(VOH) - Biệt động Sài Gòn với những chiến công hiển hách giữa đô thành
Sài Gòn trong những năm kháng chiến chống Mỹ đã góp phần không nhỏ cho
thắng lợi chung của dân tộc Việt Nam. Những trận đánh đầy bản lĩnh, nhắm
thẳng vào cơ quan đầu não của Mỹ- ngụy khiến kẻ thù phải khiếp sợ. Và
cho đến hôm nay, nhiều người vẫn chưa thể hiểu được vì sao giữa lòng Sài
Gòn hiểm nguy, song lực lượng biệt động thành lại có thể làm nên những
chiến tích vang dội đến vậy. Trong muôn vàn chiến công ấy, có không ít
chiến công của những nữ biệt động thành- khi ấy tuổi đời còn rất trẻ,
song những câu chuyện chiến đấu của họ đã đi vào lịch sử chiến đấu của
thành phố như huyền thoại sống giữa đời thường.
Nữ biệt động Sài Gòn trong ngày giải phóng 30/4/1975. (từ phải qua: Hùng Thanh, Bích Nga, Trần Thị Mai).Ảnh tư liệu.
Đến
với mùa xuân sau 45 năm Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân Mậu
Thân 1968, những nữ biệt động thành ngày nào như đang sống lại với không
khí oanh liệtcủa một thời khói lửa. Khi mà sự khốc liệt của chiến tranh
không làm trái tim của những cô gái run sợ, mà thay vào đó là sự kiên
trung, dũng cảm của người chiến sĩ cách mạng. Bên những dòng hồi ức về
khoảng thời gian hoạt động trong lòng địch, bà Nguyễn Thị Hùng Thanh,
chiến sĩ đội C5- N10- B11 không thể nào quên những trận đánh làm rúng
động đô thành bấy giờ do bà cùng những nữ đồng đội khác gan dạ thực
hiện. Dấu ấn trận đánh vào cư xá Hải quân Mỹ ở đường Lê Lai làm tiêu hao
nặng nề sinh lực địch đã trở thành câu chuyện chiến đấu không quên của
lực lượng biệt động. Sau trận đánh này, Bà Hùng Thanh đã vinh dự nhận
huân chương chiến công hạng 2. Năm ấy, nữ chiến sĩ biệt động Hùng Thanh,
mới vừa tròn 18 tuổi, cái tuổi đẹp nhất của đời người con gái song cũng
như bao chiến sĩ trẻ thời bấy giờ đều mang trong mình lý tưởng chiến
đấu giành độc lập dân tộc, nên dù có phải hy sinh cũng không hề run sợ.
Bà kể về quãng thời gian kề vai sát cánh cùng đồng đội, được sự dìu dắt,
rèn luyện, giáo dục chính trị cách mạng của các đồng chí đi trước.
Những bài học cách mạng như dòng sữa ngọt ngào của mẹ nuôi dưỡng tâm hồn
và ý chí của người con gái trẻ có cái tên mà ai cũng tưởng là con trai:
“Hùng Thanh”. Nhớ về những năm tháng ấy, bà Hùng Thanh chia sẻ:
Là
con gái, ai cũng muốn được chiều chuộng, yêu thương, được hưởng niềm
hạnh phúc bên người yêu và gia đình. Thế nhưng với nữ biệt động Nguyễn
Thị Bích Nga thì ký ức về tuổi thơ dữ dội khiến bà luôn day dứt. Thất
lạc gia đình từ khi còn rất nhỏ, sống với ba mẹ nuôi, nhưng người ba
nuôi cũng mất lúc bà lên ba tuổi, Bích Nga sống với mẹ nuôi trong sự
lạnh nhạt. 12 tuổi bà đi giúp việc nhà cho một gia đình ở quận 6. Và
chính gia đình này đã chắp cánh cho ước mơ trở thành chiến sĩ cách mạng
của cô bé nghèo thành hiện thực. Được sự giới thiệu của ông bà chủ nhà,
một cơ sở bí mật của ta ở nội thành, năm 1966, Bích Nga được đưa tới Ban
tham mưu của Biệt động Sài Gòn, được đi học trường quân sự T44 tại Bến
Súc, Bình Dương. Tròn 15 tuổi, sau khi học xong lớp pháo binh, bà được
giao nhiệm vụ cùng với một người chỉ huy trực tiếp là ông Tám Cứ pháo
kích vào Sở chỉ huy của tướng Westmoreland. Để thực hiện nhiệm vụ này,
Bích Nga và Tám Cứ phải điều nghiên rất lâu bằng cách vờ như là cặp vợ
chồng mới cưới. Ngày ngày đạp xe qua Sở chỉ huy địch đo cự ly bằng vành
xe để tính toán lấy phân tử bắn, lấy đường chim bay chuyển hướng tới mục
tiêu.
Rạng sáng ngày 13/2/1967, cả một đoạn phố
bàng hoàng tỉnh giấc, với ba quả pháo nện vào Sở chỉ huy, trong đó có
một quả rơi thẳng vào xe chở lính Mỹ chuẩn bị đi càn. Sau thành công của
trận đánh bất ngờ vào Sở chỉ huy tướng Westmoreland, Bích Nga trở thành
nữ pháo thủ xuất sắc của Đội 6, đơn vị Biệt động Sài Gòn. Sau này, khi
nhắc lại trận đánh, bà vẫn cảm thấy hãnh diện được nhận nhiệm vụ quan
trọng, chỉ tiếc thời điểm đó việc vận chuyển vũ khí đạn dược rất khó
khăn nên 10 quả đạn pháo theo lệnh cấp trên chưa thể nổ thẳng vào cơ
quan đầu não của địch.
Không chỉ dũng cảm trong
chiến đấu mà những nữ biệt động thành dù trong hoàn cảnh nào cũng một
lòng, một dạ kiên trung. Bởi lẽ, hoạt động trong lòng địch khó tránh
khỏi bị theo dõi thậm chí bị bắt và chịu nhiều cực hình. Không để cách
mạng bị thiệt hại dù cho có phải hy sinh đến tính mạng là điều mà những
nữ biệt động thành luôn khắc ghi trong tâm. Hai nữ chiến sĩ biệt động
Hùng Thanh và Bích Nga cũng đã trải qua thời tuổi trẻ vô cùng ý nghĩa,
họ bị bắt và bị đày qua rất nhiều nhà tù khác nhau, trong đó có nhà tù
Côn Đảo, địa ngục trần gian. Song sự tàn ác của cai ngục không ngăn nổi ý
chí kiên cường của người phụ nữ Việt Nam, càng đau thương họ càng gắn
bó yêu thương nhau hơn, cùng động viên nhau, cùng viết nên những trang
sử thật đẹp cho người nữ chiến sĩ cách mạng: “anh hùng, bất khuất, trung
hậu, đảm đang. Nhớ về những năm tháng hào hùng đã qua, bà Bích Nga bày
tỏ:
Mang trong mình trái tim cháy bỏng và khát
vọng của tuổi trẻ, với lý tưởng giải phóng dân tộc, những thiếu nữ của
một thời hoa lửa đã sống trọn vẹn với ngọn lửa của tuổi đôi mươi. Khí
phách và sự hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của những bông hoa ngày ấy
cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị, chính họ đã xây đắp hoài bão và niềm
tin yêu vào cuộc sống cho thế hệ trẻ hôm nay.
Là lực lượng đặc biệt (nhằm đáp ứng yêu cầu cách mạng trong từng giai
đoạn lịch sử), hoạt động ở một chiến trường đặc biệt (nội ô Sài Gòn -
trong thời gian chống Mỹ là thủ đô của địch, nơi kẻ địch canh phòng cẩn mật, bố
trí lực lượng dày đặc...) cho nên ngay từ khi mới ra đời, lực lượng Biệt động
Sài Gòn - Gia Định đã tuyệt đối chấp hành nguyên tắc bí mật tối đa. Lực lượng
được tổ chức thành từng tổ, liên tổ, hoạt động đơn tuyến; cán bộ, chiến sĩ phải
tinh thông nhiều nghề nghiệp trong xã hội, rất am hiểu tập quán, phong tục ở địa
phương nơi mình hoạt động, phải có trình độ giao tiếp, làm tốt công tác binh
địch vận. Đặc biệt là công tác vận động quần chúng, thực hiện năm bước công tác
cách mạng trong xây dựng lực lượng. Mỗi chiến đấu viên biệt động phải tự xây
dựng lấy cơ sở để tồn tại trong lòng địch (ở, cất giấu vũ khí, liên lạc với
trên), tham gia các phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Muốn tồn tại
và bám lấy chiến trường thì phải ba hóa (công khai hóa, có giấy tờ hợp pháp, địa
phương hóa). Muốn phát triển được lực lượng và che mắt địch thì phải ba
cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng với quần chúng đấu tranh). Qua đấu tranh mà phát
hiện được người tích cực dũng cảm và kết nạp họ vào đội ngũ chiến đấu.
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cấp ủy sớm có chủ trương về tổ chức
lực lượng vũ trang, bán vũ trang mở rộng đến các ban, ngành, đoàn thể (công,
nông, thanh, phụ). Các lực lượng này đã kết hợp được với du kích vùng ven, tạo
ra thế liên hoàn từ trong ra ngoài và đã dấy lên một phong trào du kích chiến
tranh ngay trong sào huyệt địch, huy động được sức mạnh tổng hợp của cuộc chiến
tranh nhân dân ở các vùng ven đô thị. Với quy mô lực lượng được phát động xây
dựng, đã hình thành lực lượng biệt động nhiều cấp nhằm phục vụ trực tiếp các yêu
cầu về nhiệm vụ vũ trang của cấp mình đề ra. Do đó, trong thời kỳ
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lực lượng biệt động đã tổ chức đánh địch liên
tục trên đường phố, đánh vào nơi sinh hoạt ăn chơi, nơi ở của chúng (có tháng
biệt động thành phố đã đánh nhỏ, lẻ 127 vụ). Các hình thức chiến thuật luôn thay
đổi, mỗi trận xuất hiện một kiểu đánh mới, thay đổi một loạt vũ khí cho phù hợp
hoàn cảnh và điều kiện chiến đấu. Các chiến đấu viên phải sử dụng thành thạo các
loại vũ khí, trang bị nhằm phát huy tính năng, hiệu quả trong chiến đấu. Ngoài
ra còn phải nắm vững các quy ước về ám, ký, tín hiệu trong thực hiện nhiệm vụ
được giao.
Trong suốt chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), Ban
công tác thành và Tự vệ thành đã tiến hành các công tác trừ gian, diệt ác, đột
phá kho tàng hậu cần của địch kết hợp công tác tuyên truyền vận động quần chúng,
tạo dựng thanh thế của cách mạng. Qua đó, thật sự duy trì được phong trào đấu
tranh cách mạng ở vùng đô thị Sài Gòn, trung tâm điều hành chiến tranh của bọn
thực dân đế quốc và tay sai. Các hoạt động vũ trang đã góp phần đập tan âm mưu
thành lập Nhà nước "Nam Kỳ tự trị"; đốt cháy kho tàng (vụ đốt kho đạn Thị Nghè);
vụ tiêu diệt tên thực dân Ba-din khét tiếng gian ác; những tháng cuối năm 1947,
các Ban công tác thành được biên chế thành ba đơn vị quyết tử nằm trong đội hình
cấp tiểu đoàn, lấy phiên hiệu là tiểu đoàn quyết tử 950. Đến giữa năm 1951,
Trung ương Cục điều chỉnh chiến trường Nam Bộ thành hai Phân liên khu. Thành phố
Sài Gòn - Chợ Lớn được mở rộng để thành lập Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Nhờ có sự
lãnh đạo tập trung thống nhất cả về chính trị - quân sự nên phong trào du kích
chiến tranh ở nội đô và vùng ven được giữ vững và phát triển. Bước vào chiến
cuộc Đông Xuân 1953-1954, phối hợp chiến trường Điện Biên Phủ, lực lượng biệt
động và đặc công đã tổ chức tập kích kho hậu cần liên hợp của quân Pháp nằm bên
cạnh sân bay Tân Sơn Nhất vào đêm 31-5 rạng ngày 1-6-1954, kết quả: hơn mười
nghìn tấn bom đạn các loại, hàng triệu lít xăng, dầu bị thiêu hủy; hàng trăm tên
lính Ấu Phi bị thương vong. Chiến thắng này làm nức lòng quần chúng nhân dân và
kẻ thù phải khiếp sợ.
Bước sang giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), dưới sự chỉ
đạo của Khu ủy và Quân khu, các đội biệt động thành được tổ chức xây dựng theo
hướng "tinh nhuệ", tồn tại và hoạt động trong phong trào quần chúng, luồn sâu
đánh hiểm, tự lực, tự cường phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong
chiến đấu, tiêu diệt địch và lập nhiều chiến công. Đó là: các đội viên "chim
sắt" đánh vào trụ sở Bộ Tư lệnh viện trợ Mỹ tại Việt Nam (MACV) hai lần trong
vòng một tháng, tiêu diệt hàng chục tên cố vấn Mỹ. Trong những năm 1963-1964,
lực lượng biệt động đã tổ chức những trận đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao,
trong đó nổi bật là trận đánh cư xá Brin, trận tập kích khách sạn
Ca-ra-ven và trận đánh chìm tàu Card tải trọng 16.000 tấn tại bến Bạch Đằng,
tiêu diệt hàng trăm tên địch, đã chứng tỏ tài nghệ chỉ huy chiến đấu và khả năng
to lớn của cách đánh biệt động tại đô thị; góp phần làm phá sản chiến lược
"Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ-ngụy.
Trong thời kỳ "Chiến tranh cục bộ" và các thời kỳ tiếp theo, lực lượng biệt
động thành luôn đảm nhiệm vai trò đánh đòn phủ đầu quân xâm lược Mỹ và chư hầu.
Ngày 30-3-1965, lực lượng biệt động đã dùng 150 kg thuốc nổ đặt trong xe hơi lao
thẳng vào Đại sứ quán Mỹ trên đường Hàm Nghi, làm thương vong hàng trăm tên quan
chức cấp cao. Ngày 16-8-1965, đội 5 thuộc F100 tiến công Tổng nha Cảnh sát ngụy;
ngày 4-12-1965, lại tiến công khách sạn Mê-tơ-rô-pôn, diệt hàng trăm tên phi
công và nhân viên kỹ thuật không lực Hoa Kỳ.
Nói về chiến công của lực lượng biệt động, không thể không nói đến công tác
bảo đảm của bộ phận phục vụ. Bằng sự cống hiến thầm lặng, các gia đình cơ sở
cách mạng đã không quản nguy hiểm, khó khăn để tham gia vận chuyển hàng chục tấn
vũ khí vào nội thành phục vụ các đơn vị chiến đấu. Từ năm 1965 đến 1967, đã
chuyển vào nội thành cất giấu an toàn khoảng bốn tấn vũ khí để trang bị trực
tiếp cho chín đội biệt động chiến đấu. Tham gia Tổng tiến công và nổi dậy Mậu
Thân 1968 (đợt 1 và đợt 2), lực lượng biệt động được phân công đánh chiếm chín
vị trí đầu não ở Sài Gòn, gồm: Dinh Độc Lập, Đại sứ quán Mỹ, Bộ Tổng tham mưu,
Đài phát thanh, Tổng nha Cảnh sát, Bộ Tư lệnh Hải quân ngụy, Biệt khu Thủ Đô,
sân bay Tân Sơn Nhất, khám Chí Hòa. Đây là những mục tiêu hết sức quan trọng,
cho nên địch bố trí canh phòng cẩn mật, ta rất khó tiếp cận. Chấp hành nghiêm
mệnh lệnh cấp trên, lực lượng biệt động đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được
giao, làm nức lòng quân dân cả nước và tạo tác động rất lớn trên trường quốc
tế.
Trong thời kỳ "Việt Nam hóa chiến tranh", lực lượng Biệt động Sài Gòn - Gia
Định vẫn đang trong giai đoạn phục hồi cả về tổ chức, lực lượng để đến khi bước
vào chiến dịch mùa xuân 1975, các chiến sĩ biệt động đã hoàn thành nhiệm vụ dẫn
đường cho xe tăng và bộ binh ta đánh chiếm các mục tiêu đầu não của địch,
phát động quần chúng nhân dân nổi lên diệt ác, trừ gian, giành chính quyền về
tay nhân dân và kết thúc vai trò lịch sử của mình một cách vẻ vang.
Những chiến công vang dội của lực lượng Biệt động Sài Gòn - Gia Định đã hun
đúc nên truyền thống vẻ vang:
"Đoàn kết một lòng
Mưu trí vô song
Dũng cảm tuyệt vời
Trung kiên bất khuất"
Đại tá NGUYỄN ĐỨC HÙNG (Tư Chu) Nguyên Chỉ huy trưởng lực lượng Biệt động Sài Gòn - Gia Định Theo:
Phim Biệt Động Sài Gòn Tập 2
Chỉ huy Biệt động Sài Gòn khiến địch treo thưởng cực lớn là ai?
Đoàn Hoài Trung |
20
Biệt Động Sài Gòn đã tham gia dẫn các cánh quân tiến vào Sài Gòn, trong đó có sân bay Tân Sơn Nhất.
Thoát khỏi lưới vây, người chỉ huy Biệt động Sài Gòn ấy đã liên tiếp
chỉ huy các trận đánh vào đầu não quân xâm lược và bè lũ tay sai cho
đến ngày Miền Nam giải phóng hoàn toàn.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
Xuân 1968, tên của ông đã làm cho Mỹ ngụy mất ăn, mất ngủ. Chúng đã
treo giải thưởng cho ai phát hiện được Ba Tam, chỉ huy trưởng Biệt động Sài Gòn - Gia Định với món tiền lớn và lùng sục ông khắp mọi nẻo đường.
Nhưng người chỉ huy biệt động tài ba vẫn
thoát khỏi lưới vây quân thù, liên tiếp chỉ huy lực lượng đánh vào đầu
não quân xâm lược và bè lũ tay sai cho đến ngày giải phóng hoàn toàn
miền Nam.
Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Đức Hùng (bí danh Tư Chu).
Trở thành chỉ huy biệt động
Đại tá Nguyễn Đức Hùng (tên thường gọi
là Tư Chu, trong thời gian chỉ huy lực lượng biệt động từ 1965 đến 1972
ông có biệt danh Ba Tam) sinh tháng 10-1928, tại Can Lộc, Hà Tĩnh.
Ông xa quê rất sớm. Từ lúc 8 tuổi, ông
đã được người chú nuôi ăn học ở Nha Trang. Ông học hành dang dở vì gia
đình chú có tai biến, phải lưu lạc vào Sài Gòn kiếm sống.
Trong những năm ở Sài Gòn, ông làm đủ
nghề, công việc lâu nhất là làm vườn cho một chủ người Pháp ở trung tâm
Sài Gòn. Cuốn theo dòng thác cách mạng, ông tham gia đoàn quân đi cướp
chính quyền mùa thu 1945.
Sau khi giặc Pháp chiếm lại Sài Gòn, ông
được học một khoá quân chính ở vùng Đồng Tháp Mười, rồi được cử về xây
dựng cơ sở vũ trang và hoạt động quân sự. Ông đã tham gia rải truyền
đơn, đánh địch ở bót cảnh sát Thị Nghè…
Năm 1947, ông đã được giao chỉ huy một
đơn vị biệt động, hướng Tây Nam mang phiên hiệu 2766, trực thuộc Bộ Chỉ
huy quân sự Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn.
Địa bàn đứng chân là các xã phía Tây của
huyện Thủ Đức dọc theo hai bờ sông Sài Gòn, từ Cát Lái qua Thủ Thiêm,
An Phú đến Bình Quới Tây Hiệp Bình Chánh.
Biệt động 2766 đã tham gia đánh địch
nhiều trận, đột nhập, làm chủ nhiều giờ khu vực chợ Thị Nghè, Bà Chiểu,
Đa Kao và Quận 1. Từ những trận đánh, ông và đồng đội rút ra những bài
học đầu tiên về hoạt động của đội biệt động.
Năm 1954, Tư Chu được tập kết ra miền
Bắc, đi học trường quân sự nước ngoài, sau đó về công tác tại sư đoàn
335, phía Bắc Tổ quốc. Giữa năm 1961, ông được tổ chức chọn lựa vào đoàn
cán bộ trở về Nam chiến đấu, đoàn mang tên Phương Đông 1.
Biệt Động Sài Gòn tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất Đất nước.
Đây là đoàn quân sự lớn nhất đầu tiên
của quân đội ta chi viện về quân sự cho miền Nam sau Đồng Khởi. Đoàn do
Thiếu tướng Trần Văn Quang - Cục trưởng cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu
làm trưởng đoàn (sau này là Thượng tướng).
Hành quân bộ ròng rã 3 tháng, đoàn đã
vào chiến Khu D cuối tháng 8-1961. Ông Tư Chu trở lại dòng sông Sài Gòn
xưa, chiến trường cũ, kẻ thù mới.
Ông được tổ chức phân công phụ trách
công tác nắm địch tình, tìm hiểu âm mưu, thủ đoạn của địch chống phá
cách mạng, phục vụ trực tiếp nhiệm vụ chiến đấu.
Chỉ sau một năm, ông đã tổ chức xây dựng
được lực lượng hơn 300 cán bộ, nhân viên bề ngoài khác nhau, ở rải rác
xen kẽ trong dân từ Quận 8 đến Nội thành Sài Gòn.
Mùa thu 1964, trên cơ sở nhận định chiến
trường miền Nam đang phát triển có lợi cho ta, Trung ương Cục vạch ra
kế hoạch: Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi quyết định
mang mật danh “Kế hoạch X”, địa bàn trung tâm là Sài Gòn - Gia Định.
Năm 1965, lực lượng Biệt động Sài Gòn -
Gia Định được hình thành mang phiên hiệu F100. Ông Nguyễn Đức Hùng được
cử làm chỉ huy trưởng. Biệt động F100 bước đầu đã tổ chức được 11 đội
chiến đấu và 2 đơn vị bảo đảm.
Trong thời điểm từ 1965 đến Mậu Thân
1968, Biệt động F100 đã có nhiều đợt đánh vào cơ quan đầu não của Mỹ,
ngụy. Ngày 30-3-1965, đánh vào Đại sứ quán Mỹ lần 1.
Ngày 4-2-1965 đánh vào bọn giặc lái và
nhân viên kỹ thuật không quân của Mỹ ở cư xá Metropole với 450 kg chất
nổ C4, làm sập 4 tầng lầu, bọn Mỹ chết và bị thương 137 tên.
Ngày 1-4-1966, đánh vào nơi ở của sĩ
quan hỗn hợp tại khách sạn Victoria, làm sập 20 căn phòng, làm chết và
bị thương 90 tên, trong đó có 60 tên Mỹ. Ngày 1-11-1966, ta đã tổ chức
pháo kích DKZ vào “Lễ Quốc khánh” nguỵ tại Sài Gòn.
Ngày 4-12-1966, biệt động F100 cùng tiểu
đoàn 6 Bình Tân tập kích vào sân bay Tân Sơn Nhất, phá huỷ nhiều máy
bay địch và diệt nhiều giặc lái…
Nữ chiến sĩ biệt động Sài Gòn
Cao Thị Nhíp (bí danh Nguyễn Trung Kiên) dẫn đường cho xe tăng Quân đoàn
3 tiến đánh sân bay Tân Sơn Nhất. Ảnh: Nhà báo Ngọc Đản.
Cả nhà cùng tham gia Tết Mậu Thân
Khi trở lại miền Nam hoạt động, để phát
triển mạng lưới tình báo, ông nhờ địa phương tìm hộ cho một cán bộ với
yêu cầu, người tính tình kín đáo, thông thuộc địa bàn thành phố, đã qua
công tác dân vận và Huyện ủy Củ Chi đã giới thiệu đồng chí Đoàn Thị Nhỏ
(Tư Nhỏ).
Hoạt động với nhau được một thời gian,
tổ chức tác thành cho Tư Chu lấy Tư Nhỏ để dễ bề hoạt động. Ngày tổ chức
đám cưới gọn nhẹ, chỉ là bữa cơm giữa đôi vợ chồng với một vài đồng chí
trong cơ quan và chính quyền địa phương.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
Xuân Mậu Thân 1968, với cương vị Phó Tư lệnh Phân khu 6 (Nội đô Sài Gòn -
Gia Định), kiêm chỉ huy các lực lượng biệt động, Ông Nguyễn Đức Hùng đã
trực tiếp chỉ huy các mũi tấn công vào sào huyệt kẻ thù.
Theo kế hoạch các đơn vị biệt động sẽ
phối hợp với các phân khu đánh vào 9 mục tiêu quan trọng của địch trong
Nội đô. Nhưng thực tế thì ta chỉ đánh vào được 5 điểm là: Toà đại sứ Mỹ,
Đài phát thanh, Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Tổng tham mưu nguỵ, Dinh Tổng
thống nguỵ.
Ông Nguyễn Đức Hùng đã bám sát sở chỉ
huy tại số 7 Yên Đổ (nay là đường Lý Chính Thắng) và len lỏi tới tận các
vị trí chiến đấu để theo dõi, chỉ đạo cuộc tiến công.
Còn bà Đoàn Thị Nhỏ, vợ ông là một trong
các giao liên hướng dẫn đơn vị biệt động số 3 tập kết, đánh vào Bộ Tư
lệnh Hải quân ngụy.
Sáng ngày 1 tết Mậu thân 1968, bà Tư Nhỏ
được giao nhiệm vụ lên chỗ hẹn cách thị trấn Trảng Bàng, Tây Ninh chừng
1 km đón các chiến sĩ biệt động. Do con trai nhỏ, 2 tuổi không có ai
trông, bà phải bế con đi làm nhiệm vụ.
Bà thuê 1 chuyến xe chở 9 chiến sĩ biệt
động về Sài Gòn, ém sát mục tiêu chờ giờ G tiến công. Thế là cả nhà bà
Tư Nhỏ, 3 người cùng tham gia vào cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân
1968.
Sau Mậu Thân, bà tiếp tục móc nối liên
lạc với anh em, tiếp tục hoạt động trong lòng địch. Năm 1971, bà phải
gửi 2 con trai, lớn lên 7 tuổi, nhỏ 5 tuổi cho hai gia đình có cảm tình
cách mạng nuôi, cho đi học, để bà đi hoạt động.
Năm 1971, một cơ sở bị bắt, không chịu
nổi tra tấn của kẻ thù nên đã khai nơi ở của một cháu mà ông ta biết,
sau đó địch khai thác bắt tiếp đứa thứ hai. Chúng đã khống chế hai cháu
nhỏ để kêu gọi vợ chồng Chỉ huy biệt động Ba Tam và Tư Nhỏ đầu hàng.
Hàng ngày chúng cho ô tô chở hai cháu đi
rêu rao khắp phố phường, hòng lung lạc tinh thần những chiến sĩ biệt
động. Bà Tư Nhỏ có lúc thương con quá, đã như người mất hồn, khóc không
thành tiếng.
Nhưng cả
hai vợ chồng đều cố kìm nén tình mẫu tử để không ảnh hưởng nhiệm vụ
chung. Bà được tổ chức đưa ra vùng giải phóng, tham gia vào ban phụ
trách trường thiếu sinh quân.
Hai cháu nhỏ bị bọn giặc quản thúc và
chúng dự định đưa hai cháu sang Mỹ học để các cháu quên hết nguồn gốc
gia đình thật. May mắn trong những ngày hoảng loạn 1975, chúng chưa kịp
hành động, thì tổ chức ta đã đón các cháu ra vùng giải phóng.
Là đồng chí, đồng đội với nhau trước khi thành vợ, chồng, bà Đoàn Thị Nhỏ là người đảm đang cả việc chung lẫn việc riêng.
Mười năm làm giao liên cho các mối điệp
báo (1962-1972), bà đã giữ thông suốt, kịp thời, không bị ngắt quãng,
không bị lộ đường dây liên lạc.
Trong đợt Tết Mậu Thân 1968, ông Tư Chu
không những không bị địch bắt, mà ông còn tiếp tục móc nối cơ sở, gây
dựng lực lượng và tiếp tục chỉ huy Biệt Động Sài Gòn – Gia Định đánh đợt
2 Mậu Thân 1968.
Kẻ thù đã nhiều lần treo thưởng cho ai
tìm bắt được ông, chúng lùng sục ngày đêm, mất ăn mất ngủ về cái tên Ba
Tam. Nhưng, ông đã được đồng bào nuôi nấng, che chở an toàn suốt 2 cuộc
kháng chiến.
Năm 1974, ông được cử ra miền Bắc dự hội
nghị tổng kết của binh chủng Đặc công. Cuối tháng 1 năm 1975, ông trở
lại chiến trường cùng một số đồng chí và vũ khí trang bị, tham gia vào
đoàn quân giải phóng miền Nam.
Ngày 3/1/2012, Chủ tịch nước
Trương Tấn Sang đã đến thăm và trao tặng danh hiệu AHLLVTND cho ông
Nguyễn Đức Hùng (bí danh Tư Chu), nguyên Chỉ huy trưởng Biệt động Sài
Gòn – Gia Định. Ảnh: TTXVN.
Cuộc đời người anh hùng
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng,
ông được thuyên chuyển công tác gần như qua hầu hết các đơn vị của Quân
khu 7 để làm kinh tế tại miền Đông Nam Bộ.
Tháng 7-1978, ông được giao nhiệm vụ làm
Tư lệnh đoàn 778 – Quân khu 7, một đơn vị tập hợp xây dựng lực lượng
giải phóng quân của cách mạng Cam-pu-chia.
Đơn vị lúc ấy cấp tốc xây dựng thành 21
tiểu đoàn để kịp thời ra mắt Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Cam-pu-chia vào
tháng 12-1978. Sau đó đơn vị này cùng quân tình nguyện Việt Nam hành
quân giải phóng toàn bộ đất Cam-pu-chia.
Sau khi giải phóng tỉnh Kratie, ông được
cử đi học ở Học viện Chính trị cao cấp. Sau một năm học, ông về phụ
trách Đoàn 600 sản xuất lương thực của Quân khu 7. Cuối năm 1982, ông
chuyển sang công tác tại ngành cao su và 1988 nghỉ hưu theo chế độ.
Cuối cuộc đời, lúc nghỉ hưu, ông Nguyễn
Đức Hùng trở về sống ở xóm cũ, gọi là xóm Cầu Đình, ven sông Sài Gòn,
nơi cách đây 50 năm trước ông đã đóng quân để đánh địch trong lòng thành
phố.
Ngày 3 tháng 1 năm 2012, Chủ tịch nước
đã trao tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho ông.
Ông qua đời ngày 16 tháng 5 năm 2012 tại Thành phố Hồ Chí Minh, 4 tháng
sau khi nhận được danh hiệu cao quý này.
theo Thế giới trẻ
Phim Biệt Động Sài Gòn Tập 3
Trớ trêu cuộc chiến Biệt động Sài Gòn với “nữ quái“ khỏa thân
Sau khi quân giải phóng mở đợt Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm
1968, Mỹ – Ngụy chịu tổn thất nặng nề, càng ráo riết đàn áp phong trào
cách mạng mạnh mẽ hơn, đặc biệt lưu ý đến những thành viên Biệt động Sài
Gòn. Trong vô vàn “mưu sâu kế hiểm”, những cố vấn Cục tình báo trung
ương Mỹ (CIA) cùng mật thám ngụy đã cho ra đời chiến dịch “Phượng hoàng
thiên nga”.
Dùng gái đẹp làm “mồi nhử”
Chiến
dịch mang Phượng hoàng triển khai rầm rộ vào giai đoạn từ năm 1968 -
1975. Mục đích của chiến dịch này nhằm dùng mọi thủ đoạn để vô hiệu hóa
chiến sĩ cách mạng, người thân của các chiến sĩ.
Ông
Phan Văn Hôm (tự Bảy Hôm), chiến sĩ Đội 5 Biệt động Sài Gòn cho biết
anh em bộ đội thường gọi chiến dịch trên với cái tên mỹ miều là chiến
dịch “Phượng hoàng thiên nga”. Lý do bởi địch chủ yếu sử dụng dàn mỹ
nhân người Việt để thâm nhập, quyến rũ, qua đó chiêu hồi những người nhẹ
dạ cả tin, hoặc vì hám lợi mà sa bẫy.
Cựu chiến sĩ Biệt động Sài Gòn Bảy Hôm kể về chiến dịch thâm độc “Phượng hoàng thiên nga”.
Ông
Bảy Hôm nhớ lại, ở chiến khu, có lần giặc dùng máy bay trực thăng chở
quân đổ bộ đón đầu. Lần đầu tiên trong đời, các chiến sĩ Biệt động Sài
Gòn đối mặt với một tình huống “trớ trêu”: Đội quân toàn những "nữ
quái". Trơ trẽn hơn, những con “phượng hoàng, thiên nga” tự lột bỏ hết
quần áo để khiêu khích, khơi gợi dục vọng.
Thay
vì bóp cò súng, các chiến sỹ bẻ cành cây làm roi, quất tới tấp vào người
“lũ mất nết”. Đám "nữ quái" kêu oai oái, bỏ chạy tán loạn.
Còn
với những người đã bị bắt, địch sử dụng “đội quân chân dài” tiếp cận,
lả lơi dùng tình cảm mua chuộc, cộng với vô vàn lời hứa hẹn như từ bỏ
cách mạng sẽ có nhà cao cửa rộng để ở, có vợ đẹp hầu hạ.
Sự
thâm độc của chiến dịch “phượng hoàng thiên nga” còn thể hiện qua chiêu
thức chúng điều tra lý lịch từng người, cử người về tận quê gốc, tiếp
cận thân nhân những người bị tình nghi tham gia hoạt động cách mạng, gây
sức ép, đe dọa đủ điều…
Lòng kiên trinh với cách mạng của vợcon Biệt động Sài Gòn
Chiến
dịch này còn nhắm đến các nữ chiến sĩ biệt động, vợ con của lính Biệt
động Sài Gòn. Tương tự chiêu thức “mỹ nhân kế”, những tên Việt gian được
giao nhiệm vụ tiếp cận, gạ gẫm thân nhân các chiến sĩ. Chúng rêu rao
khắp nơi, châm biếm rằng: “Muốn sang thì lấy cảnh sát, muốn làng nhàng
thì lấy nhảy dù, muốn ở tù lấy chồng Việt cộng”.
Chúng
cũng không tiếc lời “bêu xấu” các chiến sĩ rằng gầy ốm tong teo, lấy vợ
sinh con rồi lại phó mặc tất cả cho vợ để đi biền biệt.
Hai người con của Anh hùng Liệt sĩ Lê Tấn Quốc.
Chị
Lê Thị Liên, con gái Anh hùng Liệt sĩ Lê Tấn Quốc nhớ lại, sau khi cha
hy sinh trong trận đánh Dinh Độc Lập, mẹ cũng là một nữ biệt động bị
bắt, một nhóm cảnh sát Ngụy về đóng chốt ngay trong nhà chị. Mục đích
của chúng nhằm dụ dỗ những người con trong nhà từ bỏ con đường cha mẹ
mình đã chọn.
Cứ thế suốt mấy năm ròng, chị Liên
co mình sống giữa bao lời trêu ghẹo, quấy rối. “Chúng hứa sẽ đưa em
trai tôi sang Mỹ học, rồi sau này có cuộc sống ấm no chứ không khổ cực
như đi theo cộng sản. Sợ quá, tôi phải gửi em về dưới miền Tây nhờ bà
con nuôi nấng”, chị Liên kể lại.
Để thoát khỏi
đám cảnh sát Ngụy “ăn vạ” trong nhà, thiếu nữ luôn tìm cách tránh mặt,
hạn chế tiếp xúc. Ban đêm chị dẫn em trai ra nghĩa địa gần nhà ngủ chứ
không ngủ chung nhà với đám lính luôn chầu chực hau háu.
Đang
tuổi dậy thì, muốn không bị mấy tên cảnh sát dòm ngó, thiếu nữ phải
dùng nhọ nồi bôi khắp mặt mũi, tóc xõa rối bời. Thiếu nữ còn dùng dây
vải bó sát ngực, ăn mặc luộm thuộm, cố tạo cho mình bộ dạng dơ bẩn, xấu
xí.
Anh Lê Thanh Tòng, em trai chị Liên nhớ lại,
hồi đó chỉ mới 12 tuổi nhưng ngày ngày cậu bé đã biết giấu con dao thái
chuối vào người, đến công ty dệt đón chị gái lúc tan ca.
Phân
tích tính thâm độc của chiến dịch “Phượng hoàng thiên nga”, các cựu
chiến binh cho hay, địch dùng mọi cách, thậm chí cả dụ dỗ xác thịt để
lôi kéo vợ, chồng hoặc con của những gia đình cách mạng.
Trường
hợp nào mua chuộc không thành, chúng sẵn sàng thủ tiêu. Khi các nữ biệt
động bị bắt, chúng cho lính Ngụy vào hỏi cung rồi giở trò đồi bại như
hôn môi, sờ soạng khắp mình mẩy.
Tương tự, với
nam biệt động, địch cho những nữ quái trẻ đẹp đến lân la buông lời đường
mật dụ dỗ, rồi rình mò chụp hình. Giặc sử dụng những hình ảnh nhạy cảm
này gửi về gia đình, làm lung lay ý chí của người nhà, từ đó chia rẽ nội
bộ từng gia đình chiến sĩ, rồi ép người “tay lỡ dính chàm” phải làm nội
gián cho chúng.
Cuộc chạy trốn khỏi “phượng hoàng thiên nga”
Như
đã kể, từ khi cha hy sinh, mẹ đi tù, những đứa con của Anh hùng Liệt sĩ
Lê Tấn Quốc phải gồng mình nương tựa vào xóm giềng vượt qua mọi cạm bẫy
kẻ địch giăng.
Năm 1973, vợ của liệt sĩ được tự
do trong một đợt trao trả tù binh. Nhưng bà không thể trở về miền Nam
ngay mà ra Bắc. Mãi đến những ngày cuối năm 1974, bà mới theo con đường
bí mật, về Nam tìm hai con.
Thời gian trước đó,
người con gái kiên quyết không rời xa ngôi nhà có hồ rau muống gắn liền
với tên tuổi của cha. Trước lúc ra trận, người mẹ đã tính tới phương án
gia đình ly tán, căn dặn con gái trường hợp nào cũng phải ở lại căn nhà
cũ, đợi mẹ về đón.
Chị Liên nhớ rõ, ngày nọ có
người phụ nữ trung niên lặng lẽ bước vào nhà, đưa tấm hình có mặt chị,
nói khẽ là do má chị cử đến. Thiếu nữ một mặt nhờ người nhắn tin họ hàng
dưới Kiên Giang đưa em trai lên Vĩnh Long chờ sẵn, mặt khác vờ bàn bạc
chuyện mua bán rau muống, hai người lấy chợ làm điểm hẹn thường xuyên.
Vài
ngày sau, lừa lúc toán cảnh sát mất cảnh giác, thiếu nữ chạy ra bến xe
Chợ Lớn đón xe về Vĩnh Long. Tại đây hai con được của Anh hùng Liệt sĩ
Lê Tấn Quốc được đưa thẳng vào chiến khu đoàn tụ với mẹ. Chị Liên khẽ
lau nước mắt, xúc động cho biết đó là cuộc hội ngộ sau hơn 8 năm mẹ con
xa cách. Hai chị em sống cùng mẹ trong chiến khu cho đến lúc Sài Gòn
giải phóng mới trở lại ngôi nhà xưa.
Theo Xa lộ pháp luật
Phim Biệt Động Sài Gòn Tập Cuối:
Huyền thoại nữ biệt động Sài Gòn: Chiến thắng màn tra tấn tàn độc!
Dân trí Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm
1968 của dân tộc được đánh dấu bằng những trận đánh vang dội. Trong đó,
đội biệt động Sài Gòn và cá nhân nữ giao liên Nguyễn Thị Mai đã xả thân
trong những trận đánh đỏ lửa, máu nhuộn cánh đồng.
Ít
ai ngờ rằng, người phụ nữ này đã từng lao qua "bão đạn" dẫn đường cho
quân cách mạng, từng chịu những trận đòn thù, tra tấn dã man của địch
Mở đường giữa “bão đạn”
Tháng 8/1968, do di chứng bị tra khảo tái phát, Mai đau nặng
phải nằm viện điều trị. Bên ngoài, đồng đội của Mai đang gấp rút chuẩn bị cho những trận đánh lớn khiến cô như ngồi trên đống
lửa. Nhiều lần năn nỉ xin được ra trận, Mai cũng được cụm trưởng Ba Tâm viết
thư bảo lãnh, gửi vào bệnh viện cho Mai để được ra ngoài hành quân.
Rời bệnh viện, Mai đi cùng Tiểu đoàn 8, Sư 9 hành quân từ
biên giới Campuchia, đánh vào đài Rada Phú Lâm rồi “dọn đường” về ngã tư Bảy Hiền
theo kế hoạch. Trên đường hành quân không ít tổ do thiếu kinh nghiệm đã bị
lọt vào vòng vây Tân Tạo (Bình Chánh) - nơi địch chiếm giữ với lực lượng khá
dày. Trong một giờ, Mai triển khai cho các tổ tiến hành đào hầm công sự ém quân để
bảo toàn lực lượng chờ thời cơ hành động. Mặt khác, tổ còn lại làm nhiệm vụ mở
đường cho từng tiểu đội đi qua.
Pháo địch dội tứ phía, các tiểu đội không thể hành động đúng
theo kế hoạch, lúc này anh tân binh còn khá trẻ tuổi quyết định xung phong mở đường. Vừa
ra, anh đã bị thương ở bụng. Lập tức, Mai lao ra giữa làn đạn đến với đồng đội
đang bị thương, Mai xé khăn rằn quấn ngang hông, cho thuốc cầm máu và đẩy anh
tân binh vào miệng hàm ếch của hầm công sự.
Ngoài kia, địch phát hiện vị trí của quân ta đang ẩn nấp nên tiếp tục
mở đợt tấn công. Mai huy động các tiểu đội mang trái nổ đến gài ở miệng hầm chờ
địch tiến vào sẽ cho nổ cả hai bên cùng chết. Ở một hướng khác, hỏa lực của ta
cũng đã vào trận, nhờ vậy chúng không dám tấn công. Khi chiếc máy bay chở lính
rút khỏi căn cứ vừa cất cánh ở độ cao khoảng 100 mét, nó còn thả xuống một trái
nổ. Cơn mưa ầm ào đổ xuống, tiểu đoàn rút ra Tân Nhựt (Bình Chánh), được người
dân địa phương chiêu đãi bánh trái, lúc đó mọi người mới biết hôm ấy là mùng
5/5.
Bị bao vây trong “mưa đạn” trên cánh đồng Tân Tạo, vào sinh
ra tử, ngâm mình trong sình lầy nhiều ngày, tưởng chừng đã làm kiệt sức cô giao
liên Nguyễn Thị Mai. Nhưng không! Mai vẫn tràn đầy lòng nhiệt huyết chiến đấu,
vẫn xung phong dẫn đầu, mở đường cho cánh quân tiến vào thành phố.
Với địch, thất thủ trong trận đánh trên cánh đồng Tân Tạo, bọn chúng điên cuồng, điều
thêm viện binh với khí giới hiện đại phản công ác liệt, đánh chiếm từng vị trí
mà quân ta chiếm đóng được trước đó. Giữa tình thế nguy cấp, bị địch bao vây,
phục kích tại ngã tư Bảy Hiền, Mai cùng đồng đội trong đội biệt động thau nhau
chắm sóc thương binh, đưa họ xuống hầm trú ẩn an toàn.
Cùng
khoảng thời gian này, Mai chuyển thành công nhiều xe vũ khí tập kết tại
nhà bà Nguyễn Thị Nhị ở Ông Tạ; nhà chị Ba Việt ở ngã ba Cây Quéo và
đưa hàng chục chiến sĩ giải phóng đến các cơ sở cách mạng để ẩn náu,
phục vụ cách mạng. Tuy nhiên, số phận nữ giao liên Nguyễn Thị Mai một
lần nữa rơi vào cảnh sống không bằng chết khi bị địch bắt.
Rơi vào “hang cọp”
Năm 1969, Mai vinh dự được mời dự Đại hội Chiến sĩ thi đua
miền và được bà Nguyễn Thị Định tặng khẩu súng K54. Cũng trong năm này, sau khi
kết thúc khóa học quân sự ở R, Mai xuống Sài Gòn hoạt động cách mạng thì bị lại
bị bắt. Lần đó, Mai đưa tân binh về căn cứ thì bị người cùng Chi bộ, là trung
đoàn trưởng chiêu hồi chỉ điểm. Bắt được Mai, bọn chúng giải ngay
Mai về Biệt khu Thủ đô, nơi đây cũng khét tiếng bởi những đòn tra tấn hiểm độc
chẳng khác gì ở bốt Hàng Keo và Tổng Nha Cảnh Sát.
Mục đích của chúng là tra ra tổ chức, cở sở cách mạng, cán bộ
chỉ huy của ta. Biện pháp lấy lời khai thì không từ một thủ đoạn nào. Cái chiêu
đổ nước xà bông ở Biệt khu Thủ đô thì hầu như không chừa một Việt cộng nào từng
vào đây. Một xô nước xà bông ngàu bọt được đặt ngay trước mặt Mai, chúng cột chặt
toàn thân Mai vào một tấm gỗ. Miệng thằng cai ngục tít lên: “Hôm nay mày không
khai, tao cho mày uống hết chỗ nước này”.
Mai vẫn chối bay tất cả, thằng cai tù lao đến bịt miếng vải
kín mặt Mai, cái vòi nước xà bông giội lên miếng vải từ từ, há miệng, mũi ra thở
thì phải nuốt nước xà bông vào bụng. Cứ thế, màn tra tấn kèo dài cho đến khi bụng
Mai trương phềnh lên. Mai như sắp chết ngạt vì xót, đau đớn, toàn thân như muốn
vỡ tung thành từng mảnh, bụng đầy nước
xà bông đang như cồn gan, cắt ruột. Tên “đồ tể” còn dùng chân đạp cật lực lên bụng
Mai, nước xà bông trào ngược, phụt ra từ miệng, mũi Mai.
Tiếp đến, chúng bắt Mai đứng nghiêm, mắt nhìn thẳng vào đèn
xe hơi. Chịu không thấu, nước mắt chảy ròng ròng, chúng bắt Mai đứng dậy, tiếp tục
pha đèn hàng giờ. Thằng tra khảo hét thất thanh: “Mày chỉ cơ sở và lãnh đạo của
mày, tao sẽ khoan hồng”. Thấy chẳng lay chuyển được người con gái kiên cường,
cuối cùng chúng để Mai ngồi lên ghế còng tay, sải hai chân ra và quấn giẻ tẩm
xăng vào chân phải để đốt.
Chỉ hai can loại 10 lít đặt gần đó, mặt tên cảnh sát hầm hầm
gằn giọng: “Nếu không khai tao tưới xăng, mày sẽ cháy thành tro”. Ngọn lửa dưới
chân Mai đang bốc cháy dữ dội. Mai giả vờ yếu ớt: “Ông mở còng đi, tôi sẽ khai
ngay”. Hắn cười khoái trá bước đến mở. Nhanh như cắt Mai đưa chân phải chích
vào chân trái cho lửa cháy to hơn và đứng dậy bê can xăng, hai mắt mở to can đảm
nhìn thẳng vào mặt hắn mở nắp cho đổ tràn lan. Can còn lại Mai tưới lên người
mình để cả hai cùng chết cháy.
Đâu ngờ, đó là hai can nước lạnh chúng mang ra để dọa Mai.
Mai bị một trận đòn chí tử trước khi về lại Trại giam Thủ Đức. Hai chân Mai bị
bỏng nặng, lột da và lòi xương. Một lần nữa, ý chí sắt đá và sự khéo léo của
Mai đã buộc chúng phải kết thúc hồ sơ tại Bộ tổng tham mưu với án mù (không thể
kết án).
Cả 3 lần bị địch bắt giam, Mai bị địch tra tấn hết sức dã
man, tàn khốc nhưng đều không thể kết án. Mai không chỉ chiến thắng kẻ thù bằng
ý chí, bằng tinh thần bất khuất, hy sinh mà chiến thắng bằng sự thông minh khôn
khéo, ứng phó tài tình.
Sau chuỗi ngày sống cảnh “địa ngục trần gian”, “con thoi sắt”
Nguyễn Thị Mai trở về cuộc sống đời thường với ước mơ, khao khát cháy bỏng có một
gia đình, được làm vợ, làm mẹ như bao người con gái khác. Và con đường đến với hạnh
phúc của nữ biệt động Sài Gòn như một câu chuyện cổ tích bình dị.
Thương Tín, tài tử đào hoa bậc nhất màn ảnh Việt những năm
1990 vừa tái xuất màn ảnh nhỏ để "kiếm tiền nuôi con chưa đầy 1
tuổi". Nhân dịp nam diễn viên của Biệt Động Sài Gòn 1986 trở
lại, mời độc giả cùng điểm lại nhóm "chiến sỹ Biệt động sài
gòn" ngày ấy bây giờ.
Long Vân và duyên nợ Sài Gòn
Nhắc đến Biệt Động Sài Gòn, không thể không nhắc đến cha đẻ
– vị đạo diễn lừng danh Long Vân. Ông sinh ra trên đất Bắc,
thuộc thế hệ đạo diễn trưởng thành trước 1975. Sau khi tốt
nghiệp, Long Vân mất 15 năm đi làm phó đạo diễn cho lớp đạo
diễn đàn anh như Phạm Kỳ Nam, Huy Thành, Bạch Diệp, Nông Ích
Đạt… Ông bắt đầu được chú ý với bộ phim Nơi Gặp Gỡ Của Tình Yêu. Đây cũng chính là bộ phim đưa ông đến với dự án Biệt Động Sài Gòn.
32 năm trước, khi đang thực hiện bộ phim Cho cả ngày mai, đạo diễn Long Vân gặp vị tư lệnh Biệt động sài gòn thật sự. Khi biết Long Vân là đạo diễn Nơi gặp của Tình yêu
mà ông thích, nguyên mẫu gợi ý làm phim về biệt động sài
gòn. Và Long Vân bắt đầu cùng với nhà biên kịch Lê Phương tạo
ra những Tư Chung, Ngọc Mai, Sáu Tâm…, những nhân vật huyền thoại
một thời.
Đạo diễn Long Vân hiện đang sống ở Hà Nội
Khi công chiếu ngoài rạp, bộ phim đã trở thành một phim “hit”
kỷ lục về lượng vé người xem, đồng thời trở thành huyền thoại
điện ảnh của cả tác giả và dòng phim nhà nước một thời.
Trở thành một tên tuổi đạo diễn lừng danh hơn hẳn các đàn anh, Long Vân tiếp tục làm nhiều phim khác như Hẹn Gặp lại Sài Gòn, Giải Phóng Sài Gòn. Như nói, cuộc đời của ông được đo bằng những bộ phim về Sài Gòn. Dự án Biệt Động Sài Gòn mất 5 năm. Sau đó dự án Giải Phóng Sài Gòn mất 15 năm.
Khoảng năm 2006, ông được đặt hàng làm phim về ngành công an và Những Đứa Con Biệt Động Sài Gòn tiếp tục ra đời. Hiện tại, “cha đẻ” nóng tính Biệt Động Sài Gòn đang hưởng tuổi già bên người vợ chiều chồng. Thương Tín, "kép độc" đào hoa
Sinh ra ở Phan Rang, là con đầu, sau ông còn 8 người em cả trai lẫn
gái, gia đình chỉ có mình ông theo nghệ thuật. Khởi đầu sự nghiệp
từ bộ môn nghệ thuật cải lương nhưng Thương Tín được biết đến nhiều hơn
cả là trong lĩnh vực điện ảnh. Ông đã thủ vai gần 200 bộ phim nhưng vai
để đời vẫn là Sáu Tâm trong Biệt Động Sài Gòn. Vai diễn đầu tiên của ông là bộ phim Nắng Đỏ 1978, trong đó Thương Tín vào vai anh bộ đội.
Sau khi đóng Biệt Động Sài Gòn, Thương Tín thực sự
trở thành con át chủ bài của phòng vé sân khấu và điện ảnh
miền Nam những năm 1990. Thời hoàng kim, ông từng đóng 12 phim
điện ảnh trong một năm.
Thương Tín trong Biệt Động Sài Gòn 1986
Tuy vai Sáu Tâm là vai diễn gây tiếng vang nhất nhưng lại là vai diễn ông diễn “tưng tửng” nhất. “Kỳ
lạ là khi vào vai Sáu Tâm trong Biệt động Sài Gòn tôi đóng tưng tửng,
lơ là nhất nhưng tiếng vang lại quá lớn. Cuộc đời làm phim cũng có cái
lạ lùng, nhiều vai tôi tâm đắc, dồn tâm trí vào lại không được biết đến
nhiều, trong khi nhân vật Sáu Tâm yêu cô bán cháo vịt Ngọc Lan (Thúy An)
cứ được khán giả nhắc mãi. Tôi nhớ năm Biệt động Sài Gòn chiếu lần đầu ở Hà Nội, 6 rạp phim
lớn nhất thủ đô đều ken kịt người, chen lấn đến nỗi cửa rạp bị đạp vỡ
cả. Chưa bao giờ trong đời tôi thấy điện ảnh có uy đến thế", ông từng chia sẻ.
Quả thực, ngoài đời, Thương Tín đã là một tay chơi có tiếng. Ông kể về cuộc sống thời bao cấp của mình: “Thời
đó nghề tôi đam mê không nuôi nổi tôi. Thường đóng một bộ phim, tôi
nhận 1 chỉ vàng nhưng lại tiêu hết 2-3 cây vàng. Sở dĩ tôi đóng được
nhiều phim mà vẫn tiêu xài như thế được vì sau khi ly dị xong đã có một
phụ nữ rất giàu yêu tôi. Mỗi lần trong ví tôi hết tiền, cô ấy lại bỏ
vào.”
Vốn là một nghệ sỹ hào hoa, ông đã có nhiều cuộc tình với nhiều nữ
nghệ sỹ và cuối cùng cưới ca sỹ Mỹ Dung, có một người con trai. Có một
khoản thời gian ông theo vợ qua California nhưng vì ko chiụ được cuộc
sống nhàm chán, nhớ quê nhớ nghề, ông một mình quay về nước cùng con
trai để tiếp tục sự nghiệp của mình.
Thương Tín tuổi 58 vẫn đào hoa khó ai sánh kịp
Trong mắt công chúng những năm gần đây, Thương Tín thường bị
gán với hình ảnh một kép hát về già, một chú ngựa hoang, hay
một tay chơi “một thuở”. Sau vụ scandal đánh bạc năm 2007, sự
nghiệp của ông như chìm khuất dưới những tin đồn kiểu như “xây
dựng sự nghiệp 10 năm đốt một giờ trên chiếu bạc.”
Hiện tại, ở tuổi 58, Thương Tín bất ngờ tái xuất với màn ảnh nhỏ trong ba phim cùng một lúc: Tình người xứ hoa, Bên kia sông, Tối qua mơ gì. Ông chia sẻ đi đóng phim để nuôi con nhỏ với người vợ trẻ.
Niềm vui cuộc sống lục tuần của Thương Tín hiện nay là cuộc sống gia đình nhỏ bé và giản dị này. Quang Thái – Ông Trùm tình báo “rẽ ngang”
Quang Thái vốn là nghệ sỹ sân khấu kịch nói Sài Gòn rẽ
ngang sang đóng phim truyện. Khi vào vai Tư Chung - trùm tình báo
trong Biệt Động Sài Gòn, ông đã 45 tuổi. Nhờ gương mặt lai Tây
vừa hào hoa nhưng lại dễ gần, Quang Thái đã “đánh bại” Chánh
Tín, ứng cử viên số một cho vai diễn Tư Chung - hiện thân của
trùm tình báo Biệt Động Sài Gòn khi đó.
Quang Thái vai Tư Chung Biệt Động Sài Gòn
Khác với Thương Tín, di sản Quang Thái nhận được từ bộ phim Biệt Động Sài Gòn không
phải là một sự nghiệp điện ảnh thăng hoa mà là một người
vợ. Ông chia sẻ, nhờ phim này mà ông lấy được người vợ hiện
tại.
Năm 2010, ở tuổi 75, ông bị vài lần tai biến mạch máu não nhưng vẫn quay trở lại với phim trường Những Đứa Con Biệt Động Sài Gòn như một lần hàn huyên kỉ niệm xưa với đạo diễn Long Vân.
"Trùm tình báo" bây giờ - ngày xưa
"Ni Cô" Thanh Loan
Thanh Loan vốn không phải là dân nghệ sỹ như Quang Thái và
Thương Tín. Vai diễn ni cô Huyền Trang ban đầu dự định dành cho
diễn viên Như Quỳnh nhưng đúng đến gần ngày khởi quay, Như Quỳnh
xin rút lui.
Thanh Loan khi đó đang là phát thanh viên kiêm phóng viên của
đài truyền hình an ninh đi công tác miền nam. Tình cờ họa sỹ
Trịnh Thái của đoàn làm phim phát hiện ra cô. Khi vào vai, Thanh
Loan tỏ ra rất hợp vai một điệp viên vừa ăn hình một ni cô
đúng chất sư, lại vừa ăn hình một nữ chiến sỹ biệt động.
Ni Cô Huyền Trang do Thanh Loan đóng trong Biệt Động Sài Gòn
Vai diễn Huyền Trang ngày nào của nghệ sĩ Thanh Loan đến giờ vẫn được
mọi người yêu mến và ghi nhớ. Nhưng sau vai diễn ấy, khán giả không còn
thấy chị trên màn ảnh. Chị không hối tiếc về điều ấy, bởi đối với chị
không thể có vai diễn nào hay hơn vai ni cô Huyền Trang.
Cô nữ biệt động năm xưa trên màn ảnh giờ đang hạnh phúc nơi tổ ấm với
hai con, một trai, một gái và đã lên “chức” bà ngoại. Chồng chị là một
nhà khoa học bận bịu với công tác nghiên cứu nhưng rất yêu nghệ thuật.
Thanh Loan dù không còn đóng phim nhưng vẫn yêu nghệ thuật và công việc
hiện tại vẫn liên quan mật thiết đến điện ảnh (chị đang là Phó Giám đốc
Điện ảnh Công an nhân dân).
Thanh Loan ngày ấy - bây giờ
Hà Xuyên – Hoàng hậu "chân đất"
Nữ diễn viên vào vai bà vợ giả tư sản đài các Ngọc Mai cặp
với trùm tình báo Tư Chung kỳ thực lại là một người đẹp đến
từ đồng quê chiêm trũng Thái Bình. Trước khi đến với điện
ảnh, cô từng là diễn viên múa chuyên nghiệp.
Vẻ sắc sảo của Hà Xuyên trong vai Ngọc Mai - vợ giả của Tư Chung
Có duyên với những vai người vợ trên phim nhưng cuộc sống hôn nhân
của chị lại gặp nhiều trắc trở. NSƯT Hà Xuyên kết hôn năm 20 tuổi. Một
năm sau, chị sinh con gái đầu lòng và sinh thêm con trai năm 1990. Nhưng
số phận trớ trêu, vào lúc tưởng chừng sự nghiệp công danh, gia đình
đang tròn trịa, viên mãn nhất, thì vợ chồng chị ly hôn.
Hiện tại, NSƯT Hà Xuyên đã nghỉ hưu, sau 13 năm công tác tại Trung
tâm Nghiên cứu nghệ thuật và Lưu trữ Điện ảnh. Chị sống bình an cùng hai
con đã khôn lớn. Ngoài công việc đóng phim, NSƯT Hà Xuyên thường tham
gia công tác từ thiện với nhóm bạn bè.
Hà Xuyên cũng trở lại cùng Quang Thái trong phim Những Đứa Con Biệt Động Sài Gòn vừa qua.
Hà Xuyên bây giờ và kiều nữ ngày xưa
Thúy An – minh tinh lận đận
Có lẽ trong nhóm kiều nữ Biệt Động Sài Gòn, Thúy An là người có cuộc đời riêng lận đận nhiều nhất.
Thúy An trong phim Biệt Động Sài Gòn
Sinh ra ở vùng miền Tây Nam Bộ nhưng Thúy An đã sớm lên Sài Gòn mưu
sinh với nghề bán nước mía. 17 tuổi, bà vô tình được đạo diễn Hồng Sến
phát hiện và mời tham gia vào vai nữ chính trong phim Cánh đồng hoang.
Sau phim này, Thúy An kết duyên với Hồng Sến. Và nhờ là vợ
Hồng Sến nên bà đã được vào vai cô gái bán cháo lòng, người
yêu của Sáu Tâm trong phim Biệt Động Sài Gòn.
Bà Thúy An bây giờ và kiều nữ một thuở
Có lẽ định mệnh của nhân vật đã gắn vào đời tư của Thúy An
khi cuộc sống ngoài đời của bà cũng khá lận đận về tình
duyên.
Sau khi chồng - đạo diễn Hồng Sến qua đời năm 1993, Thuý An chuyển
sang học nghề kim hoàn. Ban đầu thì bỏ mối, gia công cho các tiểu thương
bên Lào, sau thấy làm ăn được nên chị qua đó mở tiệm luôn.
Tình cờ chị gặp một khách hàng là anh Nguyễn Hồng Thanh, quê Bạc Liêu
nhưng sống ở Đức, đi tìm địa điểm mở chi nhánh ở Lào cho công ty dệt
len nơi anh công tác. Tình yêu nảy nở, rồi chị theo anh sang Đức cho đến
giờ...
Thuý An ra đi khá lặng lẽ, ngay cả Hà Xuyên chơi thân là thế cũng
không biết chuyện chị đi. Chị làm đám cưới tại Đức và cũng không hề
thông tin gì về nhà vì muốn có một cuộc sống yên ổn. Thời gian đầu, Thuý
An cũng gặp nhiều khó khăn để làm quen với môi trường mới, mất khá
nhiều thời gian để học tiếng Đức. Ngoài ra, nghề nữ trang thì không còn
đất sử dụng nên về sau chị vào làm trợ lý cho công ty của ông xã.
Hồi đầu năm 2012, khi các thành viên trong đoàn làm phim Biệt động Sài Gòn
tái ngộ sau hơn 25 năm, Thúy An mới tới tham dự. Bạn bè, đồng nghiệp và
người hâm mộ khi ấy mới có dịp biết về cuộc sống hiện tại của nữ diễn
viên tài danh này.
Poster một trong những bộ phim trinh thám hiếm hoi ấn tượng nhất màn ảnh Việt
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét