SINH NGHỀ TỬ NGHIỆP 6
(ĐC sưu tầm trên NET)
Nghề làm lốp và cái giá phải trả quá đắt
Các bạn bỏ ra vài phút để đọc bài này đi nhé
:)
Nhà thơ Trần Đăng Khoa đặt vấn đề: “Còn nhớ những năm 1997-1998, thương lái Trung Quốc sang ta mua mèo với giá cao, thế là vì cái “giá cao” ấy, mèo gần như tuyệt diệt, nông dân phía Bắc phải chịu đại dịch chuột hoành hành, khiến cả mùa màng xiêu điêu. Rồi những năm 2002-2003, thương lái Trung Quốc cũng lại sang mua móng trâu với giá cao. Cũng chẳng biết họ mua móng trâu làm quái quỷ gì mà mua với giá cao thế. Ở thời điểm ấy, cả chú trâu to lớn vật vã như thế mới có 5 triệu bạc mà chỉ riêng một cái móng trâu cũng đã gần một triệu bạc rồi.
Thế là bà con lột móng trâu đem bán. Kết cục là trâu bò chết hàng loạt, ảnh hưởng nặng đến sức kéo của bà con nông dân nghèo phía Bắc. Để tiêu diệt cả con trâu, họ chỉ chi khoản tiền bằng đúng một chiếc móng. Thế thì chiếc móng trâu mà thương lái Trung Quốc thu gom là đắt hay rẻ đây?”
Mấy ngày gần đây, trong những chuyện phiếm bên quán nước vỉa hè, hay trên các hãng truyền thông, đều xôn xao những chuyện không lấy gì làm đẹp trong phòng khám, phòng điều trị tư nhân có thày thuốc Trung Quốc. Điều đáng sợ hơn là đã xảy ra cả chuyện chết người. Nạn nhân là một phụ nữ chẳng có bệnh tật gì nghiêm trọng. Một cái chết vu vơ. Chết chỉ vì bị xốc khi truyền nước. Đó là một sơ xuất rất tối thiểu mà ngay cả một trạm xá cấp xã, cấp phường cũng khó vấp phải. Chúng ta không nghi ngờ nền y học Trung Quốc, đặc biệt là Đông y. Tuy nhiên, những thầy thuốc giỏi, những bác sĩ chuyên gia đích thực của họ đâu có sang ta để hành nghề. Việt Nam không phải là lựa chọn của họ. Làm việc trong mấy phòng khám tư nhân ở ta, có khi chỉ là mấy ông lang băm bán thuốc dạo, hay vài cậu sinh viên non choẹt vừa mới ra trường. Tay nghề không. Thực tiễn không. Kinh nghiệm không. Thế thì tránh sao được chuyện rủi ro, kể cả những cái chết bi thảm, những cái chết vu vơ rất không đáng có.
Điều chúng ta quan tâm, là tại sao những phòng khám tư nhân, với cái giá điều trị ngất ngưởng ở …trên giời mà vẫn có bao nhiêu người nghèo sẵn sàng dồn cơ nghiệp và cả tính mạng của mình vào đấy, để rồi cuối cùng chuốc lấy sự phiền toái, bùng nhùng, cả những cái chết vô cùng thảm khốc? Tất nhiên, ai rồi cũng sẽ chết vì bệnh. Nhưng những bệnh nhân đáng thương ấy không phải chết vì bệnh tật, mà vì bệnh …sùng ngoại. Cái gì của nước ngoài cũng tốt, cũng sang. Đến cả hàng hóa, vật dụng, hàng xách tay, hàng…ngoài luồng cũng đều …tốt cả. Còn những gì của ta cũng đều rẻ rúng, “hâm đơ”. Hãm. Từ hàng hóa, vật dụng, đến cả …con người. Các Hoa hậu, ca sĩ của ta, chỉ cần có chút nhan sắc, tiếng tăm, phần lớn cũng sắm…chồng ngoại. Thế thì trách gì mấy bác nông dân chân lấm, tay bùn cả tin, dễ bị lừa mị, thế nên chỉ nhức đầu, sổ mũi, hay cắt trĩ, truyền nước…, toàn những bệnh đơn giản, cũng muốn kén bàn tay của bác sĩ ngoại, dù sự kén chọn ấy có phải trả cái giá ngất nghểu ở xứ …cung giăng thì cũng “cứ chơi”. Không đủ tiền thì bán đất cát, nhà cửa. Tính mạng còn chả tiếc thì tiếc gì mấy chuc …triệu bọ. (Xin lưu ý giá cắt trĩ ở phòng khám tư có thầy thuốc Trung Quốc là 20 triệu đồng).
Thật hẩm hiu cho nền y học “nội địa”. Trong khi chúng ta có rất nhiều thày thuốc giỏi, như Giáo sư Tôn Thất Tùng, Giáo sư Tôn Thất Bách, Giáo sư Nguyễn Trọng Nhân, Giáo sư Nguyễn Lân Việt, Lương y Bành Khừu, Bác sĩ Nguyễn Tài Thu, bác sĩ trẻ Nguyễn Lân Hiếu. Bác sĩ Hiếu là con trai Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân Dũng và Thày thuốc Nhân dân, Đại tá hàm Tướng Nguyễn Kim Nữ Hiếu, Phó Viện trưởng Viện 108 Quân đội. Hiện nay, bác sĩ Lân Hiếu mổ tim thuộc hạng cự phách. Một học giả nước ngoài bảo tôi: “Về y học, chúng tôi chỉ hơn các anh máy móc và điều kiện làm việc thôi. Còn tài năng, kinh nghiệm, và đặc biệt là bàn tay khéo léo, chuẩn xác trong kỹ nghệ mổ xẻ, các bác sĩ của các anh thật đáng kính nể!”.
Thế thì tại sao lại dẫn đến thảm cảnh ấy?
Sùng ngoại. Cả tin. Đa nghi ư? “Người Việt vốn dĩ có tinh thần cảnh giác cao độ. Kinh nghiệm từ những năm chiến tranh với cái giá quá đắt phải trả đã cho họ đức tính ấy”. Giáo sư J. Berke, một nhà Việt Nam học người Đức đã từng có nhận xét về chúng ta như vậy. Ông đã bảy lần sang thăm Việt Nam. Để khám phá Việt Nam, theo ông, chỉ cần có một công cụ, đó là chiếc xe đạp. Mà xe đạp ở xứ này rất sẵn. Chỉ bỏ ra hơn chục dolla là đã có cả một chiếc xe đạp rồi. Đi xe đạp Việt Nam rất hay bị xịt lốp. Nhưng không sao. Xe xịt ở bất cứ chỗ nào thì cứ tạt vào rệ đường. Thế là lập tức ở đó sẽ có ngay một ông thợ bơm vá xe đạp. Mà những ông thợ này rất đặc biệt. Họ không phải người bình thường. Họ là những anh hùng trong những năm chiến tranh. Đó là pho sử sống của cả một thời đại. Nhưng tốt nhất là cứ để họ tự nói. Người Việt sởi lởi lắm. Họ chẳng giũ được cái gì ở trong bụng. Nhưng mà đừng hỏi. Nếu cứ thật thà hỏi, hoặc tỏ ý quan tâm, lập lức họ sẽ nghi ngay mình là một tên gián điệp quốc tế. Với người Việt, tội ác tày trời là tội làm gián điệp. Cứ vu cho cái tội làm gián điệp là mọi việc xử lý rất dễ. Dân Việt nhạy cảm lắm. Cảnh giác lắm, căm gián điệp lắm, nên nhìn đâu cũng thấy địch!
Nhận xét của J. Berke như một chuyện đùa. Nhưng không phải không có những điều khiến ta phải nghĩ ngợi. Một cây bút có tiếng chịu khó tìm tòi, vừa có tác phẩm mới, với giọng điệu hơi lạ, dù chỉ đơn thuần là một cách làm mới mình, để mình không giống với người khác. Vậy mà ông bạn tôi cứ truy hỏi: Cái cậu tác giả ấy là người thế nào? Nó ăn phải bả của địch hay do địch cài cắm?. Tôi bảo: Chả có địch nào chui được vào hàng ngũ của những người từng vào sinh ra tử. Mà cơ quan ấy cũng là mảnh đất lành. Một môi trường trong veo làm sao có chỗ cho cái ác nảy nở. Nếu cậu không tin, cậu cứ cử về đấy vài ba thằng gián điệp. Tớ bảo đảm với cậu chỉ sau mấy tháng, chúng sẽ thành lao động “tiên tiến” hay cá nhân “bốn tốt”!.
Ông bạn tôi bắt đầu cảnh giác. Rồi anh nghi ngờ cả tôi. “Không khéo thằng cha này cũng bị địch tiêm nhiễm rồi cũng nên”.
Bà con mình thế đấy. Có thể cảnh giác, nghi ngờ với cả con cái, anh em ruột thịt trong nhà, nhưng lại nhẹ dạ cả tin với thiên hạ. Mà ai nói gì cũng tin. Các cụ bảo đó là bệnh “Khôn nhà dại chợ”.
Còn nhớ những năm 1997-1998, thương lái Trung Quốc sang ta mua mèo với giá cao, thế là vì cái “giá cao” ấy, mèo gần như tuyệt diệt, nông dân phía Bắc phải chịu đại dịch chuột hoành hành, khiến cả mùa màng xiêu điêu. Rồi những năm 2002-2003, thương lái Trung Quốc cũng lại sang mua móng trâu với giá cao. Cũng chẳng biết họ mua móng trâu làm quái quỷ gì mà mua với giá cao thế. Ở thời điểm ấy, cả chú trâu to lớn vật vã như thế mới có 5 triệu bạc mà chỉ riêng một cái móng trâu cũng đã gần một triệu bạc rồi. Thế là bà con lột móng trâu đem bán. Kết cục là trâu bò chết hàng loạt, ảnh hưởng nặng đến sức kéo của bà con nông dân nghèo phía Bắc. Để tiêu diệt cả con trâu, họ chỉ chi khoản tiền bằng đúng một chiếc móng. Thế thì chiếc móng trâu mà thương lái Trung Quốc thu gom là đắt hay rẻ đây?
Chưa hết. Hãy nhớ lại chuyện thu gom ốc bươu vàng, rồi thu gom đỉa của thương lái Trung Quốc mấy năm vừa qua, chúng ta cũng đã phải trả một cái giá đắt đến mức như thế nào? Từ các tỉnh phía Bắc, phong trào thu mua đỉa đã lan đến Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam. Nhiều người dân Hóc Môn còn đứng ra thu gom đỉa từ khắp các vùng lân cận. Thấy lợi, dễ làm mà giá cao, nhiều hộ dân Tây Ninh còn nuôi đỉa ngay trong ao nhà mình hồ để mang bán cho thương lái Trung Quốc. Ngoài việc “sản xuất” đỉa, “sản xuất” ốc bươu vàng, họ còn đi thu mua của các hộ quanh vùng. Thương lái Trung Quốc mua gì, họ thu gom thứ ấy. Thương lái đặt với số lượng cực lớn rồi đột ngột “mất tích” như phép thần thông của Tôn Hành Giả. Mà đỉa với ốc bươu vàng sinh sản rất nhanh. Trời mưa, đỉa theo nước ùa cả vào nhà dân. Không phải chỉ trẻ con mà người lớn cũng sợ khiếp vía. Theo các nhà Động vật học, “đỉa là loài rất nguy hiểm, do dễ sinh sôi nảy nở trong mọi điều kiện. Đặc biệt, ở những vùng đồng ruộng chiêm trũng. Trong khi đó, để tiêu diệt một con đỉa lại rất khó khăn, ngay cả việc đốt cháy, nếu không cháy hết còn sót lại một vài tế bào, gặp điều kiện thuận lợi cũng có thể phát triển thành một con đỉa bình thường. Đặc biệt, khi người dân đua nhau nuôi đỉa thì không thể kiểm soát được, đỉa tràn ra môi trường, trở thành hiểm họa, giống như hiểm họa ốc bươu vàng, chuột hải ly, rùa tai đỏ những năm trước đây”.
Thật quái quỷ!
Và rồi còn ghê rợn hơn nữa là việc thu gom chè bẩn cũng lại của Thương lái Trung Quốc trong khu vực các tỉnh phía Bắc. Chỉ tính riêng ở Văn Chấn, Yên Bái, có thể nói, người người sản xuất chè. Nhà nhà sản xuất chè. Mỗi hộ gia đình chỉ bỏ ra 4 triệu đồng mua 2 máy vò chè và sàng chè, là đã thành một xưởng sản xuất chè tại gia. Chỉ sau 1 tuần sản xuất chè bẩn, họ đã thu hồi toàn bộ vốn. Còn sau thì lãi. Ở Hàm Yên, Tuyên Quang, còn có chuyện sản xuất chè bằng cách trộn phân lân hoặc nước bùn đất vào búp chè tươi già, qua công đoạn vò, phơi, được loại chè khô vừa nặng, vừa dẻo, cánh chè xoăn và xanh. Có một điều rất lạ, chè bẩn làm ra bao nhiêu cũng được thương lái Trung Quốc thu gom hết. Họ còn mua với giá cao. Thương lái Trung Quốc còn đến tận nhà hướng dẫn làm chè bẩn rồi bao tiêu trọn gói. Chè bẩn được đóng bao, đóng gói chở đi kìn kìn. Họ mua chè bẩn với số lượng lớn như thế về để làm gì thì chỉ có trời mới biết.
Khi Trung Quốc đăng cai Đại hội Olympic, trước con mắt của bạn bè quốc tế, họ mời ông Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang sang cùng chứng kiến cảnh họ đốt chè, với lý do chè Việt bẩn không đảm bảo an toàn thực phẩm. Vậy thì còn có quốc gia nào giám ký kết, đặt mua. Vậy là chỉ sau 6 tháng, toàn bộ ngành chè liêu xiêu và hàng loạt doanh nghiệp gắn với chè đã bị phá sản.
Năm 2007, Tập đoàn Bưu chính viễn thông của chúng ta cũng thiệt hại hàng chục triệu USD khi bị cắt trộm 11 km cáp quang. Nhiều người cứ thắc mắc, không hiểu kẻ cắp cắt trộm cáp quang để làm gì, bởi cái thứ này không thể bán phế liệu được. Sau đó, khi Công an Bà Rịa - Vũng Tàu bắt được "cáp tặc" Nguyễn Thị Bích Phượng, từ lời khai của thị, mọi người mới tá hỏa: Hóa ra thị tổ chức cắt cáp để bán cho thương lái Trung Quốc. Thị cũng không hiểu thương lái Trung Quốc mua hàng đống cáp quang vụn của thị để làm cái quái quỷ gì?
Cũng may, thương lái Trung Quốc chỉ gom thu chè bản, cáp quang, đỉa ốc, móng trâu...Họ mà thu gom hài cốt thì không khéo khối người đào cả mồ mả, ông bà tổ tiên đem bán rồi.
Thật đáng sợ.
Bây giờ thì tất cả đã rõ.
Bà con ta quá nêu cao cảnh giác, toàn cảnh giác nghi ngờ những người ruột thịt trong nhà, rồi ứng xử rất hà khắc, nhưng lại ngờ nghệch, cả tin với người ngoài thiên hạ, cũng vì những lợi ích cỏn con trước mắt, nên bị mấy anh nghịch tặc phá hoại nó lừa. Và lừa rất manh mún, tiểu nhân, nhưng lại rất bài bản, có hệ thống với mọi tính toán kỹ lướng, và rồi hậu quả để lại cho chúng ta thì lại vô cùng nặng nề và không hề manh mún một chút nào.
Ôi! Người anh em Trung Quốc, “môi hở răng lạnh”, người luôn nêu cao “mười sáu chữ vàng” mà lại hiện hình rúm ró như thế được sao? Tôi nói điều này cũng vì rất yêu đất nước anh em Trung Quốc. Đất nước của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tào Tuyết Cần, Lỗ Tấn… cùng với nền văn hóa vĩ đại mà tôi hằng ngưỡng mộ từ thuở ấu thơ! Chính vì yêu Đất nước Trung Quốc, nên càng thấy đau đớn, khi những kẻ giả danh Trung Quốc, đã bôi bẩn đất nước đất nước anh em vĩ đại mà chứng ta hằng biết ơn này, nhất là mấy anh Hải tặc đã bịa ra cái đường lưỡi bò, cướp Hoàng Sa, rồi còn hòng thôn tính luôn Trường Sa và cả Biển Đông ngút ngát kia. Trung Quốc là một quốc gia giầu có, hùng mạnh. Sự bật dậy của người anh em thân thiết trong những năm gần đây làm chúng ta mừng vui và hạnh phúc vô cùng. Thế kỷ 21 mà chúng ta đang sống đây sẽ là thế kỷ Trung Quốc.
Hàng hóa Trung Quốc, từ đồ tiêu dùng vụn vặt cho đến những mặt hàng cao cấp nhất cũng đã phủ khắp thế giới. Chẳng cần đến Trường Sa, Hoàng Sa và cả Biển Đông, Trung Quốc cũng vẫn là một quốc gia hùng mạnh vào bậc nhất thế giới, vậy thì việc gì phải vơ váo những thứ không phải của mình. Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam. Đó không phải người Việt tự tuyên bố, mà chủ quyền đó đã được chính người Pháp và bạn bè Quốc tế khách quan, xác định từ mấy trăm năm trước. Trong bản đồ địa giới, hải giới của Trung Quốc, từ đời Nhà Thanh và trước nữa cho đến năm 1904 cũng không có Hoàng Sa, Trường Sa và cái đường lưỡi bò ma quỷ. Đấy là những bằng cứ hùng hồn, phủ nhận những trò tháu cáy của những kẻ tiểu nhân, rất không hảo hán. Việc làm đó chẳng biết có thu được lợi lộc gì không, vì trong thời đại ngày nay, cũng không dễ làm được những điều khuất tất ngang ngược, bất chấp đạo lý, nhưng trước mắt, họ đã tự cô lặp mình trước cộng đồng quốc tế, đặc biệt là với các nước trong khu vực, cùng thở chung một bầu khí quyển Biển Đông. Và nói như các cụ ta xưa, thì đó cũng chỉ là chuyện : “Khôn nhà dại chợ!”
Nguồn: http://lethieunhon.com/read.php/6068.htm
Nhà thơ Trần Đăng Khoa đặt vấn đề: “Còn nhớ những năm 1997-1998, thương lái Trung Quốc sang ta mua mèo với giá cao, thế là vì cái “giá cao” ấy, mèo gần như tuyệt diệt, nông dân phía Bắc phải chịu đại dịch chuột hoành hành, khiến cả mùa màng xiêu điêu. Rồi những năm 2002-2003, thương lái Trung Quốc cũng lại sang mua móng trâu với giá cao. Cũng chẳng biết họ mua móng trâu làm quái quỷ gì mà mua với giá cao thế. Ở thời điểm ấy, cả chú trâu to lớn vật vã như thế mới có 5 triệu bạc mà chỉ riêng một cái móng trâu cũng đã gần một triệu bạc rồi.
Thế là bà con lột móng trâu đem bán. Kết cục là trâu bò chết hàng loạt, ảnh hưởng nặng đến sức kéo của bà con nông dân nghèo phía Bắc. Để tiêu diệt cả con trâu, họ chỉ chi khoản tiền bằng đúng một chiếc móng. Thế thì chiếc móng trâu mà thương lái Trung Quốc thu gom là đắt hay rẻ đây?”
Mấy ngày gần đây, trong những chuyện phiếm bên quán nước vỉa hè, hay trên các hãng truyền thông, đều xôn xao những chuyện không lấy gì làm đẹp trong phòng khám, phòng điều trị tư nhân có thày thuốc Trung Quốc. Điều đáng sợ hơn là đã xảy ra cả chuyện chết người. Nạn nhân là một phụ nữ chẳng có bệnh tật gì nghiêm trọng. Một cái chết vu vơ. Chết chỉ vì bị xốc khi truyền nước. Đó là một sơ xuất rất tối thiểu mà ngay cả một trạm xá cấp xã, cấp phường cũng khó vấp phải. Chúng ta không nghi ngờ nền y học Trung Quốc, đặc biệt là Đông y. Tuy nhiên, những thầy thuốc giỏi, những bác sĩ chuyên gia đích thực của họ đâu có sang ta để hành nghề. Việt Nam không phải là lựa chọn của họ. Làm việc trong mấy phòng khám tư nhân ở ta, có khi chỉ là mấy ông lang băm bán thuốc dạo, hay vài cậu sinh viên non choẹt vừa mới ra trường. Tay nghề không. Thực tiễn không. Kinh nghiệm không. Thế thì tránh sao được chuyện rủi ro, kể cả những cái chết bi thảm, những cái chết vu vơ rất không đáng có.
Điều chúng ta quan tâm, là tại sao những phòng khám tư nhân, với cái giá điều trị ngất ngưởng ở …trên giời mà vẫn có bao nhiêu người nghèo sẵn sàng dồn cơ nghiệp và cả tính mạng của mình vào đấy, để rồi cuối cùng chuốc lấy sự phiền toái, bùng nhùng, cả những cái chết vô cùng thảm khốc? Tất nhiên, ai rồi cũng sẽ chết vì bệnh. Nhưng những bệnh nhân đáng thương ấy không phải chết vì bệnh tật, mà vì bệnh …sùng ngoại. Cái gì của nước ngoài cũng tốt, cũng sang. Đến cả hàng hóa, vật dụng, hàng xách tay, hàng…ngoài luồng cũng đều …tốt cả. Còn những gì của ta cũng đều rẻ rúng, “hâm đơ”. Hãm. Từ hàng hóa, vật dụng, đến cả …con người. Các Hoa hậu, ca sĩ của ta, chỉ cần có chút nhan sắc, tiếng tăm, phần lớn cũng sắm…chồng ngoại. Thế thì trách gì mấy bác nông dân chân lấm, tay bùn cả tin, dễ bị lừa mị, thế nên chỉ nhức đầu, sổ mũi, hay cắt trĩ, truyền nước…, toàn những bệnh đơn giản, cũng muốn kén bàn tay của bác sĩ ngoại, dù sự kén chọn ấy có phải trả cái giá ngất nghểu ở xứ …cung giăng thì cũng “cứ chơi”. Không đủ tiền thì bán đất cát, nhà cửa. Tính mạng còn chả tiếc thì tiếc gì mấy chuc …triệu bọ. (Xin lưu ý giá cắt trĩ ở phòng khám tư có thầy thuốc Trung Quốc là 20 triệu đồng).
Thật hẩm hiu cho nền y học “nội địa”. Trong khi chúng ta có rất nhiều thày thuốc giỏi, như Giáo sư Tôn Thất Tùng, Giáo sư Tôn Thất Bách, Giáo sư Nguyễn Trọng Nhân, Giáo sư Nguyễn Lân Việt, Lương y Bành Khừu, Bác sĩ Nguyễn Tài Thu, bác sĩ trẻ Nguyễn Lân Hiếu. Bác sĩ Hiếu là con trai Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân Dũng và Thày thuốc Nhân dân, Đại tá hàm Tướng Nguyễn Kim Nữ Hiếu, Phó Viện trưởng Viện 108 Quân đội. Hiện nay, bác sĩ Lân Hiếu mổ tim thuộc hạng cự phách. Một học giả nước ngoài bảo tôi: “Về y học, chúng tôi chỉ hơn các anh máy móc và điều kiện làm việc thôi. Còn tài năng, kinh nghiệm, và đặc biệt là bàn tay khéo léo, chuẩn xác trong kỹ nghệ mổ xẻ, các bác sĩ của các anh thật đáng kính nể!”.
Thế thì tại sao lại dẫn đến thảm cảnh ấy?
Sùng ngoại. Cả tin. Đa nghi ư? “Người Việt vốn dĩ có tinh thần cảnh giác cao độ. Kinh nghiệm từ những năm chiến tranh với cái giá quá đắt phải trả đã cho họ đức tính ấy”. Giáo sư J. Berke, một nhà Việt Nam học người Đức đã từng có nhận xét về chúng ta như vậy. Ông đã bảy lần sang thăm Việt Nam. Để khám phá Việt Nam, theo ông, chỉ cần có một công cụ, đó là chiếc xe đạp. Mà xe đạp ở xứ này rất sẵn. Chỉ bỏ ra hơn chục dolla là đã có cả một chiếc xe đạp rồi. Đi xe đạp Việt Nam rất hay bị xịt lốp. Nhưng không sao. Xe xịt ở bất cứ chỗ nào thì cứ tạt vào rệ đường. Thế là lập tức ở đó sẽ có ngay một ông thợ bơm vá xe đạp. Mà những ông thợ này rất đặc biệt. Họ không phải người bình thường. Họ là những anh hùng trong những năm chiến tranh. Đó là pho sử sống của cả một thời đại. Nhưng tốt nhất là cứ để họ tự nói. Người Việt sởi lởi lắm. Họ chẳng giũ được cái gì ở trong bụng. Nhưng mà đừng hỏi. Nếu cứ thật thà hỏi, hoặc tỏ ý quan tâm, lập lức họ sẽ nghi ngay mình là một tên gián điệp quốc tế. Với người Việt, tội ác tày trời là tội làm gián điệp. Cứ vu cho cái tội làm gián điệp là mọi việc xử lý rất dễ. Dân Việt nhạy cảm lắm. Cảnh giác lắm, căm gián điệp lắm, nên nhìn đâu cũng thấy địch!
Nhận xét của J. Berke như một chuyện đùa. Nhưng không phải không có những điều khiến ta phải nghĩ ngợi. Một cây bút có tiếng chịu khó tìm tòi, vừa có tác phẩm mới, với giọng điệu hơi lạ, dù chỉ đơn thuần là một cách làm mới mình, để mình không giống với người khác. Vậy mà ông bạn tôi cứ truy hỏi: Cái cậu tác giả ấy là người thế nào? Nó ăn phải bả của địch hay do địch cài cắm?. Tôi bảo: Chả có địch nào chui được vào hàng ngũ của những người từng vào sinh ra tử. Mà cơ quan ấy cũng là mảnh đất lành. Một môi trường trong veo làm sao có chỗ cho cái ác nảy nở. Nếu cậu không tin, cậu cứ cử về đấy vài ba thằng gián điệp. Tớ bảo đảm với cậu chỉ sau mấy tháng, chúng sẽ thành lao động “tiên tiến” hay cá nhân “bốn tốt”!.
Ông bạn tôi bắt đầu cảnh giác. Rồi anh nghi ngờ cả tôi. “Không khéo thằng cha này cũng bị địch tiêm nhiễm rồi cũng nên”.
Bà con mình thế đấy. Có thể cảnh giác, nghi ngờ với cả con cái, anh em ruột thịt trong nhà, nhưng lại nhẹ dạ cả tin với thiên hạ. Mà ai nói gì cũng tin. Các cụ bảo đó là bệnh “Khôn nhà dại chợ”.
Còn nhớ những năm 1997-1998, thương lái Trung Quốc sang ta mua mèo với giá cao, thế là vì cái “giá cao” ấy, mèo gần như tuyệt diệt, nông dân phía Bắc phải chịu đại dịch chuột hoành hành, khiến cả mùa màng xiêu điêu. Rồi những năm 2002-2003, thương lái Trung Quốc cũng lại sang mua móng trâu với giá cao. Cũng chẳng biết họ mua móng trâu làm quái quỷ gì mà mua với giá cao thế. Ở thời điểm ấy, cả chú trâu to lớn vật vã như thế mới có 5 triệu bạc mà chỉ riêng một cái móng trâu cũng đã gần một triệu bạc rồi. Thế là bà con lột móng trâu đem bán. Kết cục là trâu bò chết hàng loạt, ảnh hưởng nặng đến sức kéo của bà con nông dân nghèo phía Bắc. Để tiêu diệt cả con trâu, họ chỉ chi khoản tiền bằng đúng một chiếc móng. Thế thì chiếc móng trâu mà thương lái Trung Quốc thu gom là đắt hay rẻ đây?
Chưa hết. Hãy nhớ lại chuyện thu gom ốc bươu vàng, rồi thu gom đỉa của thương lái Trung Quốc mấy năm vừa qua, chúng ta cũng đã phải trả một cái giá đắt đến mức như thế nào? Từ các tỉnh phía Bắc, phong trào thu mua đỉa đã lan đến Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam. Nhiều người dân Hóc Môn còn đứng ra thu gom đỉa từ khắp các vùng lân cận. Thấy lợi, dễ làm mà giá cao, nhiều hộ dân Tây Ninh còn nuôi đỉa ngay trong ao nhà mình hồ để mang bán cho thương lái Trung Quốc. Ngoài việc “sản xuất” đỉa, “sản xuất” ốc bươu vàng, họ còn đi thu mua của các hộ quanh vùng. Thương lái Trung Quốc mua gì, họ thu gom thứ ấy. Thương lái đặt với số lượng cực lớn rồi đột ngột “mất tích” như phép thần thông của Tôn Hành Giả. Mà đỉa với ốc bươu vàng sinh sản rất nhanh. Trời mưa, đỉa theo nước ùa cả vào nhà dân. Không phải chỉ trẻ con mà người lớn cũng sợ khiếp vía. Theo các nhà Động vật học, “đỉa là loài rất nguy hiểm, do dễ sinh sôi nảy nở trong mọi điều kiện. Đặc biệt, ở những vùng đồng ruộng chiêm trũng. Trong khi đó, để tiêu diệt một con đỉa lại rất khó khăn, ngay cả việc đốt cháy, nếu không cháy hết còn sót lại một vài tế bào, gặp điều kiện thuận lợi cũng có thể phát triển thành một con đỉa bình thường. Đặc biệt, khi người dân đua nhau nuôi đỉa thì không thể kiểm soát được, đỉa tràn ra môi trường, trở thành hiểm họa, giống như hiểm họa ốc bươu vàng, chuột hải ly, rùa tai đỏ những năm trước đây”.
Thật quái quỷ!
Và rồi còn ghê rợn hơn nữa là việc thu gom chè bẩn cũng lại của Thương lái Trung Quốc trong khu vực các tỉnh phía Bắc. Chỉ tính riêng ở Văn Chấn, Yên Bái, có thể nói, người người sản xuất chè. Nhà nhà sản xuất chè. Mỗi hộ gia đình chỉ bỏ ra 4 triệu đồng mua 2 máy vò chè và sàng chè, là đã thành một xưởng sản xuất chè tại gia. Chỉ sau 1 tuần sản xuất chè bẩn, họ đã thu hồi toàn bộ vốn. Còn sau thì lãi. Ở Hàm Yên, Tuyên Quang, còn có chuyện sản xuất chè bằng cách trộn phân lân hoặc nước bùn đất vào búp chè tươi già, qua công đoạn vò, phơi, được loại chè khô vừa nặng, vừa dẻo, cánh chè xoăn và xanh. Có một điều rất lạ, chè bẩn làm ra bao nhiêu cũng được thương lái Trung Quốc thu gom hết. Họ còn mua với giá cao. Thương lái Trung Quốc còn đến tận nhà hướng dẫn làm chè bẩn rồi bao tiêu trọn gói. Chè bẩn được đóng bao, đóng gói chở đi kìn kìn. Họ mua chè bẩn với số lượng lớn như thế về để làm gì thì chỉ có trời mới biết.
Khi Trung Quốc đăng cai Đại hội Olympic, trước con mắt của bạn bè quốc tế, họ mời ông Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang sang cùng chứng kiến cảnh họ đốt chè, với lý do chè Việt bẩn không đảm bảo an toàn thực phẩm. Vậy thì còn có quốc gia nào giám ký kết, đặt mua. Vậy là chỉ sau 6 tháng, toàn bộ ngành chè liêu xiêu và hàng loạt doanh nghiệp gắn với chè đã bị phá sản.
Năm 2007, Tập đoàn Bưu chính viễn thông của chúng ta cũng thiệt hại hàng chục triệu USD khi bị cắt trộm 11 km cáp quang. Nhiều người cứ thắc mắc, không hiểu kẻ cắp cắt trộm cáp quang để làm gì, bởi cái thứ này không thể bán phế liệu được. Sau đó, khi Công an Bà Rịa - Vũng Tàu bắt được "cáp tặc" Nguyễn Thị Bích Phượng, từ lời khai của thị, mọi người mới tá hỏa: Hóa ra thị tổ chức cắt cáp để bán cho thương lái Trung Quốc. Thị cũng không hiểu thương lái Trung Quốc mua hàng đống cáp quang vụn của thị để làm cái quái quỷ gì?
Cũng may, thương lái Trung Quốc chỉ gom thu chè bản, cáp quang, đỉa ốc, móng trâu...Họ mà thu gom hài cốt thì không khéo khối người đào cả mồ mả, ông bà tổ tiên đem bán rồi.
Thật đáng sợ.
Bây giờ thì tất cả đã rõ.
Bà con ta quá nêu cao cảnh giác, toàn cảnh giác nghi ngờ những người ruột thịt trong nhà, rồi ứng xử rất hà khắc, nhưng lại ngờ nghệch, cả tin với người ngoài thiên hạ, cũng vì những lợi ích cỏn con trước mắt, nên bị mấy anh nghịch tặc phá hoại nó lừa. Và lừa rất manh mún, tiểu nhân, nhưng lại rất bài bản, có hệ thống với mọi tính toán kỹ lướng, và rồi hậu quả để lại cho chúng ta thì lại vô cùng nặng nề và không hề manh mún một chút nào.
Ôi! Người anh em Trung Quốc, “môi hở răng lạnh”, người luôn nêu cao “mười sáu chữ vàng” mà lại hiện hình rúm ró như thế được sao? Tôi nói điều này cũng vì rất yêu đất nước anh em Trung Quốc. Đất nước của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tào Tuyết Cần, Lỗ Tấn… cùng với nền văn hóa vĩ đại mà tôi hằng ngưỡng mộ từ thuở ấu thơ! Chính vì yêu Đất nước Trung Quốc, nên càng thấy đau đớn, khi những kẻ giả danh Trung Quốc, đã bôi bẩn đất nước đất nước anh em vĩ đại mà chứng ta hằng biết ơn này, nhất là mấy anh Hải tặc đã bịa ra cái đường lưỡi bò, cướp Hoàng Sa, rồi còn hòng thôn tính luôn Trường Sa và cả Biển Đông ngút ngát kia. Trung Quốc là một quốc gia giầu có, hùng mạnh. Sự bật dậy của người anh em thân thiết trong những năm gần đây làm chúng ta mừng vui và hạnh phúc vô cùng. Thế kỷ 21 mà chúng ta đang sống đây sẽ là thế kỷ Trung Quốc.
Hàng hóa Trung Quốc, từ đồ tiêu dùng vụn vặt cho đến những mặt hàng cao cấp nhất cũng đã phủ khắp thế giới. Chẳng cần đến Trường Sa, Hoàng Sa và cả Biển Đông, Trung Quốc cũng vẫn là một quốc gia hùng mạnh vào bậc nhất thế giới, vậy thì việc gì phải vơ váo những thứ không phải của mình. Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam. Đó không phải người Việt tự tuyên bố, mà chủ quyền đó đã được chính người Pháp và bạn bè Quốc tế khách quan, xác định từ mấy trăm năm trước. Trong bản đồ địa giới, hải giới của Trung Quốc, từ đời Nhà Thanh và trước nữa cho đến năm 1904 cũng không có Hoàng Sa, Trường Sa và cái đường lưỡi bò ma quỷ. Đấy là những bằng cứ hùng hồn, phủ nhận những trò tháu cáy của những kẻ tiểu nhân, rất không hảo hán. Việc làm đó chẳng biết có thu được lợi lộc gì không, vì trong thời đại ngày nay, cũng không dễ làm được những điều khuất tất ngang ngược, bất chấp đạo lý, nhưng trước mắt, họ đã tự cô lặp mình trước cộng đồng quốc tế, đặc biệt là với các nước trong khu vực, cùng thở chung một bầu khí quyển Biển Đông. Và nói như các cụ ta xưa, thì đó cũng chỉ là chuyện : “Khôn nhà dại chợ!”
Nguồn: http://lethieunhon.com/read.php/6068.htm
lethieunhon.com
Trung tá CSGT hy sinh khi tàu cát lật trên sông
Trung tá Tuấn Anh và đồng đội áp tải chiếc tàu khai thác cát trái phép
về bãi neo đậu để xử lý thì bất ngờ gặp mưa to, gió. Tàu lật úp khiến sĩ
quan Công an Ninh Bình hy sinh.
Công an tỉnh Ninh Bình đang điều ra nguyên nhân vụ chìm tàu khai thác
cát trên sông Đáy - đoạn qua xã Hồ Ninh, huyện Kim Sơn, khiến trung tá
Đặng Tuấn Anh - Phó đội trưởng Đội CSGT đường thủy, Phòng CSGT đường
thủy, đường bộ (PC67) hy sinh.
Theo điều tra ban đầu, tối 23/6, tổ công tác Phòng PC67 phối hợp với Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường kiểm tra, tạm giữ 4 phương tiện thủy khai thác cát trái phép trên tuyến sông Đáy - đoạn giáp ranh giữa tỉnh Ninh Bình và Nam Định.
Khoảng 23h40, lực lượng thực thi nhiệm vụ yêu cầu chủ tàu lái các
phương tiện thủy về bài tập kết để giải quyết. Trên đường di chuyển, tàu
cát do ông Nguyễn Văn Kiên (49 tuổi, trú ở huyện Nghĩa Hưng, Nam Định)
gặp mưa to, giớ lớn nên bị chìm.
Trên tàu lúc đó còn có trung tá Đặng Tuấn Anh và đại úy Vũ Mạnh Hùng (Đội Cảnh sát giao thông đường thủy) làm nhiệm vụ giám sát. Vụ tai nạn khiến trung tá CSGT mất tích, còn đại úy Hùng bị thương.
Đến 9h30 ngày 24/6, lực lượng chức năng mới tìm thấy thi thể trung tá Tuấn Anh tại khu vực tàu bị đắm.
Sáng 25/6, Công an tỉnh Ninh Bình phối hợp với gia đình đã tổ chức tang lễ cho sĩ quan này theo nghi thức Công an nhân dân tại quê nhà. Đại úy Hùng đang được điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh.
Theo điều tra ban đầu, tối 23/6, tổ công tác Phòng PC67 phối hợp với Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường kiểm tra, tạm giữ 4 phương tiện thủy khai thác cát trái phép trên tuyến sông Đáy - đoạn giáp ranh giữa tỉnh Ninh Bình và Nam Định.
| Tình hình khai thác cát trên sông Đáy diễn biến phức tạp. Ảnh: N.D. |
Trên tàu lúc đó còn có trung tá Đặng Tuấn Anh và đại úy Vũ Mạnh Hùng (Đội Cảnh sát giao thông đường thủy) làm nhiệm vụ giám sát. Vụ tai nạn khiến trung tá CSGT mất tích, còn đại úy Hùng bị thương.
Đến 9h30 ngày 24/6, lực lượng chức năng mới tìm thấy thi thể trung tá Tuấn Anh tại khu vực tàu bị đắm.
Sáng 25/6, Công an tỉnh Ninh Bình phối hợp với gia đình đã tổ chức tang lễ cho sĩ quan này theo nghi thức Công an nhân dân tại quê nhà. Đại úy Hùng đang được điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh.
“Số phận” người hái sấu đặc biệt giữa Thủ đô
Với cây sào dài và chiếc tải lớn trên lưng, ngày ngày ông Bảo “sấu” lang thang hàng chục cây số dọc những con phố Hà Nội để trẩy sấu mưu sinh. Ít ai biết được ông đã 60 tuổi, không vợ con, nhà cửa, một mình sống lang thang giữa Hà Nội…
Trượt dốc và vòng lao lý
Ông Bảo “sấu” sinh ra và lớn ở Hà Nội. Tuổi thơ của ông gắn liền
với với vườn hoa Lê Trực thuộc phuờng Điện Biên, quận Ba Đình. Ông kể,
ngày đó, nhà ông cũng như bao nhà khác ở Hà Nội, cuộc sống khá vất vả.
Khi còn nhỏ, cũng đã có lúc ông phải ra đứng dọc đường Trần Phú bây
giờ để bơm xe phụ giúp gia đình kiếm sống, mỗi lốp xe được khoảng 2
hào. Rồi ông lớn lên, cũng đi bộ đội, cũng lấy vợ sinh con như bao nhiêu
chàng trai đất Hà thành khác.
Ông Bảo “sấu” ngày ngày mưu sinh trên những con đường Hà Nội.
Trước những năm 90 của thế kỷ trước, ông cũng có một gia đình, có
con khôn vợ đảm. Một tổ ấm nhỏ bé, tuy không giàu sang nhưng đầm ấm,
hạnh phúc. Vợ ông trước làm một nhân viên bán hàng thuộc ngành Ngoại
thương, ông cũng có một chân lao động ở khu vực chợ Long Biên - Đồng
Xuân, con gái, trai có cả.
Bi kịch đến khi vợ ông ngoại tình, năm 1992 ông đưa đơn ra tòa ly
hôn và dành phần nuôi các con. Cảnh gà trống nuôi con, thiếu bàn tay đàn
bà chăm sóc, lại thêm đàn con nheo nhóc, cuộc sống gia đình ông dần rơi
vào cảnh túng bấn.
Cùng quẫn ông lao vào chơi lô, đề với mong muốn trúng được một
khoàn tiền kha khá để cuộc sống đơn vất vả hơn. Ông tâm sự: “Hồi ấy, tôi
làm đủ thứ nghề mà nghèo vẫn hoàn nghèo. Nói thật, túng quẫn quá sinh
ra làm liều, mấy đứa con lại càng đói nheo nhóc”.
Cuộc sống thường có những định mệnh nghiệt ngã, năm 1994, sau 2 năm
bỏ vợ, cuộc sống gia đình ông lâm vào cảnh túng quẫn cùng cực. Cay đắng
hơn, đúng lúc đó chợ Đồng Xuân nơi ông mưu sinh bị cháy.
Ông kể lại: “Sự cố xảy ra, ngày 14/7/1994, một trận cháy lớn đã
thiêu rụi chợ Đồng Xuân. Mọi người cuống cuồng cứu hàng hóa, dập lửa,
tôi cũng hòa mình trong dòng người ấy. Một số kẻ xấu lợi dụng sự hỗn
loạn để hôi của. Từ sự tín nhiệm của các chủ hàng nhờ cứu hàng, từ hoàn
cảnh kinh tế gia đình nợ chồng chất, tôi đã nổi lòng tham cấu kết với
một số kẻ xấu vừa cứu hàng, vừa tranh thủ hôi của… Lưới trời lồng lộng,
tôi bị bắt và tòa kêu án 15 năm tù”.
Đã 60 tuổi rồi, ông chỉ biết sống dựa vào những cây sấu ven đường.
Tuổi già sống dựa vào cây sấu
15 năm thụ án ở Thanh Chương (Nghệ An) là cả một chuỗi ngày dài
đằng đẵng ông ăn năn sám hối. Cái giá phải trả cho phút yếu lòng quá
đắt, gia đình nhỏ của ông tan vỡ hoàn toàn, nhà bị tịch biên phát mãi,
các con còn nhỏ phải ở nhờ họ hàng.
Vẫn nét mặt khắc khổ già hơn tuổi của mình, ông trầm tư: “Những
ngày trong tù tôi lại thương các con nhiều hơn, không biết các con ở với
ai, ăn uống thế nào vì sau khi bỏ vợ cuộc sống gia đình tôi tụt dốc
hẳn, bữa cơm không phải lúc nào cũng có cơm trắng”.
Vì thương các con, tôi đã cố gắng nhiều hơn, phấn đấu nhiều hơn,
cải tạo tốt hơn, để sớm được về với các con. Những động lực đó đã giúp
tôi cải tạo tốt hơn, tôi cải tạo tốt lắm, được cán bộ quản giáo xếp vào
loại cải tạo tự túc và tôi đã được giảm án còn 12 năm, được mãn hạn cải
tạo trước thời hạn.
Trở về với cuộc sống đời thường, hòa nhập cộng đồng với ông cũng là
một vấn đề khó khăn. Vì mặc cảm, ông không muốn tìm về với con cái, họ
hàng, ông sống lang thang ở một vườn hoa gần nhà cũ, ngày bán sức lao
động nuôi thân, đêm ghế đá công viên làm chỗ nghỉ…
Ông tâm sự: “Từ khi đi trại về đến giờ tôi đã làm một số việc để
kiếm sống, từ xin đi rửa xe đến trông coi thợ làm nhà cho một người họ
hàng, giờ đang mùa sấu, tôi chuyển sang hái sấu tươi ngay tại Hà Nội này
bán cho các quán cơm, hàng nước kiếm sống. Công việc này lúc chưa đi
cải tạo tôi cũng đã từng làm, tôi không trèo cây mà dùng sào chọc, tuy
kiếm được tiền nhưng cũng vất vả lắm”.
Khi được hỏi về con, ông xua tay nói bằng một giọng buồn buồn: “Tôi
không buồn hay giận chúng. Nhưng có một điều gì đó trong thâm tâm tôi
không lý giải được ngăn trở tôi tìm đến các con. Giả sử chúng tìm tôi,
chưa chắc tôi đã chịu về với chúng. Tôi thích một cuộc sống tự do hơn,
tôi còn sức lao động còn tự lo cho mình được. Cứ coi như đây là những
tháng ngày sám hối cuối cùng của tôi”.
Cuộc sống mưu sinh vất vả, bấp bênh không hứa hẹn một điều gì cho tương lai của người đàn ông này.
Theo chân ông một ngày mưu sinh. Ngày làm việc của ông bắt đầu
khoảng 8h. Gia tài, cũng là đồ nghề của ông rất đơn giản: một cái sào
dài vác vai, một cái khăn mặt quàng cổ và một cái tải có quai mang trên
lưng, ông rong ruổi trên các con phố của Hà Nội như Trần Phú, Phan Đình
Phùng, phố Trần Hưng Đạo... để hái sấu.
Gồng chắc đôi tay cầm chiếc sào dài, ông ngửa cổ chọc từng quả,
chùm sấu. Cứ độ 5 phút ông lại chống sào lau mồ hôi một lần, nhưng trên
mặt ông vẫn luôn nở nụ cười với tôi. Thỉnh thoảng, hạ vội chiếc sào, ông
đưa tay bắt một chùm sấu rơi xa vì sợ dập bán sẽ không được giá. Không
chỉ lấy sào chọc sấu, ông còn trèo chót vót trên ngọn cây sấu. Những quả
sấu trượt qua tay ông, rụng lộp bộp xuống đường.
Đến trưa, ông bán chỗ sấu vừa hái cho một người đàn ông qua đường
được 100.000 đồng với khoảng hơn 3 kg sấu. Ông hể hả: “Như mọi hôm tôi
chỉ hái buổi sáng, bán xong thì về công viên Lê-nin la cà ở đấy cho đến
tối, để dành hôm sau hái nhưng hôm nay tôi đã nhận lời để cho một người ở
đầu phố 2 kg nên giờ phải hái thêm”.
Khi được hỏi không hái người khác họ hái hết thì sao? Ông vẫn hể
hả: “Bần cùng mới phải làm cái nghề hái sấu giữa Hà Nội này, họ đi hái
sấu thì cuộc sống họ cũng chẳng khá giả gì, cứ coi như chúng tôi chia sẻ
nguồn sống cho nhau”.
Phước Hà - Hải Ninh
Báo Đất Việt
Báo Đất Việt
Rợn người xem “Xuân tóc đỏ” thời nay trèo sấu
ANTĐ Hùng bám tay trần vào gốc sấu cổ thụ, chưa đầy nửa phút sau nó đã mất hút giữa tán lá xanh um tít trên ngọn cây.
“Từ đấy,
thằng Xuân lấy đầu hè xó cửa làm nhà, lấy sấu ở các phố, cá hồ Hoàn Kiếm
làm cơm. Nó đã bán phá xa, bán nhật trình, làm chạy hiệu rạp hát, bán
cao đan hoàn tán trên xe lửa, và vài ba nghề tiểu xảo khác nữa. Ánh nắng
mặt trời làm cho tóc nó đỏ như tóc Tây.”- nhân vật Xuân tóc đỏ đã được
nhà văn Vũ Trọng Phụng miêu tả trong chương mở đầu của tác phẩm “Số đỏ”
như thế.
| |
Chưa đầy nửa phút, Hùng đã trèo tít lên ngọn sấu cao hàng chục mét
|
Lấy bối cảnh
của tác phẩm văn học này thì đến nay nghề trèo sấu ở Hà Nội đã có đến cả
trăm năm. Những gốc sấu cổ thụ trồng từ thời Pháp thuộc vẫn hiện hữu
trên hàng loạt các con phố như: Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Ngô
Quyền, Trần Phú, Phan Đình Phùng…
Cứ mỗi dịp
hè, vào tầm cuối tháng 6, đầu tháng 7 dương lịch, những hàng sấu cổ lại
trĩu chịt quả xanh. “Đội quân” hái sấu đến hẹn lại lên, bắt đầu tiến
hành “thu hoạch”. Trước kia, Công ty Công viên cây xanh Hà Nội có tổ
chức đấu thầu để thu hoạch sấu, nhưng rồi khi đời sống khấm khá dần lên,
chẳng tổ chức nào mặn mà với chút lợi kinh tế từ những quả sấu xanh. Vì
thế, mạnh ai nấy trèo.
Hùng năm nay
20 tuổi, đi cùng một nhóm đồng hương quê huyện Quảng Xương (Thanh Hóa)
đi hái sấu ở Hà Nội đã được gần một tháng nay. Đứng dưới gốc sấu cổ thụ
trên đường Trần Hưng Đạo- khu vực đối diện trụ sở của Bộ Khoa học và
Công nghệ, nó ngước mắt nhìn lên ngọn cây để áng chừng khoảng cách và
xác định cành có nhiều quả.
Sau đó, chỉ
bằng chân tay trần, Hùng bắt đầu leo lên. Rất thành thạo và không hề sợ
hãi, sau chừng nửa phút đã thấy nó khuất người sau tán lá xanh rì, cao
hàng chục mét phía trên cao. Cái sào dài có móc sắt ở đầu được thằng bạn
đứng dưới chuyển lên, nó đón lấy rồi nhoài người về phía một cành non:
“rắc, rắc…rào”, mấy âm thanh nhỏ vang lên, đã thấy một đọt sấu nhỏ được
thả xuống. Thằng đứng dưới đón lấy, bứt nhanh được hơn chục quả sấu xanh
bỏ vào cái làn nhựa, còn đám cành lá thì vứt bừa ra vỉa hè.
Không có một phương tiện bảo hộ nào, chỉ bằng tay chân trần, Hùng trèo sấu cả ngày
|
Cũng chính vì
cái thói làm ăn bừa bãi này mà không ít lần nhóm của Hùng bị phạt. Một
ông chủ của hàng bánh ngọt trên phố Phan Đình Phùng từng tóm hết đồ nghề
của nhóm, tịch thu mấy chục cân sấu, lại còn bắt quét sạch toàn bộ cả
khúc vỉa hè rộng mênh mông. Ấy thế mà “chứng nào tật nấy”, khu vực đông
dân thì nhóm trèo sấu còn chịu khó bỏ cành lá vào bao tải mang ra xe rác
đổ, chỗ nào vắng người hay gần cơ quan nhà nước thì trò vứt bừa cành lá
lại tái diễn.
Thu hoạch quả
của một cây sấu chỉ mất chừng 20 phút (phần cũng vì có nhiều nhóm tranh
nhau đi hái, quả sấu không lớn kịp), Hùng lại đu người tụt xuống, nhanh
không kém lúc leo lên. Tay chân, người ngợm nó loang lổ toàn nhựa cây.
Hỏi chuyện, Hùng cười “em chẳng ngã bao giờ, nếu mà ngã thì giờ đã không
ngồi đây”.
Nhóm của Hùng
là một trong những nhóm đầu tiên chuyên đi hái sấu xanh trên địa bàn
thành phố Hà Nội. Khi trước còn ít người hái, có ngày hái được đến cả tạ
sấu xanh. Giờ trung bình cả nhóm hái được 30-40kg/ngày. Hái xong thì
mang ngay ra ngã tư bày bán cho người qua đường với giá 25.000đ/kg- giá
này cao hơn giá sấu xanh bán trong các chợ đến 7-8.000đ/kg- nhưng vẫn
rất đông người mua vì họ biết đây là sấu tự nhiên, khác với loại sấu
rừng và sấu trồng nhân tạo được phun nhiều chất kích thích tăng trưởng
cho quả to nhưng độ chua kém.
Tỉ tê hỏi
thêm, Hùng còn kể khối chuyện hay khi đi trèo sấu. Như chuyện “Tây” chụp
ảnh cho tiền: số là hôm đó nhóm Hùng trèo cây sấu gần khách sạn Sofitel
Metropole trên đường Ngô Quyền. Đang lửng lơ trên ngọn, ngó xuống dưới
gốc cây thấy cả chục “ông Tây” giơ máy ảnh lên chụp nhoay nhoáy. Nó
hoảng quá tưởng chuyện gì, bèn tụt xuống thì được một “ông Tây” nhét tờ
200.000đ vào túi rồi chỉ tay ra hiệu, trèo lên tiếp để chụp ảnh. Khoản
tiền bo hôm ấy bằng đúng tiền nó trèo sấu cả ngày được cả nhóm chia cho.
Ngồi nói
chuyện với chúng tôi một lát, chợt có một cậu trai đánh giầy đi qua, lại
sà vào. Hóa ra là người quen của Hùng. Cầm thử hộp đánh giày, Hùng bảo,
hết mùa sấu nó cũng ở lại Hà Nội đi đánh giày, chứ về quê chẳng biết
làm gì ra tiền.
| |
| |
Những hàng sấu cổ thụ trên phố Trần Hưng Đạo, Trần Phú, Phan Đình Phùng...
là nơi kiếm sống của những "Xuân tóc đỏ" thời nay |
| |
|
Hùng dùng chiếc sào tre dài, đầu có móc sắt để giật đọt sấu non
|
|
| |
|
Mỗi đọt sấu non có chừng này quả (ảnh trái), hai người khác trong nhóm Hùng ngồi dưới
gốc sấu, đợi từng đọt sấu non ném xuống |
|
| |
Hùng trèo xuống, tay chân lấm lem nhựa cây...
|
Nó bảo sau mùa sấu, sẽ ở lại Hà Nội đi đánh giày vì về quê chẳng làm gì ra tiền
|
Những nhà khoa học 'sinh nghề, tử nghiệp'
Nhiều nhà khoa học có thể gặp các chấn thương không mong muốn trong quá trình làm thí nghiệm, thậm chí có những người phải bỏ mạng vì chính nghiên cứu của họ, và để lại những thành quả đáng giá cho thế hệ sau.
|
|
|
Carl Scheel (1742-1786) là nhà hóa dược học thiên tài. Ông đã
phát hiện ra rất nhiều nguyên tố, trong đó nổi tiếng nhất là oxy (mặc
dù nghiên cứu này sau đó được nhà khoa học Joseph Priestly xuất bản
trước), molipden, vonfram, mangan và clo. Vào thời đại của ông, chưa có các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, và nhiều người cũng chưa biết hết về độc tính
của các loại hóa chất. Carl còn có một thói quen xấu là sử dụng tất cả
các giác quan để tiếp xúc với hóa chất, nhất là khứu giác và vị giác.
Trong một lần thử hydro xyanua, dù nghĩ bản thân sẽ an toàn, nhưng sự
tích tụ cùng lúc các chất thủy ngân, chì, axit flohydric và một số chất
khác, đã khiến ông tử vong vì nhiễm độc kim loại nặng ở tuổi 44.
|
|
|
|
Sau khi nhà khoa học Wilhelm Conrad Röntgen phát minh ra tia
X, Elizabeth Fleischman Ascheim (1859-1905) đã từ bỏ công việc của một
người thủ thư để theo học trường điện. Bà nhanh chóng tốt nghiệp và
mở phòng khám sử dụng tia X đầu tiên trên toàn nước Mỹ. Cùng với chồng
(một nhà vật lý học), bà đã say mê nghiên cứu về tác dụng của phương
pháp chụp X-quang. Cả hai người dành nhiều ngày để chụp X-quang cơ thể
nhau nhằm mục đích nghiên cứu. Bà đã chữa trị cho rất nhiều binh sĩ
trong chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha rồi sau đó theo học chuyên ngành nha
khoa, đồng thời bà cũng là nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực phóng
xạ. Tuy nhiên, bà lại không hề thực hiện bất cứ biện pháp bảo hộ nào
trong khi nghiên cứu, cũng như chữa trị cho các bệnh nhân vì theo bà
nói, nếu dùng đồ bảo hộ thì bệnh nhân sẽ cảm thấy không thoải mái và an
toàn. Vì vậy, bà đã bị nhiễm độc phóng xạ và mất năm 46 tuổi. Ascheim
được xem như một người anh hùng trong lĩnh vực nghiên cứu phóng xạ.
|
|
|
|
Alexander Bogdanov (1873-1928) là nhà khoa học nổi tiếng người Nga.
Ông đồng thời là bác sĩ, nhà kinh tế, nhà triết học, nhà khoa học tự
nhiên, nhà văn viễn tưởng, nhà thơ, giáo viên, chính trị gia, nhà cách
mạng và là người tiên phong của môn điều khiển học và khoa học tổ chức.
Ông cũng là người sáng lập viện nghiên cứu về truyền máu đầu tiên trên
thế giới - Viện truyền máu Liên Xô- vào năm 1926. Ông thực hiện 11 lần
truyền máu vào chính cơ thể mình với tuyên bố truyền máu sẽ chữa khỏi
bệnh hói đầu và cải thiện thị lực của ông. Thật không may, trong lần
truyền cuối cùng, Bogdanov bị nhiễm sốt rét và lao, rồi tử vong sau đó,
để lại những nghiên cứu có giá trị về truyền máu cho con người.
|
|
|
|
Việc Henri Becquerel phát hiện ra phóng xạ năm 1896 đã khơi nguồn
cảm hứng cho các nghiên cứu của đôi vợ chồng nhà khoa học nổi
tiếng, Marie Curie (1867-1934) và Pierre Curie. Những nghiên cứu và phân
tích tuyệt vời của họ đã tách được hai chất phóng xạ là poloni và radi.
Marie đã dành cuộc sống của bà thực hiện nghiên cứu bức xạ và nghiên
cứu bức xạ trị liệu, nhưng do bà phải tiếp xúc liên tục với chất phóng
xạ, nên bà đã bị bệnh bạch cầu và qua đời năm 1934. Marie là người duy
nhất nhận được hai giải Nobel ở hai lĩnh vực khác nhau là hóa học và vật
lý.
|
|
|
|
Haroutune (Harry) K. Daghlian Jr. (1921-1945) là nhà vật lý học
người Mỹ. Daghlian đã tham gia vào kế hoạch Manhattan nổi tiếng tại
phòng thí nghiệm quốc gia ở Los Alamos, New Mexico. Ngày 21/8/1945,
trong thí nghiệm về khối lượng, ông đã vô ý làm rơi một viên gạch
vonfram cacbua vào lõi bom plutonium. Để tránh các phản ứng có hại xảy
ra, ông phải dùng tay để nhấc gạch ra, điều này khiến ông bị nhiễm một
lượng lớn phóng xạ và tử vong 25 ngày sau đó.
|
|
|
|
Malcolm Casadaban (1949-2009) là giáo sư về di truyền học phân tử
và sinh học tế bào và vi sinh học tại Đại học Chicago. Casadaban thực
hiện nghiên cứu trong phòng thí nghiệm về một loại vi khuẩn gây bệnh
truyền nhiễm, sau đó chính ông cũng bị nhiễm bệnh và tử vong. Theo Trung
tâm kiểm soát dịch bệnh và báo cáo phòng chống về vụ việc, vi khuẩn đã
giết chết Malcolm và đồng thời cũng làm những nhân viên trong phòng thí
nghiệm tử vong. Ông được chẩn đoán là nhiễm cả bệnh hemochromatosis, tức
rối loạn chuyển hóa chất sắt sau khi tử vong.
|
|
|
|
Richard Din (1987-2012) làm việc tại Viện Nghiên cứu và Giáo dục
Bắc California với nhiệm vụ nghiên cứu về một loại vắc-xin có tác dụng
ngăn chặn vi khuẩn Neisseria meningitides - loại vi khuẩn gây chứng viêm
màng não và nhiễm trùng máu. Trong quá trình nghiên cứu, Din (bên phải)
cảm thấy nhức đầu và buồn nôn. Các triệu chứng xấu đi nhanh chóng vào
sáng hôm sau, khiến Din phải nhập viện. Anh đã chết 17 giờ sau khi các
triệu chứng xuất hiện lần đầu tiên. Nguyên nhân là do anh đã bị nhiễm vi
khuẩn viêm màng não. Anh đã không tiêm phòng viêm màng não theo khuyến
cáo của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh CDC, đây có thể là nguyên nhân gây
tử vong mặc dù dòng vi khuẩn Din đang nghiên cứu có thể kháng lại
vắc-xin. May mắn là những người tiếp xúc với Din đã được điều trị kịp
thời bằng kháng sinh và không ai trong số họ nhiễm bệnh.
|
Theo An ninh thủ đô
Sinh nghề, tử nghiệp: Đi thụ lý vụ án, thiếu úy CSGT tử nạn
Sự việc xảy ra vào khoảng 14h ngày 10/11 tại Km 2+700 thuộc địa bàn xã Yên Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.

Vào thời điểm trên, thiếu úy Đào Văn Đồng thực hiện nhiệm vụ thụ
lý vụ tai nạn giao thông xảy ra trên địa bàn huyện cách đó 1 tuần. Lúc
này, Thiếu úy Đồng chở theo anh Nguyễn Công Dư (sinh năm 1982, trú tại
Thanh Hà, Hải Dương) là người liên quan đến vụ tai nạn được thụ lý lên
bệnh viện Phố Nối để lấy thêm lời khai của một người khác hiện đang điều
trị.

Khi tới km 2+700 thuộc địa bàn xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, xe của
thiếu úy Đồng gặp xe mang biển kiểm soát 29K1-135.88 do chị Vũ Thị Thùy
(sinh năm 1994, trú tại Khoái Châu, Hưng Yên) điều khiển chở theo một
phụ nữ. Tại đây, xe của thiếu úy Đồng đã va chạm với xe 2 phụ nữ. Chiếc
xe bồ câu đổ ra đường, phần ghi đông chọc vào bàng quang khiến Thiếu úy
Đồng bị chấn thương nặng. Mặc dù đã được đưa vào bệnh viện cấp cứu nhưng thiếu úy Đồng vẫn không qua khỏi và tử vong ngay sau đó.

Được biết, thiếu úy Đào Văn Đồng (sinh năm 1989) hiện là cán bộ
Đội Cảnh sát giao thông-Trật tự cơ động huyện Yên Mỹ. Khi đi làm nhiệm
vụ, thiếu úy Đồng mặc đồng phục Cảnh sát giao thông và đi xe bồ câu
trắng mang biển số 89A1-000.24.
Ngay sau khi vụ việc xảy ra, cơ quan chức năng công an huyện Mỹ
Hào đã có mặt để tiến hành khám nghiệm hiện trường, đồng thời điều tra
làm rõ nguyên nhân vụ tại nạn trên.
Nhận xét
Đăng nhận xét