CÂU CHUYỆN TÌNH BÁO 208

(ĐC sưu tầm trên NET)

Điệp viên thế kỷ XX: Nhà tình báo Nga Pavel Pestel

VietnamDefence - Trong 10 năm quân ngũ, P.I. Pestel đã trải qua con đường vinh quang gian khó từ một chuẩn uý trung đội trưởng đến đại tá trung đoàn trưởng trung đoàn Vyatsky. Cấp bậc cuối cùng mà ông được phong tất nhiên là để tưởng thưởng cho thành tích hoạt động tình báo.

Pavel Ivanovich Pestel (1793-1826), đại tá, trung đoàn trưởng trung đoàn Vyatsky, tác giả của “Sự thật Nga”, một trong những nhà lãnh đạo của cuộc cách mạng tháng 12 năm 1825. Bị bắt ngày 13 tháng 12 năm 1825 do bị tố giác và bị treo cổ ngày 13 tháng 7 năm 1826.
Tháng 2 năm 1821, một phong bì thư mật đã được gửi từ Peterburg đến bộ tham mưu tập đoàn quân số II đang đóng ở vùng biên giới Tây Nam nước Nga. Tướng Vigenshtein, Tư lệnh tập đoàn quân, được lệnh tổ chức thu thập khẩn cấp các thông tin tình báo về cuộc chiến tranh cách mạng đã nổ ra ở Moldova và Valakhya của nhân dân Hy Lạp chống lại ách cai trị Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ).

Phong trào giải phóng của người Hy Lạp do tổ chức cách mạng bí mật “Philiki Hetaireia” (Hội Ái hữu) lãnh đạo. Tổ chức này do các nhà chính trị lưu vong Hy Lạp ở Odessa thành lập vào năm 1814. Từ đó, nó đã lãnh đạo việc chuẩn bị khởi nghĩa trên các vùng lãnh thổ bị quân Thổ Nhĩ Kỳ chiếm đóng.

Vào đầu năm 1812, nhà quý tộc Hy Lạp Aleksandr Ipsilanti, trước đó đã từng tham gia quân đội Nga chiến đấu chống Napoléon, sĩ quan tuỳ tùng của sa hoàng Aleksandr I, đã thành lập quân đội khởi nghĩa ở Yassy và đã tổ chức cuộc khơỉ nghĩa chống Thổ ở Moldova. Các sự kiện này đã là tín hiệu mở đầu cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Hy Lạp.

Cuộc chiến ở Moldova và Valakhya đã trực tiếp động chạm đến quyền lợi của nước Nga. Theo các hiệp ước đã ký với Thổ, nước Nga có quyền đi lại và buôn bán trên sông Danuyp, cũng như tự do đi qua các eo biển ở Hắc Hải đến Địa Trung Hải. Thái độ của Hoàng đế Nga Aleksandr I đối với các sự kiện ở Bancăng mang tính hai mặt và mâu thuẫn. Hiển nhiên, ông ta hiểu rằng, một cường quốc Thiên Chúa giáo thì phải ủng hộ những người Hy Lạp cùng tín ngưỡng. Mặt khác, cái ý nghĩ giúp đỡ nhân dân khởi nghĩa chống lại người bảo trợ “hợp pháp” là quốc vương Thổ Nhĩ Kỳ cũng làm cho nhà sáng lập Liên minh Thần thánh (tức Aleksandr I) khó chịu.

Để có được quyết định dứt khoát, sa hoàng cần có các thông tin mới nhất về các sự kiện ở Moldova và Valakhya.

Cuối tháng 2, sĩ quan tuỳ tùng của tư lệnh tập đoàn quân số 2 Pavel Ivanovich Pestel đã được triệu kiến tướng tham mưu trưởng Kiselyov.

- Ngài trung tá, - ông nói với Pestel, - bộ tham mưu đã nhận được tin vị công tước Aleksandr Ipsilanti mà ông đã biết đã cầm đầu cuộc nổi dậy của người Hy Lạp. Ngày 21 tháng 2, ông ta cùng với người anh và hai người hầu đã bí mật vượt sông băng Prut. Một đội quân cùng chí hướng với ông ta đã chờ sẵn bên phía Thổ, và ông ta đã chỉ huy đội quân này tiến về phía Yassy. Ông phải đến Bessarabia để thu thập tại chỗ tin tức về cuộc nổi loạn của người Hy Lạp.

Kiselyov đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng và tính bí mật của nhiệm vụ mà Peterburg giao cho.

Pestel không chậm trễ đi ngay từ Tulchin đến Bessarabia. Ông đến Kishinev với quan hệ chính thức của tư lệnh tập đoàn quân Vitgenshtein và thư riêng của Kiselyov cho tư lệnh quân đoàn số 6 Sabeneev đề nghị hỗ trợ.

Sau các cuộc trao đổi thú vị và xúc tích tại dinh thự của viên quan sở tại ở Kishinev, viên trung tá lên đường ra vùng biên địa Skuliany.

Người trưởng trạm kiểm dịch Navrosky có trách nhiệm tổ chức bí mật vượt sông Prut và đưa Pestel đến Yassy. Viên trung tá đã đổi sang mặc thường phục vượt biên giới giữa đêm khuya và sau đó đã nhanh chóng đến được trung tâm của cuộc khởi nghĩa là Yassy.

Những ngày hoạt động ngắn ngủi, căng thẳng thoáng qua đi. Ngày 3 tháng 3, Pestel trở về Skulyany. Từ đây, ông gửi về bộ tham mưu tập đoàn quân số 2 bản báo cáo đầu tiên của mình đầy ắp những thông tin nóng hổi về các sự kiện xảy ra ở Moldova. Ông giải thích những thắng lợi của người Hy Lạp khởi nghĩa là do được tổ chức tốt và kỷ luật nghiêm. Các tin tức tình báo mà Pestel thu thập được đã được đánh giá cao.

Khi trở về Tulchin, Pestel đã “được sử dụng đại bản doanh của tập đoàn quân số 2 để thực hiện các công việc liên quan đến cuộc nổi loạn của người Hy Lạp”. Toàn bộ những thông tin về cuộc khởi nghĩa của người Hy Lạp gửi về bộ tham mưu tập đoàn quân số 2, toàn bộ công văn thư từ giữa bộ tham mưu tập đoàn quân và chính phủ, các báo cáo mật của các điệp viên đều qua tay ông.

Peterburg tiếp tục đòi hỏi những thông tin mới và vào đầu tháng tư, viên trung tá lại phải đi Bassarabia. Lần này, ông đến thẳng Skulyany nơi ông dự kiến gặp một đại diện được uỷ quyền của quân khởi nghĩa. Lần này, câu chuyện có kết quả tốt.

Việc mà Pestel làm được đã được Peterburg đánh giá rất cao. Thật ra thì Aleksandr I ngầm cảm thấy khó chịu đối với viên trung tá mà nguyên nhân là đã có rất nhiều báo cáo mật về hành động độc lập và thiện cảm của viên sĩ quan trẻ với thể chế cộng hoà. Nhưng cả sa hoàng cũng buộc phải thừa nhận là ông đã hoàn thành rất tốt các nhiệm vụ tình báo được giao.

Tình huống đó có thể đã là cơ sở để tiến hành một điệp vụ mới phức tạp và khá tế nhị. Aleksandr I đã ra lệnh cho Pestel thực hiện một việc mà theo ngôn ngữ trong nghề tình báo ngày nay gọi là “biện pháp tích cực”.

Vào cuối tháng 5, đầu tháng 6, Pestel lại đến Kishinev. ở đó, anh phải tế nhị, nhưng cương quyết làm cho vua Moldova Mikhail Sutso đang chạy trốn khỏi vùng Yass đang nổ ra khởi nghĩa hiểu rằng, sự hiện diện của ông ta trên lãnh thổ Nga là không được hoan nghênh. Và cả lần này nữa, nhà tình báo Nga đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ khó khăn ấy.

Trong lúc đó, ở Peterburg, Bộ trưởng Ngoại giao Nga Bá tước Nesselrod, sau khi đọc báo cáo của Pestel về cuộc khởi nghĩa ở Hy Lạp đã hỏi Aleksandr I nhà ngoại giao biết mô tả một cách thông minh và xác thực tình hình Hy Lạp và người Thiên Chúa giáo ở phương Đông này là ai. Nga hoàng tự hào trả lời rằng: “Không gì khác hơn mà chỉ là một trung tá quân đội. Đấy, trẫm có những trung tá như thế phụcvụ trong quân đội của mình”. Nga hoàng đã vờ vĩnh khi trả lời như vậy cho vị bộ trưởng vì Nga hoàng đã biết rõ viên sĩ quan Pestel là một nhân cách xuất chúng đã thể hiện mình một cách thành công đến thế trên lĩnh vực tình báo.

Vào tháng 12 năm 1811, chàng trai 18 tuổi Pavel Pestel đã tốt nghiệp trường thiếu sinh quân, một nhà trường quý tộc và được ưu đãi nhất nước Nga. Tên tuổi ông, một thủ khoa, đã được nạm chữ vàng trên bảng danh dự trong gian phòng trắng của trường thiếu sinh quân. Chàng chuẩn uý trẻ được phiên chế vào trung đoàn ngự lâm Litva mới được thành lập. Tám tháng sau, trong trận Borodino, viên trung đội trưởng của đại đội 2 thuộc trung đoàn ngự lâm Litva đã tỏ ra rất gan dạ và dũng cảm, do đó đã được Kutuzov tặng thưởng một khẩu súng bằng vàng “Vì lòng dũng cảm”. Trong một trận tấn công giáp lá cà, anh đã bị thương nặng vào chân trái. Anh đã phải nằm điều trị gần 8 tháng.

Ngày 7 tháng 5 năm 1913, với vết thương chưa lành hẳn, Pestel đã trở về đơn vị chiến đấu. Ngay sau đó, anh đã nổi bật trong các trận đánh ở Pirn và Dresden và nhờ đó đã được phong trung uý. Trong năm 1813, Pestel đã tham gia 12 trận đánh lớn, được tặng thưởng 3 huân chương: Huân chương Thánh Vladimir hạng 4 của Nga, Huân chương Leopold hạng 3 của áo và Huân chương chiến công Karl Fridrich của Baden.

Trong 10 năm quân ngũ, P.I. Pestel đã trải qua con đường vinh quang gian khó từ một chuẩn uý trung đội trưởng đến đại tá trung đoàn trưởng trung đoàn Vyatsky. Cấp bậc cuối cùng mà ông được phong tất nhiên là để tưởng thưởng cho thành tích hoạt động tình báo.

Pavel Ivanovich Pestel đã đi vào lịch sử nhà nước Nga như là người sáng lập và lãnh đạo Hiệp hội các nhà cách mạng tháng 12 miền Nam, tác giả của cuốn “Sự thật Nga” - một đề án nền tảng của nhà nước dân chủ tương lai. Ông bị bắt vào tháng 12 năm 1825 và nằm trong số 5 nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của những người tháng 12 bị tử hình ngày 13 tháng 7 năm 1826.

Aleksandr Sergeyevich Pushkin đã quen với Pestel ở Kishinev năm 1821. Cuộc gặp gỡ tình cờ đầu tiên này kéo dài mấy tiếng đồng hồ. Buổi tối, thi hào Nga đã ghi vào nhật ký của mình: “Ngày 9 tháng 4. Buổi sáng ngồi với Pestel, một con người thông minh với toàn bộ ý nghĩa của từ này... Chúng tôi nói chuyện với nhau về triết học, chính trị, đạo đức... Ông là một trong bộ óc tuyệt vời nhất mà tôi được biết”.

Điệp viên thế kỷ XX: Tình báo quân sự Nga ra đời

VietnamDefence - Thế kỷ XIX còn được đánh dấu bởi sự tiếp tục hoàn thiện các cơ quan chỉ huy quân sự, trong đó có cả cơ quan tình báo quân sự và những thành công lớn của điệp báo Nga.

Những con người của bí mật


Tòa nhà Bộ Tổng tham mưu quân đội Nga sa hoàng ở St. Petersburg
Quy mô chiến sự tăng đột biến vào cuối thế kỷ XVIII-đầu thế kỷ XIX đã làm gia tăng khối lượng nhiệm vụ của tình báo, lực lượng và tiền bạc được huy động vào hoạt động tình báo.

Thế kỷ XIX còn được đánh dấu bởi sự tiếp tục hoàn thiện các cơ quan chỉ huy quân sự, trong đó có cả cơ quan tình báo quân sự và những thành công lớn của điệp báo Nga.

Tháng 5 năm 1801, sa hoàng Aleksandr I đã “ngự tứ” cho bộ phận tham mưu tác chiến tuỳ giá một bộ quân phục tuyệt vời bằng nhung đen thêu kim tuyến. Chẳng bao lâu sau, bộ phận tham mưu tác chiến được tách ra thành một cơ quan riêng.

Sau khi trở thành Bộ trưởng Chiến tranh vào năm 1810, Barclay de Tolly (Mikhail Barclay de Tolly (1761-1818), Thống chế Nga, sinh ra ở Livonia, xuất thân từ một gia đình Scotland, Bộ trưởng Chiến tranh Nga và là một trong những tướng lĩnh chủ chốt chỉ huy quân đội Nga đánh bại Napoléon - ND) đã bắt tay vào việc tăng cường quân đội. Ông biết rằng, sớm muộn gì thì Napoléon cũng sẽ gây chiến với Nga. Ông cho củng cố các pháo đài, tổ chức hệ thống đơn vị cấp quân đoàn, đẩy mạnh công tác tình báo quân sự mà khi đó vẫn do cơ quan tham mưu tác chiến phụ trách.

Quyền chỉ huy cơ quan này được trao cho vị tướng tuỳ giá, công tước Pyotr Volkonsky. Lòng quả cảm, tính cẩn thận, trí nhớ phi thường, khả năng quan sát hiếm có, khả năng đánh giá tình hình nhanh nhạy cộng với kinh nghiệm chiến đấu của công tước đã được sa hoàng Aleksandr I tính đến khi cử ông đi công cán nước ngoài vào năm 1807 “với mục đích nghiên cứu các cơ quan quân sự nước ngoài”. Khi trở về Peterburg vào đầu năm 1810, công tước đã đệ trình bản báo cáo “Về tổ chức nội bộ của quân đội và bộ tổng tham mưu Pháp”.

Các công sứ của Nga tại Phổ, áo, Pháp, Thuỵ Điển và Saxony đã được Bộ trưởng Chiến tranh giao cho các nhiệm vụ thu thập tin tức về quân số của các cường quốc mà họ được uỷ nhiệm; về tổ chức, trang bị, bố trí và tinh thần của quân đội; về trạng thái của các pháo đài và lâu đài. “Để họ phải đặc biệt lưu ý quan sát trong mọi phương diện về mặt quân sự”. Để giảm nhẹ nhiệm vụ của các công sứ, sa hoàng đã cho phép cử thêm các quan chức quân sự vào các phái bộ Nga (tuỳ viên quân sự). Họ phải thực hiện các nhiệm vụ tình báo một cách bí mật.

Như đã nêu trong chỉ thị gửi cho thiếu tá Prendal “...nhiệm vụ này của anh phải được giữ tuyệt đối bí mật, anh phải khiêm tốn và cẩn trọng trong mọi hành động của mình. Mục đích chính yếu nhất của nhiệm vụ bí mật của anh là phải thu thập được số liệu thống kê và nhân lực chính xác, về tình hình ở vương quốc Saxony và vương hầu Varsava, đặc biệt chú ý đến tình hình quân sự,... đồng thời phải báo cáo về phẩm chất và đặc điểm của các tướng lĩnh”.

Để thực hiện các nhiệm vụ đó, đã có hàng loạt sĩ quan đi công cán ở nước ngoài như: đại tá Chernyshev ở Paris, thiếu tá Prendal ở Dresden, trung uý Brozin ở Kassel, đại tá Teil-von-Seraskirken ở Viên, trung uý Grabbe ở Munich. Những sĩ quan này tạm thời trở thành các nhà ngoại giao “mặc thường phục”. Họ được lựa chọn trong số những sĩ quan ưu tú nhất của quân đội.

Ngày vào năm 1810, Bộ trưởng Chiến tranh Nga đã thường xuyên nhận được tin tức về các quân đội nước ngoài. Những số hiệu đầy đủ nhất về quân số quân đội Pháp vốn chỉ thường xuyên được lập thành một bản duy nhất cho Napoléon cũng được đại tá Aleksandr Ivanovich Chernyshev kịp thời gửi về. Các báo cáo của Chernyshev được gửi cho chính sa hoàng Aleksandr I. Ngày 23 tháng 12 năm 1810, viên đại tá mới 25 tuổi Chernyshev đã kết luận rằng, “Napoléon đã quyết định tiến hành chiến tranh chống Nga, nhưng còn trì hoãn do tình thế của ông ta ở Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha chưa được như ý”. Tiếp đó, bá tước đã tiến cử các phương án hành động có thể có lợi cho Nga trong những điều kiện đó. Trên bản báo cáo, sa hoàng đã nghi chú: “Sao ta lại không có nhiều hơn những bộ trưởng giống như chàng thanh niên này...”.

Ngài Bộ trưởng Chiến tranh cũng chú ý đến hoạt động tình báo mà các tư lệnh quân đoàn đã tiến hành bằng lực lượng của mình. Thế nhưng nếu chúng ta thấy được sự tiến bộ đáng kể trong việc phát triển hoạt động điệp báo thì hoạt động trinh sát bộ đội thực chất không thay đổi. Nó vẫn được tiến hành theo cách cũ - bằng những toán kỵ binh trinh sát. Thời chiến tranh vệ quốc năm 1812, những người cozac của thủ lĩnh Platov, những người lính kỵ binh của Denis Davydov, quân du kích mà nhiều người trong số họ đã làm nhiệm vụ trinh sát đã lập được những chiến công lừng lẫy.

Ngày 27 tháng 1 năm 1812, sa hoàng Aleksandr I đã chuẩn y việc thành lập Bộ Chiến tranh. Theo luật mới, đã thành lập bộ máy chỉ huy của tổng tham mưu trưởng, trong đó có cục thứ nhất là bộ phận tham mưu tác chiến. Lần đầu tiên đã hình thành được một cơ cấu và với nhệm vụ cơ bản của các nhân viên tham mưu tác chiến là: “thu thập tất cả các tin tức về khu vực đang có chiến tranh”. Việc thực hiện nhiệm vụ này đã được uỷ thác cho các sĩ quan phòng một của Tổng cục tham mưu tác chiến.

Và chính ngày 27 tháng giêng năm 1812 có thể được coi là ngày thành lập cơ quan tình báo quân sự Nga.

Điệp viên thế kỷ XX: Siêu điệp viên chui sâu trong đầu não NATO

VietnamDefence - Người phụ nữ có vẻ ngoài rất hấp dẫn và mảnh mai này đã 12 năm giữ chức trợ lý của Chủ tịch Uỷ ban Tác chiến trong Ban thư ký quốc tế của khối NATO.

Trụ sở NATO luôn là mục tiêu ưa thích của tình báo Liên Xô và CHDC Đức

Hãy còn chưa muộn
Người phụ nữ có vẻ ngoài rất hấp dẫn và mảnh mai này đã 12 năm giữ chức trợ lý của Chủ tịch Uỷ ban Tác chiến trong Ban thư ký quốc tế của khối NATO, sau đó đã chạy sang CHDC Đức. Chị đã lập một chiến công vạch trần các âm mưu hiểm độc của các tướng lĩnh NATO. Người phụ nữ dễ thương ấy là Ursel Lorenzen. Trong nhiều năm trời, chị đã phải cố hết sức để nhớ. Nhớ tất cả những điều quan trọng nhất lướt qua trước mắt trong đám giấy tờ siêu mật của NATO. Chị đã phải luôn giữ vẻ tự nhiên khi diễn một vai khó khăn trên cái sân khấu không bao giờ hạ màn ấy.

Không lâu trước khi chạy sang CHDC Đức, Ursel đã tròn 40 tuổi. Bốn mươi tuổi đời và 12 năm làm việc mẫu mực trong đại bản doanh của NATO. Các quan chức cấp cao NATO còn tổ chức cả một tiệc chiêu đãi trong diện hẹp để chào mừng chị. Rượu sâmpanh tràn trề, ly chạm canh cách cùng những lời chúc tụng “cô trợ lý khả ái”. Chị cũng nâng ly của mình... Ursel thường viết nhật ký. Cũng có chuyện trong nhật ký của chị đã được các phương tiện thông tin đại chúng rộng rãi biết đến, cũng có cái đang nằm chờ được công bố, cũng có cái lần đầu tiên được chị kể cho chúng tôi.


Siêu điệp viên Ursel Lorenzen

Tuổi thanh xuân của Ursel đã trôi đi một cách nhẹ nhàng, vô tư lự. Chị sinh ra trong một gia đình danh giá ở Hamburg, được hưởng sự nuôi dưỡng và dạy dỗ tuyệt vời. Sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng thương nghiệp, chị không những đã nắm được đến độ tinh vi mọi bí quyết của công việc buôn bán, mà còn thành thạo cả tiếng Anh và tiếng Pháp mà chị học ở Oxford và Paris. Và sau đó tình yêu đã đến với chị. Trong tình yêu, chị cũng đã gặp may mắn. Chàng thành niên trẻ, nhiệt tình, vui vẻ Dieter Wile, có chuyên môn kinh tế và còn là người chủ gia đình tuyệt vời đã đến với chị. Nhưng chuyện đó xảy ra mãi sau này. Đầu tiên, chị đã vào làm ở trụ sở khối NATO...

***

- Chị Ursel, chuyện đã xảy ra như thế nào?

- Thực ra thì chẳng có gì cao siêu cả. Hồi tôi làm việc ở Paris, tôi có rất nhiều bạn bè, trong số đó có cả các sỹ quan ở trụ sở NATO. Nói chung thì họ đã gợi ý cho tôi chuyển sang nơi làm việc mới. “Với kiến thức ngoại ngữ của em, Ursel, - họ khẳng định, - em sẽ thành danh nhanh chóng ở chỗ bọn anh. Công việc sẽ thú vị mà thu nhập lại cao hơn, vì thế em hãy đồng ý đi”. Tôi không phải suy nghĩ lâu. Tôi có những người giới thiệu có uy tín, các bài thi ngoại ngữ tôi vượt qua dễ dàng, còn việc xác minh lý  lịch của tôi chỉ mất có một năm...

- Lâu thế cơ ạ?

- Lâu à? Không đâu, thế là bình thường. Đối với người được tuyển vào làm việc ở cơ quan NATO, người ta phải thẩm tra cả họ hàng hang hốc ấy chứ. Cả các cụ ông cho chí các cụ bà. Mong sao trong dòng họ nhà tôi đừng có ai từng tham gia phá ngục Bastille (pháo đài nhà ngục cũ của ở Paris, Pháp, được xây dựng vào khoảng năm 1370, trong thế kỷ XVII-XVIII chủ yếu được dùng để giam chính trị phạm, bị quần chúng cách mạng tấn công và chiếm  vào ngày 14 tháng 7 năm 1789 khi Cách mạng Tư sản Pháp nổ ra. Ngày này đã trở thành ngày Quốc khánh của Cộng hoà Pháp - ND) hay kết bạn với Giusppe Garibaldi (Giuseppe Garibaldi (1807-1882), nhà cách mạng Italia, nhà lãnh đạo cuộc đấu tranh vì sự thống nhất và nền độc lập của nước Italia - ND). Về họ hàng tôi tất cả đều ổn, không hề có cái gọi là quan hệ “xấu xa” nào...

- Xin chị thứ lỗi, có lẽ tôi đang bắt đầu câu chuyện từ dưới lên, nhưng tôi rất muốn biết khi nào chị thoáng có ý tưởng rời khỏi trụ sở NATO. Hay là ngay khi vào làm việc cho NATO, chị đã biết trước là sẽ đi khỏi đó?

- Không. Tôi đã không biết trước. Thậm chí, dần dần, tôi đã cho mình là một môn đồ trung thành giai cấp tư sản, đã tin chắc là mình đang bảo vệ nền dân chủ phương Tây khỏi “sự đe doạ của phương Đông”. Nhưng mọi ảo tưởng của tôi đã tan biến rất nhanh, có lẽ ngay sau khi tôi nhận chức trợ lý của Chủ tịch Uỷ ban Tác chiến của Ban thư ký quốc tế NATO khi trụ sở NATO chuyển từ Paris về Brussels. Chức vụ mới của tôi đã tạo ra cơ hội để tôi không những nhìn thấy và đọc các tài liệu mang dấu “tuyệt mật”, mà còn hiểu rõ rằng NATO hoàn toàn không phải là công cụ bảo đảm an ninh và hoà bình như trước kia tôi đã từng tin một cách ngây thơ. Chỉ cần một giây lát tưởng tượng thành phố Hamburg thân yêu chỉ còn là những đống đổ nát cũng đủ để câu hỏi “tồn tại hay không tồn tại?” (To be or not to be) đã biến thành câu hỏi của cả quãng đời sau đó của tôi, trở thành câu hỏi mà tôi phải nhanh chóng tìm ra câu trả lời. Liệu mình có nên trở thành kẻ đồng loã cho cái thảm hoạ khủng khiếp ấy không? Không, lúc đầu, tôi không nghĩ đến toàn thể nhân loại đâu mà những ý nghĩ mang tính toàn cầu chỉ sau này mới đến với tôi. Đơn giản là khi có mặt trong các cuộc tập trận của NATO, mà không cuộc nào không dự định sử dụng vũ khí nguyên tử thì tôi đã có thể hình dung được một cách thực tế cảnh cha mẹ, anh chị, người yêu và cả chính tôi sẽ chết như thế nào... Bởi vậy việc một vài báo chí phương Tây đã cố mô tả tôi như một nữ gián điệp cực kỳ xảo quyệt là việc làm vô ích. Trong tôi chỉ có bản năng lành mạnh của một người phụ nữ bình thường mà ngẫu nhiên đã được tiếp xúc với những bí mật khủng khiếp. Người phụ nữ là để bảo vệ sự sống chứ không phải chết chóc và chính vì thế chị là người phụ nữ...

***
Đúng, các chiến lược gia NATO, rõ ràng là cho đến nay vẫn không sao hiểu nổi hành vi của Ursel Lorenzen. Chẳng hạn, đây là điều mà một trong những tạp chí lớn của phương Tây đã viết vào ngay ngày hôm sau khi chị chạy sang  CHDC Đức:

“NATO hoàn toàn bất ngờ khi lần đầu tiên một phụ nữ quê ở Hamburg đã cung cấp cho phương Đông những chi tiết cặn kẽ nhất về tiến trình ra quyết định và vạch kế hoạch bí mật của NATO.” “Tôi biết, frau Lorenzen nói trong lời tuyên bố chính thức trên đài truyền hình CHDC Đức, là hiện nay không có một cuộc tập trận nào được tiến hành mà NATO không đưa nội dung sử dụng vũ khí nguyên tử chống các nước xã hội chủ nghĩa”.

Lorenzen đã dùng lời tuyên bố này để ám chỉ cuộc tập trận Wintex-Simex 79 của NATO trong đó có diễn tập các phương pháp chỉ huy trong điều kiện có dự kiến cả việc cho phép sử dụng vũ khí nguyên tử. Tuyên bố trên đài truyền hình bằng những lời lẽ am hiểu và bằng thuật ngữ chính xác của người trợ lý một chủ tịch uỷ  ban - ông Terence Moran - trực thuộc Tổng thư ký Luns và chịu trách nhiệm về tác chiến và tập trận của NATO - đã làm các chuyên gia quân sự bàng hoàng. Trong buổi phỏng vấn, Lorenzen đã trình bày lưu loát tất cả những khái niệm phức tạp như “chỉ huy trong các tình huống khủng hoảng”, “kế hoạch dân sự khẩn cấp” và “khả năng sẵn sàng chiến đấu của NATO”. Một viên tướng cao cấp của quân đội CHLB Đức đã phải nói: “Không một sĩ quan nào của bộ tổng tham mưu có thể báo cáo tốt hơn Lorenzen”.

Biết làm thế nào được, trong NATO chưa chắc có chỗ nào khác lại tập trung nhiều thông tin mật như ở Uỷ ban Tác chiến của Ban thư ký quốc tế NATO. Chủ tịch uỷ ban đó là Terence Moran, quan chức dân sự thạo tin nhất trong NATO chỉ sau tổng thư ký. Moran chịu trách nhiệm về toàn bộ công tác chỉ huy trong các tình huống khủng hoảng và về trung tâm của NATO nơi tập trung toàn bộ các thông tin quân sự và chính trị. Ông ta đồng thời là chủ tịch uỷ ban NATO về thông tin liên lạc và điện tử và trong tay ông ta có những tin tức cặn kẽ nhất về toàn bộ hệ thống sẵn sàng chiến đấu của NATO.

Ngoài ra, đi qua bàn viết của Moran còn có các giấy tờ quân sự quan trọng của tướng Alexander Haig, Tổng tư lệnh NATO ở châu Âu gửi đến Hội đồng NATO. Việc những tài liệu đó qua tay frau Lorenzen cũng không làm cho ban lãnh đạo NATO hoài nghi gì cả. Một phụ nữ Đức ăn mặc trang nhã, đã làm việc cho NATO 12 năm trời ở một cương vị cho phép tiếp xúc không hạn chế với tất cả các loại giấy tờ. Vì vậy, trong số các  chiến lợi phẩm của Lorenzen có thể có các công văn, tài liệu tiết lộ cho phương Đông toàn bộ kế hoạch phòng thủ và các cơ cấu tư vấn chính trị của liên minh Bắc Đại Tây Dương, kể có cả bản liệt kê những điều kiện tiên quyết cho việc sử dụng vũ khí hạt nhân của phương Tây, cũng như các tài liệu về hệ thống sẵn sàng chiến đấu của NATO. Một sĩ quan cao cấp của NATO đã tuyên bố: “Chúng ta, những nhà quân sự, gần như giật khỏi tay các cô thư ký những bản sao tài liệu mật mà họ đánh máy. Quy định về bảo mật ở Ban thư ký quốc tế được thực hiện rất cẩu thả...”

- Chị Ursel, xin chị cho biết chị có được phép tiếp cận các tài liệu tác chiến. của NATO không?

- Tất nhiên là có chứ. Và không chỉ có các tài liệu tác chiến. Nhiều lần tôi đã phải tham dự các cuộc tập trận. Chính tập hợp các ấn tượng về những tài liệu đọc được và về các “trò chơi chiến tranh” mà tôi đã chứng kiến đã gây ra mối lo ngại sâu sắc buộc tôi cuối cùng phải vứt bỏ tất cả những gì đã tạo dựng được, cả sự nghiệp công danh, và nếu như anh muốn biết, là cả những người thân đang sống ở phía Tây... Những quan sát và phân tích tài liệu của tôi đã đưa tôi đến một kết luận dứt khoát: NATO không phải là công cụ của hoà bình. Toàn bộ hoạt động của tổ chức này đều hướng vào chuẩn bị cuộc chiến tranh mới. Xin đơn cử tài liệu “Nghiên cứu: Đông-Tây”. Đó là bộ sách nhiều tập, trong đó tập hợp nhiều  thông tin bí mật về các nước xã hội chủ nghĩa. Công trình “nghiên cứu” này do những kẻ thù địch với các nước xã hội chủ nghĩa soạn thảo và vì vậy không thể phản ảnh trung thực mối tương quan lực lượng Đông-Tây. Đó là bức tranh méo mó của hiện thực. Và tôi cho rằng, nó được dùng để đánh lạc hướng các nhà chính trị  phương Tây thực sự muốn giải trừ quân bị và thực sự tin vào khả năng  thiết lập quan hệ láng giềng tốt giữa Đông và Tây. Và chính trên cơ sở khái  niệm  giả dối về trạng thái quan  hệ Đông-Tây, người ta đã lập kế hoạch trang bị cho các nước thành viên NATO.

Bây giờ là vài lời về “các trò chơi chiến tranh”. Trong thời gian các cuộc diễn tập tham mưu tiến hành năm 1971, trong ccác đợt tập trận Wintex, người ta bắt buộc phải dự kiến phương án các chiến lược gia NATO sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân trước. Trong một tài liệu của Tổng tư lệnh NATO ở châu Âu được soạn thảo nhân cuộc tập trận Wintex 77 đã dự kiến sẵn 30 mục tiêu cụ thể ở sáu nước XHCN để đánh đòn hạt nhân. Và điều làm tôi kinh hoàng nhất là không một kế hoạch tập trận nào của NATO mà tôi được biết theo cương vị công tác của mình lại đề cập tí chút về khả năng giáng đòn hạt nhân trả đũa của các nước thành viên khối Varsava. Chả nhẽ điều đó không phải là một bằng chứng hùng hồn nhất cho thấy NATO đang đơn phương tập dượt chiến tranh nguyên tử với ý đồ tấn công trước? Đúng là như thế, bởi vì giới lãnh đạo NATO không một phút nào tin vào lòng yêu chuộng hoà bình của các nước xã hội chủ nghĩa.

Trong tài liệu “Nghiên cứu: Đông-Tây” mà tôi đã trích dẫn, ở mục 34 có nói: “... không hy vọng có sự thay đổi đáng kể nào về cơ cấu và tổ chức của lực lượng  vũ trang khối Varsava. Theo số liệu hiện có, quân số của lực lượng vũ trang cũng không thay đổi...” ở mục 189 có câu kết luận như sau: “... Chính phủ Liên Xô trong một tương lai gần có lẽ sẽ tiếp tục chính sách hoà  hoãn...” Bọn cầm đầu NATO định dùng chính điều này để gây những vụ rắc rối, đụng độ để biện minh cho đường lối xâm lược đế quốc chủ nghĩa ở châu Âu, Cận Đông và các điểm khác trên hành tinh chúng ta. NATO không dừng bước trước bất cứ điều gì. Để khiêu khích gây nên những tình huốn xung đột, liên minh NATO hiếu chiến này không từ một phương pháp bẩn thỉu và bỉ ổi nào. Nó sẽ coi những cuộc xung đột nảy sinh là cái cớ để đưa vào thực thi những chiến dịch quân sự đã dự định. Một ví dụ cho kịch bản đó có thể là tình huống đã xảy ra trong cuộc tập trận Wintex 75. Trong kế hoạch tổng thể của cuộc tập trận đã viết: “Các vụ đụng độ trên cạn, trên không và trên biển sẽ biện minh cho các nhà lãnh đạo chính trị của NATO đã cho phép sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật trước...”.

Đoạn trích này được tôi trích từ tài liệu mật 1710.3.2/14/7/S7/74 ngày 15 tháng 2 năm 1974 của NATO. Còn trong kế hoạch các đợt diễn tập tham mưu của NATO có tên Wintex-Simex 79 đã xây dựng một kịch bản chi tiết để chủ động tạo ra và khai mào một loạt các tình huống khủng hoảng trước khi chiến tranh bùng nổ. Kế hoạch này còn dự kiến việc gây áp lực đối với một số chính phủ với mục đích buộc các chính phủ này từ bỏ đường lối không liên kết hoặc quy chế trung lập.

Còn có một tài liệu “thú vị” khác được thông qua vào năm 1977. Trong tài liệu này, những quốc gia chủ chốt của khối xâm lược này đã thoả thuận về một thứ “phân cồn lao động” trong việc tiến hành các hoạt động khiêu khích để tạo ra các tình huống khủng hoảng. Các thành viên châu Âu của NATO nhận phần các nước xã hội chủ nghĩa, còn các thành viên ở châu Mỹ chịu trách nhiệm tổ chức các cuộc xung đột ở các nước đang phát triển.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32