Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
CA SĨ BẠCH TRÀ a
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
(ĐC sưu tầm trên NET)
LỊCH SỬ MỘT BÀI HÁT.
Tới nay, chắc chắn ai cũng đã từng nghe bài hát Huế thương, một
ca khúc tràn đầy cảm xúc về xứ Thần kinh xưa, với hình ảnh mềm mại của
cô gái Huế bên dòng Hương Giang êm đềm. Mình không rành lắm về âm nhạc
nên không dám phân tích sâu, nhưng chắc chắn cũng như tất cả thính giả
đã nghe bài hát này, thấy rất xúc động mỗi khi nghe nó. Tuy nhiên có lẽ ít ai biết được hoàn cảnh ra đời một cách ngẫu nhiên, nhanh chóng của bài hát này. Nghe nói rằng, nhạc sỹ sáng tác bài này, khi đó còn trẻ và chưa có tiếng
tăm gì. Trong một lần về thăm xứ Huế, chàng được chúng bạn mời nghe ca
Huế trên con đò nhỏ xuôi dòng Hương Giang. Giữa mênh mang sóng nước, các
chàng uống bia Huda để tìm cảm hứng. Cảm hứng tới từ từ êm dịu, nhưng
cảm giác do bia mang lại nhanh hơn nhiều. Nhịn hồi lâu, nhạc sĩ cảm thấy
khó chịu nơi bụng dưới đã lên hồi cao điểm. Chàng loanh quanh trên con
đò nhỏ, toilet không có, nước chảy dịu êm thơ mộng thuyền bè lại qua tấp
nập, làm răng được chừ….. Chàng loay hoay lắm và trong cơn bí bích,
chăng phát ra lời: Hương Giang tấp nập mần răng được chừ… Tui đang nguy
ngập, mần răng bi chừ… Ca nương là một cô gái Huế điển hình, áo dài tím
với dáng người thon thả và cặp mắt to tím huyền hiểu ngay sự tình của
nhạc sĩ. Cô cầm nhẹ chiếc nón bài thơ và cát tiếng hát nối: Em che nón
lại, đệ anh tè tè, em che nón lại đệ anh hành sừ… rồi cô lượn nhẹ một
phát đến sát bên nhạc sĩ, vung nhẹ nón che phần hạ thể của chằng. Nhạc
sĩ nhanh nhẹn moi vòi rồng xả khẩn trương, Sông Hương dậy sóng… Rời con đò nhỏ về nơi tá túc, với cảm xúc được giải tỏa dạt dào, chàng
viết một mạch bài hát nổi tiêng mà chúng ta sẽ nghe sau đây… He he he… Bây giờ thì mời các bạn nghe bài hát qua giọng hát của ca sĩ Vân Khánh. Câu chuyện về xuất xứ của bài hát, ai tin thì tin, còn không thì thôi,
tôi không bắt và cũng chẳng chịu trách nhiệm gì sất! Hê hê hê…
Những ca khúc đi cùng năm tháng của nhạc sĩ An Thuyên
(VTC News) - Nhạc sĩ An Thuyên ra đi để lại cho nghệ thuật Việt Nam môt kho di sản những ca khúc bất hủ.
Nhạc sĩ An Thuyên sinh ngày 15/8/1949 tại Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông
công tác ở Ty Văn hoá Nghệ An từ năm 1967 và đã được trực tiếp tham
gia công tác sưu tầm nghiên cứu dân ca dưới sự chỉ đạo của các lãnh đạo
ngành lúc đó là Trần Nguyên Trinh - Trưởng Ty Văn hóa Nghệ An; Nguyễn
Trung Phong, nhà viết kịch, Phó trưởng ty; Nhà thơ Trần Hữu Thung - Chủ
tịch Hội Văn nghệ Nghệ An.
Ông
cùng với đoàn nhạc sỹ ở Viện nghiên cứu âm nhạc gồm nhạc sỹ Đào Việt
Hưng, nhạc sỹ Hồ Thoa đã đi sưu tầm dân ca Nghệ Tĩnh theo dải sông Lam
từ Anh Sơn, Đô Lương, Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên về Cửa Hội,
qua Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành về Nghi Lộc.
5 năm sưu tầm với hàng trăm cuốn băng tự tạo đã thu được hàng trăm bài hát giá trị của các nghệ nhân trong toàn tỉnh.
Năm
1975, ông vào bộ đội, phải bàn giao lại toàn bộ số băng sưu tầm đó.
Đoàn Dân ca Nghệ An lúc đó có sử dụng khai thác một số làn điệu phổ
biến. Năm 1977, công tác ở Đoàn Văn công Quân khu IV.
Từ
năm 1981 đến năm 1988, ông được cử đi học ở Nhạc Viện Hà Nội, môn Sáng
tác âm nhạc bậc đại học. Sau khi tốt nghiệp, năm 1988 ông về Phòng Văn
nghệ Quân đội và đến tháng 8 năm 1992, ông về công tác ở Trường Nghệ
thuật Quân đội.
Ông
là một trong số các nhạc sĩ đã khai thác, vận dụng và phát triển vốn
âm nhạc của dân ca Nghệ Tĩnh một cách tài tình, có hiệu quả cùng với
các tên tuổi khác mà ông đã từng học tập như Nguyễn Văn Tý, Trần Hoàn,
Nguyễn Tài Tuệ, Tân Huyền, Đỗ Nhuận, Văn Dung, Huy Thục, Doãn Nho,
Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Đình Bảng, Phó Đức Phương, Nguyễn Cường,
Trương Ngọc Ninh...
An Thuyên đã được người yêu âm nhạc biết đến từ tác phẩm đầu tay Em chọn lối này,
viết năm 1971, khi ông tròn 21 tuổi. Ông sáng tác ca khúc khá đều đặn,
hầu hết đều mang âm hưởng dân ca ngọt ngào sâu lắng, nhiều tác phẩm có
chất lượng và đã có sức lan toả rộng lớn.
Những
giọng hát nào phù hợp với dòng nhạc của ông có thể kể đến Lệ Thanh,
Thu Hiền, Quang Linh, Lê Anh Dũng, Anh Thơ, Hà Linh, Bùi Lê Mận…
An Thuyên còn viết một số kịch hát đã được dàn dựng ở nhiều Đoàn Văn công như Trương Chi, Đôi đũa kim giao, Biển tình cay đắng. Ngoài ra, ông còn sáng tác cho khí nhạc, đáng chú ý có Concerto cho sáo và dàn nhạc giao hưởng.
Ông còn viết nhạc cho phim và viết phần âm nhạc cho khoảng 60 vở kịch nói, tuồng, chèo..
An Thuyên từng đạt giải Nhất cuộc thi ca khúc toàn quốc năm 1985 với ca khúc Tiếng đàn balalaica trên sông Đà (phỏng thơ Quang Huy); Giải thưởng chính thức của Bộ Quốc phòng: Hành quân lên Tây Bắc (1984), Thơ tình của núi (1994); Giải Nhất của Bộ Văn hoá - Thông tin và Hội Nhạc sĩ Việt Nam: Khi xe tăng qua miền Quan họ (1985), Mẹ Việt Nam anh hùng (1995); Giải Nhì Hội Nhạc sĩ Việt Nam: Chín bậc tình yêu (1992).
Nhạc sĩ cũng từng được khen thưởng: Chiến sĩ thi đua; Chiến sĩ quyết thắng 12 năm liền; Huân chương lao động hạng III; Huân chương chiến công hạng I.
Ông từng chia sẻ: 'Tôi
đã được lớn lên trong dòng sữa âm nhạc dân gian. Nhưng điều đấy không
có nghĩa là chất liệu đó sẽ vào trong sáng tác của mình. Ðiều cốt lõi
là người nhạc sĩ phải biết nâng niu, gọt giũa, kết hợp cái thuần tuý
thắm đượm của âm nhạc dân gian, cái tri thức âm nhạc dân gian với tri
thức âm nhạc bác học hiện đại. Có như vậy mới tạo ra được những tác
phẩm tân thời hiện đại mà đậm đà chất liệu dân ca.'
Huế thương
Huế thương
là một ca khúc tràn đầy cảm xúc về Cố đô xưa với hình ảnh mềm mại của
cô gái Huế bên dòng Hương Giang êm đềm. Tuy nhiên có lẽ ít ai biết được
hoàn cảnh ra đời một cách ngẫu nhiên, nhanh chóng của bài hát này.
Trong một lần về thăm xứ Huế, nhạc sĩ An Thuyên được mời nghe ca Huế
trên con đò nhỏ xuôi dòng Hương Giang. Giữa mênh mang sóng nước, nhạc sĩ
gặp ca nương là một cô gái Huế điển hình, áo dài tím với dáng người
thon thả và cặp mắt to tím huyền.
Rời con đò nhỏ về nơi tá túc, với cảm xúc được giải tỏa dạt dào, nhạc sĩ đã viết một mạch bài hát nổi tiếng này.
Neo đậu bến quê
Ca khúc được ra đời năm 1993 sau nhiều năm tháng nhạc sĩ An Thuyên đã
nếm trải những cay đắng của cuộc đời và chỉ có mong ước nhỏ nhoi được
trở về 'neo đậu bến quê'.
Đây được xem là ca khúc có chủ đề
quê hương đất nước hay nhất của ông khi nhạc sĩ An Thuyên như đã rút hết
lòng mình để sáng tác trong nước mắt.
Quê hương trong ca
khúc này là những hình ảnh rất đỗi quen thuộc và cụ thể như dòng sông,
con đò, giọng đò đưa, bãi ngô, vầng trăng... để khi người con xa xứ đi
khắp bốn phương trời trở về được 'tắm mát'.
Neo đậu bến quê từng được rất nhiều tên tuổi lớn của làng nhạc thể hiện như Thu Hiền, Vân Khánh, Quang Linh, Quang Lê.
Mẹ Việt Nam anh hùng
Mẹ Việt Nam anh hùng
có thể coi là bài ca chính thức của mọi buổi lễ tôn vinh mẹ Việt Nam
anh hùng, đây là bài hát theo đơn đặt hàng của Tổng cục Chính trị và Bộ
Văn hóa. Có một chi tiết thú vị là Bộ trưởng Bộ Văn hóa khi đó là nhạc
sĩ lừng danh Trần Hoàn đã vỗ vai An Thuyên đặt hàng, điều đó chứng tỏ
ông được tin cậy như thế nào.
Và chỉ trong một đêm, chàng
nhạc sĩ trẻ đã hoàn thành khúc khải hoàn ca về các bà mẹ Việt Nam. Trong
buổi lễ tuyên dương đầu tiên tại Phủ Chủ tịch, tốp ca Trường Văn hóa
nghệ thuật Quân đội nơi ông làm Hiệu trưởng đã hát vang bài hát này, và
tất cả mọi người đều ứa nước mắt.
Ca dao em và tôi
Đây là một trong những ca khúc gắn liền với giọng ca Quang Linh. Ca
dao em và tôi được nhạc sĩ An Thuyên phát triển từ một ca khúc nằm trong
vở nhạc kịch Trương Chi ra mắt năm 1988. Nhạc sỹ đã phải mất 10 năm để viết và hoàn thành bài hát này.
Ca khúc mang âm hưởng dân ca Nghệ Tĩnh kể về nỗi tương tư của một
chàng trai dành cho người con gái nơi làng quê. Ngoài giai điệu ngọt
ngào, lời bài hát chứa đựng những hình ảnh ẩn dụ đậm chất thơ.
Ca khúc ra mắt vào những năm 1990 khi phong trào nhạc trẻ đang rất thịnh hành. Tuy vậy, Ca dao em và tôi vẫn giúp Quang Lê đứng đầu bảng xếp hạng Làn sóng xanh
thời điểm đó nhiều tuần liền chứng tỏ sức lan tỏa của ca khúc này và sự
yêu mến của khán giả trẻ dành cho tác phẩm của nhạc sĩ An Thuyên.
Tiếng đàn balailaika trên sông Đà
Ca khúc Tiếng đàn balalaica trên sông Đà, phỏng thơ Quang Huy đã đoạt giải nhất cuộc thi ca khúc toàn quốc năm 1985. Chiều sông Thương
Thiên An
Một bến đợi neo lòng bao thế hệ…
TTH - “Lâu ni mi có dịp mô
được đi chợ Đông Ba không? Răng tự nhiên tau thèm làm một vòng quanh
chợ, rồi ghé xuống cái đòn, mần tô bún mắm nêm cho đáo khẩu…”. Nghe
người bạn “than thở” với bà chị tôi ngay giữa đất Sài Gòn, tôi bỗng giật
mình. Chợ Đông Ba, ngôi chợ mà có ngày tôi vài ba bận chạy qua chạy lại
và thấy rất đỗi bình thường, ai dè lại ray rứt hoài niệm đến thế trong
lòng những người xa Huế…
Chợt quay quắt nhớ về bà nội. Ngày
còn sống, chuyện cúng giỗ trong nhà một tay bà lo liệu. Ai làm bà cũng
không vừa ý, bắt “đứng đó mà coi, sau còn thay tau…”. Có khi đang chuẩn
bị làm thức gì đó thì thiếu món này món khác, bà hoét mấy cô dâu ra chợ
mua lẹ cho bà. Có cô lừng khừng hỏi mua đâu. Bà chắc nụi: “Qua Đông Ba.
Chán vạn bên nớ!”. Sau này mạ tôi cũng hay nói “chỉ sợ không có tiền,
chứ có thì qua chợ Đông Ba ưa mua chi có nấy”.
Chợ Đông Ba ngày nay
Lớn lên tôi mới hiểu, bà và mạ tôi
không hề nói theo cảm tính. Bởi lẽ, từ lâu lắm rồi, chợ Đông Ba vốn được
xem là trung tâm thương mại số I ở kinh đô Huế. Ở đó bán đủ mặt hàng,
từ nông lâm thổ sản, cho đến hàng ngũ kim, hàng tiêu dùng, hàng ẩm thực,
chén bát, vàng bạc… có hết. Vai trò trung tâm thương mại ấy được duy
trì và lớn mãi. Cho đến tận bây giờ, khi mà hệ thống siêu thị đã xuất
hiện và trở nên thân quen với nhiều người, thì chợ Đông Ba vẫn là chợ
Đông Ba, không gì thay thế được.
Năm 2014 này, một sự kiện quan
trọng sẽ đến với ngôi chợ danh tiếng này: Chợ Đông Ba tròn 115 tuổi. Đó
là nói thời gian kể từ lúc chợ đứng chân tại vị trí hiện nay, chứ còn
nếu tính niên tuế kể từ lúc hình thành thì Đông Ba còn cao tuổi hơn thế
nữa. Theo các nguồn sử liệu, thì từ thời Gia Long chợ đã xuất hiện.
Thoạt tiên, ngôi chợ tọa lạc bên ngoài cửa Đông Ba (Tên chữ là Chánh
Đông môn – Cửa hướng chánh đông) và mang tên là chợ Quy Giả (Quy Giả thị
- Chợ của những người trở về; (có thể) hàm ý việc Gia Long – Nguyễn Ánh
đã giành lại được Phú Xuân từ nhà Tây Sơn và bắt đầu xưng đế (?)).
Trong biến cố “thất thủ kinh đô” 1885, chợ bị đốt sạch. Năm 1887, vua
Đồng Khánh cho xây dựng lại và đổi tên thành chợ Đông Ba. Ðến năm 1899,
trong công cuộc chỉnh trang đô thị theo phong cách phương Tây, vua Thành
Thái cho chuyển chợ Ðông Ba ra địa điểm ngày nay. Câu ca “Chợ Đông Ba
mang ra ngoài giại/ Cầu Trường Tiền đúc lại xi moon” là để chỉ sự kiện
này. Đình chợ cũ trở thành trường Pháp Việt Ðông Ba. Bây giờ là vườn hoa
Đông Ba. Theo mô tả, chợ Ðông Ba thời Thành Thái gồm 4 dãy quán: trước,
sau, phải, trái. Mặt trước một dãy 8 gian, mặt sau một dãy 12 gian, dãy
phía tay phải 13 gian... đều lợp ngói; giữa chợ có một toà lầu vuông,
ba tầng, tầng dưới xây tường 4 mặt, mỗi mặt có trổ 2 cửa, tầng trên 4
mặt đều có cửa và đều có đồng hồ để điểm giờ. Trong chợ có một giếng đá
và có hệ thống “máy” giúp cho việc lấy nước. Khi cần thì dùng tay quay
máy, nước trong giếng sẽ tràn lên, phun ra.
Chợ Đông Ba đầu Thế kỷ XIX. Ảnh: St
Ðầu thế kỷ XX, chợ Ðông Ba được tu
sửa nhiều lần nhưng vẫn giữ cốt cách cũ. Ðến năm 1967, chính quyền Sài
Gòn cho triệt hạ chợ cũ và xây lại chợ mới. Công trình đang dang dở thì
bị bom Mỹ phá huỷ trong chiến dịch Xuân 1968. Sau đó, chính quyền Sài
Gòn cho sửa chữa tạm để buôn bán.
Cầu Trường Tiền tròn 115 tuổi
Cùng
với chợ Đông Ba, năm 2014 này, cầu Trường Tiền Huế cũng vừa tròn 115
tuổi. Cầu được khởi xây từ năm 1897 cho đến năm 1899 dưới thời Thành
Thái. Hơn 1 thế kỷ soi bóng xuống dòng Hương Giang, cầu Trường Tiền như
một chứng nhân của bao câu chuyện buồn vui xứ Huế. “Không chỉ có ý nghĩa
về giao thông, cầu Trường Tiền còn là biểu tượng, là một phần làm nên
“cốt cách và tâm hồn” Huế; một điểm nhấn của du lịch cho Cố đô…” Festival này, cầu Trường Tiền sẽ trở thành không gian nghệ thuật dưới bàn tay sắp đặt của các nghệ sĩ đến từ Pháp..
TS
Sau ngày đất nước thống nhất, năm
1987, chợ được đầu tư đại trùng tu. Trong thời gian xây dựng, chợ được
chuyển tạm lên hoạt động ở công viên Phu Văn Lâu. Ngoài lầu chuông ở
trung tâm, chợ Ðông Ba mới có 9 dãy nhà bao quanh cùng 4 khu hàng mới,
như chợ cá, khu hàng tự sản, tự tiêu, khu hàng dịch vụ... với tổng diện
tích mặt bằng xây dựng gần 15,6 nghìn m2. Tuy sửa chữa, xây dựng nhiều
lần, hình thái hoạt động thương mại tiến triển phù hợp với nhịp sống
từng thời, song, cốt cách, thần thái của chợ Đông Ba vẫn không hề thay
đổi. Hay như có người nhận xét là “hồn xưa dấu cũ vẫn không nhạt phai…”.
Cùng với Thiên Mụ, Trường Tiền, Vỹ Dạ… Chợ Đông Ba vẫn là một biểu
tượng, một địa danh mà hễ nhắc đến Huế là ai cũng lại nhớ về…
Thời đại hội nhập và phát triển,
cho dù ngày càng có nhiều siêu thị, nhiều cửa hàng cửa hiệu sang trọng
và tiện dụng cho người tiêu dùng, song chợ Đông Ba vẫn tiếp tục giữ vai
trò là một trung tâm thương mại lớn của thành phố Huế, không chỉ phục vụ
cho dân cư trên địa bàn mà còn thỏa mãn nhu cầu mua sắm, tham quan của
du khách thập phương. Quy mô của chợ so với lúc được xây dựng mới cũng
đã lớn hơn đáng kể. Theo số liệu từ Ban Quản lý thì hiện tại chợ Đông Ba
tọa lạc trên một diện tích rộng đến 22.742 m2, kéo dài từ chân cầu Gia
Hội cho đến gần cầu Trường Tiền. Mặt trước chợ là đường Trần Hưng Đạo,
một trong những con phố đông đúc và sầm uất bậc nhất của Huế. Chạy bọc
mặt sau là đường Chương Dương, kế tiếp là dòng sông Hương hiền hoà thơ
mộng. Hiện trong chợ có hơn 2.700 lô hàng lớn nhỏ với 85 ngành hàng, từ
mặt hàng cao cấp, xa xỉ đến mặt hàng bình dân. Chợ đã tạo công ăn việc
làm cho hàng nghìn lao động phục vụ cho hoạt động kinh doanh và dịch vụ
tại chợ. Mỗi ngày lượng du khách và người mua bán đến chợ lên tới trên
5.000 - 7.000 người.
Không chỉ là trung tâm giao lưu mua
bán mà Đông Ba còn là một phần lịch sử không thể tách rời của Huế. Dư
địa chí Thừa Thiên Huế ghi nhận: “Ngoài vị trí là một trung tâm thương
mại lớn của tỉnh, với lịch sử hơn 100 năm xây dựng và phát triển chợ
Đông Ba còn là nơi có truyền thống đấu tranh cách mạng bất khuất, kiên
cường trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ngay
từ khi mới thành lập tiểu thương chợ Đông Ba đã tích cực hưởng ứng các
phong trào đấu tranh chống sưu thuế, chống bắt lính, ủng hộ hoạt động
của các nhà yêu nước. Ngày 17 tháng 6 năm 1954, trên 400 tiểu thương chợ
Đông Ba đã tham gia đoàn biểu tình hơn hai vạn người dưới sự chỉ đạo
của Thành uỷ Huế, ủng hộ quan điểm của Đoàn đại biểu nước Việt Nam Dân
chủ cộng hoà tại Hội nghị Giơ-ne-vơ. Cuộc mittinh đã thắng lợi gây tiếng
vang lớn trong cả nước, từ 1954 đến 1975 lực lượng tiểu thương chợ Đông
Ba đã tham gia, tổ chức 255 cuộc biểu tình, xuống đường, sát cánh cùng
các tầng lớp nhân dân, trí thức, học sinh, sinh viên đấu tranh chống đế
quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai... Trong cuộc đấu tranh đó, nhiều tiểu
thương đã trưởng thành và trở thành những cán bộ kiên cường của cách
mạng, nhiều chị là cơ sở bí mật, nuôi giấu cán bộ, nhiều chị đã anh dũng
hy sinh trong các cuộc đấu tranh trực diện với kẻ thù, mặc dù bị giam
cầm, tra tấn tù đày nhưng chị em tiểu thương chợ Đông Ba vẫn trung kiên
một lòng theo cách mạng, theo Bác Hồ. Những đóng góp của chị em tiểu
thương chợ Đông Ba tô điểm thêm truyền thống đấu tranh anh dũng của dân
tộc. Ghi nhận những thành tích công lao đó, năm 1975 Chính phủ cách mạng
lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã trao tặng chị em tiểu thương các
chợ thành phố Huế nói chung, trong đó có sự đóng góp của chị em tiểu
thương chợ Đông Ba phần thưởng cao quý Huân chương kháng chiến hạng
nhất.”
Trong những ngày tháng Tư sôi động
không khí Festival Huế 2014, chị em tiểu thương chợ Đông Ba hưởng ứng
mặc áo dài, nhắc nhau lời ăn tiếng nói, mua bán ân cần, văn minh để lưu
lại hình ảnh đẹp của ngôi chợ nổi tiếng xứ Huế trong lòng du khách ghé
thăm. Từ cuối năm ngoái, BQL chợ đã phát động các hộ kinh doanh đăng ký
xây dựng gian hàng văn minh và xây dựng chợ văn minh thương mại. Nhiều
hộ đã làm bảng hiệu giới thiệu thương hiệu của mình; nhiều hộ tham gia
giới thiệu hoạt động kinh doanh trên trang web của chợ tại địa chỉ
http://chodongba.com.vn... Tất cả đang hướng về kỷ niệm 115 năm xây dựng
và phát triển chợ Đông Ba (1899 – 2014).
Một trăm mười lăm năm đã trôi qua,
chợ Đông Ba vẫn còn đó, duyên dáng soi mình xuống dòng Hương thơm mát,
bao dung. Ngôi chợ như một bến đợi, mãi cứ neo lòng bao thế hệ những
người Huế xa quê và cả những người trót một lần đến Huế…
Huy Khánh
"Lý lịch" ca khúc "Hà Nội - Huế - Sài Gòn"
Nhạc sĩ Hoàng Vân rất hiếm khi phổ thơ, và ca khúc Hà Nội - Huế - Sài Gòn của ông là một trong những “của hiếm” đó.
Tuy nhiên,
nhiều chương trình ca nhạc chỉ quen giới thiệu nhạc sĩ Hoàng Vân
mà “quên” tác giả phần lời. Chính vì thế, nhà thơ Lê Nguyên - tác giả
những vần thơ được phổ nhạc kia vừa “sốt ruột” tìm đến Báo Thanh Niên
lên tiếng.
Nhà thơ Lê Nguyên, tác giả phần lời của ca khúc "Hà Nội - Huế - Sài Gòn" tại tòa soạn Thanh Niên - Ảnh: D.Đ.Minh
Lý
do được ông Lê Nguyên đưa ra là ở các kỳ festival Huế trước đây đã sử
dụng ca khúc này, nhưng lần nào cũng chỉ nhắc tên nhạc sĩ Hoàng Vân mà
bỏ quên tên ông. Đặc biệt ở Festival Huế 2010, dù ông đã “đánh tiếng”
trước với ban tổ chức, nhưng cuối cùng vẫn bị... bỏ sót.
Nhà thơ Lê
Nguyên cho biết, bài thơ Hà Nội - Huế - Sài Gòn được ông sáng tác năm
1960. Một năm sau thì được nhạc sĩ Hoàng Vân phổ nhạc.
Từ Hà Nội,
nhạc sĩ Hoàng Vân cũng lên tiếng xác nhận bài hát Hà Nội - Huế - Sài Gòn
là do ông phổ thơ của tác giả Lê Nguyên vào năm 1961. Ông cho biết
nguyên tác đó là một bài thơ dài của Lê Nguyên, được ông rút tỉa, sắp
xếp lại để trở thành bài hát này. Ngoài chuyện ký tên chung vào thư ngỏ
cùng ông Lê Nguyên gửi các cơ quan chức năng, nhạc sĩ Hoàng Vân đã từng
xuất hiện trên truyền hình xác nhận lại việc phổ nhạc bài thơ của tác
giả Lê Nguyên. Vì vậy, ông cũng hy vọng đây là lần giãi bày cuối để làm
sáng tỏ “lý lịch” bài hát nói trên.
Quang Thi.
HÀ NỘI - HUẾ - SÀI GÒN
Sáng tác: nhạc Hoàng Vân; lời thơ Lê Nguyên. Trình bày: Thanh Huyền.(Ảnh: "Huế của miền Trung ruột thịt với sông Hương tha thiết giọng hò..." - Sông Hương, nhìn từ đồi Vọng Cảnh).
Trên đất mẹ nắng hồng như lụaTrải nghìn năm gắn bó (a) ba miềnNhư cành chung gốc lớn lênNhư anh em của mẹ hiền Việt NamƠ ơ ơ...Huế của miền Trung ruột thịt với sông Hương tha thiết giọng hòĐã vùng lên một mùa Thu hòa chung tiếng thét căm thù hôm nay.Huế cầm tay Sài Gòn Hà Nội bên dãy Trường Sơn ngời sáng tin yêu (ớ ơ)Sài Gòn vang lời ca bất khuất của miền Nam đi trước về sau.Cánh sen thắm vẫn tươi màu Lời thề còn nhớ khắc sâu trong lòngĐây miền Nam thành đồng Tổ quốc bên Cửu Long thành phố tên vàngThành phố vinh quang Hồ Chí MinhTiếng Người mang trong lòng.
(HNM) - Cho
đến bây giờ, gia sản lớn nhất của nhà thơ, nhà biên kịch Lê Nguyên là
hơn 1.000 bài thơ và cũng chừng ấy bản nhạc. Trong số đó bài thơ "Hà Nội
- Huế - Sài Gòn" đã trở thành một trong "những bài ca đi cùng năm
tháng".
Nhà thơ Lê Nguyên.
Làm báo bên chiến hào
Trong căn phòng khách chỉ hơn 10m2, chúng tôi đặc biệt ấn tượng trước
bức họa một góc phố Hà Nội được nhà thơ Lê Nguyên treo chính giữa phòng.
Nhìn bức họa, ông bồi hồi: "Tôi xa Thủ đô từ trước ngày Toàn quốc kháng
chiến, để chính thức bước vào cuộc đời binh nghiệp. Thấm thoắt đã 66
năm trôi qua mà vẫn mới như hôm qua!". Cuộc đời của nhà thơ Lê Nguyên
được đánh dấu bằng những năm tháng làm báo ngay tại chiến hào chiến dịch
Điện Biên Phủ năm 1954. Cuối năm 1953 đầu năm 1954, ông được Chính ủy
Trần Độ cùng Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 312, Tổng Biên tập tờ báo Anh
Dũng, nhà báo Văn Phác giao nhiệm vụ làm phái viên đặc biệt chuyên cập
nhật trực tiếp và xử lý thông tin tại mặt trận. Lúc đó tất cả mọi người
từ trung đội trưởng trở lên đều phải có trách nhiệm làm cộng tác viên để
viết hoặc cung cấp thông tin cho người viết cập nhật.
Tập thể những người làm báo Anh Dũng ngày ấy đều có phương châm phải làm
sao cho nội dung tờ báo sinh động, thế nên tại mặt trận ác liệt, các
phóng viên, cộng tác viên đã bám sát trận địa, tổng hợp thông tin, khẩn
trương viết bài để tờ báo mang hơi thở nóng hổi của thực tế chiến
trường, dù rằng công việc in báo lúc đó vẫn theo phương pháp thủ công,
bằng lối viết chữ ngược lên phiến đá, quết mực, rồi áp từng tờ giấy dó
vào phiến đá, dùng ru lô lăn để in xuôi hai mặt. Nhà thơ Lê Nguyên xúc
động kể đọc lại nội dung một lá thư của chiến sĩ Nguyễn Văn Hải tại
chiến trường gửi về: "Kính gửi anh Lê Nguyên! Em là Nguyễn Văn Hải đây.
Em đang trụ trên đỉnh đồi C. Trước mặt em là khẩu súng trường cắm sẵn
lưỡi lê, một khẩu tiểu liên, một khẩu súng phóng lựu. Chắc chắn thế nào
rồi địch cũng sẽ phản công. Lợi dụng lúc im tiếng súng, em tranh thủ
viết thư này để anh có tài liệu làm báo…". Tại Bảo tàng Lịch sử Quân
đội, lá thư đó được đặt trang trọng cùng với tờ báo Anh Dũng, bên trên
là Lá cờ "Quyết chiến, Quyết thắng" Bác Hồ đã trao tặng cho Sư đoàn 312.
Bài thơ "Hà Nội - Huế - Sài Gòn"
Sống ở TP Hồ Chí Minh được 33 năm nhưng Lê Nguyên chưa bao giờ
nguôi cảm xúc mỗi khi nghe lại bài hát "Hà Nội - Huế - Sài Gòn". Ông kể:
"Tôi sáng tác bài thơ này vào năm 1960. Hồi đó, đất nước còn đang bị
chia cắt, hình ảnh những người con miền Nam tập kết ra Bắc liên hệ với
người thân ở quê hương bằng những tấm thiệp đã gây xúc động mạnh, vì vậy
tôi đã viết bài thơ "Hà Nội - Huế - Sài Gòn". Một năm sau, nhạc sĩ
Hoàng Vân phổ nhạc và bài hát đã có sức sống mãnh liệt cho đến ngày
nay". Điều đặc biệt là khi sáng tác bài thơ này, tác giả chưa đặt chân
đến hai mảnh đất thân thương Huế và Sài Gòn. Huế trong tưởng tượng của
ông là mảnh đất mộng mơ, phong cảnh đẹp lãng mạn, con người thân thương,
dễ mến. Sài Gòn là nơi có những nét đặc trưng của đất phương Nam, của
sông nước, của nắng và gió. Nhà thơ Lê Nguyên đã đưa cho chúng tôi xem
bản sao, bản chép tay bài thơ "Hà Nội - Huế - Sài Gòn" do chính liệt sĩ,
bác sĩ Đặng Thùy Trâm chép lời, kẻ khuông nhạc được để trong ba lô cùng
với cuốn nhật ký bất hủ. Có thể thấy, bài thơ được phổ nhạc đã được lớp
trẻ ngày ấy rất yêu thích và được coi là hành trang cuộc sống, là niềm
tin cho một ngày thống nhất non sông.
Trong phút ngẫu hứng, bằng giọng khàn đặc của người vào độ tuổi "xưa nay
hiếm", Lê Nguyên đã cầm cây đàn ghi ta đệm và cất tiếng hát: "Trên đất
mẹ nắng hồng như lúa/Trải nghìn năm gắn bó miền hai miền/Như cành chung
gốc lớn lên/Như anh em của mẹ hiền…/Huế cầm tay Sài Gòn Hà Nội/Bên dãy
Trường Sơn ngời sáng tin yêu/Sài Gòn vang lời ca bất khuất…".
Trong suốt cuộc đời sáng tác, đến nay Lê Nguyên đã có hơn 1.000 bài
thơ, nhiều bài đã được phổ nhạc, không ít bài được dịch sang tiếng Pháp.
Trong những vần thơ giàu cảm xúc, Lê Nguyên đã dành phần lớn tình yêu
nồng nàn cho Hà Nội, nơi ông sinh ra, lớn lên với những ngôn từ da diết:
"Hà Nội ơi! Đã bao lần tôi thốt lên tiếng gọi. Từ đáy lòng chạnh nhớ
thầm yêu. Hà Nội ơi! Đã xa rồi, đã lâu rồi chưa trở về. Nơi tôi sinh ra
bên Thành cổ Thăng Long. Nơi tôi lớn lên trong mùa thu Tháng Tám. Khi
mỗi trái tim non cũng muốn cháy lên theo ánh sao vàng!" (bài thơ "Hà Nội
ơi" sáng tác năm 2000).
Bên cạnh lĩnh vực thơ và nhạc, Lê Nguyên còn được biết đến với tư cách
là một nhà biên kịch đã đoạt giải thưởng kịch bản phim Bông sen Bạc cho
phim "Phường tôi"; giải vàng của Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới cho
phim "Hãy chặn tay bọn giết người"… Đặc biệt, Lê Nguyên đã viết hàng
chục kịch bản phim tài liệu, 20 kịch bản phim hoạt hình và tham gia biên
tập nhiều tác phẩm điện ảnh có giá trị nghệ thuật như "Cánh đồng
hoang"; "Về nơi gió cát"…
Bây giờ, tuy đã ở tuổi 81 nhưng nhà thơ, nhà biên kịch Lê Nguyên vẫn
chưa ngừng nghỉ việc sáng tác. Ông sắp cho in tập thơ thứ 8 do Nhà xuất
bản Hội Nhà văn ấn hành có tựa đề "Khát khao xanh". Ông nói: "Thơ và
nhạc sẽ mãi song hành trong những năm tháng còn lại của cuộc đời tôi".
Nam Phong
Nét Huế dịu ngọt, tươi mới qua giọng ca Sao Mai Bạch Trà
12:56, Thứ Tư, 12/10/2016 (GMT+7)
(VnMedia) - Vẫn là
những ca khúc Huế đã nằm lòng khán giả, nhưng Bạch Trà lại mang đến một
sự tươi mới, trẻ trung và đầy ngọt ngào trong CD-DVD với chủ đề "Tìm em
trong nét Huế".
Tìm em trong nét Huế gồm 8 ca khúc cả cũ và mới, đó là: Huế
thương (An Thuyên), Nhớ Huế (Việt Đức), Về thăm Huế (Quang Hưng), Ngược
dòng Hương Giang (Đức Trịnh), Tìm em trong nét Huế (Khắc Yên), Huế xưa
(Châu Kỳ), Huế mời bạn về thăm (Lê An Tuyên) và Thương mãi câu hò (Lê Phùng).
Trong 8 ca khúc này, có những bài hát đã trở nên vô cùng quen thuộc với
những ai yêu mảnh đất thanh bình, mơ mộng như Huế thương, Huế xưa được
sáng tác từ nhiều năm trước. Và gần đây, Ngược dòng Hương Giang được
nhạc sỹ Đức Trịnh sáng tác cũng ngay lập tức trở thành một trong những
ca khúc về Huế được rất nhiều khán giả yêu thích. Những ca khúc này từng
được nhiều thế hệ ca sỹ trình bày thành công, nhưng Bạch Trà lại thể
hiện bằng một tinh thần mới, một cảm nhận mới và đã đem vào đó hơi thở
mới của một người con xứ Huế, thấm đẫm hơi thở đời sống đương đại.
Tuy nhiên, những ca khúc được Bạch Trà
trình bày thành công nhất, lại chính là những tác phẩm mới, hoặc những
ca khúc ít người thể hiện, trong đó, phải kể đến Nhớ Huế (Việt Đức) và Tìm em trong nét Huế
(Khắc Yên). Đây có thể nói là 2 ca khúc Bạch Trà hát hay nhất, tình
nhất, xúc động nhất và có thể sẽ “đóng đinh” tên tuổi của cô mà khó lòng
có người khác vượt qua được. Có lẽ cũng chính vì điều đó mà Bạch Trà đã
chọn tên sản phẩm đầu tay trong sự nghiệp ca hát của mình, cũng chính
là tên của một trong những ca khúc mà cô hát thành công nhất trong Album
này: Tìm em trong nét Huế.
Bạch Trà là một ca sỹ trẻ có giọng hát
mang âm hưởng dân ca ngọt ngào, đằm thắm, sâu lắng và tinh tế. Đặc biệt,
khác với những nữ ca sỹ dòng dân gian ở miền Bắc thường bị “mang tiếng”
là hát giống nhau và giống… Anh Thơ, thì Bạch Trà lại mang một màu sắc
riêng biệt, không trộn lẫn và gần như là “độc tôn” ở thời điểm hiện tại
trong số những ca sỹ trẻ, đó là “chất Huế” nổi bật, vừa dịu dàng, duyên
dáng lại vừa sắc sảo, thông minh.
Phần phối khí do nhạc sỹ Quang Hưng đảm
nhiệm. Anh đã có những thay đổi để Bạch Trà hát bài cũ mà không bị giống
người đi trước, hát bài mới rất Huế nhưng vẫn rất trẻ trung, hiện đại.
Đây là điều đáng khen. Bên cạnh CD, DVD được đạo diễn trẻ Nguyễn Anh
Quân đảm nhận và thực hiện khá ấn tượng. Những cảnh quay trên sông
Hương, trong Đại Nội hay đường phố, sân trường, lăng tẩm,… đều được thực
hiện khá kỹ lưỡng, tỉ mỉ và tạo nên một bức tranh Huế thật êm đềm và
rực rỡ, đặc biệt hoà quyện với tiếng hát Bạch Trà tạo nên cảm xúc mạnh
mẽ cho khán giả.
Lam Trần
Bạch Trà ra mắt album "Tìm em trong nét Huế"
Ánh Linh |
0
Ca sỹ Bạch Trà vừa giới thiệu đến khán giả bộ đôi CD-DVD với chủ đề "Tìm em trong nét Huế".
Đây là sản phẩm âm nhạc gồm những ca khúc viết về Huế, được thể
hiện bởi giọng hát trẻ trung, ngọt ngào và đầy sự mới mẻ của nữ ca sỹ
từng lọt vào chung kết toàn quốc cuộc thi Sao Mai 2015.
Tìm em trong nét Huế gồm 8 ca khúc cả cũ và mới, đó là Huế thương (An Thuyên), Nhớ Huế (Việt Đức), Về thăm Huế (Quang Hưng), Ngược dòng Hương Giang (Đức Trịnh), Tìm em trong nét Huế (Khắc Yên)...
Trong
đó, có thể nói 2 ca khúc Bạch Trà hát hay nhất, tình nhất, xúc động
nhất chính là Nhớ Huế (Việt Đức) và Tìm em trong nét Huế (Khắc Yên).
Ca sĩ Bạch Trà
Bạch
Trà là một ca sỹ trẻ có giọng hát mang âm hưởng dân ca ngọt ngào, đằm
thắm. Nghe Bạch Trà hát, người ta có thể hình dung ra một xứ Huế vừa
mộng mơ, lãng mạn nhưng cũng đầy khao khát vươn mình đổi mới.
Bạch
Trà sinh ra và sống suốt quãng tuổi thơ đầy hạnh phúc của mình tại
Quảng Trị. Năm 16 tuổi, cô vào thi đỗ và bắt đầu theo học tại Học viện
âm nhạc Huế, và con đường ca hát bắt đầu mở ra từ đây. Mẹ mất khi đang
học năm 3 Đại học, Bạch Trà đã phải trải qua một cú sốc cực lớn trong
đời.
Chỗ dựa duy nhất, chỉ còn lại người cha ở quê, Bạch Trà dồn
hết tình yêu vào đó. Cha cô cũng là một nghệ sỹ ở đoàn dân ca Bình Trị
Thiên, vì thế, cô được thừa hưởng dòng máu nghệ thuật từ cha.
Những
biến cố trong cuộc đời càng khiến giọng hát của Bạch Trà thêm sâu sắc
và cảm xúc. Từ nhỏ đã mê mẩn giọng ca Thu Hiền, sau này là Anh Thơ nhưng
may mắn, Bạch Trà không bị ảnh hưởng quá nhiều bởi cách luyến láy cũng
như âm sắc giọng của hai bậc tiền bối.
Vì thế, cho dù từng được ca
sỹ Anh Thơ chỉ dạy trong dịp thi Sao Mai 2015, nhưng Bạch Trà vẫn giữ
được nét rất riêng, rất Huế của mình.
-Loài người tưởng mình khôn "ngoan" nhất, nhưng thật ra là khôn "hư"nhất! -Loài người thường cho rằng thú tính xấu xa hơn nhân tính, nhưng thật ra là loài vô đạo đức nhất, vì độc ác nhất, thủ đoạn bẩn thỉu nhất, trả thù hèn hạ nhất, sống đồi bại nhất...! -Nhân tính như tấm huân chương với hai mặt của nó . Một mặt thể hiện ra xấu xa bao nhiêu thì mặt kia thể hiện ra tốt đẹp bấy nhiêu. Đó là hoạt động tinh thần tột đỉnh của giới sinh vật. -Chỉ khi nhân tính hoàn toàn chuyển biến thành đẹp đẽ hơn thú tính, nghĩa là khi sự phân chia giàu - nghèo đã trở nên vô nghĩa, thì lúc đó mới có xã hội cộng sản đích thực, loài người mới sống đại đồng được! Thử hỏi: quá trình đó là tiến hóa hay thoái hóa!? -Còn không, may ra chỉ có xã hội cộng sản tương đối thôi! -Nhưng, mơ mộng thì...có quyền!... -------------------------------------------------- (ĐC sưu tầm trên NET) Cận cảnh hình ảnh cuộc sống trong hậu cung Trung Quốc khác xa phim ảnh ...
(ĐC sưu tầm trên NET) Oscar Là Ai? Câu Chuyện Về Cuộc Đời Bi Kịch Của “Thiên Tài Bị Xã Hội Vùi Dập” Ít ai biết rằng, giải thưởng danh giá của làng điện ảnh – Oscar - được lấy theo tên của nhà văn nổi tiếng Oscar Wilde. Năm 1854, khi rửa tội cho con trai thứ hai nhà Wilde, Đức cha Prideaux Fox không hề biết rằng cậu bé này rồi sẽ là “thiên tài bất thường” của Ireland. Về sau, Oscar Wilde đã trở thành một trong những nhân vật đặc biệt nổi bật của giới văn chương, người luôn ở giữa tôn vinh và hạ nhục, giữa cái đẹp và sự tăm tối, giữa sa hoa và khốn cùng. Không nhiều người có thể trả lời câu hỏi: " Oscar là ai?" Quang Thạch | 01/03/2016 10:07 7 Theo một video phỏng vấn ngay trước thềm Oscar 2016, các diễn viên tới dự giải Oscar cũng không thể trả lời câ...
-Người nghèo ở đâu cũng khổ, người giàu ở đâu cũng sướng! -Người Việt Nam, thời trước "đổi mới", ở nước ngoài thì sướng, nhưng hiện nay ở Việt Nam là sướng nhất! -"Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn"! ---------------------------------------------------------------------- (ĐC sưutầm trên NET) TÂM SỰ THẬT của Việt Kiều Mỹ - "Bóc Lột" kinh khủng nơi xứ người Việt kiều Mỹ tâm sự cuộc sống cơ cực khủng khiếp nơi xứ người Việt kiều nghèo chật vật sống ở Little Saigon 18:46 17/03/2017 Đằng sau vẻ ồn ào, náo nhiệt ở khu Little Saigon, quận Cam, bang California, nhiều Việt kiều vẫn phải sống trong những căn phòng chật hẹp và b...
Nhận xét
Đăng nhận xét