CA SĨ BẠCH TRÀ a

(ĐC sưu tầm trên NET)

LỊCH SỬ MỘT BÀI HÁT.

Tới nay, chắc chắn ai cũng đã từng nghe bài hát Huế thương, một ca khúc tràn đầy cảm xúc về xứ Thần kinh xưa, với hình ảnh mềm mại của cô gái Huế bên dòng Hương Giang êm đềm. Mình không rành lắm về âm nhạc nên không dám phân tích sâu, nhưng chắc chắn cũng như tất cả thính giả đã nghe bài hát này, thấy rất xúc động mỗi khi nghe nó.
Tuy nhiên có lẽ ít ai biết được hoàn cảnh ra đời một cách ngẫu nhiên, nhanh chóng của bài hát này.
Nghe nói rằng, nhạc sỹ sáng tác bài này, khi đó còn trẻ và chưa có tiếng tăm gì. Trong một lần về thăm xứ Huế, chàng được chúng bạn mời nghe ca Huế trên con đò nhỏ xuôi dòng Hương Giang. Giữa mênh mang sóng nước, các chàng uống bia Huda để tìm cảm hứng. Cảm hứng tới từ từ êm dịu, nhưng cảm giác do bia mang lại nhanh hơn nhiều. Nhịn hồi lâu, nhạc sĩ cảm thấy khó chịu nơi bụng dưới đã lên hồi cao điểm. Chàng loanh quanh trên con đò nhỏ, toilet không có, nước chảy dịu êm thơ mộng thuyền bè lại qua tấp nập, làm răng được chừ….. Chàng loay hoay lắm và trong cơn bí bích, chăng phát ra lời: Hương Giang tấp nập mần răng được chừ… Tui đang nguy ngập, mần răng bi chừ… Ca nương là một cô gái Huế điển hình, áo dài tím với dáng người thon thả và cặp mắt to tím huyền hiểu ngay sự tình của nhạc sĩ. Cô cầm nhẹ chiếc nón bài thơ và cát tiếng hát nối: Em che nón lại, đệ anh tè tè, em che nón lại đệ anh hành sừ… rồi cô lượn nhẹ một phát đến sát bên nhạc sĩ, vung nhẹ nón che phần hạ thể của chằng. Nhạc sĩ nhanh nhẹn moi vòi rồng xả khẩn trương, Sông Hương dậy sóng…
Rời con đò nhỏ về nơi tá túc, với cảm xúc được giải tỏa dạt dào, chàng viết một mạch bài hát nổi tiêng mà chúng ta sẽ nghe sau đây…
He he he…
Bây giờ thì mời các bạn nghe bài hát qua giọng hát của ca sĩ Vân Khánh.
Câu chuyện về xuất xứ của bài hát, ai tin thì tin, còn không thì thôi, tôi không bắt và cũng chẳng chịu trách nhiệm gì sất! Hê hê hê…

Những ca khúc đi cùng năm tháng của nhạc sĩ An Thuyên

(VTC News) - Nhạc sĩ An Thuyên ra đi để lại cho nghệ thuật Việt Nam môt kho di sản những ca khúc bất hủ.

Nhạc sĩ An Thuyên sinh ngày 15/8/1949 tại Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông công tác ở Ty Văn hoá Nghệ An từ năm 1967 và đã được trực tiếp tham gia công tác sưu tầm nghiên cứu dân ca dưới sự chỉ đạo của các lãnh đạo ngành lúc đó là Trần Nguyên Trinh - Trưởng Ty Văn hóa Nghệ An; Nguyễn Trung Phong, nhà viết kịch, Phó trưởng ty; Nhà thơ Trần Hữu Thung - Chủ tịch Hội Văn nghệ Nghệ An.
an thuyên
Ông cùng với đoàn nhạc sỹ ở Viện nghiên cứu âm nhạc gồm nhạc sỹ Đào Việt Hưng, nhạc sỹ Hồ Thoa đã đi sưu tầm dân ca Nghệ Tĩnh theo dải sông Lam từ Anh Sơn, Đô Lương, Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên về Cửa Hội, qua Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành về Nghi Lộc.

5 năm sưu tầm với hàng trăm cuốn băng tự tạo đã thu được hàng trăm bài hát giá trị của các nghệ nhân trong toàn tỉnh.

Năm 1975, ông vào bộ đội, phải bàn giao lại toàn bộ số băng sưu tầm đó. Đoàn Dân ca Nghệ An lúc đó có sử dụng khai thác một số làn điệu phổ biến. Năm 1977, công tác ở Đoàn Văn công Quân khu IV.

Từ năm 1981 đến năm 1988, ông được cử đi học ở Nhạc Viện Hà Nội, môn Sáng tác âm nhạc bậc đại học. Sau khi tốt nghiệp, năm 1988 ông về Phòng Văn nghệ Quân đội và đến tháng 8 năm 1992, ông về công tác ở Trường Nghệ thuật Quân đội.
an thuyên
Ông là một trong số các nhạc sĩ đã khai thác, vận dụng và phát triển vốn âm nhạc của dân ca Nghệ Tĩnh một cách tài tình, có hiệu quả cùng với các tên tuổi khác mà ông đã từng học tập như Nguyễn Văn Tý, Trần Hoàn, Nguyễn Tài Tuệ, Tân Huyền, Đỗ Nhuận, Văn Dung, Huy Thục, Doãn Nho, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Đình Bảng, Phó Đức Phương, Nguyễn Cường, Trương Ngọc Ninh...

An Thuyên đã được người yêu âm nhạc biết đến từ tác phẩm đầu tay Em chọn lối này, viết năm 1971, khi ông tròn 21 tuổi. Ông sáng tác ca khúc khá đều đặn, hầu hết đều mang âm hưởng dân ca ngọt ngào sâu lắng, nhiều tác phẩm có chất lượng và đã có sức lan toả rộng lớn.

Những giọng hát nào phù hợp với dòng nhạc của ông có thể kể đến Lệ Thanh, Thu Hiền, Quang Linh, Lê Anh Dũng, Anh Thơ, Hà Linh, Bùi Lê Mận…

An Thuyên còn viết một số kịch hát đã được dàn dựng ở nhiều Đoàn Văn công như Trương Chi, Đôi đũa kim giao, Biển tình cay đắng. Ngoài ra, ông còn sáng tác cho khí nhạc, đáng chú ý có Concerto cho sáo và dàn nhạc giao hưởng.

Ông còn viết nhạc cho phim và viết phần âm nhạc cho khoảng 60 vở kịch nói, tuồng, chèo..
an thuyên
An Thuyên từng đạt giải Nhất cuộc thi ca khúc toàn quốc năm 1985 với ca khúc Tiếng đàn balalaica trên sông Đà (phỏng thơ Quang Huy); Giải thưởng chính thức của Bộ Quốc phòng: Hành quân lên Tây Bắc (1984), Thơ tình của núi (1994); Giải Nhất của Bộ Văn hoá - Thông tin và Hội Nhạc sĩ Việt Nam: Khi xe tăng qua miền Quan họ (1985), Mẹ Việt Nam anh hùng (1995); Giải Nhì Hội Nhạc sĩ Việt Nam: Chín bậc tình yêu (1992).

Nhạc sĩ cũng từng được khen thưởng: Chiến sĩ thi đua; Chiến sĩ quyết thắng 12 năm liền; Huân chương lao động hạng III; Huân chương chiến công hạng I.

Ông từng chia sẻ: 'Tôi đã được lớn lên trong dòng sữa âm nhạc dân gian. Nhưng điều đấy không có nghĩa là chất liệu đó sẽ vào trong sáng tác của mình. Ðiều cốt lõi là người nhạc sĩ phải biết nâng niu, gọt giũa, kết hợp cái thuần tuý thắm đượm của âm nhạc dân gian, cái tri thức âm nhạc dân gian với tri thức âm nhạc bác học hiện đại. Có như vậy mới tạo ra được những tác phẩm tân thời hiện đại mà đậm đà chất liệu dân ca.'

Huế thương

Huế thương là một ca khúc tràn đầy cảm xúc về Cố đô xưa với hình ảnh mềm mại của cô gái Huế bên dòng Hương Giang êm đềm. Tuy nhiên có lẽ ít ai biết được hoàn cảnh ra đời một cách ngẫu nhiên, nhanh chóng của bài hát này.

Trong một lần về thăm xứ Huế, nhạc sĩ An Thuyên được mời nghe ca Huế trên con đò nhỏ xuôi dòng Hương Giang. Giữa mênh mang sóng nước, nhạc sĩ gặp ca nương là một cô gái Huế điển hình, áo dài tím với dáng người thon thả và cặp mắt to tím huyền.

Rời con đò nhỏ về nơi tá túc, với cảm xúc được giải tỏa dạt dào, nhạc sĩ đã viết một mạch bài hát nổi tiếng này.



Neo đậu bến quê

Ca khúc được ra đời năm 1993 sau nhiều năm tháng nhạc sĩ An Thuyên đã nếm trải những cay đắng của cuộc đời và chỉ có mong ước nhỏ nhoi được trở về 'neo đậu bến quê'.

Đây được xem là ca khúc có chủ đề quê hương đất nước hay nhất của ông khi nhạc sĩ An Thuyên như đã rút hết lòng mình để sáng tác trong nước mắt.

Quê hương trong ca khúc này là những hình ảnh rất đỗi quen thuộc và cụ thể như dòng sông, con đò, giọng đò đưa, bãi ngô, vầng trăng... để khi người con xa xứ đi khắp bốn phương trời trở về được 'tắm mát'.

Neo đậu bến quê từng được rất nhiều tên tuổi lớn của làng nhạc thể hiện như Thu Hiền, Vân Khánh, Quang Linh, Quang Lê.




Mẹ Việt Nam anh hùng

Mẹ Việt Nam anh hùng có thể coi là bài ca chính thức của mọi buổi lễ tôn vinh mẹ Việt Nam anh hùng, đây là bài hát theo đơn đặt hàng của Tổng cục Chính trị và Bộ Văn hóa. Có một chi tiết thú vị là Bộ trưởng Bộ Văn hóa khi đó là nhạc sĩ lừng danh Trần Hoàn đã vỗ vai An Thuyên đặt hàng, điều đó chứng tỏ ông được tin cậy như thế nào.

Và chỉ trong một đêm, chàng nhạc sĩ trẻ đã hoàn thành khúc khải hoàn ca về các bà mẹ Việt Nam. Trong buổi lễ tuyên dương đầu tiên tại Phủ Chủ tịch, tốp ca Trường Văn hóa nghệ thuật Quân đội nơi ông làm Hiệu trưởng đã hát vang bài hát này, và tất cả mọi người đều ứa nước mắt.




Ca dao em và tôi

Đây là một trong những ca khúc gắn liền với giọng ca Quang Linh. Ca dao em và tôi được nhạc sĩ An Thuyên phát triển từ một ca khúc nằm trong vở nhạc kịch Trương Chi ra mắt năm 1988. Nhạc sỹ đã phải mất 10 năm để viết và hoàn thành bài hát này.

Ca khúc mang âm hưởng dân ca Nghệ Tĩnh kể về nỗi tương tư của một chàng trai dành cho người con gái nơi làng quê. Ngoài giai điệu ngọt ngào, lời bài hát chứa đựng những hình ảnh ẩn dụ đậm chất thơ.

Ca khúc ra mắt vào những năm 1990 khi phong trào nhạc trẻ đang rất thịnh hành. Tuy vậy, Ca dao em và tôi vẫn giúp Quang Lê đứng đầu bảng xếp hạng Làn sóng xanh thời điểm đó nhiều tuần liền chứng tỏ sức lan tỏa của ca khúc này và sự yêu mến của khán giả trẻ dành cho tác phẩm của nhạc sĩ An Thuyên.




Tiếng đàn balailaika trên sông Đà

Ca khúc Tiếng đàn balalaica trên sông Đà, phỏng thơ Quang Huy đã đoạt giải nhất cuộc thi ca khúc toàn quốc năm 1985.

Chiều sông Thương



Thiên An

Một bến đợi neo lòng bao thế hệ…

TTH - “Lâu ni mi có dịp mô được đi chợ Đông Ba không? Răng tự nhiên tau thèm làm một vòng quanh chợ, rồi ghé xuống cái đòn, mần tô bún mắm nêm cho đáo khẩu…”. Nghe người bạn “than thở” với bà chị tôi ngay giữa đất Sài Gòn, tôi bỗng giật mình. Chợ Đông Ba, ngôi chợ mà có ngày tôi vài ba bận chạy qua chạy lại và thấy rất đỗi bình thường, ai dè lại ray rứt hoài niệm đến thế trong lòng những người xa Huế…
Chợt quay quắt nhớ về bà nội. Ngày còn sống, chuyện cúng giỗ trong nhà một tay bà lo liệu. Ai làm bà cũng không vừa ý, bắt “đứng đó mà coi, sau còn thay tau…”. Có khi đang chuẩn bị làm thức gì đó thì thiếu món này món khác, bà hoét mấy cô dâu ra chợ mua lẹ cho bà. Có cô lừng khừng hỏi mua đâu. Bà chắc nụi: “Qua Đông Ba. Chán vạn bên nớ!”. Sau này mạ tôi cũng hay nói “chỉ sợ không có tiền, chứ có thì qua chợ Đông Ba ưa mua chi có nấy”.

Chợ Đông Ba ngày nay
Lớn lên tôi mới hiểu, bà và mạ tôi không hề nói theo cảm tính. Bởi lẽ, từ lâu lắm rồi, chợ Đông Ba vốn được xem là trung tâm thương mại số I ở kinh đô Huế. Ở đó bán đủ mặt hàng, từ nông lâm thổ sản, cho đến hàng ngũ kim, hàng tiêu dùng, hàng ẩm thực, chén bát, vàng bạc… có hết. Vai trò trung tâm thương mại ấy được duy trì và lớn mãi. Cho đến tận bây giờ, khi mà hệ thống siêu thị đã xuất hiện và trở nên thân quen với nhiều người, thì chợ Đông Ba vẫn là chợ Đông Ba, không gì thay thế được.
Năm 2014 này, một sự kiện quan trọng sẽ đến với ngôi chợ danh tiếng này: Chợ Đông Ba tròn 115 tuổi. Đó là nói thời gian kể từ lúc chợ đứng chân tại vị trí hiện nay, chứ còn nếu tính niên tuế kể từ lúc hình thành thì Đông Ba còn cao tuổi hơn thế nữa. Theo các nguồn sử liệu, thì từ thời Gia Long chợ đã xuất hiện. Thoạt tiên, ngôi chợ tọa lạc bên ngoài cửa Đông Ba (Tên chữ là Chánh Đông môn – Cửa hướng chánh đông) và mang tên là chợ Quy Giả (Quy Giả thị - Chợ của những người trở về; (có thể) hàm ý việc Gia Long – Nguyễn Ánh đã giành lại được Phú Xuân từ nhà Tây Sơn và bắt đầu xưng đế (?)). Trong biến cố “thất thủ kinh đô” 1885, chợ bị đốt sạch. Năm 1887, vua Đồng Khánh cho xây dựng lại và đổi tên thành chợ Đông Ba. Ðến năm 1899, trong công cuộc chỉnh trang đô thị theo phong cách phương Tây, vua Thành Thái cho chuyển chợ Ðông Ba ra địa điểm ngày nay. Câu ca “Chợ Đông Ba mang ra ngoài giại/ Cầu Trường Tiền đúc lại xi moon” là để chỉ sự kiện này. Đình chợ cũ trở thành trường Pháp Việt Ðông Ba. Bây giờ là vườn hoa Đông Ba. Theo mô tả, chợ Ðông Ba thời Thành Thái gồm 4 dãy quán: trước, sau, phải, trái. Mặt trước một dãy 8 gian, mặt sau một dãy 12 gian, dãy phía tay phải 13 gian... đều lợp ngói; giữa chợ có một toà lầu vuông, ba tầng, tầng dưới xây tường 4 mặt, mỗi mặt có trổ 2 cửa, tầng trên 4 mặt đều có cửa và đều có đồng hồ để điểm giờ. Trong chợ có một giếng đá và có hệ thống “máy” giúp cho việc lấy nước. Khi cần thì dùng tay quay máy, nước trong giếng sẽ tràn lên, phun ra.

Chợ Đông Ba đầu Thế kỷ XIX. Ảnh: St
Ðầu thế kỷ XX, chợ Ðông Ba được tu sửa nhiều lần nhưng vẫn giữ cốt cách cũ. Ðến năm 1967, chính quyền Sài Gòn cho triệt hạ chợ cũ và xây lại chợ mới. Công trình đang dang dở thì bị bom Mỹ phá huỷ trong chiến dịch Xuân 1968. Sau đó, chính quyền Sài Gòn cho sửa chữa tạm để buôn bán.
Cầu Trường Tiền tròn 115 tuổi
Cùng với chợ Đông Ba, năm 2014 này, cầu Trường Tiền Huế cũng vừa tròn 115 tuổi. Cầu được khởi xây từ năm 1897 cho đến năm 1899 dưới thời Thành Thái. Hơn 1 thế kỷ soi bóng xuống dòng Hương Giang, cầu Trường Tiền như một chứng nhân của bao câu chuyện buồn vui xứ Huế. “Không chỉ có ý nghĩa về giao thông, cầu Trường Tiền còn là biểu tượng, là một phần làm nên “cốt cách và tâm hồn” Huế; một điểm nhấn của du lịch cho Cố đô…” Festival này, cầu Trường Tiền sẽ trở thành không gian nghệ thuật dưới bàn tay sắp đặt của các nghệ sĩ đến từ Pháp..
TS
Sau ngày đất nước thống nhất, năm 1987, chợ được đầu tư đại trùng tu. Trong thời gian xây dựng, chợ được chuyển tạm lên hoạt động ở công viên Phu Văn Lâu. Ngoài lầu chuông ở trung tâm, chợ Ðông Ba mới có 9 dãy nhà bao quanh cùng 4 khu hàng mới, như chợ cá, khu hàng tự sản, tự tiêu, khu hàng dịch vụ... với tổng diện tích mặt bằng xây dựng gần 15,6 nghìn m2. Tuy sửa chữa, xây dựng nhiều lần, hình thái hoạt động thương mại tiến triển phù hợp với nhịp sống từng thời, song, cốt cách, thần thái của chợ Đông Ba vẫn không hề thay đổi. Hay như có người nhận xét là “hồn xưa dấu cũ vẫn không nhạt phai…”. Cùng với Thiên Mụ, Trường Tiền, Vỹ Dạ… Chợ Đông Ba vẫn là một biểu tượng, một địa danh mà hễ nhắc đến Huế là ai cũng lại nhớ về…
Thời đại hội nhập và phát triển, cho dù ngày càng có nhiều siêu thị, nhiều cửa hàng cửa hiệu sang trọng và tiện dụng cho người tiêu dùng, song chợ Đông Ba vẫn tiếp tục giữ vai trò là một trung tâm thương mại lớn của thành phố Huế, không chỉ phục vụ cho dân cư trên địa bàn mà còn thỏa mãn nhu cầu mua sắm, tham quan của du khách thập phương. Quy mô của chợ so với lúc được xây dựng mới cũng đã lớn hơn đáng kể. Theo số liệu từ Ban Quản lý thì hiện tại chợ Đông Ba tọa lạc trên một diện tích rộng đến 22.742 m2, kéo dài từ chân cầu Gia Hội cho đến gần cầu Trường Tiền. Mặt trước chợ là đường Trần Hưng Đạo, một trong những con phố đông đúc và sầm uất bậc nhất của Huế. Chạy bọc mặt sau là đường Chương Dương, kế tiếp là dòng sông Hương hiền hoà thơ mộng. Hiện trong chợ có hơn 2.700 lô hàng lớn nhỏ với 85 ngành hàng, từ mặt hàng cao cấp, xa xỉ đến mặt hàng bình dân. Chợ đã tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động phục vụ cho hoạt động kinh doanh và dịch vụ tại chợ. Mỗi ngày lượng du khách và người mua bán đến chợ lên tới trên 5.000 - 7.000 người.
Không chỉ là trung tâm giao lưu mua bán mà Đông Ba còn là một phần lịch sử không thể tách rời của Huế. Dư địa chí Thừa Thiên Huế ghi nhận: “Ngoài vị trí là một trung tâm thương mại lớn của tỉnh, với lịch sử hơn 100 năm xây dựng và phát triển chợ Đông Ba còn là nơi có truyền thống đấu tranh cách mạng bất khuất, kiên cường trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ngay từ khi mới thành lập tiểu thương chợ Đông Ba đã tích cực hưởng ứng các phong trào đấu tranh chống sưu thuế, chống bắt lính, ủng hộ hoạt động của các nhà yêu nước. Ngày 17 tháng 6 năm 1954, trên 400 tiểu thương chợ Đông Ba đã tham gia đoàn biểu tình hơn hai vạn người dưới sự chỉ đạo của Thành uỷ Huế, ủng hộ quan điểm của Đoàn đại biểu nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà tại Hội nghị Giơ-ne-vơ. Cuộc mittinh đã thắng lợi gây tiếng vang lớn trong cả nước, từ 1954 đến 1975 lực lượng tiểu thương chợ Đông Ba đã tham gia, tổ chức 255 cuộc biểu tình, xuống đường, sát cánh cùng các tầng lớp nhân dân, trí thức, học sinh, sinh viên đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai... Trong cuộc đấu tranh đó, nhiều tiểu thương đã trưởng thành và trở thành những cán bộ kiên cường của cách mạng, nhiều chị là cơ sở bí mật, nuôi giấu cán bộ, nhiều chị đã anh dũng hy sinh trong các cuộc đấu tranh trực diện với kẻ thù, mặc dù bị giam cầm, tra tấn tù đày nhưng chị em tiểu thương chợ Đông Ba vẫn trung kiên một lòng theo cách mạng, theo Bác Hồ. Những đóng góp của chị em tiểu thương chợ Đông Ba tô điểm thêm truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc. Ghi nhận những thành tích công lao đó, năm 1975 Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã trao tặng chị em tiểu thương các chợ thành phố Huế nói chung, trong đó có sự đóng góp của chị em tiểu thương chợ Đông Ba phần thưởng cao quý Huân chương kháng chiến hạng nhất.”
Trong những ngày tháng Tư sôi động không khí Festival Huế 2014, chị em tiểu thương chợ Đông Ba hưởng ứng mặc áo dài, nhắc nhau lời ăn tiếng nói, mua bán ân cần, văn minh để lưu lại hình ảnh đẹp của ngôi chợ nổi tiếng xứ Huế trong lòng du khách ghé thăm. Từ cuối năm ngoái, BQL chợ đã phát động các hộ kinh doanh đăng ký xây dựng gian hàng văn minh và xây dựng chợ văn minh thương mại. Nhiều hộ đã làm bảng hiệu giới thiệu thương hiệu của mình; nhiều hộ tham gia giới thiệu hoạt động kinh doanh trên trang web của chợ tại địa chỉ http://chodongba.com.vn... Tất cả đang hướng về kỷ niệm 115 năm xây dựng và phát triển chợ Đông Ba (1899 – 2014).
Một trăm mười lăm năm đã trôi qua, chợ Đông Ba vẫn còn đó, duyên dáng soi mình xuống dòng Hương thơm mát, bao dung. Ngôi chợ như một bến đợi, mãi cứ neo lòng bao thế hệ những người Huế xa quê và cả những người trót một lần đến Huế…
Huy Khánh
"Lý lịch" ca khúc "Hà Nội - Huế - Sài Gòn"

Nhạc sĩ Hoàng Vân rất hiếm khi phổ thơ, và ca khúc Hà Nội - Huế - Sài Gòn của ông là một trong những “của hiếm” đó.
Tuy nhiên, nhiều chương trình ca nhạc chỉ quen giới thiệu nhạc sĩ Hoàng Vân mà “quên” tác giả phần lời. Chính vì thế, nhà thơ Lê Nguyên - tác giả những vần thơ được phổ nhạc kia vừa “sốt ruột” tìm đến Báo Thanh Niên lên tiếng.

Nhà thơ Lê Nguyên, tác giả phần lời của ca khúc "Hà Nội - Huế - Sài Gòn" tại tòa soạn Thanh Niên - Ảnh: D.Đ.Minh

Lý do được ông Lê Nguyên đưa ra là ở các kỳ festival Huế trước đây đã sử dụng ca khúc này, nhưng lần nào cũng chỉ nhắc tên nhạc sĩ Hoàng Vân mà bỏ quên tên ông. Đặc biệt ở Festival Huế 2010, dù ông đã “đánh tiếng” trước với ban tổ chức, nhưng cuối cùng vẫn bị... bỏ sót.
Nhà thơ Lê Nguyên cho biết, bài thơ Hà Nội - Huế - Sài Gòn được ông sáng tác năm 1960. Một năm sau thì được nhạc sĩ Hoàng Vân phổ nhạc.
Từ Hà Nội, nhạc sĩ Hoàng Vân cũng lên tiếng xác nhận bài hát Hà Nội - Huế - Sài Gòn là do ông phổ thơ của tác giả Lê Nguyên vào năm 1961. Ông cho biết nguyên tác đó là một bài thơ dài của Lê Nguyên, được ông rút tỉa, sắp xếp lại để trở thành bài hát này. Ngoài chuyện ký tên chung vào thư ngỏ cùng ông Lê Nguyên gửi các cơ quan chức năng, nhạc sĩ Hoàng Vân đã từng xuất hiện trên truyền hình xác nhận lại việc phổ nhạc bài thơ của tác giả Lê Nguyên. Vì vậy, ông cũng hy vọng đây là lần giãi bày cuối để làm sáng tỏ “lý lịch” bài hát nói trên.
Quang Thi.



HÀ NỘI - HUẾ - SÀI GÒN 

Sáng tác: nhạc Hoàng Vân; lời thơ Lê Nguyên.
Trình bày: Thanh Huyền.
(Ảnh: "Huế của miền Trung ruột thịt với sông Hương tha thiết giọng hò..." - Sông Hương, nhìn từ đồi Vọng Cảnh).


Trên đất mẹ nắng hồng như lụaTrải nghìn năm gắn bó (a) ba miềnNhư cành chung gốc lớn lênNhư anh em của mẹ hiền Việt NamƠ ơ ơ...Huế của miền Trung ruột thịt với sông Hương tha thiết giọng hòĐã vùng lên một mùa Thu hòa chung tiếng thét căm thù hôm nay.Huế cầm tay Sài Gòn Hà Nội bên dãy Trường Sơn ngời sáng tin yêu (ớ ơ)Sài Gòn vang lời ca bất khuất của miền Nam đi trước về sau.Cánh sen thắm vẫn tươi màu
Lời thề còn nhớ khắc sâu trong lòng
Đây miền Nam thành đồng Tổ quốc bên Cửu Long thành phố tên vàngThành phố vinh quang Hồ Chí MinhTiếng Người mang trong lòng.

Vang mãi lời ca “Hà Nội - Huế - Sài Gòn”

Văn hóa | 07:49 Chủ Nhật ngày 19/08/2012
(HNM) - Cho đến bây giờ, gia sản lớn nhất của nhà thơ, nhà biên kịch Lê Nguyên là hơn 1.000 bài thơ và cũng chừng ấy bản nhạc. Trong số đó bài thơ "Hà Nội - Huế - Sài Gòn" đã trở thành một trong "những bài ca đi cùng năm tháng".


Nhà thơ Lê Nguyên.

Làm báo bên chiến hào

Trong căn phòng khách chỉ hơn 10m2, chúng tôi đặc biệt ấn tượng trước bức họa một góc phố Hà Nội được nhà thơ Lê Nguyên treo chính giữa phòng. Nhìn bức họa, ông bồi hồi: "Tôi xa Thủ đô từ trước ngày Toàn quốc kháng chiến, để chính thức bước vào cuộc đời binh nghiệp. Thấm thoắt đã 66 năm trôi qua mà vẫn mới như hôm qua!". Cuộc đời của nhà thơ Lê Nguyên được đánh dấu bằng những năm tháng làm báo ngay tại chiến hào chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Cuối năm 1953 đầu năm 1954, ông được Chính ủy Trần Độ cùng Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 312, Tổng Biên tập tờ báo Anh Dũng, nhà báo Văn Phác giao nhiệm vụ làm phái viên đặc biệt chuyên cập nhật trực tiếp và xử lý thông tin tại mặt trận. Lúc đó tất cả mọi người từ trung đội trưởng trở lên đều phải có trách nhiệm làm cộng tác viên để viết hoặc cung cấp thông tin cho người viết cập nhật.

Tập thể những người làm báo Anh Dũng ngày ấy đều có phương châm phải làm sao cho nội dung tờ báo sinh động, thế nên tại mặt trận ác liệt, các phóng viên, cộng tác viên đã bám sát trận địa, tổng hợp thông tin, khẩn trương viết bài để tờ báo mang hơi thở nóng hổi của thực tế chiến trường, dù rằng công việc in báo lúc đó vẫn theo phương pháp thủ công, bằng lối viết chữ ngược lên phiến đá, quết mực, rồi áp từng tờ giấy dó vào phiến đá, dùng ru lô lăn để in xuôi hai mặt. Nhà thơ Lê Nguyên xúc động kể đọc lại nội dung một lá thư của chiến sĩ Nguyễn Văn Hải tại chiến trường gửi về: "Kính gửi anh Lê Nguyên! Em là Nguyễn Văn Hải đây. Em đang trụ trên đỉnh đồi C. Trước mặt em là khẩu súng trường cắm sẵn lưỡi lê, một khẩu tiểu liên, một khẩu súng phóng lựu. Chắc chắn thế nào rồi địch cũng sẽ phản công. Lợi dụng lúc im tiếng súng, em tranh thủ viết thư này để anh có tài liệu làm báo…". Tại Bảo tàng Lịch sử Quân đội, lá thư đó được đặt trang trọng cùng với tờ báo Anh Dũng, bên trên là Lá cờ "Quyết chiến, Quyết thắng" Bác Hồ đã trao tặng cho Sư đoàn 312.

Bài thơ "Hà Nội - Huế - Sài Gòn"

Sống ở TP Hồ Chí Minh được 33 năm nhưng Lê Nguyên chưa bao giờ nguôi cảm xúc mỗi khi nghe lại bài hát "Hà Nội - Huế - Sài Gòn". Ông kể: "Tôi sáng tác bài thơ này vào năm 1960. Hồi đó, đất nước còn đang bị chia cắt, hình ảnh những người con miền Nam tập kết ra Bắc liên hệ với người thân ở quê hương bằng những tấm thiệp đã gây xúc động mạnh, vì vậy tôi đã viết bài thơ "Hà Nội - Huế - Sài Gòn". Một năm sau, nhạc sĩ Hoàng Vân phổ nhạc và bài hát đã có sức sống mãnh liệt cho đến ngày nay". Điều đặc biệt là khi sáng tác bài thơ này, tác giả chưa đặt chân đến hai mảnh đất thân thương Huế và Sài Gòn. Huế trong tưởng tượng của ông là mảnh đất mộng mơ, phong cảnh đẹp lãng mạn, con người thân thương, dễ mến. Sài Gòn là nơi có những nét đặc trưng của đất phương Nam, của sông nước, của nắng và gió. Nhà thơ Lê Nguyên đã đưa cho chúng tôi xem bản sao, bản chép tay bài thơ "Hà Nội - Huế - Sài Gòn" do chính liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm chép lời, kẻ khuông nhạc được để trong ba lô cùng với cuốn nhật ký bất hủ. Có thể thấy, bài thơ được phổ nhạc đã được lớp trẻ ngày ấy rất yêu thích và được coi là hành trang cuộc sống, là niềm tin cho một ngày thống nhất non sông.

Trong phút ngẫu hứng, bằng giọng khàn đặc của người vào độ tuổi "xưa nay hiếm", Lê Nguyên đã cầm cây đàn ghi ta đệm và cất tiếng hát: "Trên đất mẹ nắng hồng như lúa/Trải nghìn năm gắn bó miền hai miền/Như cành chung gốc lớn lên/Như anh em của mẹ hiền…/Huế cầm tay Sài Gòn Hà Nội/Bên dãy Trường Sơn ngời sáng tin yêu/Sài Gòn vang lời ca bất khuất…".

Trong suốt cuộc đời sáng tác,  đến nay Lê Nguyên đã có hơn 1.000 bài thơ, nhiều bài đã được phổ nhạc, không ít bài được dịch sang tiếng Pháp. Trong những vần thơ giàu cảm xúc, Lê Nguyên đã dành phần lớn tình yêu nồng nàn cho Hà Nội, nơi ông sinh ra, lớn lên với những ngôn từ da diết: "Hà Nội ơi! Đã bao lần tôi thốt lên tiếng gọi. Từ đáy lòng chạnh nhớ thầm yêu. Hà Nội ơi! Đã xa rồi, đã lâu rồi chưa trở về. Nơi tôi sinh ra bên Thành cổ Thăng Long. Nơi tôi lớn lên trong mùa thu Tháng Tám. Khi mỗi trái tim non cũng muốn cháy lên theo ánh sao vàng!" (bài thơ "Hà Nội ơi" sáng tác năm 2000).

Bên cạnh lĩnh vực thơ và nhạc, Lê Nguyên còn được biết đến với tư cách là một nhà biên kịch đã đoạt giải thưởng kịch bản phim Bông sen Bạc cho phim "Phường tôi"; giải vàng của Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới cho phim "Hãy chặn tay bọn giết người"… Đặc biệt, Lê Nguyên đã viết hàng chục kịch bản phim tài liệu, 20 kịch bản phim hoạt hình và tham gia biên tập nhiều tác phẩm điện ảnh có giá trị nghệ thuật như "Cánh đồng hoang"; "Về nơi gió cát"…

Bây giờ, tuy đã ở tuổi 81 nhưng nhà thơ, nhà biên kịch Lê Nguyên vẫn chưa ngừng nghỉ việc sáng tác. Ông sắp cho in tập thơ thứ 8 do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành có tựa đề "Khát khao xanh". Ông nói: "Thơ và nhạc sẽ mãi song hành trong những năm tháng còn lại của cuộc đời tôi".
Nam Phong

Nét Huế dịu ngọt, tươi mới qua giọng ca Sao Mai Bạch Trà

12:56, Thứ Tư, 12/10/2016 (GMT+7)
(VnMedia) - Vẫn là những ca khúc Huế đã nằm lòng khán giả, nhưng Bạch Trà lại mang đến một sự tươi mới, trẻ trung và đầy ngọt ngào trong CD-DVD với chủ đề "Tìm em trong nét Huế".
Tìm em trong nét Huế gồm 8 ca khúc cả cũ và mới, đó là: Huế thương (An Thuyên), Nhớ Huế (Việt Đức), Về thăm Huế (Quang Hưng), Ngược dòng Hương Giang (Đức Trịnh), Tìm em trong nét Huế (Khắc Yên), Huế xưa (Châu Kỳ), Huế mời bạn về thăm (Lê An Tuyên)Thương mãi câu hò (Lê Phùng). Trong 8 ca khúc này, có những bài hát đã trở nên vô cùng quen thuộc với những ai yêu mảnh đất thanh bình, mơ mộng như Huế thương, Huế xưa được sáng tác từ nhiều năm trước. Và gần đây, Ngược dòng Hương Giang được nhạc sỹ Đức Trịnh sáng tác cũng ngay lập tức trở thành một trong những ca khúc về Huế được rất nhiều khán giả yêu thích. Những ca khúc này từng được nhiều thế hệ ca sỹ trình bày thành công, nhưng Bạch Trà lại thể hiện bằng một tinh thần mới, một cảm nhận mới và đã đem vào đó hơi thở mới của một người con xứ Huế, thấm đẫm hơi thở đời sống đương đại.
Tuy nhiên, những ca khúc được Bạch Trà trình bày thành công nhất, lại chính là những tác phẩm mới, hoặc những ca khúc ít người thể hiện, trong đó, phải kể đến Nhớ Huế (Việt Đức) và Tìm em trong nét Huế (Khắc Yên). Đây có thể nói là 2 ca khúc Bạch Trà hát hay nhất, tình nhất, xúc động nhất và có thể sẽ “đóng đinh” tên tuổi của cô mà khó lòng có người khác vượt qua được. Có lẽ cũng chính vì điều đó mà Bạch Trà đã chọn tên sản phẩm đầu tay trong sự nghiệp ca hát của mình, cũng chính là tên của một trong những ca khúc mà cô hát thành công nhất trong Album này: Tìm em trong nét Huế.
Bạch Trà là một ca sỹ trẻ có giọng hát mang âm hưởng dân ca ngọt ngào, đằm thắm, sâu lắng và tinh tế. Đặc biệt, khác với những nữ ca sỹ dòng dân gian ở miền Bắc thường bị “mang tiếng” là hát giống nhau và giống… Anh Thơ, thì Bạch Trà lại mang một màu sắc riêng biệt, không trộn lẫn và gần như là “độc tôn” ở thời điểm hiện tại trong số những ca sỹ trẻ, đó là “chất Huế” nổi bật, vừa dịu dàng, duyên dáng lại vừa sắc sảo, thông minh. 
Phần phối khí do nhạc sỹ Quang Hưng đảm nhiệm. Anh đã có những thay đổi để Bạch Trà hát bài cũ mà không bị giống người đi trước, hát bài mới rất Huế nhưng vẫn rất trẻ trung, hiện đại. Đây là điều đáng khen. Bên cạnh CD, DVD được đạo diễn trẻ Nguyễn Anh Quân đảm nhận và thực hiện khá ấn tượng. Những cảnh quay trên sông Hương, trong Đại Nội hay đường phố, sân trường, lăng tẩm,… đều được thực hiện khá kỹ lưỡng, tỉ mỉ và tạo nên một bức tranh Huế thật êm đềm và rực rỡ, đặc biệt hoà quyện với tiếng hát Bạch Trà tạo nên cảm xúc mạnh mẽ cho khán giả.
Lam Trần

Bạch Trà ra mắt album "Tìm em trong nét Huế"

Ánh Linh |
Bạch Trà ra mắt album "Tìm em trong nét Huế"

Ca sỹ Bạch Trà vừa giới thiệu đến khán giả bộ đôi CD-DVD với chủ đề "Tìm em trong nét Huế".

Đây là sản phẩm âm nhạc gồm những ca khúc viết về Huế, được thể hiện bởi giọng hát trẻ trung, ngọt ngào và đầy sự mới mẻ của nữ ca sỹ từng lọt vào chung kết toàn quốc cuộc thi Sao Mai 2015.
Tìm em trong nét Huế gồm 8 ca khúc cả cũ và mới, đó là Huế thương (An Thuyên), Nhớ Huế (Việt Đức), Về thăm Huế (Quang Hưng), Ngược dòng Hương Giang (Đức Trịnh), Tìm em trong nét Huế (Khắc Yên)...
Trong đó, có thể nói 2 ca khúc Bạch Trà hát hay nhất, tình nhất, xúc động nhất chính là Nhớ Huế (Việt Đức) và Tìm em trong nét Huế (Khắc Yên).
Bạch Trà ra mắt album Tìm em trong nét Huế - Ảnh 1.
Ca sĩ Bạch Trà
Bạch Trà là một ca sỹ trẻ có giọng hát mang âm hưởng dân ca ngọt ngào, đằm thắm. Nghe Bạch Trà hát, người ta có thể hình dung ra một xứ Huế vừa mộng mơ, lãng mạn nhưng cũng đầy khao khát vươn mình đổi mới.
Bạch Trà sinh ra và sống suốt quãng tuổi thơ đầy hạnh phúc của mình tại Quảng Trị. Năm 16 tuổi, cô vào thi đỗ và bắt đầu theo học tại Học viện âm nhạc Huế, và con đường ca hát bắt đầu mở ra từ đây. Mẹ mất khi đang học năm 3 Đại học, Bạch Trà đã phải trải qua một cú sốc cực lớn trong đời.
Chỗ dựa duy nhất, chỉ còn lại người cha ở quê, Bạch Trà dồn hết tình yêu vào đó. Cha cô cũng là một nghệ sỹ ở đoàn dân ca Bình Trị Thiên, vì thế, cô được thừa hưởng dòng máu nghệ thuật từ cha.
Những biến cố trong cuộc đời càng khiến giọng hát của Bạch Trà thêm sâu sắc và cảm xúc. Từ nhỏ đã mê mẩn giọng ca Thu Hiền, sau này là Anh Thơ nhưng may mắn, Bạch Trà không bị ảnh hưởng quá nhiều bởi cách luyến láy cũng như âm sắc giọng của hai bậc tiền bối.
Vì thế, cho dù từng được ca sỹ Anh Thơ chỉ dạy trong dịp thi Sao Mai 2015, nhưng Bạch Trà vẫn giữ được nét rất riêng, rất Huế của mình.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32