn coi Mỹ là kẻ thù, ba tôi đã giao cho Bộ trưởng Ngoại giao khi
đó là ông Nguyễn Cơ Thạch sang thăm Mỹ, bằng mọi giá thiết lập quan hệ
ngoại giao với Mỹ.
Ba tôi đã muốn giữ nguyên nền kinh tế thị trường ở miền Nam, song
song với nền kinh tế bao cấp ở miền Bắc, vì chính ông cũng muốn so sánh
ưu điểm và nhược điểm của hai nền kinh tế đó. Vì ba tôi và các đồng chí
của mình khi đó đều được giáo dục và trưởng thành trong hệ thống lý luận
về XHCN theo mô hình Xôviết của Stalin.
Nhưng ông cảm nhận được, nền kinh tế thị trường có những ưu điểm của
nó, và ông muốn có cơ hội để so sánh giữa hai mô hình đó, để tìm được
con đường tốt nhất cho đất nước.
Dù chuyện này chưa bao giờ được ông công khai trong các nghị quyết
của Bộ Chính trị, nhưng trong chỉ đạo của ba tôi và các đồng chí lãnh
đạo chủ chốt của Đảng với ông Nguyễn Cơ Thạch trước chuyến thăm Mỹ sau
giải phóng, tôi biết rằng đã có nội dung đó. Tiếc là cuộc đàm phán đó đã
không thành công. Vì khi đó, nhiều người bên phía chúng ta vẫn còn coi
Mỹ là kẻ thù, và bản thân người Mỹ cũng có suy nghĩ ngược lại.
Với họ, việc một nước lớn như Mỹ thất bại trong cuộc chiến với một
dân tộc nhỏ bé như Việt Nam đã làm tổn thương nặng nề lòng tự tôn của
họ. Không thể dễ dàng để hai nước có thể ngay lập tức nối lại quan hệ
ngoại giao, bình thường hoá quan hệ. Thậm chí, sau đó Mỹ còn cấm vận
Việt Nam nhiều năm liền. Nên cuối cùng, chuyến đi của ông Nguyễn Cơ
Thạch đã thất bại. - Cứ cho là chuyến đi đó thất bại, thì tôi nghĩ, vẫn có nhiều
cách để duy trì và phát triển mô hình kinh tế thị trường ở miền Nam song
song với mô hình bao cấp ở miền Bắc, nhưng như chúng ta đã biết, ngày
đó, nền kinh tế bao cấp đã được nhân rộng ở cả hai miền. Tại sao ba ông
không làm điều đó?
Bối cảnh lịch sử lúc đó có lẽ đã khiến ba tôi không dễ thực hiện khát
vọng và mục đích của mình. Khi mà Mỹ từ chối quan hệ ngoại giao với
Việt Nam, và bản thân những nhà lãnh đạo trong nước thời đó đều tin theo
hệ thống xã hội chủ nghĩa mô hình Xôviết của Stalin, thì việc đưa ra
một ý tưởng như thế là trái với lý tưởng của nhiều người.
Tôi vẫn nhớ hồi đó, khi Nam Tư đưa ra khái niệm kinh tế thị trường,
họ đã bị khai trừ ra khỏi hệ thống các nước XHCN và bị xem như một nước
xét lại. Cho nên, không thể dễ dàng bày tỏ quan điểm của mình và thuyết
phục những người khác cùng đồng lòng với quan điểm đó, nhất là trong một
giai đoạn nhạy cảm như đất nước ta khi đó.
Mà anh chỉ có thể thực hiện nó âm thầm ở chỗ này, chỗ kia, cho đến
lúc lý thuyết của anh chứng minh được là nó có sức sống, là nó thuyết
phục, là thành công, thì đến lúc đó, anh mới có thể quay lại thuyết phục
những người khác. Vì ba tôi hiểu nếu ngay lập tức thay đổi có thể sẽ
khiến sự chia rẽ trong Đảng. Và hơn lúc nào hết, trong điều kiện đất
nước lúc đó Đảng ta càng cần phải coi trọng sự đồng lòng, thống nhất. - Bây giờ là thời điểm TBT Lê Duẩn đã mất được 30 năm. Vài ngày
trước, trong ngày giỗ lần thứ 30 của TBT, tôi có đến gia đình ông và
nhìn thấy có những lẵng hoa gửi đến từ các Ủy viên Bộ Chính trị và một
số đồng chí lãnh đạo Đảng Nhà nước đã đến dâng hương tại số 6 Hoàng
Diệu, ngôi nhà TBT Lê Duẩn sống lúc sinh thời. Vài năm trở lại đây, báo
chí đã nhắc lại về vai trò của ông Lê Duẩn trong giai đoạn ông làm lãnh
đạo. Nhưng có một thời kỳ dài, người ta ít nhắc đến TBT Lê Duẩn. Anh có
biết tại sao?
Bạn hỏi không đúng chỗ rồi. Và cũng không hẳn như vậy! Nhưng tôi nghĩ
thế này, chúng ta không thể không thừa nhận, trong Đảng Cộng sản Việt
Nam vẫn luôn tồn tại những sự khác biệt về tư tưởng. Ví dụ như quan điểm
cải cách ruộng đất, quan điểm về chiến tranh cách mạng miền Nam, quan
điểm về thống nhất đất nước, quan điểm về việc áp dụng mô hình kinh tế
bao cấp hay thị trường, quan điểm về đường lối ngoại giao…
Cho nên việc có người này hay người khác ủng hộ hay không ủng hộ,
đồng tình hay không đồng tình với đường lối của cha tôi khi ông còn nắm
quyền có lẽ cũng là chuyện bình thường.
Ba tôi kể, ngay thời kỳ chiến tranh giải phóng miền Nam, có những
người trong chúng ta sợ Mỹ, có những người thân với Liên Xô, có những
người thân với Trung Quốc. Thế nên có nhiều chuyện, Bộ Chính trị vừa họp
xong, nước này nước kia đã tìm cách can thiệp. Nhiều người không muốn
chúng ta giải phóng miền Nam đâu. Nhưng Đảng ta và ba tôi quyết tâm làm
việc đó đến cùng.
Một trong những điều buồn nhất của ba tôi trong cuộc đời làm cách
mạng của ông chính là Hiệp định Geneve. Ông từng kể ông đã khóc rất
nhiều khi đồng bào miền Nam đổ ra đường, chia tay con em mình ra miền
Bắc, họ giơ hai ngón tay, hẹn hai năm sau Tổng tuyển cử, hẹn hai năm sau
gặp lại.
Nhưng ba tôi hiểu, sẽ không bao giờ là hai năm, sẽ không bao giờ có
Tổng Tuyển cử… Và việc rút toàn bộ lực lượng vũ trang ra miền Bắc sẽ tạo
điều kiện cho chính quyền Ngô Đình Diệm củng cố sức mạnh ở miền Nam,
điều đó đồng nghĩa với việc rồi đây miền Nam sẽ còn đổ máu. Mà điều ba
tôi đau xót chính là, chúng ta có khả năng giải phóng miền Nam, nhưng đã
phải chấp nhận ký vào Hiệp định Geneve một cách đầy thiệt thòi vì sự
tính toán của các nước lớn.
Cho nên khi cử ông Lê Đức Thọ đi đàm phán ở Paris, Bộ Chính trị và ba
tôi giao cho ông Lê Đức Thọ toàn quyền quyết định, nhưng với điều kiện:
“Anh đàm phán cái gì thì đàm phán, nhưng có hai vấn đề không bao giờ
phải bàn: quân đội miền Bắc ở lại miền Nam và Mỹ rút quân ra khỏi Việt
Nam”. Nghĩa là ba tôi và Đảng ta cho ông Lê Đức Thọ được quyền chủ động
trên bàn đàm phán, nhưng có những điều ông không bao giờ nhân nhượng. Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc - Tôi từng nghe kể TBT Lê Duẩn đã báo cáo với Bác Hồ: “Chúng ta
muốn thắng Mỹ thì nhất định không được sợ Mỹ, nhất định không sợ Trung
Quốc, nhất định không được sợ Liên Xô…”? Anh có nghĩ ba mình là người
cứng rắn, khi ông không bao giờ sợ các nước lớn?
Ba tôi không sợ Mỹ, vì ông hiểu Việt Nam có thể thắng Mỹ. Còn chuyện không sợ Trung Quốc là một câu chuyện dài.
Ba tôi là người yêu thích lịch sử. Ông đọc đi đọc lại những câu
chuyện về lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Và vì thế, ông biết,
trong những cuộc chiến tranh kéo dài suốt mấy nghìn năm đất nước tồn
tại, ngoài hai lần chống Pháp và Mỹ, lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc
Việt Nam là lịch sử chống quân xâm lược từ phương Bắc kéo xuống.
Và dù trong thời gian ngắn hay dài, thì cuối cùng, chúng ta cũng đều
đánh đuổi được giặc ngoại xâm phương Bắc. Dân tộc này trong lịch sử chưa
từng sợ phương Bắc, và tôi nghĩ ba tôi thấm nhuần truyền thống ấy.
Từ khi còn rất sớm, ba tôi đã nhận ra, dù họ viện trợ cho chúng ta
rất nhiều, dù tiếng là hai nước Cộng sản anh em, thì họ vẫn mang những ý
đồ không khác gì những triều đại trước đây.
Ngay cả trong các cuộc gặp với ba tôi, một lãnh đạo của bạn đã nói:
“Các đồng chí, tôi muốn nói cho các đồng chí biết điều này. Các đồng chí
không cần làm cách mạng, tôi là chủ tịch của 500 triệu nông dân đang
thiếu đất, và tôi sẽ mang một đạo quân tiến xuống khu vực Đông Nam Á”.
Khi nghe câu nói đó ba tôi đã cảm nhận ra ngay ý đồ của họ và dặn
lòng mình luôn phải cảnh giác với dã tâm ấy. Ba tôi từng viết về một
cuộc đối thoại giữa ông và một lãnh đạo của họ (xin phép không nói rõ
tên của nhà lãnh đạo đó - xin đổi là ông ta - PV) như thế này: “Ông ta hỏi tôi: Ở Lào, có bao nhiêu cây số vuông đất? Tôi (Lê Duẩn) trả lời: Khoảng 200.000 cây số vuông. Ông ta hỏi: Dân số của họ bao nhiêu? Tôi trả lời: Khoảng 3 triệu! Ông ta nói: Như vậy là không nhiều! Tôi sẽ đưa dân tôi đến đó, thật mà! Ông ta hỏi: Có bao nhiêu cây số vuông đất ở Thái Lan? Tôi trả lời: Khoảng 500.000 cây số vuông. Ông ta hỏi: Có bao nhiêu người? Tôi trả lời: Khoảng 40 triệu! Ông ta nói: Một tỉnh của nước tôi có 500.000 cây số vuông, nhưng
có tới 90 triệu người. Tôi cũng sẽ đưa một số người dân của tôi tới Thái
Lan!
Đối với Việt Nam, họ không dám nói về việc đưa người tới theo cách
này. Tuy nhiên, ông ta nói với tôi: “Đồng chí, có đúng là người của các
đồng chí đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên?”. Tôi nói: “Đúng”. Ông ta
hỏi: “Có phải cũng chính người của đồng chí đã đánh bại quân Thanh?”.
Tôi nói: “Đúng”. Ông ta nói: “Và quân Minh nữa, phải không?”. Tôi nói:
“Đúng, và cả các ông nữa. Nếu các ông tìm cách xâm lược đất nước tôi.
Các ông có biết điều đó không?...”.
Vì nhận thức được ý đồ của họ, cũng như các tiền nhân, nên trong bất
cứ hoàn cảnh nào, Đảng ta và ba tôi cũng giữ tinh thần cảnh giác, ngay
cả khi họ là nước viện trợ rất lớn cho chúng ta trong kháng chiến chống
Mỹ.
Có lần, họ đề nghị viện trợ cho chúng ta 500 xe tải chi viện cho
tuyến đường Trường Sơn, với điều kiện họ sẽ cử lái xe đi kèm. 500 xe hồi
đó là vô cùng quý giá với Việt Nam. Nhưng chúng ta đã kiên quyết từ
chối.
Khi đó có đồng chí lãnh đạo đề nghị ba tôi “nhận vài chiếc cho người
ta vui”, nhưng ba tôi và lãnh đạo không đồng ý. Ba tôi cũng báo cáo với
Bác Hồ: “Chúng ta muốn thắng Mỹ, thì không được sợ Mỹ, nhưng nhất định
cũng không được sợ Trung Quốc”. Câu nói ấy của ông hẳn đã đến tai người
Trung Quốc… - Hầu hết những nhà nghiên cứu lịch sử đều nhận định, TBT Lê Duẩn
là nhà lãnh đạo Việt Nam có đường lối cứng rắn nhất với phương Bắc. Anh
có đồng ý với ý kiến của nhiều người, khi họ cho rằng sự cứng rắn của
ông Lê Duẩn là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh Biên
giới phía bắc?
- Ba tôi cứng rắn với họ thì đúng. Nhưng những người nói ông là một
trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh Biên giới năm 1979 có
lẽ là không hiểu lịch sử. Suốt thời phong kiến của chúng ta, họ đã vì
ghét ông vua nào mà đem quân xâm lược mảnh đất này? Không vì cha tôi, họ
vẫn tìm cách chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, rồi bây giờ là âm mưu chiếm
toàn bộ biển Đông. Họ chẳng ghét ai cả.
Chỉ có một lý do duy nhất, ý đồ xâm lược của họ là không bao giờ thay
đổi. Ba tôi, mang trong mình bản năng của người Việt suốt chiều dài
lịch sử: không cần biết họ mạnh thế nào, nhưng anh cứ xâm phạm biên giới
chúng tôi là chúng tôi đánh.
Còn nói về sự cứng rắn với họ, ba tôi có lẽ không thể so với cụ Lý
Thường Kiệt. Bậc tiền nhân ấy đã chủ động đánh phương Bắc ngay khi họ lộ
ý đồ sang xâm chiếm nước Việt. Trừ những kẻ bán nước, còn thì, đã là
người Việt Nam, nếu thực sự yêu dân tộc này, nếu thực sự yêu đất nước
này, sẽ đều hành động như thế, bất kể kẻ thù có mạnh và dã tâm đến đâu.
Ba tôi, như bao người Việt yêu nước bằng cả trái tim mình, đã luôn
hiểu rằng, họ là mối đe dọa truyền kiếp, là dân tộc mà trong bất cứ hoàn
cảnh lịch sử nào, bất cứ triều đại nào, chế độ nào, cũng không từ bỏ ý
đồ xâm chiếm Việt Nam. Lịch sử xâm lược của họ là lịch sử mở rộng lãnh
thổ về phương Nam.
Và, cho đến tận ngày hôm nay, với những yêu sách về chủ quyền ở biển
Đông, về đường lưỡi bò, vẫn có thể chứng minh một điều, những nhận định
của chúng ta về dã tâm của họ chưa bao giờ sai lầm. Khi còn nắm quyền,
ba tôi vẫn cố gắng giữ một mối quan hệ ngoại giao mềm mỏng với họ.
Năm 1961, khi Bác Hồ cử ba tôi đi dự Hội nghị Quốc tế Cộng sản vào
thời điểm quan hệ giữa Trung Quốc và Liên Xô đang căng thẳng. Khi đó,
Trung Quốc rất đơn độc, vì các nước khác đều ủng hộ Liên Xô. Chỉ có duy
nhất đoàn Việt Nam do ba tôi dẫn đầu là có ý kiến ủng hộ Trung Quốc.
Nhưng Đảng ta do ông đứng đầu không bao giờ cho phép ai có hành động xâm
phạm chủ quyền đất nước này. - Đến nay đã 30 năm rồi sau ngày mất của TBT Lê Duẩn, anh có
nghĩ, sự cứng rắn của cha anh là một trong những lý do mà sau này ông ít
được nhắc đến?
Tôi nghĩ ba tôi là nhà lãnh đạo đất nước trong một giai đoạn lịch sử
phức tạp và cam go của đất nước. Với nhiều ý kiến xung đột lẫn nhau. Thế
nên, như tôi đã nói ban đầu, việc chấp nhận ông hay một bộ phận không
chấp nhận quan điểm của ông, ủng hộ ông hay không ủng hộ ông cũng là
điều tất yếu. Ba tôi không chịu nói, chịu kể về mình giống như một số
người khác.
Có những người có cả chục cuốn hồi ký, nhưng ông thì khác, ông không
hề viết một cuốn sách nào kể về mình. Ông không bao giờ chịu giải thích
để người ta hiểu hơn về những việc ông làm. Vì thế đến giờ, nhiều người
chưa thực sự hiểu ba tôi như ông vốn có.
Nhưng tôi tin, cuối cùng thì những sự thật lịch sử sẽ được sáng tỏ
đến tận cùng, và người ta sẽ hiểu hơn về ông và những việc ông làm. Tôi
vẫn nghĩ ba tôi là người thiệt thòi. Tất nhiên làm cách mạng thì phải
chịu thiệt thòi.
Chúng ta ghi nhớ công ơn của các liệt sĩ, của các bà mẹ Việt Nam anh
hùng đã hi sinh hạnh phúc riêng của mình vì đất nước. Nhưng ba tôi,
người lãnh đạo có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến sự thành
công của cuộc chiến ấy, đã ít được nhắc đến suốt một thời gian. Đó là
điều mà lịch sử đã không công bằng với ông. Song tôi tin điều đó đang và
sẽ được nhìn nhận công bằng hơn. - Và cảm giác của anh - một người con, như thế nào trong suốt giai đoạn ấy, giai đoạn mà tên tuổi ông ít được nhắc đến như thế?
Dĩ nhiên là tôi buồn. Không chỉ buồn cho cá nhân tôi, gia đình tôi.
Vì tôi cho rằng đã có những việc, câu chuyện của ba tôi đã không được đề
cập chính xác, đầy đủ, khoa học. Tôi cũng rất buồn và mãi trăn trở một
điều, tại sao có những sự thật mà sau bao nhiêu năm chúng ta vẫn nhất
định phải giấu kín? Và tôi cho rằng, đó không phải là cách hành xử khách
quan, minh bạch và khoa học. - Nói thế thì hẳn là anh khao khát đến một ngày, tất cả tư liệu
về cuộc đời của TBT Lê Duẩn, về những quan điểm cũng như quyết định của
ông trong những thời điểm lịch sử và cả những đánh giá về vai trò của
ông trong giai đoạn ông nắm quyền sẽ được công bố?
Đó chính xác là mong ước lớn nhất của tôi và những người thân trong
gia đình suốt nhiều năm qua. Cha tôi và nhiều nhà lãnh đạo đất nước thời
kỳ đó đã mất mấy chục năm trời. Và tôi không hiểu lý do vì sao, có
những điều đến giờ này chúng ta vẫn cần giữ bí mật.
Nhưng tôi nghĩ, những người làm công tác nghiên cứu, những người làm
báo như chị, phải được tiếp xúc với những sự thật đó, để có cái nhìn
chính xác và đầy đủ nhất về lịch sử. Và nhân dân cũng có quyền được
biết, những nhà lãnh đạo của họ đã làm gì, đã ứng xử thế nào, trong
những thời khắc lịch sử của đất nước. - Cảm ơn anh về cuộc trò chuyện này!
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét