ĐỌC SÁCH 1/g (“Trung Quốc của Mao Trạch Đông”"

(ĐC sưu tầm trên NET)

Sách là ngọn đuốc soi rọi chân lý, là chiếc khăn thấm đẫm máu, nước mắt và lòng nhân ái của loài người! 
------------------------------------------------------------------

-Từ ngày cách mạng vô sản nổ ra và "thành công vang dội", bao nhiêu chiến sĩ cộng sản ưu tú lâm vào cái chết oan ức, bi kịch vì bị đồng chí mình thanh trừng, mấy ai được sống trọn vẹn một cuộc đời trong an lành, hạnh phúc?
-Hết nạn đày đọa thanh trừng thì đến nạn thoái hóa, biến chất! Ngày nay, còn bao nhiêu người cộng sản vẫn hoạt động quên mình vì chủ nghĩa cộng sản, vì nhân dân phục vụ?
-Danh lợi, khi hết thơm rồi thì thối quá chừng!
-Ngày xưa hình tượng người đảng viên cộng sản đẹp bao nhiêu thì ngày nay hình tượng đó xấu xí, tầm thường, tha hóa bấy nhiêu. Tại sao?
-Ôi, khai quốc công thần! Ôi, đấu tranh giai cấp! Ôi, chuyên chính vô sản! Ôi, "định hướng XHCN"!
-Im lặng trước tà ác, chính là ủng hộ cho nó. Có một câu danh ngôn của Napoleon: “Thế giới chìm đắm trong đau khổ không phải vì tội ác của kẻ xấu mà là vì sự im lặng của những người tốt”!
-Bắt chước Putin: "Ai mãi đi theo CNCS, người đó không có trí não, ai khước từ lòng tốt của nó, người đó không có trái tim!". 

-----------------------------------------------------------------------



Mao Trạch Đông

Phan Ba dịch từ chuyên san lịch sử “Trung Quốc của Mao Trạch Đông” do GEO Epoche xuất bản.
Quyển sách bao gồm các chương sau đây:
  • Tên cướp đỏ: 1921 – 1931: lần thăng tiến của Mao
  • Con người chuyên quyền kia: Tưởng Giới Thạch
  • Cuộc chạy trốn qua núi: 1934 – 1935: “Vạn lý Trường chinh”
  • Địa ngục Nam Kinh: Cuộc thảm sát tại Nam Kinh
  • Trận đấu tay đôi vì Trung Quốc: 1946 – 1949: nội chiến
  • Khởi hành vào một kỷ nguyên mới: 1940 – 1954: cải tạo Xã hội Chủ nghĩa
  • Cuộc chiến chống Mỹ: 1950 – 1953: Chiến tranh Triều Tiên
  • Sự điên khùng của một bạo chúa: 1958 – 1961: “Đại nhảy vọt”
  • Cuộc chiến của những đứa trẻ con: 1966 – 1976: Cách mạng Văn hóa
  • Chuyến viếng thăm của kẻ thù giai cấp: Chuyến đi thăm Trung Quốc của Nixon
  • Cái chết của ông Hoàng đế Đỏ: 1976 Mao qua đời
  • Kế hoạch cho lần trỗi dậy: Trung Quốc mở cửa
  • Cơn bão trên Thiên An Môn: Thảm sát Thiên An Môn
-------------------------------------------------------------------------

(Tiếp theo)

Cuộc chiến chống Mỹ

1950 – 1953: Chiến tranh Triều Tiên
Sebastian Kretz
Phan Ba dịch từ chuyên san lịch sử “Trung Quốc của Mao Trạch Đông” do GEO EPOCHE xuất bản
Trong mùa Hè năm 1950, quân đội Liên Hiệp Quốc do Hoa Kỳ dẫn đầu đổ bộ xuống Nam Triều Tiên để ngăn chận lần tiến quân của miền Bắc Cộng sản. Mao thấy Trung Quốc bị đe dọa – và gửi một đạo quân sang nước láng giềng.

Lính Mỹ nhảy dù xuống gần biên giới với Trung Quốc trong mùa Thu 1950. Ảnh: GEO EPOCHE
Lính Mỹ nhảy dù xuống gần biên giới với Trung Quốc trong mùa Thu 1950. Ảnh: GEO EPOCHE
Những người đàn ông đã tháo các cầu vai có ngôi sao đỏ, cả quân hàm, bảng tên – tất cả những gì chứng minh họ là thành viên của “Quân đội Giải phóng Nhân dân” Trung Quốc. Bóng tối phủ trên dòng sông biên giới Áp Lục, khi họ mang ngựa, xe tải và súng lớn qua chiếc cầu sang Bắc Triều Tiên.Đó là hàng chục ngàn người lính, những người đang băng qua sông, nhưng tất cả đều âm thầm giống như ma: không có mệnh lệnh to tiếng, còn không có nói chuyện nữa. Toàn bộ đèn ở hai bên biên giới đều được tắt đi trong đêm đó, không một người dân địa phương nào được phép rời khỏi nhà của mình.
Vào ngày 19 tháng 10 năm 1950 đó, Trung Quốc không hành quân vào cuộc chiến – mà rón rén bước vào.
Đó được cho là những người tình nguyện, nhưng thật ra các đơn vị do nhà cầm quyền Trung Quốc tuyên bố thuộc vào “Quân tình nguyện Nhân dân Trung Quốc”, cái mới vừa được thành lập, lại chủ yếu là các đơn vị của quân đội chính quy. Lực lượng này nhận mệnh lệnh của mình từ cấp cao nhất: Mao Trạch Đông đã gửi họ để giúp đồng minh Bắc Triều Tiên Kim Nhật Thành.
Trong đêm của tháng 10 đó, người nguyên thủ quốc gia Trung Quốc thách thức một cường quốc thế giới – vì chiến đấu trên bán đảo Đông Á ấy không chỉ có người Triều Tiên mà là cả quân lính Hoa Kỳ nữa.
TỪ KHI Đệ nhị thế chiến chấm dứt, nước Triều Tiên bị chia cắt: Nửa phần của đất nước ở phía Bắc của vĩ tuyến 38 bị quân độ Xô viết chiếm đóng, phần phía Nam do người Mỹ. Trong những năm kế tiếp theo sau đó, cả hai phần đất đều đã thiết lập một nhà nước riêng dưới ảnh hưởng của thế lực chiếm đóng tương ứng: nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên có định hướng Xã hội Chủ nghĩa ở miền Bắc và nước Cộng hòa Triều Tiên có định hướng chống Cộng sản ở miền Nam.
Chẳng bao lâu sau khi thiết lập nhà nước, Kim Nhật Thành, lãnh tụ Cộng sản của miền Bắc, quyết định hợp nhất Triều Tiên dưới sự thống trị của mình – và sau khi do dự ít lâu, cuối cùng thì nhà độc tài Xô viết Josef Stalin và Mao Trạch Đông cũng đã đồng ý với kế hoạch xâm lược.
Mao cũng như Kim Nhật Thành đều không tin rằng Hoa Kỳ sẽ gửi quân đội đến khi người Bắc Triều Tiên tấn công miền Nam. Cuối cùng thì Ngoại trưởng Hoa Kỳ Dean Acheson vừa mới tuyên bố rằng vành đai bảo vệ đất nước của ông ấy ở châu Á chạy dọc theo bờ biển Tây của Nhật Bản – ông ấy không nhắc đến Triều Tiên. Và vì thế mà quân đội của Kim Nhật Thành tấn công miền Nam vào ngày 25 tháng 6 năm 1950.
Hai ngày sau đấy mới biết rằng Kim và Mao đã đánh giá sai tình hình: vì Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman lo ngại quân đội Cộng sản sẽ tiến đến gần nước Nhật một cách đầy đe dọa sau một chiến thắng của Kim, nên ông đã ra lệnh hành quân.
Khi trong cùng ngày hôm đó Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (cái mà Liên bang Xô viết vừa mới tẩy chay) lên án cuộc xâm lược, có thêm 15 quốc gia nữa gửi quân lính đến Nam Triều Tiên. Thế nhưng trước khi các lực lượng LHQ đầu tiên (bao gồm khoảng 90% là lính Mỹ) đến được bán đảo vào đầu tháng 7, quân đội của Kim đã thâu tóm được thủ đô Nam Triều Tiên là Seoul và nhiều phần rộng lớn của Nam Triều Tiên.
Dẫn đầu khối đồng minh LHQ là một anh hùng quốc gia người Mỹ: Tướng Douglas MacArthur, người chiến thắng Đế quốc Nhật trong Đệ nhị Thế chiến. Thế nhưng trong những tuần đầu tiên, ông ấy hầu như không thể chống trả lại được với quân đội của Kim.
Người của ông, đã quen với cuộc sống chiếm đóng êm đềm ở Nhật, đã không đánh trận nào kể từ khi Đệ nhị thế chiến chấm dứt. Thêm vào đó, họ thua kém người Bắc Triều Tiên về số quân. Cho tới tháng 8, họ bị đẩy lùi về phần đất cuối cùng ở phía Nam của bán đảo.
Chỉ khi một chiến dịch nhảy dù có quy mô rộng lớn của MacArthur thành công ở phía sau lưng người Bắc Triều Tiên, may mắn trong chiến tranh mới đảo ngược lại trong tháng 9 năm 1950: bây giờ thì lực lượng LHQ tiến lên, trong khi quân đội Bắc Triều Tiên hầu như tan rã trong cuộc tháo chạy hỗn loạn về phía Bắc. Người Mỹ và đồng minh của họ tái chiếm Seoul và vào ngày 9 tháng 10 đã vượt vĩ tuyến 38, giới tuyến giữa hai quốc gia Triều Tiên. Chẳng bao lâu sau đó, họ còn tiến đến gần biên giới với Trung Quốc nữa.
Mao cảm thấy bị khiêu khích – nhất là khi ông ấy phỏng đoán rằng Hoa Kỳ về lâu dài sẽ không chấp nhận một Trung Quốc Cộng sản. Cuối cùng thì Tổng thống Truman trong tháng 6 cũng không chỉ ra lệnh hành quân cho quân đội Mỹ ở Triều Tiên mà gửi cả chiến hạm Mỹ vào eo biển giữa Trung Hoa lực địa và Đài Loan – và qua đó đã phá hỏng kế hoạch xâm chiến hòn đảo do Tưởng Giới Thạch thống trị bởi quân đội Cộng sản.
Nếu như xung đột quân sự với Hoa Kỳ là không thể tránh được, tính toán của Mao là như thế, thì ít nhất là ông ấy muốn quyết định lần bắt đầu của nó. Vì thế mà ngay từ lúc chiến tranh ở Triều Tiên mới bắt đầu, ông ấy đã tập trung quân đội lại ở trong miền Đông Bắc của đất nước của ông ấy, ở gần biên giới với Bắc Triều Tiên; bây giờ có 250.000 người lính đang chờ lệnh hành quân của mình ở đấy.
Nhưng vì Mao không muốn khiêu khích Hoa Kỳ và LHQ tấn công Trung Quốc qua một lần tham chiến chính thức nên ông ấy dùng một mưu mẹo: người sếp của ĐCS quả quyết rằng những “người tình nguyện” của ông ấy đã tự phát đến giúp đỡ dân tộc anh em – vì thế mà có những bộ quân phục giản đơn như thế. Thật sự thì ông còn ép buộc cả những người từng theo Quốc Dân Đảng phải cầm súng.
Và vì Mao người du kích quân thời xưa biết rõ tác động của một cuộc tấn công bất ngờ nên các chiến binh Trung Quốc đã lặng lẽ bước qua biên giới.
NGAY TRONG ĐÊM ĐẤY, các sĩ quan đã đẩy người của mình đi về hướng mặt trận. Không bị các phi công trinh sát của Hoa Kỳ phát hiện, họ hành quân về phía Nam một tuần liền: họ nghỉ ngơi vào ban ngày, tiến quân vào ban đêm.

Mãi sau hai tháng chiến tranh chống quân đội của Mao, lực lượng LHQ mới lại giành được ưu thế: tù binh Trung Quốc ở mặt trận đang xin tha mạng sống vào cuối tháng 1 năm 1951. Ảnh: GEO EPOCHE
Mãi sau hai tháng chiến tranh chống quân đội của Mao, lực lượng LHQ mới lại giành được ưu thế: tù binh Trung Quốc ở mặt trận đang xin tha mạng sống vào cuối tháng 1 năm 1951. Ảnh: GEO EPOCHE
Vào ngày 25 tháng 10, người Trung Quốc tấn công các đơn vị Nam Triều Tiên đầu tiên. Địch thủ hầu như không kháng cự, nhanh chóng bỏ các vị trí cách Seoul khoảng 350 kilômét của họ. Và cả khi một vài đơn vị của Mao gặp phải quân đội Mỹ bị hoàn toàn bất ngờ vài ngày sau đó, họ cũng chiếm ưu thế.Nhưng ngay sau các trận đánh đầu tiên, người Trung Quốc lại rút lui lên những ngọn núi của Bắc Triều Tiên – và để cho quân đội LHQ tin rằng việc tồi tệ nhất đã qua rồi, vâng, và rằng chiến thắng chung cuộc đang đứng ở ngay phía trước.
Mãi đến cuối tháng 11, khi người Trung Quốc, sau một giai đoạn nghỉ ngơi kéo dài ba tuần, dùng toàn bộ sức mạnh tấn công vào các lực lượng của LHQ ở Bắc Triều Tiên, các viên chỉ huy người Mỹ mới tỏ tường về quy mô của lần người Trung Quốc hành quân.
Bành Đức Hoài, tư lệnh của quân tình nguyện, biết cách sử dụng thế mạnh của những người lính của ông. Ông hướng tới một câu nói phương châm của Mao: “Con người là quyết định chứ không phải sự vật.”
Quân đội Trung Quốc bù đắp cho sự thiếu thốn về trang bị quân sự hiện đại bằng những lượng người khổng lồ, những người có tinh thần chiến đấu cao qua giáo huấn chính trị liên tục trong quân đội Trung Quốc.
Mao có thể gửi tiếp viện liên tục từ những nơi sâu trong lãnh thổ của ông ấy. Vào cuối tháng 11 năm 1950 đã là 250.000 người, sau này có cho tới 750.000 người lính Trung Quốc đứng trên bán đảo đó.
Cả người con trai Ngạn Anh 28 tuổi của Mao cũng lên đường, hẳn là người tình nguyện thật sự, ra chiến trận – và đã hy sinh vào ngày 25 tháng 11 năm 1950 trong một trận ném bom của quân đội LHQ vào đơn vị của anh ấy.
Thường người Trung Quốc tránh tấn công trực tiếp trên diện rộng, việc mà quân đội LHQ với vũ khí tự động của họ, pháo binh của họ và máy bay chiến đấu của họ có thể dễ dàng chống cự lại. Thay vì vậy, họ cố thủ trên những ngọn núi nằm quanh đó và chờ cho tới khi những người lính LHQ đi ngang qua. Rồi họ chận đường để cắt đường rút lui của họ và dùng súng cối với súng cá nhân bắn họ.
Thêm vào đó, họ liên tục dùng những đội quân nhỏ để tấn công vào những điểm yếu trong tuyến phòng thủ của người Mỹ. Nếu một nhóm tấn công bị súng máy Mỹ hạ gục thì nhóm khác sẽ tiếp theo ngay lập tức – cho tới chừng nào mà có thể phá vỡ chiến tuyến được.
Lính LHQ bị sốc bởi cách tấn công của người Trung Quốc và bởi sức mạnh bất ngờ của cuộc tấn công của họ.
Mặc cho không quân Mỹ ném bom ồ ạt, khiến cho hàng ngàn người Trung Quốc tử thương, Quân Tình nguyện Nhân dân đã đẩy lùi quân đội LHQ về phía Nam – và qua đó đã đã bắt buộc siêu cường quốc Hoa Kỳ phải tiến hành cuộc rút quân dài nhất trong lịch sử quân đội của họ.
Gần hai tháng trời, người Trung Quốc cứ đẩy lùi đối thủ của họ như thế.
Trong đêm rạng sáng ngày 1 tháng 1 năm 1951, quân đội Mao vượt vĩ tuyến 38; chẳng bao lâu sau đó, thủ đô Seoul đã bị tàn phá của Nam Triều Tiên lại bị tràn ngập lần thứ ba. Mãi đến cuối tháng 1 năm 1951 cuộc tiến công của những người Cộng sản mới chấm dứt.
Bây giờ, các tổn thất vô cùng to lớn về con người ngày càng có tác động mạnh hơn, trang bị của người Trung Quốc có chất lượng quá thấp cho một cuộc tấn công kéo dài: họ mang vũ khí lạc hậu, thường là của Nhật từ Đệ nhị thế chiến; giày vải của những người lính hầu như không thể bảo vệ họ trước cái lạnh được, thiếu ăn và ăn mặc rách rưới, họ kéo lê thân mình qua Triều Tiên.
Ngược lại, người Mỹ ngày càng thành công hơn trong việc sử dụng ưu thế vũ khí của họ. Thêm vào đó, thời gian sau này họ đã vượt qua được cơn sốc mà sự xuất hiện bất thình lình của những biển người địch thủ Trung Quốc đã gây ra.
TRONG MÙA XUÂN năm 1951, chiến tuyến nằm ở giữa bán đảo – tương đối chính xác ở nơi mà cuộc chiến tranh đã bắt đầu gần nửa năm trước đó. MacArthur bây giờ muốn tiến lên phía Bắc thêm lần nữa. Ông ấy còn thúc giục tấn công Trung Quốc nữa.

Lính Mỹ trên đường ra mặt trận gặp người dân chạy nạn, tháng 8 năm 1950. Ảnh: GEO EPOCHE
Lính Mỹ trên đường ra mặt trận gặp người dân chạy nạn, tháng 8 năm 1950. Ảnh: GEO EPOCHE
Tuy vậy, giới công chúng Mỹ đã mệt mỏi vì chiến tranh từ lâu. Nhưng do MacArthur cứ khăng khăng giữ kế hoạch của ông ấy và Tổng thống Truman bị chỉ trích công khai vì sự dè dặt của mình nên vị nguyên thủ quốc gia Mỹ không còn lựa chọn nào khác hơn là sa thải người anh hùng của Đệ nhị thế chiến.Trong tháng 7 năm 1951, các đàm phán viên đã gặp nhau tại những cuộc thương lượng ngừng bắn đầu tiên. Thế nhưng các bên không thể thống nhất về đường biên giới. Thêm vào đó, câu hỏi về tù binh chiến tranh đã ngăn chận một sự thống nhất: Hoa Kỳ không muốn gửi trả những người Trung Quốc bị bắt trở về nước Cộng hòa Nhân dân mà không có sự đồng ý của họ – nhưng Mao cứ nhất định yêu cầu phải như thế.
Trong khi những cuộc thương lượng cứ tiếp tục kéo dài, các địch thủ chiến đấu chống nhau trong một cuộc chiến tranh chiến hào dơ bẩn. Người Trung Quốc thiết lập một hệ thống lối đi và hầm trong núi. Về đêm, họ tiến công trong những nhóm nhỏ, rồi lại nhanh chóng rút lui vào trong sự an toàn của những con đường hầm.
Mặc dù chiến tuyến hầu như không dịch chuyển, Hoa Kỳ mất hơn 16.000 người lính – gần bằng trong năm của những cuộc tiến quân và rút lui.
Mãi đến mùa Hè năm 1953, các đại diện của Liên Hiệp Quốc, Bắc Triều Tiên và của Quân Tình nguyện Nhân dân mới thống nhất một cách hết sức khó khăn: vào ngày 27 tháng 7, những người đàm phán đã ký kết một hiệp định ngưng bắn trong một ngôi nhà được vội vã dựng lên trong ngôi làng Panmunjeom, cách Seoul 60 kilômét về phía Bắc. Ranh giới chỉ bị dịch chuyển nhỏ trong ba năm chiến tranh đó, phần thiệt chủ yếu thuộc về Bắc Triều Tiên,
Hàng triệu người đã chết trong các trận đánh, trong đó có gần 37.000 người lính Mỹ – và có lẽ là 600.000 người Trung Quốc (cho tới ngày nay vẫn không thể đưa ra con số nạn nhân chính xác của Trung Quốc lẫn của Triều Tiên được). Tuy vậy, Mao đã ăn mừng hiệp định này như một chiến thắng, vì đất nước của ông ấy đã đối đầu được với một cường quốc thế giới.
Thêm vào đó, với cuộc chiến tranh ở Triều Tiên, nước Cộng hòa Nhân dân đã bước bước chân đầu tiên: trên con đường trở thành cường quốc.
Sebastian Kretz
Phan Ba dịch
(còn tiếp) 

46 hình ảnh khủng khiếp về cuộc chiến tranh Triều Tiên

07:02 | 27/06/2015
|
Loạt ảnh về cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) do tờ The Boston của Mỹ đăng tải khiến người xem không khỏi chấn động vì sự tàn khốc của cuộc chiến này. Cuộc chiến đã kết thúc cách đây hơn 60 năm, nhưng những ám ảnh chết chóc của nó vẫn còn dai dẳng trên bán đảo Triều Tiên đến tận ngày nay…

Với đứa em trai trên lưng, cô bé Triều Tiên mệt mỏi bước đi một cách khó nhọc qua một chiếc xe tăng M-26 tại Haengju, Hàn Quốc, ngày 9/6/1951. Ảnh: Hải quân Mỹ.
Một trong bốn thi thể của lính Mỹ thuộc Trung Đoàn 21 Bộ Binh, Sư đoàn 24, được tìm thấy gần các trạm quan sát gần mặt trận ngày 10/7/1950 trong tình trạng bị bắn vào đầu khi tay bị trói sau lưng. Họ có thể đã bị bắt và hành quyết vào đêm 9/7, và sau đó bắn. Cùng với điều này là một loạt các trang thiết bị bị đốt cháy và phá hủy. Ảnh: AP.
Một xe tăng Mỹ đi sau một đoàn tù binh chiến tranh trên một con đường làng, ngày 26/9/1950. Ảnh: Bộ Quốc phòng Mỹ.
Những tân binh Hàn Quốc ngồi chờ đợi để được chuyển giao cho một trung tâm huấn luyện của quân đội để phục vụ cho cuộc chiến chống lại miền Bắc, ngày 17/7/1950. Ảnh: AP.
Trực thăng thuộc Phi đội trinh sát số 6 của Mỹ đưa binh sĩ bị thương từ chiến trận về cơ sở y tế của Sư đoàn thủy quân lục chiến số 1, năm 1950. Ảnh: Bộ Quốc phòng Mỹ.
Thi thể một lính xe tăng của miền Bắc nằm trên mặt đất (phía dưới bên trái) sau khi chiếc xe tăng của anh bị bắn gục trong cuộc tấn công quân Hàn Quốc tại Indong, Bắc Waegwan, ngày 13/8/1950. Ảnh: AP.
Một loạt bom 500 cân Anh rời khỏi khoang chứa bom của máy bay B-29 trong phi vụ oanh tạc các phần lãnh thổ do Bắc Triều Tiên kiểm soát. Đợt ném bom đầu tiên bao trùm diện tích 21 dặm vuông phía Tây của sông Naktong, Hàn Quốc vào ngày 16/8/1950, vị trí mà Mỹ cho rằng quân đội miền Bắc đang chuẩn bị cho một cuộc tấn công toàn diện. 98 chiếc B-29 đã thả hơn 850 tấn bom trên khu vực này. Ảnh: AP.
Máy bay AD-3 của hải quân Mỹ (chính giữa, phía trên bức ảnh) rút lui sau khi vừa bổ nhào để thả một quả bom 2.000 cân Anh vào đầu cầu phía Triều Tiên của cây cầu bắc qua sông Áp Lục ở Sinuiju, Mãn Châu Lý vào ngày 15/11/1950. Ảnh: Bộ Quốc phòng Mỹ.
Những người lính cảnh giới ngồi trên xe quân sự được ngụy trang bằng rơm tạimột trụ sở chỉ huy của quân Mỹ ở Hàn Quốc, ngày 12/6/1950. Ảnh: AP / Charles P. Gorry.
Khói bốc lên từ đống đổ nát của ngôi làng Agok khu vực phía Bắc của Hàn Quốc tháng 8/1950. Ảnh: AP / Max Desfor.
Hai tù nhân Bắc Triều Tiên bị bắt trong cuộc chiến tại Yongsan ngày 2/9/1950 ngồi trên mui xe jeep dưới sự giám sát của lính Mỹ thuộc Sư đoàn bộ binh số 2. Ảnh: AP.
Bức ảnh này từng được quân đội Mỹ xếp vào hạng “tối mật”, ghi lại cuộc thảm sát 1.800 tù nhân chính trị do quân đội miền Nam Triều Tiên thực hiện tại Daejeon, trong ba ngày của tháng 7/1950. Các nhà sử học và nhân chứng sống sót khẳng định binh lính Hàn Quốc đã hành quyết nhiều thường dân khi các lực lượng của Liên Hợp Quốc rút lui trước cuộc tấn công của quân đội Bắc Triều Tiên vào giữa năm 1950. Những nạn nhân này bị tình nghi có cảm tình với miền Bắc và có thể cộng tác với đối phương. Ảnh: AP.
Bốn tàu đổ bộ của Mỹ đưa quân lính và thiết bị lên bãi biển Incheon ngày 15/9/1950. Ảnh: AP.
Tướng Douglas MacArthur (mặc áo khoác da) thị sát mặt trận Inchon mới được mở ra ở Tây Hàn Quốc vào ngày 19/9/1950. Đi cùng là Thiếu Tướng Edward M. Almond (bên trái), Tư lệnh Quân đoàn số 10 và Phó Đô đốc Arthur D. Struble, Tư lệnh Hạm đội số 5. Ảnh: AP.
Toàn cảnh thành phố Taejon bị thiêu rụi, ngày 30/9/1950. Ảnh: AP/ Jim Pringle.
Tù nhân bị bắt giữ sau cuộc tuần tra của quân Mỹ tại phía Nam Kusong, lãnh thổ miền Bắc Triều Tiên về, ngày 16/11/1950. Ảnh: AP/ Hank Walker.
Bác sĩ phẫu thuật cho một lính thủy quân lục chiến Mỹ bị thương trong cuộc chiến, ngày 25/6/1950. Ảnh: Bộ Quốc phòng Mỹ.
Sau khi người dân báo cáo rằng quân đội Bắc Triều Tiên đã đang chiếm cứ một đường hầm tại Seoul, lính Mỹ đã bao vây các lối vào đường hầm này. Một lính thủy quân lục chiến đã ném lựu đạn vào bên trong, tháng 9/1950. Ảnh: AP / Max Desfor.
Thi thể của khoảng 400 dân thường nằm trong và xung quanh hào trong sân nhà tù Taejon, tháng 9/1950. Các nhân chứng nói rằng các tù nhân bị buộc phải đào mộ của riêng mình trước khi chết. Ảnh: AP / James Pringle.
Các thành viên của một gia đình ở miền Nam Triều Tiên nằm giữa mớ hỗn độn trên đường phố đổ nát sau các trận đánh tại Seoul, tháng 9/1950. Ảnh: AP / Max Desfor.
Lính dù nhảy xuống từ chiếc máy bay vận tải C-119 của Không quân Mỹ trong chiến dịch được tiến hành tại một địa điểm bí mật ở Hàn Quốc, tháng 10/1950. Ảnh: AP / Max Desfor.
Lính dù của các lực lượng Liên Hiệp Quốc nhảy từ máy bay gần các thị trấn Sukchon và Sunchon của miền Bắc Triều Tiên, ngày 20/10/1950. Ảnh: AP / Max Desfor.
Một xe tăng Mỹ vượt qua rào cản do đối phương dựng lên gần Seoul, Hàn Quốc, ngày 7/10/1950, khi Sư đoàn bộ binh số 7 chuẩn bị càn quét khu vực và tiêu diệt các tay súng bắn tỉa. Ảnh: AP.
Cảnh cây cối trên ngọn đồi 931 - một cao điểm quan trọng trên lãnh thổ Nam Triều Tiên bị pháo binh và máy bay ném bom của lực lượng Liêp Hiệp Quốc – Mỹ hủy diệt, ngày 22/10/1950. Có thể nhìn thấy các hệ thống hầm hào phức tạp của quân đội miền Bắc trên cao điểm này. Ảnh: AP / GS.
Thi thể của hơn 60 người Triều Tiên bị đánh đập đến chết được tìm thấy trong một hầm mỏ tại Kum Bong San, ngày 19/10/1950. Trước đó, họ đã bị giam giữ tại một nhà tù ở Chinnampo. Ảnh: AP.
Quân Anh và Australia lục soát các ngôi ngà ở Hwangju ngày 17/10/1950 trong chiến dịch truy quét trên đường tiến về Bình Nhưỡng, thủ đô của miền Bắc Triều Tiên. Ảnh: AP / Max Desfor.
Tàu đổ bộ chở binh lính Mỹ băng qua vùng nước dày đặc thủy lôi tại cảng Wonsan để tiến về phía bờ biển phía Đông của lãnh thổ Bắc Triều Tiên, ngày 26/10/1950. Khoảng 50.000 lính Mỹ đã đổ bộ lên bãi biển để củng cố lực lượng liên quân trong quá trình tiến quân về biên giới Triều Tiên – Trung Quốc. Ảnh: AP / Gene Herrick.
Các cư dân Bình Nhưỡng và người tị nạn từ các khu vực khác mạo hiểm vượt cây cầu đã hư hỏng của thành phố để chạy về phía Nam sông Taedong khi quân đội Trung Quốc đang tiến vào lãnh thổ miền Bắc, ngày 4/12/1950. Ảnh: AP / Max Desfor.
Một nhóm quân Trung Quốc đầu hàng Đại đội Charley, Sư đoàn thủy quân lục chiến số 7 tại phía Nam Koto-ri, ngày 9/12/1950. Ảnh: Bộ Quốc phòng Mỹ.
Thủy quân lục chiến Mỹ tiến về phía trước sau khi nhận được sự hỗ trợ hiệu quả của không quân trong cuộc đối đầu với quân Trung Quốc tại Triều Tiên, 26/12/1950. Ảnh: Bộ Quốc phòng Mỹ.
Thi thể của lính thủy quân lục chiến Mỹ, thủy quân lục chiến Hoàng gia Anh và lính Cộng hòa Hàn Quốc được tập trung để chờ chôn cất tại Koto-ri, 8/12/1950. Ảnh: Bộ Quốc phòng Mỹ.
Một chiếc máy bay phản lực F86 Sabre tiến hành cuộc oanh kích vào một vị trí đóng quân của lực lượng miền Bắc tại ngôi làng phủ đầy tuyết ở Triều Tiên, ngày 28/5/1951. Ảnh: AP.
Bàn tay bị trói của một người Triều Tiên bị hành quyết ở Yangji hiện ra dưới tuyết, ngày 27/1/1951. Ảnh: AP / Max Desfor.
Bộ binh Canada tranh thủ đọc tin tức về quê nhà trong khi chờ đợi lệnh hành quân để chiến đấu với các lực lượng Trung Quốc đang chờ đợi ở phía trước, ngày 29/2/1951. Ảnh: AP.
Bom hạng nặng từ máy bay ném bom B-26 Invader phá hủy nhà kho tại cảng Wonsan của miền Bắc Triều Tiên, năm 1951. Ảnh: Bộ Quốc phòng Mỹ.
Xe tăng của Sư đoàn bộ binh 25 Mỹ phun lửa vào vị trí của đối thủ tại một sườn đồi gần mặt trận sông Han, ngày 30/3/1951. Ảnh: AP.
Biệt kích đường biển Hoàng gia Anh được tàu hải quân Mỹ đưa vào sâu trong trung tâm của lãnh thổ Bắc Triều Tiên, đang đặt thuốc nổ để phá hủy đường sắt của đối phương gần Songjin trong một chiến dịch táo bạo giữa ngày, ngày 13/ 4/1951. Khoảng 100m của tuyến đường sắt có vai trò quan trọng với quân Trung Quốc đã bị phá hủy. Ảnh: AP.
Những ngôi nhà tranh bị nhấn chìm trong biển lửa sau khi máy bay B-26 của Mỹ thả bom napalm tại một ngôi làng gần Hanchon, Bắc Triều Tiên vào ngày 10/5/1951. Ảnh: AP.
Giữa đống đổ nát của Uijongbu ngày 5/5/1951, một lính Thổ Nhĩ Kỳ trong lực lượng Liêp hợp quốc ngồi trên con la chiếm được trong một cuộc phục kích quân Trung Quốc. Ảnh: AP / Robert Schutz.
Ba người Bắc Triều Tiên trên một thuyền đánh cá bị tàu sân bay USS Manchestercủa Mỹ bắt giữ ngoài khơi, ngày 10/5/1951. Ảnh: Bộ Quốc phòng Mỹ.
Bộ quân phục vẫn còn bốc khói trên thi thể của một binh sĩ Trung Quốc, nằm trong điểm thu gom xác gần Chunchon vào ngày 17/5/1951, sau khi lực lượng liên quân thực hiện các cuộc tấn công lớn nhằm vào kẻ thù ở mặt trận miền Trung của Triều Tiên. Ảnh: AP.
Những cột ánh sáng xuyên qua bầu trời đêm khi tên lửa phóng từ tàu chiến của Mỹ khai hỏa về phía các mục tiêu của đối thủ ở thành phố cảng Wonsan, miền Bắc Triều Tiên vào ngày 1/7/1951. Ảnh: AP / Bộ Quốc phòng Mỹ.
Một lính thủy quân lục chiến Mỹ tạp người xuống trong hầm của mình trên một sườn núi ở phía đông Hàn Quốc khi một quả đạn cối 82 mm nã xuống, ngày 8/4/1952. Ảnh: AP / Edward A. McDade / Hải quân Mỹ.
Khối vỏ đạn pháo và cối khổng lồ của lính Mỹ và Hàn Quốc bắn về đối phương trong 4 ngày được thu gom tại đồn Harry, ngày 18/6/1953. Ảnh: AP / Gene Smith.
Tướng William K. Harrison của Mỹ (trái) và Tướng Nam Il của Bắc Triều Tiên (phải) ký thỏa thuận đình chiến tại Bàn Môn Điếm ngày 27/7/1953, kết thúc cuộc chiến tranh Triều Tiên. Ảnh: AP.
Thủy quân lục chiến Mỹ trên mặt trận phía Tây bán đảo Triều Tiên đọc tin tức tốt lành trong bản tin chính thức về việc hiệp ước đình chiến sắp được ký kết, ngày 26/71953. Ảnh: AP / George Sweers.
Theo Kiến Thức

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32