Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
CÂU CHUYỆN KHOA HỌC* 83
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
LẠM BÀN VII: -Có thể nào nâng nguyên lý bất định của Heisenberg
thành nguyên lý phổ quát về tính lũng đoạn chủ quan của con người vào
thực tại khách quan của Vũ Trụ? Chẳng hạn không thể xác định được mức độ
dũng cảm hay hèn nhát một hành vi nếu không qui ước. Trong khái niệm
"dũng cảm" phải hàm chứa khái niệm "hèn nhát", nếu không, không có khái
niệm ấy. Cũng vậy, khó mà xác định được lòng yêu nước chân chính khi chưa có qui ước. -Tôi
đặt niềm tin vào tính tất nhiên và sự chắc chắn của nguyên lý nhân quả
trong các quá trình chuyển hóa Vũ Trụ. Một khi còn thấy tính ngẫu nhiên,
sự bất định, sự không chắc chắn, tính phi nhân quả...trong các quá
trình chuyển hóa ấy, thì chỉ có nghĩa rằng vật lý học chưa đi đến tận
cùng sự hiểu biết về Vũ Trụ. Nghĩa là, phải chăng đến nay, Vũ Trụ là tất
định đối với Tạo Hóa, nhưng bất định đối với con người? -Ánh
sáng là hạt khi nó đóng vai trò giới hạn cuối cùng của vật chất, và là
sóng khi nó đóng vai trò là tiền vật chất. Hoặc có thể gọi ánh sáng là
giả hạt. chính vì vậy chỉ có thể thấy ánh sáng thể hiện tính sóng hay
tính hạt, chứ không đồng thời thấy được cả hai. -Có
thể hình dung ánh sáng như nước. Ở mức độ nào đó nước được thấy như là
thực thể sóng, ở mức độ khác nó lại được thấy như một tập hợp hạt. Không
thể thấy đồng thời hai thể hiện ấy. -Có thể cho rằng thế giới hạ nguyên tử là miền trung gian giữa thế giới vĩ mô và thế giới vi mô? -Bảo
vệ chủ nghĩa Marx làm gì khi nó đã quá lạc hậu rồi và bộc lộ sai lầm?
Chỉ riêng luận điểm đấu tranh giai cấp mang tính bạo lực và sắt máu,
tiêu trừ một tầng lớp xuất sinh tự nhiên của xã hội (giai cấp tư sản) để
xây dựng một xã hội phi giai cấp đầy lòng nhân ái, nghe đã phản khoa
học và trái khoáy rồi.
LẠM BÀN VIII:
-Nếu không tin là có Chúa, thì phải tin là ý thức có nguồn gốc từ vật chất. -Nhưng muốn tin như thế, phải thấy được cách thức nào hình thành nên ý thức từ vật chất. -Muốn biết điều đó, cần phải bắt đầu từ nguồn gốc sự sống. -Trước hết cần hiểu, ý thức là gì? -Theo quan điểm của Mác - Ănghen thì: Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Thể hiện rằng nội
dung của ý thức do thế giới khách quan quy định. Ý thức là hình ảnh chủ
quan của thế giới khách quan vì nó nằm trong bộ não con người. Ý thức là
cái phản ánh thế giới khách quan nhưng nó là cái thuộc phạm vi chủ
quan, là thực tại chủ quan. Ý thức không có tính vật chất, nó chỉ là
hình ảnh tinh thần, gắn liền với hoạt động khái quát hóa, trừu tượng
hóa, có định hướng, có lựa chọn. ý thức là sự phản ánh thế giới bởi bộ
não con người. Mác từng nói: "Ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó". -Vật chất hun đúc nên những thực thể vô tri. -Vật vô tri chắc chắn là không có ý thức nhưng cũng không thể gọi là vật vô giác. Theo quan niệm của chúng ta, thế giới này chỉ có Tồn Tại, không thể có Hư Vô. Nghĩa là vạn vật vô tri trong khi vận động để thể hiện sự tồn tại, phải vận động tuân theo những qui định của tự nhiên (những quy luật) sao cho chỉ có thể biến đổi trạng thái tồn tại hoặc chuyển sang dạng tồn tại khác chứ không thể Hư Vô đi. Muốn thế, vật vô tri phải có cái gọi là "giác", một thứ như sự "biết" sơ khai, tự phát, thụ động,là tiền đề của cảm giác. -Ở thế giới vô tri, vạn vật đều có giác để tuân theo nguyên lý "cố gắng" duy trì trạng thái tồn tại vốn dĩ của chúng. Với sự "cố gắng" ấy, trong những điều kiện chín muồi nào đó, sẽ hình thành nên "cảm", một thứ tinh tế hóa của giác, để từ đó hun đúc nên cảm giác. -Khi cảm giác xuất hiện, thì cũng chính là đồng thời xuất hiện sự sống. -Trong thế giới vô tri, vạn vật đều có tính cố gắng duy trì tồn tại, thì vì cũng thuộc thế giới ấy nên sinh vật cũng có tính ấy. Nhưng sinh vật cũng hợp thành tương đối một thế giới riêng vì vậy tính ấy cũng có nét đặc thù nên gọi là "cố gắng sống còn". Mục đích nguyên thủy của cảm giác chính là "báo nguy" và định hướng cho sinh vật tìm cách duy trì tồn tại hay "cố gắng sống còn". -Trong thiên nhiên hữu hạn, sự trái chiều của cố gắng sống còn và quy luật tăng - giảm lạm phát số lượng cá thể sinh vật khi gặp điều kiện môi trường thuận lợi hay bất lợi đã làm xuất hiện trong thế giới muôn loài quá trình đấu tranh sinh tồn và tiến hóa thích nghi. -Quá trình tiến hóa thích nghi được thực hiện theo hai hướng cơ bản: hướng thứ nhất là hoàn thiện cấu trúc sinh học cơ thể cho phù hợp hơn với vận động và môi trường, hướng thứ hai là tăng cường và mở rộng khả năng cảm giác (đây là nguồn gốc của việc xuất hiện năm giác quan với xúc giác là giác quan nền tảng). Mục đích của hai hướng tiến hóa thích nghi ấy đều nhằm tăng cường thích ứng với môi trường, tăng cường khả năng tìm kiếm thứ ăn hoặc tránh né kẻ thù, tức là tăng cường sống còn. -Việc tăng cường cảm giác và hoàn thiện cấu trúc sinh học cơ thể sẽ dẫn tới làm xuất hiện hệ thần kinh trung ương và sự hồi ức. -Hồi ức có tính chủ động, là cảm giác lại cảm giác đã qua mà không có đối tượng, là kết quả từ quá trình lâu dài của sự lặp đi lặp lại một cảm giác. -Có thể nói hồi ức là bước đầu tiên của quá trình tiến hóa thích nghi theo định hướng tăng cường cảm giác làm xuất hiện ý thức, tức là làm xuất hiện tư duy trừu tượng. -Lúc đầu là hồi ức (nhớ lại), đến tưởng tượng, rồi đến so sánh và lựa chọn (bước sơ khởi của sự biết, sáng tạo), đó là con đường hình thành nên ý thức. -Tóm lại, không có gì huyền bí, ý thức là kết quả trình đấu tranh sinh tồn và tiến hóa thích nghi. Tương tự như vậy, tình cảm cũng được hình thành nên chủ yếu từ sự đấu tranh xã hội để tìm kế mưu sinh (xã hội nào càng khó khăn trong mưu sinh thì tình cảm càng trở nên sâu sắc!). Và linh hồn được hun đúc nên từ đó. -Qua trên cũng thấy, tôn giáo phải dựa vào khoa học và theo khoa học nếu còn muốn bảo vệ niềm tin tín ngưỡng, còn khoa học muốn giữ vững niềm tin khoa học của mình và là chỗ dựa vững chắc cho nhận thức tự nhiên của loài người thì phải kiên định (nhưng không bảo thủ!), không lung lạc trước phủ dụ tôn giáo.
--------------------------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)
“Bản chất của Ý thức”: Vấn đề khó nhất từ khi khai sinh khoa học hiện đại
Từ khi bắt đầu có suy nghĩ riêng của
mình, có ai từng thử suy nghĩ xem những suy nghĩ này xuất phát từ đâu
chưa? Tại sao tôi thích màu vàng, còn người khác thích màu xanh. Vì sao
có người giỏi hội hoạ, có người giỏi âm nhạc… Đã nhiều nhà khoa học
nghiên cứu bản chất, nguồn gốc của Ý Thức và dần dần khám phá ra nhiều
điều thú vị.
Bức tượng “Người suy tưởng”.
Nếu có
một cái gì đó hiển nhiên rõ ràng nhất nhưng lại bí ẩn khó hiểu nhất thì
đó là Ý THỨC. Ý thức dường như quyết định mọi việc trong cuộc sống của
bạn. Bạn sẽ vui vẻ, hạnh phúc hay thành công cũng từ ý thức này mà ra.
Cùng một sự việc, nhưng có nhiều người cư xử khác nhau, và điều này tất
nhiên không thể dùng máy móc hay trí thông minh nhân tạo để thay thế.
Ngay từ
thời cổ Hy Lạp, một nhà thông thái bậc nhất như Socrates cũng đã phải
thốt lên: “Tôi biết rằng tôi chẳng biết gì cả” (I know that I know
nothing), rồi ông khuyên: “Hãy hiểu chính mình” (Connais-toi, toi
même!). Dường như ông muốn nói với người đời rằng bao nhiêu hiểu biết
cũng chẳng có ý nghĩa gì nếu không hiểu chính mình. Thế nào là hiểu
chính mình? Ấy là đặt ra những câu hỏi về bản thân mình và trả lời những
câu hỏi đó, chẳng hạn: sự hiểu biết của mình có đầy đủ không? Sự hiểu
biết của mình có đúng đắn không? Tại sao mình có thể nhận biết, tư duy,
cảm xúc, suy tưởng? Sự vật mà mình nhận thức được là hiện thực khách
quan hay chỉ là ảo ảnh do ý thức tạo ra? Bản chất của ý thức là gì?… Có
lẽ Socrates không thể tìm được câu trả lời thỏa đáng cho những câu hỏi
này nên ông cảm thấy bao nhiêu sự biết của mình vẫn như chẳng biết gì
cả. Trở ngại chính đối với ông có lẽ là bí mật về bản chất của ý thức.
Từ đó
đến nay, ngót 2 thiên niên kỷ rưỡi đã trôi qua, loài người đã đạt được
những tiến bộ vượt bậc trong sự hiểu biết thế giới, nhưng dường như vẫn
dậm chân tại chỗ trong sự hiểu biết về chính mình, mặc dù các nhà triết
học và khoa học không ngừng nghiên cứu, thảo luận, tranh cãi về bản chất
của ý thức. Tình hình này đã được phản ánh rõ ràng và thú vị trong một
bài báo của Oliver Burkeman trên tờ The Guardian của Anh ngày
21/01/2015. Tiêu đề là một câu hỏi chất vấn: “Tại sao những trí tuệ vĩ đại nhất thế giới đều bất lực trước bí mật của ý thức?” ( Why can’t the world’s greatest minds solve the mystery of consciousness? ).
Hỏi tức là đã trả lời: Bí mật của ý thức vượt quá khả năng của những trí tuệ vĩ đại nhất của nhân loại.
Một trong những trí tuệ đó là René Descartes (1596-1650), nhà toán học
và triết học trứ danh của nước Pháp và thế giới, cha đẻ của Hình học Giải tích,
một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của cuộc cách mạng khoa học và
kỹ thuật lần thứ nhất trong lịch sử văn minh của nhân loại.
1/ Luận thuyết Descartes
Từ nửa
sau thế kỷ 20 cho tới nay, sự phát triển vượt bậc của khoa học và công
nghệ đã tạo ra một lợi thế rất lớn trong việc nghiên cứu bản chất của ý
thức. Ấy là sự ra đời của một ngành khoa học “chạm” vào ý thức của con
người: Khoa học về “Trí thông minh nhân tạo” (Artificial Intellgigence),
viết tắt là AI. Thành tựu của AI đã và đang làm cho mọi người kinh
ngạc, nhiều dự đoán cho rằng AI sẽ chế tạo ra những robot thông minh
bằng và hơn con người trong một tương lai không xa. Năm 1997, chương
trình Deep Blue đã đánh cờ thắng vua cờ Gary Kasparov, làm cho niềm hy
vọng chế tạo ra trí thông minh trở nên hiện thực hơn bao giờ hết.
Nhưng
đúng vào lúc đó, khi tư duy logic cơ giới thô thiển hí hửng nhất, thì
những nhà khoa học có đầu óc triết học sâu sắc lại nhận ra sự thật của
trí thông minh là cái gì ─ cái mà từ xưa tới nay từng được coi là thước đo của trí thông minh là tư duy logic tính toán hóa ra không phải là “thành phần chủ yếu của tư duy thực sự”,
như Douglas Hofstadter nhận định trong cuốn sách nổi tiếng của ông,
“Gödel, Escher, Bach”. Đây là một cuốn sách từng đoạt Giải Pulitzer, một
sách “gối đầu giường” của tất cả các nhà khoa học về trí thông minh
nhân tạo hiện nay, một tác phẩm đặc biệt chuyên sâu dành cho tất cả
những ai quan tâm tới vấn đề bản chất của ý thức và trí thông minh của
con người. Nguyên văn câu nói của Hofstadter như sau:
“Khi một
chức năng não bộ nào đó đã được lập trình thì người ta sẽ mau chóng
ngừng coi nó như một thành phần chủ yếu của tư duy thực sự” (Once some
mental function is programmed, people soon cease to consider it as an
essential ingredient of real thinking) [1]
Đó là một
nhận định mang tính cách mạng về bản chất của ý thức, làm tiêu tan hy
vọng của những ai tưởng rằng có thể giải mã bí ẩn của ý thức thông qua
công nghệ trí thông minh nhân tạo.
Nếu quả
thật toàn bộ ý thức có thể được lập trình thì chắc chắn đến một lúc nào
đó con người sẽ có thể chế tạo ra những robot có ý thức, và như thế thì ý
thức không còn gì là bí mật nữa. Khi đó ý thức có thể được xem như kết
quả của một hệ thống vật chất hoạt động theo những quy tắc logic xác
định. Có nghĩa là thành tựu của khoa học và công nghệ AI một mặt nói lên
sức mạnh của tư duy logic, nhưng mặt khác chỉ ra rằng tư duy logic chỉ
là một bộ phận của ý thức chứ không phải là bộ phận chủ yếu của tư duy
thực sự. Theo tờ The New York Times, Hofstadter cho rằng ý thức thực sự của con người nằm ở tư duy cảm xúc, chẳng hạn như soạn nhạc, viết văn ─ “những lĩnh vực đòi hỏi một linh hồn”, cái mà robot không có và không bao giờ có thể có [1].
Tại sao
robot không thể có tư duy cảm xúc? Đơn giản vì cảm xúc không tuân thủ
chương trình, cảm xúc là một dạng tư duy phi logic (non-logical
thinking) trong khi computer là một cỗ máy hoạt động theo chương trình.
Tóm lại,
thành tựu của AI càng làm cho vấn đề bản chất của ý thức càng trở nên
khó hiểu hơn. Nó chỉ ra rằng con người, hay sự sống nói chung, là những
thực thể hoàn toàn khác biệt với những cỗ máy, mặc dù con người và sự
sống nói chung cũng có những yếu tố của những cỗ máy.
Bài báo
trên tờ The Guardian ngày 21/01/2015 (đã dẫn) cũng có những ý kiến làm
sáng tỏ thêm nhận định nói trên. Xin tóm lược một đoạn thú vị nhất:
Các nhà triết học và khoa học đã tranh cãi nẩy lửa trong hàng thập kỷ nay về vấn đề cái gì làm cho con người phức tạp hơn robot.
Bộ não đặt ra đủ các loại bài toán làm cho các nhà khoa học phải bận
tâm. Chẳng hạn, chúng ta học như thế nào, làm thế nào để ghi nhớ, hoặc
để nhận biết sự vật? Có một số bài toán được xếp vào loại dễ, thí dụ:
Làm thế nào để bạn biết rụt tay lại khi chạm phải nước nóng, hoặc nghe
thấy tên mình trong một căn phòng hội hè ồn ào? Nếu có đủ thời gian và
tiền tài trợ, một ngày nào đó các chuyên gia về thần kinh có thể sẽ đưa
ra lời giải đáp. Chỉ có một bài toán duy nhất thực sự khó, được gọi là Bài toán Hóc búa về Ý thức (the Hard Problem of Consciousness),
nội dung gồm những câu hỏi như: Tại sao mọi quá trình phức tạp diễn ra
bên trong bộ não có cảm giác như từ bên trong nội tâm? Tại sao chúng ta
không chỉ thông minh như robot (nói cách khác, tại sao chúng ta không
ngu như robot) tức là chỉ có khả năng ghi nhận thông tin, hoặc có phản
xạ đáp ứng với ngoại cảnh như tiếng ồn hoặc mùi vị của thức ăn bốc lên
từ xoong chảo,… nhưng vẫn dốt đặc và trống rỗng cuộc sống nội tâm?
Và làm thế nào mà bộ não sản sinh ra những cảm xúc nội tâm đó? Làm thế
nào mà một bộ não nặng khoảng 1.4kg với những mô não mầu hồng nhạt nằm
bên trong hộp sọ lại có thể làm nẩy sinh ra một cái gì đó đầy bí ẩn như ý
thức về sự sống mà nó và toàn bộ cơ thể được gắn vào sự sống đó?
Khởi nguồn những tranh cãi về bản chất của ý thức dẫn chúng ta đi ngược trở về quá khứ những năm 1600, khi René Descartes
nêu lên một luận thuyết về ý thức mà hàng trăm năm sau vẫn là chủ đề để
các học giả tiếp tục tranh cãi mà không tìm thấy lời giải. Một
mặt Descartes nhận thấy không có cái gì rõ ràng hơn và khó bác bỏ hơn
một thực tế là tất cả chúng ta đều có ý thức. Về lý thuyết, tất cả mọi
thứ mà bạn nghĩ là bạn biết về thế giới đều có thể chỉ là một ảo ảnh
được tạo ra để đánh lừa bạn, nhưng bản thân ý thức thì không thể là một
ảo ảnh. Mặt khác, hiện tượng quen thuộc nhất và chắc chắn nhất này lại
không tuân thủ bất kỳ một quy luật thông thường nào của khoa học. Nó
dường như không phải là vật chất. Nó không thể quan sát được, ngoại trừ
sự cảm nhận từ bên trong, bởi chính ý thức của con người. Thậm chí nó
không thể thực sự mô tả được. Do đó, Descartes kết luận, ý thức phải
được tạo ra bởi một chất liệu gì đó đặc biệt, phi vật chất, không tuân
thủ các định luật của tự nhiên; vì thế ý thức ắt phải là một cái gì đó
do Chúa truyền cho chúng ta.
Luận
thuyết Descartes nói trên đẩy khoa học duy vật vào tình trạng bế tắc:
thừa nhận luận thuyết Descartes thì tự bác bỏ mình, không thừa nhận thì
buộc phải chứng minh ý thức là vật chất. Nhưng làm thế nào để chứng
minh?
Bế tắc!
Bốn thế kỷ qua không có chứng minh nào cả! Thành tựu của khoa học về trí
thông minh nhân tạo cho thấy trí thông minh thực sự nằm ở cảm xúc, một
dạng ý thức phi logic, không tuân thủ bất kỳ một chương trình nào cả, và
do đó nó nằm ở bên kia tầm với của khoa học. Trớ trêu thay, khoa học về
trí thông minh nhân tạo không những không chống lại Descartes, mà vô
tình còn ủng hộ Descartes.
Vậy là
sau bốn thế kỷ, luận thuyết Descartes vẫn giữ nguyên giá trị. Bất chấp
sự thắng thế của chủ nghĩa duy vật trong thế kỷ 20, những trí tuệ vĩ đại
nhất trong thế kỷ này vẫn nghiêng về phía Descartes. Nhận định này có
thể kiểm chứng thông qua tư duy của những đại diện khoa học lớn nhất
trong thế kỷ 20.
2/ Các nhà khoa học giỏi nhất nghĩ gì về bản chất của ý thức?
Muốn bác
bỏ Descartes thì phải chứng minh ý thức là vật chất. Rất nhiều công
trình nghiên cứu muốn quy ý thức về một dạng năng lượng, nhưng khốn
thay, không có cách nào để phát hiện ra dạng năng lượng đó. Vậy hãy tìm
hiểu xem những bộ não vĩ đại nhất trong thế kỷ 20 và hiện nay nghĩ gì về
vấn đề này.
Max Planck (1858 – 1947)
Max
Planck là cha đẻ của khái niệm lượng tử, mở đầu cuộc cách mạng vĩ đại về
nhận thức trong thế kỷ 20. Tầm vóc khổng lồ về khoa học và tư tưởng của
ông là điều không thể bàn cãi. Các nhà khoa học duy vật rất ngại trích
dẫn Planck bởi uy tín của ông quá lớn, nhưng ông lại có những phát biểu
đối nghịch hoàn toàn với chủ nghĩa duy vật. Thật vậy, ông tuyên bố:
“Tôi coi
ý thức là nền tảng căn bản, và vật chất bắt nguồn từ ý thức. Chúng ta
không thể biết được những gì đằng sau ý thức. Mọi thứ chúng ta bàn đến,
mọi thứ mà ta coi là đang tồn tại, đều mặc nhận sự tồn tại của ý thức”
(I regard consciousness as fundamental. I regard matter as derivative
from consciousness. We cannot get behind consciousness. Everything that
we talk about, everything that we regard as existing, postulates
consciousness) [2]
Ý Planck
muốn nói ý thức là gốc rễ của mọi nhận thức, phải có ý thức thì mới
nhận biết được vật chất, vì thế không thể giải thích cái gốc rễ ấy là
cái gì được. Giống như trong một hệ logic, không thể giải thích hệ tiên
đề của hệ logic đó, vì hệ tiên đề là những nguyên lý đầu tiên chỉ có thể
thừa nhận như một tiên nghiệm. Trong một trường hợp khác, ông nhắc lại ý
kiến này trên phạm vi toàn vũ trụ.
“Mọi vật
chất bắt nguồn và tồn tại chỉ vì một lực… Chúng ta phải thừa nhận đằng
sau lực này tồn tại một Trí Tuệ có ý thức và thông minh. Trí Tuệ này là
cái sinh ra mọi vật chất” (All matter originates and exists only by
virtue of a force… We must assume behind this force the existence of a
conscious ans intelligent Mind. This Mind is the matrix of all matter)
[3]
Chú ý
rằng chữ “Trí Tuệ” trong câu nói trên được Planck viết hoa. Vậy Trí Tuệ
đó là gì nếu không phải Nhà Thiết kế Thông minh của vũ trụ mà Lý thuyết
Thiết kế Thông minh ngày nay mô tả?
Albert Einstein (1879-1955)
Người
hiểu rõ khái niệm năng lượng hơn ai hết là Albert Einstein, nhưng
Einstein chưa bao giờ thể hiện quan điểm coi ý thức như một dạng năng
lượng, dù chỉ ở mức nghi vấn hoặc đặt vấn đề. Công thức nổi tiếng của
ông, E = mc^2 , thâu tóm toàn bộ năng lượng và vật chất trong vũ trụ,
nhưng không có chỗ cho ý thức ở đó. Ngược lại, ý thức đối với ông vẫn là
một cái gì đó hoàn toàn không thể hiểu được, nó không thể là vật chất.
Ông nói:
“Điều
khó hiểu nhất về vũ trụ là ở chỗ nó có thể hiểu được” (The most
incomprehensible thing about the universe is that it is comprehensible).
Còn ai
hiểu vũ trụ bằng Einstein? Chẳng phải Thuyết tương đối tổng quát của ông
đã mô tả vũ trụ trong một phương trình duy nhất đó sao? [4] Vậy mà ông
không hiểu tại sao cái vũ trụ ấy lại có thể được phản ánh trong ý thức
của con người, hay nói cách khác, làm sao mà con người có thể nắm bắt
được cái vũ trụ mênh mông và kỳ diệu như thế. Giữa vũ trụ và ý thức của
con người có một mối quan hệ tương tác như thế nào để ý thức có thể trở
thành một tấm gương phản chiếu vũ trụ? Nếu vũ trụ quá bí ẩn thì cái ý
thức nắm bắt được vũ trụ còn bí ẩn gấp bội! Tại sao vậy? Vì ý thức không
tuân thủ bất cứ một định luật tự nhiên nào, như Descartes khẳng định!
Nếu vũ trụ quá kỳ diệu để làm cho Einstein phải thốt lên những lời ngạc
nhiên thán phục thì ý thức còn làm cho ông tò mò gấp bội, vì nó hoàn
toàn bí ẩn đối với ông. Ông nói: “Trải nghiệm cái bí ẩn – dù có pha trộn
cảm giác sợ hãi – cũng chính là trải nghiệm mà tôn giáo đã tạo ra. Hiểu
biết về sự hiện hữu của cái mà ta không thể nhìn thấu, của những biểu
hiện lý trí sâu thẳm nhất và cái đẹp rực rỡ nhất, những cái chỉ có thể
đến với trí não của ta trong những hình thức sơ khai nhất; chính cái biết và cái cảm
này làm nên tính tín ngưỡng đích thực; những người có tín ngưỡng sâu
xa” [5] Tín ngưỡng mà ông nói ở đây là niềm tin vào sự hiện hữu của cái
không thể chứng minh được. Đối với những người Thiên Chúa Giáo, đó là
Chúa, là Thượng Đế. Đối với các nhà khoa học như Pascal, Newton, Galilé,
Pasteur, Mendel, Kelvin, Einstein, Heisenberg, Godel,… đó là Đấng Sáng
tạo. Bản thân ý thức cũng là một hiện hữu không thể nhìn thấu, không thể
chứng minh bằng khoa học, vì thế niềm tin vào sự hiện hữu của ý thức
cũng chính là một tín ngưỡng. Vì thế không có gì để ngạc nhiên khi bốn
thế kỷ trước, Descartes cho rằng ý thức có nguồn gốc từ Chúa. Einstein
không nói rõ như Descartes, nhưng cũng nói điều tương tự khi tuyên bố:
“Tư duy trực giác là một quà tặng thiêng liêng…” [6]. Quà tặng thiêng liêng ấy do ai tặng, nếu không phải Đấng Sáng tạo?
Chú ý
rằng tư duy trực giác cũng chỉ là một dạng thức đặc biệt của ý thức. Nó
chẳng phải cái gì khác chiếc đèn pha của ý thức giúp con người phát hiện
được chân lý một cách trực tiếp và bất chợt, không thông qua suy luận.
Tất cả các nhà khoa học lớn đều thấy rõ điều đó. Henri Poincaré, nhà
toán học vĩ đại nhất cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, cũng từng nói “Logic
giúp ta chứng minh, trực giác giúp ta khám phá”. Nhưng có lẽ Einstein là
người băn khoăn nhiều nhất về bí ẩn của trực giác, vì thế ông thường
xuyên nhắc tới vai trò định hướng của trực giác trong khám phá, đồng
thời gợi ý cho chúng ta suy ngẫm về tính chất bí ẩn không thể giải thích
của dạng năng lực tinh thần kỳ lạ này. Ông nói:
“Tri
thức đóng vai trò thứ yếu trên con đường khám phá. Có một sự nhảy vọt
trong ý thức được gọi là Trực giác hay gọi là gì tùy ý, nhờ đó mà bạn
tìm thấy lời giải nhưng bạn không hiểu điều đó diễn ra như thế nào và
tại sao” (The intellect has little to do on the road to discovery. There
comes a leap in consciousness, call it Intuition or what you will, the
solution comes to you and you don’t know or why).
Nếu
Einstein còn để cho chúng ta tự suy đoán nguồn gốc của năng lực tinh
thần kỳ lạ đó thì Nicolas Tesla, một nhà khoa học xuất chúng đầu thế kỷ
20 lại nói rõ rằng nó đến từ một Trung Tâm trong vũ trụ.
Nicolas Tesla (1856 – 1943)
Vào thời
của Tesla, khái niệm trung tâm phát thanh và truyền hình hoặc là chưa
có, hoặc là còn quá non trẻ, vậy mà Tesla đã quan niệm bộ óc của chúng
ta chỉ là một chiếc máy nhận thông tin, giống như chiếc radio hay tivi
bây giờ vậy. Nói cách khác, theo Tesla, ý thức đơn giản chỉ là những
thông tin xuất phát từ một Trung tâm trí tuệ trong vũ trụ. Trung Tâm này
là gì, nếu không phải Thượng Đế? Đây, ông nói:
“Bộ não
của tôi chỉ là một điểm tiếp nhận. Trong Vũ trụ tồn tại một trung tâm mà
từ đó chúng ta nhận được tri thức, sức mạnh, cảm hứng. Tôi chưa thâm
nhập được vào những bí mật của trung tâm này, nhưng tôi biết nó tồn tại”
(My brain is only a receiver. In the Universe there is a core from
which we obtain knowledge, strength, inspiration. I have not penetrated
into the secrets of this core, but I know that it exists) [7]
Câu nói trên, mặc dù không có chứng minh khoa học, nhưng nó mang bóng dáng của một ngoại cảm tiên tri. [8]
Một câu nói khác của ông cũng chứa đựng nhiều gợi ý về bản chất của nhận thức:
“Thật
nghịch lý nhưng là sự thật khi nói rằng chúng ta càng hiểu biết càng trở
nên dốt nát theo nghĩa đen, bởi vì chỉ thông qua sự khai sáng thì chúng
ta mới ý thức được những hạn chế của chúng ta” (It is paradoxical, yet
true, to say, that the more we know, the more ignorant we become in the
absolute sense, for it is only through enlightenment that we become
conscious of our limitations) [9].
Tôi
không rõ câu nói này được nói ra vào thời điểm nào, nhưng nó hoàn toàn
phù hợp với tư tưởng của Định lý Bất toàn của Gödel năm 1931. Định lý
này khẳng định rằng nhận thức của chúng ta bị hạn chế. Nhưng Tesla ý
thức được tính hạn chế đó không phải do Định lý Gödel, mà do được khai
sáng, tức được Thần điểm hóa, hay được Chúa mặc khải, tùy cách gọi. Khái
niệm được điểm hóa thực ra cũng là khái niệm trực giác như Einstein
nhấn mạnh, đó là món quà thiêng liêng…
Kurt Gödel (1906 – 1978)
Như
chúng ta đã thấy, ý thức của con người bao gồm cả logic lẫn phi logic,
và Douglas Hofstadter đã chỉ ra rằng tư duy logic không phải là thành
phần mang tính người nhiều nhất. Tư duy mang tính người nhiều nhất là tư
duy cảm xúc ─ dạng tư duy theo cảm hứng, phi logic và không tuân thủ
chương trình…
Sau một
thời gian dài các nhà khoa học đánh giá trí thông minh theo cái gọi là
IQ, để rồi thấy không ổn, gần đây họ sáng tác ra cái gọi là EQ. Đây là
hệ quả của chủ nghĩa duy vật thô thiển, muốn quy mọi hiện tượng trong
thế giới hiện thực về vật chất có thể cân đong đo đếm được. Điều đáng
buồn là những sáng tác này được đám đông hùa theo, đương nhiên coi đó là
những khái niệm khoa học. Nhưng đối với những người có cái nhìn triết
học sâu sắc, đó chỉ là những trò hề khoa học. Bản thân chữ EQ (Emotional
Quotient) đã là sai lầm, bởi cảm xúc là một hiện tượng không thể đo
được. Nói cách khác, mọi giá trị đo lường về cảm xúc đều phiến diện, sai
lệch, làm méo mó sự thật. Thí dụ, mọi cách cho điểm các bức tranh của
Van Gogh hay Leonardo Davinci đều vô nghĩa, kể cả việc đo giá trị bức
tranh bằng số tiền bán được. Tất cả những con số đó đều là lừa dối,
không phản ánh được cảm xúc thực sự của người thưởng thức tranh. Vì thế,
Hofstadter từng nói nếu computer có thể vẽ tranh hay viết văn ở trình
độ nghệ thuật thì đó sẽ là một thảm họa.
Tất cả
những thảo luận nói trên sẽ có thể kém thuyết phục nếu không có Định lý
Bất toàn của Kurt Gödel, “nhà logic vĩ đại nhất kể từ sau Aristotle”.
Thật trớ
trêu, Định lý Bất toàn là con đẻ của toán học logic, nó đặt nền móng
cho khoa học computer, nhưng nội dung của nó lại nói lên tính bất toàn
của logic. Nếu trường phái Hilbert tôn sùng logic như “đấng toàn năng”
của toán học thì Gödel lại hạ nó xuống đúng vị trí của nó, rằng logic là
ngôn ngữ đắc dụng của computer, với những hạn chế mang tính bản chất
không thể khắc phục được, và đối với con người, logic chỉ là một bộ phận
của ý thức ─ ý thức của con người rộng lớn hơn và phức tạp hơn rất
nhiều so với cái phần logic đó. Đây, hãy nghe ông nói:
“Bộ não
là một chiếc máy tính được kết nối với một tâm linh” (The brain is a
computing machine connected with a spirit) và “Ý thức được kết nối với
một cái toàn thể” (Consciousness is connected with one unity) [10].
Chữ “bộ
não” trong câu nói trên phải được hiểu là ý thức lưu hành trong bộ não.
Vậy theo Gödel, ý thức ấy không chỉ có tư duy tính toán, tư duy theo
chương trình, mà bao gồm cả tâm linh ─ phần ý thức chứa đựng tất cả
những gì mà toán học nói riêng và khoa học nói chung bất lực, chẳng hạn
như cảm xúc âm nhạc, cảm xúc trước cái đẹp, cảm xúc thi ca, khả năng
trực giác, ngoại cảm, tiên tri,… Ở một mức độ nào đó, có thể thấy Gödel
vượt xa Einstein trong những suy nghĩ về bản chất của ý thức ─ ông không
dừng lại ở chỗ ngạc nhiên trước sự kỳ lạ khó hiểu về những khả năng
không thể giải thích được của ý thức, mà cho rằng cái ý thức đó được nối
kết với một trung tâm trí tuệ nào đó của vũ trụ, cái mà ông gọi là “một
toàn thể” (one unity). Ở chỗ này ta thấy Gödel có phần nào giống Tesla,
khi Tesla cho rằng bộ não chỉ là chiếc máy thu những tri thức được phát
ra từ một Trung Tâm trong vũ trụ.
Cái mà
Tesla gọi là một Trung Tâm, và Gödel gọi là một Toàn thể, thực ra là
Thượng Đế, hoặc Đấng Sáng tạo, Đấng Toàn năng, Nhà Thiết kế Vũ trụ, Nhà
Lập trình Vũ trụ, Chúa, Brama, Alah, Bà Mẹ Tự Nhiên,… Điều này rất dễ
hiểu, bởi cả Tesla lẫn Gödel đều công khai bầy tỏ Đức tin của mình.
Tesla
từng nói: “Quà tặng sức mạnh tinh thần đến từ Chúa, Thực thể Thần thánh,
và nếu chúng ta tập trung tư tưởng của chúng ta vào chân lý đó, chúng
ta sẽ hòa hợp với sức mạnh vĩ đại ấy. Mẹ tôi dạy tôi tìm kiếm mọi chân
lý từ trong Kinh Thánh”. [11]
Gödel
còn đi xa hơn thế, ông không chỉ khẳng định sự tồn tại của những thế
giới khác với thế giới chúng ta đang sống, mà còn dùng toán học logic để
chứng minh sự hiện hữu của Chúa.
Đầu năm 2013 hai nhà khoa học computer là Christoph Benzmüller thuộc
Đại học Tự do ở Berlin (Free University of Berlin) và Bruno Woltzenlogel
Paleo thuộc Đại học Kỹ thuật Vienna đã bắt tay vào việc “computer hóa”
toàn bộ chứng minh của Gödel. Không đầy một năm, đến Tháng 10, kết quả
được công bố trong một công trình mang tên: “Formalization,
Mechanization and Automation of Gödel’s Proof of God’s Existence” (Hình
thức hóa, Cơ giới hóa và Tự động hóa chứng minh của Gödel về sự hiện hữu
của Chúa). Công trình này được giới khoa học computer nhiệt liệt hưởng
ứng như một mẫu mực của bài toán computer hóa các định lý toán học. [12]
Erwin Schrödinger (1887 – 1961)
Erwin
Schrödinger là nhà vật lý lỗi lạc người Áo, đoạt Giải Nobel năm 1933,
nổi tiếng với phương trình sóng trong Cơ học Lượng tử. Ông tuyên bố rất
rõ ràng và dứt khoát về bản chất của ý thức như sau:
“Ý thức
không thể giải thích được bằng những thuật ngữ mang tính vật chất. Vì ý
thức là khái niệm gốc rễ, không thể giải thích được bằng thuật ngữ của
bất cứ thứ gì khác” (Consciousness cannot be accounted for in physical
terms. For cansciousness is absolutely fundamental. It cannot be
accounted for in terms of anything else). [13]
Ý kiến
này có thể xem như một lời thuyết minh hoặc tán thưởng ý kiến của Planck
đã dẫn ở trên, rằng phải có ý thức thì mới nhận thức được mọi thứ, ý
thức là mắt xích đầu tiên của hệ thống nhận thức, vì thế không thể giải
thích mắt xích đầu tiên ấy là cái gì được.
Tóm lại,
luận thuyết Descartes vẫn đứng vững trong thế kỷ 20, ít nhất trong tư
tưởng của những nhà khoa học tài giỏi nhất và có tầm nhìn triết học sâu
xa nhất.
Tuy
nhiên, các nhà khoa học duy vật không có lựa chọn nào khác là phải cố
gắng chứng minh ý thức chỉ là một dạng vật chất đặc biệt nào đó. Hy vọng
chứng minh này dấy lên mạnh mẽ trong bối cảnh xuất hiện ngày càng nhiều
hiện tượng ngoại cảm và tâm linh trên khắp thế giới. Nổi tiếng nhất là
hiện tượng chữa bệnh bằng tâm linh có hiệu quả thực tế rất cao của nhà
chữa bệnh bằng tâm linh Bruno Gröning ở Đức giai đoạn 1949-1959 và nhà
chữa bệnh bằng tâm linh Nguyễn Đức Cần
ở Việt Nam những năm 1970,… Nhiều dự án nghiên cứu những hiện tượng này
đã xuất hiện ở nhiều quốc gia, được gọi tắt trên sách báo quốc tế là
PSI, thu hút sự chú ý của rất nhiều nhà khoa học lẫn người không làm
khoa học. Vậy kết quả PSI ra sao?
3/ PSI và những nghiên cứu thực tế về bản chất của ý thức
PSI là
chữ viết tắt của thuật ngữ “Psychic phenomenna”, dịch nôm na là những
hiện tượng tâm linh. Tìm hiểu kỹ hơn trên Google, gõ “what does psychic
mean” (psychic nghĩa là gì), chúng ta nhận được kết quả như sau:
– Nếu
đóng vai trò tính từ, “psychic” có nghĩa thứ nhất là tính chất liên quan
đến những hiện tượng dường như không thể giải thích được bằng các định
luật tự nhiên, đặc biệt là hiện tượng thần giao cách cảm (telepathy)
hoặc thấu thị (clairvoyance). Những từ đồng nghĩa với nó là
“supernatural” (siêu tự nhiên), “paranormal” (dị thường, ngoài phạm vi
giải thích của khoa học), “other-worldly” (thuộc thế giới khác),
“supernormal” (siêu thường), “preternatural” (vượt quá tự nhiên),
“metaphysical” (siêu hình), “extrasensory” (ngoại cảm), “transcendental”
(siêu việt), “magic” (huyền ảo), “mystical” (huyền bí), occult (huyền
bí),…
– Nghĩa thứ hai, “psychic” là tính chất liên quan đến linh hồn (soul) hoặc tư tưởng (mind).
– Nếu
đóng vai trò danh từ thì “psychic” là một người có khả năng “psychic”,
tức là có những khả năng dị thường không thể giải thích bằng các định
luật tự nhiên được.
Vậy bản thân sự giải thích của Google (dựa trên các từ điển học thuật) đã thừa nhận hai sự thật:
Một,
những hiện tượng ngoại cảm và tâm linh không thể giải thích được bằng
các định luật tự nhiên là có thật! Những hiện tượng này tồn tại khách
quan, hoàn toàn không phải là bịa đặt, mê tín dị đoan như một số người
lầm tưởng! Vì thế, việc quan tâm nghiên cứu những hiện tượng đó là cần
thiết.
Hai,
những hiện tượng ngoại cảm và tâm linh không thể giải thích bằng các
định luật tự nhiên, tức là nằm bên ngoài khoa học. Nói cách khác, khoa
học không thể giải thích những hiện tượng ngoại cảm và tâm linh!
Hai kết
luận trên hoàn toàn phù hợp với kết luận trong cuốn BÊN NGOÀI KHOA HỌC
do NXB Khoa học & Kỹ thuật Hà-nội xuất bản năm 2004, trong đó viết:
“Đòi hỏi
về tính phổ quát là một trong những lý do vì sao thật khó thực hiện một
sự khảo sát khoa học về các hiện tượng như tâm động và ngoại cảm, các
hiện tượng này dường như chỉ đi liền với một số cá nhân nào đó trong
những hoàn cảnh đặc biệt. Với cùng lý do như vậy, kinh nghiệm cá nhân
độc nhất, dù gây ấn tượng như thế nào đối với người nhận, không thể xem
là một phần của khoa học” (ý kiến của nhà vật lý Peter Hodgson, trang
20).
“PSI vẫn
còn đang trôi nổi! … Vì sao các nhà khoa học không chấp nhận PSI? Lý do
đối với sự hoài nghi chính là chúng ta cần các số liệu lặp lại được và
một lý thuyết có thể đứng vững được. Cả hai đòi hỏi này vẫn còn thiếu
trong nghiên cứu về PSI…. Chừng nào mà người cổ vũ cho PSI vẫn chưa thể
làm rõ việc ý nghĩ được sản sinh ra bởi các nơ-ron trong não của người
gửi có thể đi qua xương sọ để vào não của người nhận thì hoài nghi là sự
đáp ứng thích hợp…” (ý kiến của GS Đặng Mộng Lân, đồng dịch giả và biên
tập viên của cuốn BÊN NGOÀI KHOA HỌC, trang 25-27, đã công bố trên tạp
chí Vật lý Ngày nay số Tháng 10/2003).
Tóm lại,
cho đến hôm nay, khi độc giả đang đọc những dòng này, thì tất cả những
công trình nghiên cứu về ngoại cảm và tâm linh đều chưa đem lại một kết
quả gì có lợi cho khoa học duy vật, và có lẽ điều này là BẤT KHẢ, vì như
bản thân khái niệm “psychic”, tức “ngoại cảm và tâm linh”, đã được định
nghĩa là những hiện tượng không thể giải thích được bằng các định luật
tự nhiên.
Nói cách
khác, những nghiên cứu về ngoại cảm và tâm linh không hề chứng minh
được rằng ý thức là một dạng vật chất, mặc dù trong những nghiên cứu
này, các nhà nghiên cứu thường xuyên dùng những thuật ngữ vật lý để gán
cho khả năng ngoại cảm và tâm linh, chẳng hạn, “trường sinh học”, “năng
lượng tinh thần”, “năng lượng tâm linh”,… Thực chất, đây là một việc làm
“gượng ép” ─ việc dùng những khái niệm và thuật ngữ quen thuộc trong
một thế giới quen thuộc để mô tả một hiện tượng không biết rõ bản chất
trong một thế giới chưa biết ─ tương tự như tình trạng khủng hoảng trong
vật lý học đầu thế kỷ 20, khi các nhà vật lý cố gắng mô tả thế giới
lượng tử bằng những khái niệm và thuật ngữ của thế giới vật chất thông
thường. Niels Bohr đã cảnh tỉnh thế giới vật lý rằng đây là một nỗ lực
BẤT KHẢ (impossible), và do đó đừng bao giờ cầu mong có thể hiểu được
thế giới lượng tử một cách rõ ràng và xác định như thế giới hàng ngày
của chúng ta. Rốt cuộc các nhà vật lý chỉ có thể tiên đoán các hiện
tượng lượng tử theo xác suất, và sự khôn ngoan mách bảo chúng ta rằng
đừng cố hiểu bản chất của thế giới lượng tử, mà hãy tận dụng các hiện
tượng lượng tử vào đời sống của chúng ta, miễn là đem lại lợi ích cho
loài người. Các nhà vật lý đã khôn ngoan đi theo con đường này. Chẳng
hạn, “tương tác ma quái” giữa hai hạt photon là một hiện tượng không thể
giải thích được, nhưng đã và đang được nghiên cứu để ứng dụng truyền
thông tin tức thời, được gọi là “viễn tải lượng tử” (teleportation).
Đó là
một bài học rất tốt cho những nghiên cứu về ngoại cảm và tâm linh, hay
nói chung cho những nghiên cứu về bản chất của ý thức. Nói gợi ý cho
chúng ta thấy không nhất thiết phải ôm lấy quan điểm lỗi thời cho rằng
mọi thứ trong thế giới hiện thực đều là vật chất. Hãy thừa nhận sự tồn
tại của những hiện thực phi vật chất hoặc siêu nhiên mà khoa học bất
lực, để tìm cách ứng dụng những hiện tượng đó vào những mục đích thiết
thực đối với đời sống loài người, điển hình là việc chữa bệnh.
Dù khoa
học thừa nhận hay không, việc chữa bệnh của “hai vị thánh chữa bệnh”,
Bruno Gröning và Nguyễn Đức Cần, vẫn mang lại những kết quả phi thường
không thể chối cãi. Nếu phương pháp chữa bệnh bằng tâm linh của “hai vị
thánh” này không thể giải thích được bằng khoa học thì đơn giản là khoa
học vật chất quá nghèo nàn để giải thích các hiện tượng thuộc về ý thức
và tâm linh.
Sự nghèo nàn này thiết tưởng đã quá rõ.
Định lý
Bất toàn của Gödel đã nói rằng tư duy lý lẽ và logic không đủ để chứng
minh mọi hiện tượng ngay trong thế giới vật chất thông thường chứ đừng
nói đến những thế giới bên ngoài hoặc bên trên thế giới vật chất. Vì
thế, cái cần phải thay đổi không phải là tìm kiếm một thứ máy móc hay
công cụ vật lý tối tân hơn, tinh vi hơn, để chụp ảnh hay ghi lại dấu vết
của ý thức hoặc tâm linh, mà là thay đổi thế giới quan, thay đổi cách
nhìn về thế giới!
PSI
không được khoa học thừa nhận vì nó nghiên cứu những hiện thực khách
quan cao hơn, rộng hơn thế giới vật chất ─ thế giới bên ngoài hoặc bên
trên tầm với của khoa học. Vậy nếu nhìn nhận khoa học chỉ là một trong
số những con đường khám phá chân lý thì hãy bổ sung cho những hiểu biết
hạn hẹp của khoa học bằng những phương pháp nhận thức khác.
4/ Những con đường tiệm cận tới bản chất của ý thức
Việc PSI
không được công nhận là khoa học không phải là một tin buồn đối với
những người tin vào thế giới tâm linh, mà ngược lại, đó là một tin vui,
vì nó chứng tỏ hai điều:
Nó xác nhận hiện tượng tâm linh là có thật.
Nó chỉ ra
rằng khoa học vật chất không đủ để nghiên cứu ý thức và tâm linh. Nói
cách khác, nó chỉ ra “cái gót A-sin” của khoa học duy vật ─ một dạng
nhận thức dựa trên tư tưởng nền tảng cho rằng thế giới chỉ có vật chất
và vật chất, ngoài ra không có cái gì khác.
Cái “gót
A-sin” ấy cản trở con người tiến về phía trước trên con đường nhận thức
sự thật. Điều này đã được nhấn mạnh bởi David Hawkins, nhà triết học
khoa học nổi tiếng của Mỹ trong thế kỷ 20 (từng là thành viên trong Dự
án Manhattan – Dự án chế tạo bọm nguyên tử của Mỹ trong những năm 1940).
Ông nói:
“Trở
ngại chính trên con đường phát triển của chúng ta là sự thiếu hiểu biết
về bản chất của bản thân ý thức” (The main obstacle to our development
is our lack of knowledge about the nature of consciousness itself). [14]
Làm thế nào để vượt qua trở ngại đó? Liệu khoa học có thể tự nó vượt qua trở ngại này không?
Câu trả
lời là KHÔNG, chừng nào khoa học còn tiếp tục duy trì quan điểm lỗi thời
cho rằng thế giới chỉ có vật chất và vật chất mà thôi. Nếu đóng khung
trong quan niệm như thế thì làm sao một lý thuyết thuần túy vật chất có
thể giải thích một hiện thực phi vật chất? Chẳng phải các nhà khoa học
giỏi nhất thế kỷ 20 như Max Planck, Einstein, Tesla, Gödel,
Schrödinger,… đã nói rõ điều này rồi sao?
Các nhà
triết học, thần học cũng thấy rõ điều đó. Trong cuốn “Vũ trụ trong một
nguyên tử”, Đức Đạt Lai Lạt ma dùng thuyết nhân quả để bác bỏ khả năng
quy giản tinh thần thành vật chất. Ngài viết:
“Điều
cốt yếu để hiểu khái niệm của Phật giáo về ý thức – và sự bác bỏ của nó
về khả năng quy giản tinh thần thành vật chất – là thuyết nhân quả”
(trang 195, Công ty Nhã Nam và NXB Thế giới xuất bản năm 2016).
Đức Đạt
Lai Lạt Ma nhấn mạnh rằng ý thức mang tính chủ quan, nhưng khoa học chỉ
coi trọng những chứng cứ khách quan, và do đó khoa học dường như chẳng
đạt được kết quả nào trong việc khám phá bản chất của ý thức:
“Kinh nghiệm của ý thức là hoàn toàn chủ quan.
Tuy nhiên, điều nghịch lý là mặc cho thực tại không thể nghi ngờ của
chủ quan tính của chúng ta và hàng ngàn năm khảo cứu triết học, có rất ít đồng thuận về vấn đề ý thức là gì. Khoa học, với phương pháp ngôi thứ ba đặc trưng của nó – cái nhìn khách quan từ bên ngoài – chỉ đạt được những tiến bộ ít ỏi đến kinh ngạc trong sự hiểu biết này” (trang 177, sách đã dẫn) (chữ in đậm do tôi nhấn mạnh, PVHg).
Vậy có cách nào để khoa học vượt qua trở ngại hiện nay không?
Đức Đạt Lai Lạt ma nêu lên một đề nghị: kết hợp các phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học với phương pháp nghiên cứu truyền thống của Phật học.
Cụ thể, kết hợp phương pháp thí nghiệm khách quan, mà ngài gọi là
“phương pháp ngôi thứ ba), của khoa học với phương pháp chủ quan của
thiền định Phật giáo, mà ngài gọi là “phương pháp ngôi thứ nhất”.
Cái khó
trong sự kết hợp này là ở chỗ khoa học xưa nay chỉ chấp nhận “phương
pháp ngôi thứ ba”, tức là chỉ chấp nhận những kết luận được rút ra từ
những thí nghiệm khách quan, có thể lặp đi lặp lại, cùng cho một kết quả
như nhau. Chẳng hạn, quy luật F = ma dù được bạn kiểm tra ở Việt Nam
hay tôi kiểm tra tại Úc sẽ đều cho một kết luận như nhau. Và khoa học
xưa nay không chấp nhận bất kỳ một kinh nghiệm cá nhân chủ quan nào, nếu
nó không được kiểm chứng bởi những người khác và cho cùng một kết quả.
Vì thế khoa học rất khó có thể chấp nhận những kinh nghiệm thiền định
của các bậc tu hành bất kể các ngài đắc đạo như thế nào. Xin nhắc lại ý
kiến của nhà vật lý Peter Hodgson trong cuốn BÊN NGOÀI KHOA HỌC đã dẫn ở
trên:
“…kinh nghiệm cá nhân độc nhất, dù gây ấn tượng như thế nào đối với người nhận, không thể xem là một phần của khoa học”.
Giả sử
có một thiền giả cao cấp đã chứng ngộ được những sự thật huyền nhiệm ở
những cõi giới ý thức siêu linh, đồng thời lại là một nhà khoa học xuất
chúng về vật lý, có khả năng quy kết những sự thật chứng ngộ được thành
một định luật biểu thị dưới dạng toán học, liệu định luật đó có được
khoa học công nhận không?
Câu trả
lời là KHÔNG, nếu định luật đó không thể phát biểu được ở “ngôi thứ ba”,
tức là không được kiểm chứng bởi những người khác ở địa vị hoàn toàn
khách quan.
Thực
chất vấn đề Đức Đạt Lai Lạt ma nêu lên cũng chính là vấn để hóc búa nhất
của PSI ─ làm thế nào để kiểm chứng những ý thức nẩy sinh trong bộ não
của những nhà ngoại cảm? Làm thế nào để biết ý thức thực sự diễn ra như
thế nào ở các “vị thánh chữa bệnh”? Không có cách nào cả. Chúng ta chỉ
có thể xác nhận đó là những hiện thực, những sự thật diễn ra trước mắt,
để tin rằng đó là những phép lạ có thật. Đọc cuốn “Nguyễn Đức Cần, nhà
văn hóa tâm linh” của Nguyễn Phúc Giác Hải và Nguyễn Tài Đức, do NXB Văn
hóa Thông tin xuất bản năm 2013, một người có thể chất tinh thần lành
mạnh không thể không tin đó là sự thật. Cá nhân tôi, tôi hoàn toàn tin
đó là sự thật, vì hai lý do: một, tôi có người nhà được cụ Cần chữa
bệnh; hai, bản thân tôi có những trải nghiệm tâm linh nhất định, đủ để
tôi tin vào sự tồn tại của những thế giới tâm linh khác và cao hơn thế
giới vật chất của chúng ta. Tuy nhiên, niềm tin của cá nhân tôi và của
hàng nghìn hàng vạn người khác không đủ để trở thành một phát biểu ở
“ngôi thứ ba” mà khoa học yêu cầu. Đức Đạt Lai Lạt Ma viết:
“Tôi biết rằng có sự hoài nghi sâu sắc về các phương pháp ngôi thứ nhất trong khoa học hiện đại” (trang201, sách đã dẫn).
Nhưng
ngài cho rằng ĐÃ ĐẾN LÚC khoa học phải tìm cách dung nạp những trải
nghiệm chủ quan, nếu thực sự muốn khám phá bí ẩn của ý thức, bởi bản
thân ý thức mang tính chủ quan:
“Do đó
một nghiên cứu khoa học toàn diện về ý thức phải dung chứa cả hai phương
pháp ngôi thứ ba và ngôi thứ nhất” (trang 199, sách đã dẫn).
Đây thực
sự là một lời mời gọi khoa học nhưng đồng thời là một thách thức quá
lớn đối với khoa học, bởi nếu khoa học chấp nhận “ngôi thứ nhất” thì
khoa học không còn là khoa học nữa, ít nhất là khoa học theo cách hiểu
như hiện nay.
Riêng
tôi, từ lâu tôi đã cho rằng có thể tiệm cận tới thế giới kỳ diệu của ý
thức bằng một phương pháp hoàn toàn khác, đó là phương pháp của logic
toán học, mà Kurt Gödel từng gợi ý. Để đi theo hướng này, nhà khoa học
phải xây dựng cho mình một hệ tiên đề. Từ đó nêu lên các định lý, tập
hợp các định lý sẽ tạo nên một lý thuyết logic về ý thức. Nếu lý thuyết
này phù hợp với các hiện tượng thực tế liên quan đến ý thức thì nó sẽ
được chấp nhận; ngược lại nếu mâu thuẫn với thực tế thì sẽ bị loại bỏ.
5/ Hệ tiên đề về ý thức của sự sống
Việc gán
cho ý thức bản chất vật chất, như năng lượng hoặc một trường vật chất
nào đó, sẽ gặp phải hai khó khăn lớn: Một, phải chỉ ra dạng vật chất đó,
hoặc phải cân đong đo đếm được dạng vật chất đó; Hai, việc cố gắng giải
thích bản chất vật chất của ý thức là mâu thuẫn với logic nhận thức.
Thật
vậy, theo logic nhận thức mà Planck và Schrödinger đã nói (mục 2 ở
trên), phải có ý thức thì mới nhận biết được vật chất, do đó việc quy
giản ý thức thành vật chất là một quy trình ngược, trái với logic nhận
thức!
Tóm lại,
khái niệm ý thức phải được coi là một tiên nghiệm, không cần giải
thích. Nhưng từ tiên nghiệm đó có thể nêu lên các tiên đề về sự hiện hữu
của ý thức, làm cơ sở cho một hệ thống lý thuyết logic về ý thức. Cụ
thể, tôi xin nêu lên Hệ tiên đề về ý thức của sự sống gồm 3 tiên đề sau
đây:
Tiên đề 1: Ý thức là một dạng thông tin đặc biệt mà chỉ sự sống mới có, được gọi là thông tin ý thức (conscious information).
Tiên đề 2: Tồn tại một Trung Tâm Ý Thức trong vũ trụ.
Tiên đề 3: Bộ não là một cỗ máy sinh học có khả năng thu nhận, lưu trữ, xử lý và phát ra thông tin ý thức.
Nếu bạn
hiểu Lý thuyết Thông tin, bạn sẽ dễ dàng chấp nhận Tiên đề 1. Thật vậy,
theo Lý thuyết Thông tin, thông tin là một hiện thực phi vật chất, nhưng
nó biểu lộ thông qua vật chất. Hoàn toàn tương tự, ý thức cũng là một
hiện thực phi vật chất, và cũng biểu lộ thông qua vật chất.
Nếu bạn
hiểu ý kiến của Planck và Tesla như đã dẫn ở mục 2, bạn cũng sẽ dễ dàng
chấp nhận Tiên đề 2. Xin nhắc lại, Planck nói: “Mọi vật chất bắt nguồn
và tồn tại chỉ vì một lực… Chúng ta phải thừa nhận đằng sau lực này tồn
tại một Trí Tuệ có ý thức và thông minh. Trí Tuệ này là cái sinh ra mọi vật chất”.
Tesla
cũng nói: “Bộ não của tôi chỉ là một điểm tiếp nhận. Trong Vũ trụ tồn
tại một trung tâm mà từ đó chúng ta nhận được tri thức, sức mạnh, cảm
hứng.”
Nếu bạn
từng so sánh bộ não với computer, bạn cũng sẽ dễ dàng chấp nhận Tiên đề
3. Vật chất của bộ não giống như phần cứng; ý thức lưu hành trong bộ não
giống như thông tin lưu hành trong computer.
Với hệ
tiên đề đó, tôi cho rằng có thể giải thích được hầu hết các hiện tượng
về ý thức của sự sống, từ những hiện tượng thông thường ta gặp hàng ngày
đến những chuyện khó hiểu như bí mật của các giấc mơ, từ những thiên
tài khoa học như Einstein, Gödel… đến những vị thánh chữa bệnh như Bruno
Gröning, Nguyễn Đức Cần,…
Thí dụ,
Eisnstein giỏi hơn chúng ta không phải vì ông có bộ não tốt hơn chúng
ta, như khoa học thần kinh muốn chứng minh, mà vì ông nhận được những
thông tin đặc biệt từ Trung Tâm Ý Thức trong vũ trụ. Những nhà ngoại cảm
hay các “vị thánh chữa bệnh” cũng vậy. Đó là lý do để ông thánh Bruno
Gröning nói với những bệnh nhân được ông chữa lành rằng “Đừng cám ơn
tôi, hãy cám ơn Thượng Đế”. Thượng Đế mà ông nói chính là Trung Tâm Ý
Thức đã nói ở Tiên Đề 2.
Nếu ai
chất vấn tôi rằng làm thế nào mà kiểm chứng các tiên đề nói trên, tôi
xin trả lời rằng: Tiên đề là những mệnh đề được xây dựng trên niềm tin.
Bất kỳ một lý thuyết khoa học nào cũng đều xây dựng trên một hệ tiên đề
dựa trên niềm tin ban đầu. Toán học có hệ tiên đề Euclid, hệ tiên đề
Hilbert,… Vật lý cũng có những tiên đề của nó, chẳng hạn, vũ trụ là đồng
nhất và đẳng hướng, các định luật vật lý đúng trong mọi thời điểm của
lịch sử hình thành vũ trụ,…
Hệ tiên
đề về ý thức của sự sống nêu trên có thể không đầy đủ. Điều này là bình
thường. Theo Định lý Bất toàn của Gödel, không tồn tại một hệ tiên đề
nào vừa đầy đủ vừa phi mâu thuẫn. Vậy điều quan trọng nhất là ở chỗ lý
thuyết xây dựng từ hệ tiên đề nói trên có phù hợp với các sự kiện thực
tế về ý thức hay không. Hiện còn quá sớm để nói điều này. Phải có thời
gian nghiên cứu và kiểm chứng mới có thể có một kết luận chính xác.
Nhưng trực giác gợi ý cho tôi thấy hệ tiên đề nói trên là hợp lý và hữu
dụng để xây dựng nên một lý thuyết cho phép giải thích được phần lớn
những hiện tượng về ý thức của sự sống. Vậy xin tạm thời bỏ ngỏ việc
kiểm chứng tính hợp lý và hữu hiệu của hệ tiên đề nói trên cho những
nghiên cứu tiếp theo.
Để kết, xin giải thích đôi lời tại sao tại sao nên áp dụng phương pháp tiên đề để nghiên cứu ý thức.
Vì vấn
đề ý thức thực chất là vấn đề siêu hình (phi vật chất), không thể dùng
khoa học vật chất để khám phá một đối tượng siêu hình. Chỉ có thể áp
dụng triết học và thần học để xử lý các vấn đề siêu hình. Tuy nhiên,
triết học và thần học từ trước tới nay không được coi là khoa học chính
xác, vì thế chưa có độ thuyết phục cao. Liệu có thể có một thứ triết học
hay thần học có tính chính xác cao như toán học hay các khoa học vật
chất không?
Một lần
nữa, Kurt Gödel, tác giả của Định lý Bất toàn nổi tiếng, nói cho chúng
ta biết rằng CÓ! Có thể có một thứ triết học hoặc thần học chính xác như
thế. Ông nói:
“Triết
học, với tư cách một lý thuyết chính xác, nên áp dụng cho siêu hình học
như Newton đã làm đối với vật lý. Tôi cho rằng có nhiều khả năng sự phát
triển của một lý thuyết triết học như thế sẽ xảy ra trong vòng 100 năm
tới hoặc sớm hơn” (Philosophy as an exact theory should do for
metaphysics as much as Newton did for physics. I think it is perfectly
possible that the development of such a philosophical theory will take
place within the next hundred years or even sooner) [10]
Ông cũng
nói: “Tôn giáo cũng có thể được xây dựng như một hệ thống triết học dựa
trên một hệ tiên đề” (Religion may also be developed as a philosophical
system built on axioms). [10]
Bản thân
Gödel đã áp dụng phương pháp tiên đề để chứng minh sự hiện hữu của Chúa
─ bài toán lớn nhất của triết học, thần học và siêu hình học nói chung
[12]. Đó là một mô hình mẫu mực của việc sử dụng phương pháp tiên đề để
giải quyết các bài toán của siêu hình học, như ông khuyên chúng ta nên
làm.
Việc xây
dựng Hệ tiên đề về ý thức của sự sống như tôi trình bầy ở trên là một
thử nghiệm phương pháp tiên đề theo lời khuyên của Gödel.
6/ Kết luận
Kết luận 1:Ý thức không phải là vật chất.
Như
chúng ta đã thấy, Planck và Schrödinger đều cho rằng phải có ý thức mới
nhận thức được vật chất. Đó là quy luật tự nhiên. Do đó dùng khoa học
vật chất để giải thích ý thức là đi ngược lại quy luật tự nhiên.
Mặt
khác, theo Định lý Bất toàn của Gödel, mọi hệ tự quy chiếu
(self-referential system) ─ hệ tự mình nói về mình ─ đều dẫn tới mâu
thuẫn (dao sắc không gọt được chuôi). Việc dùng khoa học để giải thích ý
thức, tức là dùng ý thức để giải thích ý thức, chính là một hệ tự quy
chiếu, do đó dẫn tới mâu thuẫn. Đó là lý do khoa học thất bại trong nỗ
lực giải thích bản chất của ý thức.
Kết luận 2:Để hiểu biết rõ hơn về ý thức, phải đi ra ngoài thế giới ý thức của con người.
Thật
vậy, theo Định lý Gödel, muốn phán xét một hệ A đầy đủ hơn, phải đi ra
ngoài hệ A. Tức là phải sử dụng những tiên đề bổ sung không nằm trong hệ
A. Vì thế, muốn hiểu rõ thế giới ý thức của con người, phải đi ra bên
ngoài thế giới ý thức của con người. Làm thế nào để thực hiện điều đó?
Theo tôi, có 2 con đường.
Con
đường thứ nhất là con đường của các bậc tu hành đắc đạo, các bậc thiền
giả cao cấp, những yogi bậc thầy, những nhân vật có sứ mệnh đặc biệt,…
Những vị này có thể thoát xác, đạt tới những cảnh giới khác, tức là
thoát ra bên ngoài thế giới ý thức của con người, do đó chứng ngộ được
những sự thật mà người bình thường không thể biết. Sự chứng ngộ này
chính là những “nhận thức chủ quan” mà Đức Đạt Lai Lạt Ma đề cập đến.
Tuy nhiên, tôi cho rằng những nhận thức chủ quan này khó có thể chia sẻ
với khoa học, vì bản chất của khoa học chỉ thừa nhận những tri thức
khách quan.
Con
đường thứ hai chính là con đường Gödel đã nêu lên ─ con đường dùng triết
học chính xác, dựa trên một hệ tiên đề được thừa nhận, từ đó suy ra
những hệ quả logic tất yếu. Nhưng để triết học này có thể vượt ra ngoài
thế giới ý thức của con người thì hệ tiên đề phải chứa đựng những niềm
tin vượt ra ngoài thế giới ý thức của con người. Đó là lý do Hệ tiên đề
về ý thức của sự sống do tôi nêu lên ở mục 5 chứa đựng những niềm tin
vượt ra bên ngoài ý thức thông thường của con người, cụ thể là niềm tin
vào sự tồn tại của Trung Tâm Ý Thức trong vũ trụ (như Planck, Tesla đã
tin).
Với Hệ
tiên đề đó, cùng với lý thuyết thông tin và khoa học computer, chúng ta
có thể xây dựng nên một Lý thuyết về Ý thức của Sự sống rất phong phú.
CHÚ THÍCH
[1] “The Most Human Human”, Brian Christian, Chương 5, trang 107
[5] “Thế
giới như tôi thấy”, Albert Einstein, bản dịch của Đinh Bá Anh, Nguyễn
Vũ Hảo, Trần Tiễn Cao Đăng, NXB Tri Thức 2005, trang 20.
[6]
Nguyên văn: “The intuitive mind is a sacred gift and the rational mind
is a faithful servant. We have created a society that honors the servant
and has forgotten the gift”.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét