CÂU CHUYỆN TÌNH BÁO 207
(ĐC sưu tầm trên NET)
Vào thời còn KGB khi phát giác được một tên gián điệp thì trên báo chí chỉ có vài dòng thông báo ngắn gọn. Không ai bình luận gì việc phát giác này, chẳng có bài báo nào được viết. Còn các nhân viên Cheka thì giữ im lặng. Người ta viện ra nào là lý do bảo đảm bí mật, khả năng áp dụng thủ pháp nghiệp vụ và các lý do chuyên môn thuần tuý khác để giải thích cho tất cả những điều đó.
Nếu tính đến thực tế là sự đối đầu giữa các cơ quan tình báo vẫn còn tiếp diễn trên thế giới thì trong cách giải thích đó cũng có lý. Phía chịu thất bại, hiển nhiên, là cố tìm nguyên nhân thất bại, đánh giá thiệt hại, áp dụng các giải pháp đối phó để giảm bớt các hậu quả tiêu cực. Bởi vậy, phía bên kia sẽ chả có lợi gì khi ngửa hết các con bài của mình, kể cả việc mô tả chi tiết các hoạt động của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Trong trường hợp của Vyacheslav Baranov, nhiều báo chí đã miêu tả dựa trên những tin tức rời rạc lấy từ các phiên xử kín và các hiểu biết cá nhân mà đôi khi rất xa vời chủ đầu của câu chuyện.
Các tin tức trên báo chí viết về việc vạch mặt tên gián điệp đã gây ra ở người Nga những phản ứng hoàn toàn trái ngược. Một số thì cho là Baranov đã bị xử quá nhẹ vì tội phản quốc. Những người khác thì ngược lại, cho là hình phạt là quá nặng với lý lẽ nguỵ biện là tên đại tá này đã đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản, muốn cứu gia đình và v.v.. Vấn đề chưa được rõ ràng là vai trò của Cục Tình báo Trung ương Mỹ CIA trong việc tuyển mộ điệp viên người Nga này. Lời lẽ mô tả bản thân sự kiện tuyển mộ cũng giống như một cuộc đấu giá nóng hổi - Baranov đã mất giá hay chưa.
Các bằng chứng thu được được trong quá trình truy tìm nghiệp vụ và điều tra đã được toà án công nhận là vững chắc và không thể chối cãi được. Bản thân bị cáo trong tất cả các giai đoạn tố tụng đã cư xử đúng đắn và có giúp đỡ nhiều trong quá trình điều tra. Sau khi xem xét tất cả các tình tiết, toà đã tính đến các tình tiết giảm nhẹ và kết án ở dưới mức giới hạn dưới. Trừ thời gian tạm giam ở Lefortovo để điều tra sơ bộ, Bararnov phải ngồi trong trại lao động cải tạo 4 năm rưỡi.
Không có những tên phản bội bẩm sinh, mà chỉ có những người sẽ trở thành phản bội. Chúng ta có thể nói phỏng theo một câu ngạn ngữ quen biết như thế. Vyacheslav sinh ra ở Magilyov. Thực tế từ 15 tuổi đã gắn số phận mình với quân đội. Đã tốt nghiệp trường quân sự Suvorov, sau đó tốt nghiệp cao đẳng quân sự Chernigov.
Ở đâu, Baranov cũng tỏ ra có năng lực khác người và ham hiểu biết. Hắn luôn có nguyện vọng lập được công danh. Hắn đọc nhiều, học thêm tiếng Anh. Trong phi đội, hắn đã được bầu làm bí thư chi bộ. Còn khi trung đoàn không quân có chỉ tiêu chọn người đi tại Học viện Ngoại giao Quân sự, nguời ta đã không tìm thấy sĩ quan nào xứng đáng hơn Baranov.
Việc học tập diễn ra xuôn xẻ. Người tình báo viên tương lai được đề bạt đều đặn, dễ dàng học hết năm học này sang năm học khác và triển vọng cực kỳ sáng sủa đã hiện lên trước mắt hắn.
Năm 1979, trước khi tốt nghiệp học viện, học viên Baranov đã phạm một khuyết điểm lớn là vi phạm nghiêm trọng chế độ bảo mật. Trong những năm ấy, bản thân việc kỷ luật do khuyết điểm là không đáng sợ bằng những hậu quả của khuyết điểm đó, nhất là đối với những người có nhiệm vụ hoạt động ở nước ngoài.
Trong 5 năm trời, Vyacheslav hết tiễn đi lại đón về các bạn từ nước ngoài và anh ta đã cố gắng một cách vô vọng nhằm xoá đi cái vết của người “không được xuất ngoại”. Các cấp chỉ huy cũng rất thông cảm, nhưng “đèn đỏ” đã làm tất cả họ phải bó tay. Mãi đến năm 1985, họ mới có “tư duy mới” và tháng 6 năm 1985, Baramov mới được cử đến một nước Đông Nam Á.
Vị tất 5 năm đó đã biến được viên sĩ quan Baranov thành tên phản bội. Nó không thể làm hư hỏng một con người đến thế được. Mà trả thù các cấp chỉ huy bằng cách làm hại nền an ninh của tổ quốc thì thậm chí đối với những người ít hiểu biết, cũng là không phải lẽ.
Aristotle đã nói, rằng tội ác chỉ cần có nguyên cớ. Trong trường hợp của chúng ta thì sự chờ đợi ở Moskva có thể là nguyên cớ, còn cơ sở của tội ác thì nên tìm ở chỗ khác. Đó là ở sự thay đổi đột biến các quan điểm chính trị và tư tưởng, quan điệm về bạn thù trong sự phân chia quái dị xã hội thành những kẻ rất giàu sang và những người rất khốn cùng, ở tình hình bất ổn và tương lai mù mịt. Sẽ không thừa nếu ta nhắc đến cả một số phẩm chất cá nhân của viên đại tá phản bội.
Tính tự cao tự đại thái quá đòi hỏi phải có những ưu đãi đặc biệt. Hắn quyết định lừa dối tất cả, bắt cá hai tay và đánh giá quá cao khả năng của mình. Tính ích kỷ đạo đức giả đã khiến hắn đứng giữa đồng đội và tưởng tượng ra hình ảnh một chiến sĩ trên mặt trận vô hình, đồng thời lại toan tính làm thế nào để cứu được mạng mình một khi “máy chém sẽ hoành hành” khắp đất nước. Thói hám lợi, ước vọng muốn giàu sang ngay tức khắc đã làm mờ mắt Baranov đến mức đến năm 1992 hắn vẫn chưa hiểu là hắn đang có những cơ hội thực sự lớn đến thế nào. Tổ quốc đã dạy dỗ hắn nên người, hắn trở thành một chuyên gia giỏi về quan hệ quốc tế, luật pháp, thành thạo nhiều ngoại ngữ. Hai chục “vé” mà hắn được trả để bán những bí mật của nước Nga cho người Mỹ, sẽ chẳng là gì so với số tiền mà hiện nay hắn có thể kiếm được bằng con đường chính đáng.
Và tất cả những điều vừa kể chính chỉ là tiền đề, là những viên đá tạo ra nền móng cho tên phản bội. Còn việc làm sao xếp cho đúng các viên đá đó, đổ xi măng và biến nó thành một khối lại là nhiệm vụ của các đồng nghiệp ở CIA.
Trong những năm 1990, người Mỹ đã hành xử trên hành tinh chúng ta như thể những ông vua. Họ chẳng khó khăn gì để có được sự cho phép hình thức của Liên Hiệp Quốc để sử dụng sức mạnh quân sự, dễ như trở bàn tay trong việc áp dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế nghiệt ngã nhất, tổ chức bao vây cấm vận, bắt buộc các nước phải quay lưng với bạn bè, vi phạm các nghĩa vụ đã cam kết... Do đó, ta cũng dễ dàng tưởng tượng ra điều gì đang diễn ra trên lĩnh vực đối kháng giữa các cơ quan tình báo và kẻ nào đang thống trị trên lĩnh vực đặc thù này.
Đã có bao giờ có chuyện nhân viên tình báo Mỹ Crocket, kẻ đã bị trục xuất khỏi Liên Xô vì liên hệ với tên phản bội Filatov lại dễ dàng bán các cuộc nói chuyện bí mật với Baranov và các đại diện Nga khác ở nước ngoài như thế không? Tôi không biết trong từ vựng ngoại giao cái đó được gọi là gì, còn trong tiếng Nga cái đó gọi là sự láo xược tột đỉnh.
Tóm lại thì người Mỹ đã lôi kéo Baranov, hứa hẹn ngon ngọt, sau đó hoặc là họ đã sử dụng không tốt, hoặc là đơn giản là họ vứt bỏ. Độc giả hẳn còn nhớ câu ngạn ngữ Nga “Gián điệp cũng như khúc củi, dùng xong thì vứt đi”. Làm sao mà hắn trở thành điệp viên Tony thì không ai có thể kể lại điều đó tốt hơn chính bản thân Baranov, còn chuyện hắn đã bại lộ cùng với các nhân viên CIA thì các nhân viên phản gián Nga, các nhân viên các đơn vị điều tra, kỹ thuật và chiến đấu của Bộ An ninh Nga cũ biết rất rõ.
“Một gói bưu kiện chứa nhiều tài liệu mật, được gói trong một mảnh vải thô, buộc chặt chẽ và đóng dấu xi đã được gửi đến một bộ tham mưu và tại Bộ Tổng tham mưu, các tài liệu đó đã được lấy ra khỏi gói bưu kiện mà dấu xi và dây buộc vẫn được giữ y nguyên. Thay vào các tài liệu đó, ở Bộ Tổng tham mưu người ta đã nhét các giấy tờ khác vào gói bưu kiện với dấu xi nguyên vẹn, sau đó bưu kiện đã được bảo vệ.
Khi thông báo tin này, Bộ Tổng tham mưu yêu cầu phải đặc biệt lưu ý đến việc đóng gói, gắn xi các bưu kiện có tài liệu mật sao cho các vết gắn xi nằm đúng trên đường khâu và nút buộc để người khác không thể mở các bưu kiện ấy mà không làm hỏng dấu xi”.
Tài liệu có một không hai này cho thấy: trong một thời gian dài trướcchiến tranh Nga-Nhật, trong Bộ Tổng tham mưu Nga đã có những “chuột chũi” ẩn náu và chúng đã trắng trợn moi ruột các bưu kiện chứa tài liệu mật mà “không làm suy xuyển dấu xi và mối buộc”. Chắc chắn là bọn chúng đã dùng dao cạo sắc cắt đường chỉ khâu, sau đó lấy tài liệu ra và thay vào đó là một mớ giấy lộn, xong đâu đó mảnh vải gói lại được khâu lại theo đúng đường chỉ cũ. Dấu xi vẫn nguyên vẹn...
Lúc đó đã nổ ra một vụ xì căng đan ầm ĩ đã nổ ra ở Nga mà “nhân vật chính” là đại uý Nikolai Ivanovich Ivcov. Tên này thường lấy trộm các chỉ thị và mệnh lệnh bí mật rồi bán cho trung tá gián điệp Nhật Bản Akashi. Cơ quan phản gián Nga đã phát giác ra Ivcov và tên này đã phải chịu hình phạt nghiêm khắc. Nhưng đáng tiếc là đã không bắt được ba tên phản bội khác. Bọn này đã gây ra những tổn thất lớn lao đối với lợi ích quốc gia của Nga ngay trước chiến tranh Nga-Nhật. Đó là các sĩ quan Aleksandr Fedorov, Vladimir Varsky và bá tước Igor Zelinsky.
Sau khi đã moi ruột không phải một bưu kiện như vậy, chúng mới nghĩ là phải bán cho ai đây? Phải tìm người mua ở đâu? Sau khi suy tính rất lâu, bộ ba này đã quyết định liên hệ với người Nhật. Nhờ một cơ hội ngẫu hợp, chúng đã gặp được ở Nhật Bản một đại diện cao cấp của nhóm đầu sỏ quân sự Nhật là nguyên soái Yamaguchi và ký một hợp đồng với ông ta. Theo hợp đồng thì mỗi tên phản bội có thể được trả “công” 50 triệu rúp. Thời bấy giờ, số tiền này quả một món tiền khổng lồ.
Nhưng Yamaguchi được sự chấp thuận của chính quyền Nhật đã không run tay ký hợp đồng này. Thứ nhất là vì tiền chỉ được trả nếu Nhật chiến thắng trong chiến tranh với Nga. Thứ hai là chỉ trả sau năm 1915.
Như ta đã biết, cuộc chiến tranh đã kết thúc với thất bại của Nga và nhiều người ở nước Nga đã tự hỏi: tại sao điều đó lại có thể xảy ra? Bọn Zelinsky, Fedorov và Varsky thì không tự hỏi như vậy. Chúng nóng lòng chờ đợi cái năm 1915. Cuối cùng thì thời hạn quy định trong hợp đồng đã đến, Zelinsky và Fedorov liền từ Nga lên đường sang Nhật thanh toán hợp đồng. Tại Nagasaki, chúng đã nhận được ba tấm séc trị giá 46 triệu Yên mỗi tờ. Bọn đánh quả này không phải là những kẻ ngu ngốc nên khi quay về Nga, chúng đã áp dụng những biện pháp đề phòng cần thiết. Khi phát hiện mình bị theo dõi, Varsky đã đưa tấn séc của mình cho Fedorov và chúng chia tay để mỗi tên đi một đường đến cảng. Nhưng do không thạo đường ở một thành phố xa lạ, không may Varsky đã bị lạc vào một ngõ tối. Lập tức vang lên hai tiếng súng và Varsky lăn ra chết. Tên này đã bị lục soát, nhưng người ta không tìm ra tấm séc.
Fedorov thì gặp may. Hắn đã đến được cảng an toàn và về được Nga. Sau đó trong vòng xoáy của cuộc nội chiến, hắn đã có mặt Odessa và chết ở đó vì bệnh sốt phát ban. Bản gốc của hợp đồng và hai tấm séc được một đàn bà họ hàng của hắn lưu giữ ở thành phố cảng này. Còn Zelinsky mang theo bản sao hợp đồng và tấm séc của mình (tấm séc thứ ba) đã khôn ngoan rời nước Nga đến Thuỵ Sĩ và mang tới các giấy tờ vào nhà băng ở đó. Người ta đã tiếp nhận những giấy tờ ấy, nhưng lại yêu cầu Zelensky xuất trình bản gốc. Thế là tên này chạy khắp thành phố Geneva yên tĩnh để tìm một luật sư có thể giúp hắn lấy được bản gốc ở Odessa có chữ ký của nguyên soái Yamaguchi.
Thế mà đã xảy ra điều không thể tưởng tượng nổi, bất kể sự hỗn loạn đang ngự trị khắp nước Nga, ý đồ của Zelinsky đã đạt được. Không chỉ bản gốc hợp đồng mà cả hai tấm séc kia đã được gửi từ Odessa sang cho hắn. Hắn vui sướng tột độ! Lập tức hắn đến ngân hàng Anh để nhận bạc triệu.
Nhưng tại đó, người ta khoát tay: “Chúng tôi không thể giúp gì được ông vì người Nhật từ chối trả tiền theo các tấm séc”. Zelensky phát đơn kiện. Trong quá trình điều tra của toà, cả sứ quán Nhật ở London lẫn nhà băng Nhật ở Tokyo đều không phủ nhận việc ký hợp đòng và trả séc, nhưng họ đã phủ nhận hiệu lực pháp lý của hợp đồng. Người Nhật đã lấy cớ rằng chữ ký của người đại diện cho phía họ không nằm ở phía dưới văn bản mà ở bên cạnh...
Cuối cùng toà đã bác đơn của một tên lừa đảo kiện một tên lừa đảo khác. Vậy là bá tước Zelinsky lâm vào cảnh trắng tay. Nhưng chuyện cũng không thể khác được - tội phản quốc nói cho cùng không bao giờ có thể “chuộc lại” được.
Việc chuẩn bị hoạt động phá hoại được giao cho Aleksei Grigorievich Orlov, người đã chữa bệnh tại Italia từ mùa thu năm 1768. Khi sống tại Pisa, thủ đô của công quốc Tuscany, Orlov đã lập tức liên hệ với người Hy Lạp, người Montenegro và người Albania. Công quốc có quan hệ hữu hảo với Nga này không những giành cho các tàu Nga sự ưu đãi ở các cảng của mình mà còn hỗ trợ cho hoạt động dũng cảm của Orlov. Aleksei Grigorievich đã quyết định tổ chức một cuộc khởi nghĩa đồng loạt của các dân tộc đã đấu tranh từ lâu cho độc lập ở các vùng khác nhau của đế quốc Ottoman rộng lớn. Các đơn vị đổ bộ được chở trên các tàu Nga có nhiệm vụ hỗ trợ, còn các sĩ quan Nga đã phải làm các cố vấn trong các đơn vị quân khởi nghĩa.
Trước khi bức thư nổi tiếng được ký, trong các báo cáo gửi Nữ hoàng Ekaterina, Orlov đã tỏ ý mong muốn đặt quan hệ với các quốc gia “trên vùng bờ man rợ” - Tripoli, Angiêri, Tunis, nơi mà quyền lực của quốc vương Thổ Nhĩ Kỳ thực tế chỉ là danh nghĩa.
Người ta đã không tiến hành được cuộc khởi nghĩa đồng loạt. Nhưng vào tháng 2 năm 1770, binh đoàn tàu của Đô đốc G.A. Spiridov đã đổ quân lên Itilon. ở Hy Lạp và Albania, nhân dân đã vùng lên chống lại ách đô hộ Thổ Nhĩ Kỳ. Quân Nga chiếm Mizitra và Navarin.
Quân Thổ không chịu để yên. Với sự giúp đỡ của các cố vấn quân sự Pháp, chúng đã tăng cường phòng thủ lối vào eo biển Dardamell từ phía biển Êgiê. Nhưng dù sao thì Dardanell cũng vẫn bị các binh đoàn tàu Nga hoạt động ở Đông Địa Trung Hải và biển Êgiê phong toả gây cản trở cho việc vẫn chuyển ngũ cốc từ vựa lúa chính của đế quốc Ottoman là Ai cập. Trong thời gian này, lực lượng Thổ đã bị phân tán đi bảo vệ vùng bờ biển. Ngày 26 tháng 7 năm 1770, hạm đội Nga đã đánh tan hạm đội Thổ Nhĩ Kỳ ở vịnh Chesmen.
Xét đến việc hạm đội Nga đã làm chủ hoàn toàn Địa Trung Hải, viên tổng trấn Thổ Nhĩ Kỳ ở Ai Cập là Ali Bey (1728-73) đã thực sự nghĩ đến khả năng tuyên bố Ai Cập độc lập tách khỏi với đế quốc Ottoman.
Ali Bey xuất thân từ Abkhazia (Kapkaz), sinh năm 1728 trong một gia đình tu sĩ. 13 tuổi bị bắt cóc và bán cho thủ lĩnh người Mameluke là Ibrahim Cathoda. Cậu bé được người ta cho nhập đạo Hồi và đổi tên thành Ali Bey.
Trong thời gian này cai trị Ai Cập trên thực tế không chỉ là viên quan đại diện của quốc vương, tức Pasha (Tổng trấn) mà còn có cả Divan bao gồm 24 thủ lĩnh của người Mameluke, các tỉnh trưởng các tỉnh của Ai Cập. Người đứng đầu được bầu ra của các thủ lĩnh, hay shah al-baljad, đã phế bỏ nhiều lần, thậm chí đuổi khỏi Cairô các quan đại diện của quốc vương Thổ.
Từ năm 1744, shah al-baljad là ông Ibrahim Cathoda, cũng là người vùng Kavkaz. Thủ lĩnh Ali Bey tài năng và dũng cảm đã nhanh chóng trở thành cánh tay phải của ông.
Năm 1763, Ali Bey đã giữ chức vụ của người đỡ đầu mình, nhưng 2 năm sau đã buộc phải chạy sang Syria và ở đó đã kết bạn với lãnh chúa vùng Galilee và Aqqui Dager Omar.
Năm 1776, Ali Bey quay lại nắm quyền. Nhiều bạn chiến đấu của Ali Bey là người Gruzia, Cherkes và Abkhazia đã biết rất rõ sự ủng hộ mà nước Nga dành cho các dân tộc mình trong cuộc đấu tranh vì độclập. Lúc đó, Ali Bey đã quyết định thiết lập quan hệ với cường quốc Nga vĩ đại để đảm bảo nền độc lập của Ai Cập.
Khi chiến tranh Nga Thổ bắt đầu, Ali Bey đã nhận được lệnh của quốc vương Thổ yêu cầu trang bị và gửi 12 quân đến để giúp quân Thổ. Những cừu nhân của Ali Bey đã tố cáo với quốc vương Thổ là Ali Bey đang thành lập quân đội không phải là để giúp đỡ đế quốc Ottoman mà là để đánh nó từ sau lưng. Quốc vương Thổ hạ lệnh phải mang đến cho ông ta thủ cấp của tên phản nghịch. Nhưng người của Ali Bey đã cướp được lệnh đó. Bây giờ thì Ali Bey không còn lối thoát nào khác ngoài việc tuyên bố độc lập. Quan tổng trấn Thổ bị đuổi khỏi Ai Cập và người ta bắt đầu đúc lấy đồng tiền của mình.
Là một chính trị gia thông minh và tinh tế, Ali Bey đã hiểu là muốn chiến thắng trong cuộc chiến đấu với quân Thổ thì phải cần đoàn kết được tất cả các lực lượng chống Thổ. Vì thế mà ông đã liên minh không chỉ với người Arập mà cả với người Venice. Và mùa xuân 1771, ông đã gửi đến bộ chỉ huy hạm đội Nga trên đảo Paros một thủ hạ thân tín là Yakov người Armenia. Về công khai thì Yakov có nhiệm vụ tìm hiểu vụ rắc rối khi một tàu Nga đã chiếm giữ các tàu chở gạo chở cho đồng minh Syria. Hiển nhiên là họ coi gạo này là của Thổ. Đồng thời, Ali Bey đã qua Yakov gửi một bức thư cho A.G. Orlov. Ali Bey bày tỏ “nguyện vọng muốn ký một hiệp ước liên minh vĩnh viễn với Nữ hoàng Nga và cùng chống lại những kẻ thù chung của họ” và đề nghị bá tước Orlov trang bị cho hạm đội và quân lính của ông ta lương thực và tiền bạc một khi ông bị thiếu. Thực ra thì để gặp được Orlov, Yakov đã phải đến tận Livorno. Orlov hứa sẽ chuyển thư tới Nữ hoàng Nga và khi cần thiết sẽ ra tay giúp đỡ người cầm quyền Ai Cập.
Tháng 12 năm 1771, thêm một nhân vật thân tín nữa, bộ trưởng thứ nhất của Ali Bey, cựu thương gia người Venice là Rosseti đã đến Paros. Ali Bey xin Đô đốc Spiridov chiếm cho Ai Cập đảo Sip. Đô đốc vẫn chờ đợi. Chúng ta không được biết nội dung câu trả lời của ông, nhưng rõ ràng là cả hai bên đã rất dè chừng nhau. Mùa xuân năm sau, sự phản bội kinh tởm của tổng tư lệnh Ismail Bey và con nuôi Abu-al-Dhahab đã buộc Ali Bey cùng với 7 ngàn lính Marmeluke trung thành và bạn bè phải rút khỏi Cairô. Trước đó, Ali Bey lại cử Yakov người Armenia đến đảo Paros để “trình bày tình thế của mình và xin giúp đỡ”.
Cuối tháng 5 năm 1772, một phân hạm đội Nga do tướng tuỳ giá Georgia Rizo chỉ huy đã được phái đến bời biển Syria để giúp Ali Bey.
Các sứ giả của Ali Bey đã đến thăm các tàu Nga đang đậu ở Jaffa để báo tin là các đơn vị của chủ nhân họ và Dager Omar đang bị đạo quân Thổ 30 ngàn quân vây hãm ở Saida. 3 tàu nhỏ của Nga được cử ngay đến đó. Chúng đã bất thần xuất hiện, buộc 11 tàu Thổ phải rút chạy khỏi cảng họ và bắn phá doanh trại địch. Đồng thời, Ali Bey tiến đánh quân Thổ trên bộ buộc quân Thổ phải rút chạy sau khi bị tổn thất 1/3 lực lượng.
Hạm đội Nga và quân đội của Ali Bey đã bắt đầu phối hợp tác chiến với nhau như vậy. Trong một thời gian dài, sứ giả của Ali Bey là viên cận thần thân tín Giulphikar, người đã được binh đoàn tàu của tướng Rizo chở đến Paros. Mãi đến ngày 29 tháng 8 năm 1772, Giulphikar mới trở về trên chiếc tàu vận tải Tartar của Nga. Chiếc tàu Tartar treo cờ Anh và do một thuyền trưởng người Anh chỉ huy. Cùng với Giulphikar, trên tàu còn có Yakov người Armenia, đại uý kỵ binh Kligenau và trung uý hải quân Nga Sergey Pleshcheyev. Thế là ông đã bắt đầu bước lên sân khấu. Viên trung uý chỉ mới 20 tuổi, nhưng lại có thừa kinh nghiệm và sự quả cảm. Vào năm 1765, anh là một trong những học viên võ bị xuất sắc nhất của trường võ bị hải quân được cử đến Anh không chỉ để thực tập nghề đi biển mà cả học tiếng Anh. Pleshcheyev đã làm việc trên các tàu của hạm đội Anh cho đến cuối 1770 và đã tinh thông cả nghề đi biển lẫn tiếng Anh không kém bất kỳ người Anh nào.
Tại London, anh chuyển sang các tàu Nga thuộc binh đoàn tàu viễn chinh đến quần đảo Ion.
Giulphikar mang theo lá thư của Aleksei Orlov gửi Ali Bey, còn Pleshcheyev và Kligenau thì phải chuyển cho quốc vương Ai Cập 3 khẩu pháo 4 funtt, 8 thùng thuốc súng, 500 quả đạn và 3 càng pháo.
Ngày 7 tháng 9, Ali Bey vui mừng chào đón các sĩ quan Nga trong hành dinh dã chiến của mình ở thành Jaffa dang bị vây hãm. Lúc này, Ali Bey rất hy vọng vào sự giúp đỡ của nước Nga. Trong cuốn nhật ký của mình “Ghi chép hàng ngày trên đường đi từ đảo Paros của quần đảo (Ion) thuộc Nga đến Syria và đến các địa danh đáng nhớ trong địa hạt Jerusalem, cùng với thời kỳ ngắn những thành tựu của Ali Bey”, Sergey Ivavanov Pleshcheyev đã viết: “Nhiều người đã đến hỏi: Số tàu Nga còn lại sẽ đến nhanh chứ và số lượng chúng là bao nhiêu? Theo yêu cầu của thủ lĩnh, chúng tôi trả lời rằng, nếu gió thuận thì đã có một đoàn chiến hạm đông đảo theo sau chúng tôi sự cho chúng ta; lúc đó thì chỉ có những lời phao đồn, còn sự thật ra sao rồi thì nhân dân nhất định sẽ cố hiểu ra”.
Sứ mạng người thuỷ thủ này thật đặc biệt. Anh có trách nhiệm tìm hiểu thực trạng của quân đội của Ali Bey và các đồng minh của ông. Đó cũng là nhiệm vụ bí mật mà Aleksei Grigorievich Orlov giao cho. Vì khi đó đang có lệnh ngừng bắn với Thổ, nên Sergey Pleshcheyev đã giả làm người cho Anh, một việc quá dễ với anh.
Nhưng viên trung uý hải quân không chỉ phải thực hiện nhiệm vụ của một tình báo viên. Ali Bey yêu cầu anh áp dụng mọi nguyên tắc nghệ thuật quân sự để lên kế hoạch công phá Jaffa mà hai tháng vây hãm vô hiệu đã làm nản lòng quân sĩ. Pleshcheyev và Klingenau đề xuất với Ali Bey tiến hành công phá Jaffa đồng thời cả trên bộ và từ biển. Ngày 13 tháng 9, người thuỷ thủ kiêm tình báo viên Nga đã nhận lệnh chỉ huy 3 chiến hạm mà Dager Omar chi viện cho Ali Bey. Kiligenau ra lệnh cho toàn bộ pháo binh bắn thủng bức tường của thành phố. Mặc dù Ali Bey đã cực kỳ dũng cảm, “đích thân chạy khắp nơi với khẩu súng trường trong tay” nhưng trận đánh vẫn thất bại. Còn ngày hôm sau, một viên đạn lạc đã giết chết Kligenau trong pháo đài.
Mười ngày sau, Pleshcheyev từ giã Ali Bey và sau khi ghé thăm Jerusalem, đã trở về Paros. Ali Bey gửi anh mang đi hai lá thư: một cho G.A. Orlov “dù sao cũng cảm ơn ông đã ủng hộ”, còn lá thứ kia được gửi cho Nữ hoàng Ekaterina xin giúp đỡ. Các lá thư này được Sergey Ivanovich Pleshcheyev và đặc sứ của Ali Bey là Suleiman Kiagaya đem đi.
Thành Jaffa mà viên trung uý Nga từng tham gia công phá đã đã thất thủ ngày 1 tháng 2 năm 1773, nhưng số phận của Ali Bey, người mà sau đó đã được một đội tàu Nga chở quân đổ bộ dưới quyền đại uý Kozhukhov chỉ huy đến hỗ trợ, đã kết thúc thật bi thảm.
Tên Abu-al-Dhahab nham hiểm hứa trả lại quyền cai trị Ai Cập, và Ali Bey đã chỉ đem theo hai ngàn kỵ binh tiến về Cairô. Dager Omar thì vẫn ở lại Syria. Ngày 13 tháng 4 năm 1773, Ali Bey bị trọng thương và bị bắt trong trận đánh với Abu-al-Dhahab tại Salahje. Thủ cấp của Ali Bey bị chặt và gửi về Istalbun. Than ôi! Viện binh của Nga đã quá chậm chân.
Nhà tình báo trên biển Segey Pleshcheyev đã mô tả tỷ mỷ hành trình của mình với những câu chuyện về các thành phố, hải cảng, về thương mại, về các công trình phòng thủ của Syria và Palestine.
Một năm sau, cuốn nhật ký đã nêu trên của nhà tình báo Nga đã được xuất bản tại St. Petersburg và được in ở Riga bằng tiếng Đức vào năm 1773.
Năm 1775, tình báo viên can trường này đã có chuyến công tác ở Constantinople trong thành phần sứ quán của Repnin. Trong thời gian làm việc ở sứ quán, Pleshcheyev đã tính toán ghi chép và đo đạc eo biển Dardanell và sau đó đã mô tả các thành phố pháo đài Sinop và Trapezund.
Sau đó, viên sỹ quan hải quân Nga này đã tiếp tục công việc mà Lomonosov đã khởi xướng trong lĩnh vực địa lý, đã kết thân với nhà khai sáng Novikov và năm 1786 đã xuất bản cuốn sách rất nổi tiếng “Tổng quan hiện trạng đế quốc Nga”. Tác phẩm này đã được tái bản nhiều lần và đã được dịch sang tiếng Pháp và tiếng Đức.
Kinh nghiệm của một tình báo viên cũng rất hữu ích với Pleshcheyev-nhà địa lý. Ông cũng đã dịch từ tiếng Anh sang tiếng Nga những ký sự về chuyến đi của Huân tước Baltimore từ Constantinople đến qua Rumelia. Vùng Rumelia vào thế kỷ XVII-XVIII gồm có Bungaria, Serbia, Albania, Macedonia, Epirus và Phessalia bị Thổ Nhĩ Kỳ chiếm đóng. Cuốn sách mang đậm tính cẩm nang tra cứu này đã được tình báo viên hải quân đưa thêm một loạt những hiệu đính, bổ sung và ghi chú. Bản dịch này cũng đã được xuất bản nhiều lần.
Nhà đi biển kiêm tình báo viên Pleshcheyev đã qua đời 1822.
Điệp viên thế kỷ XX: Tên phản bội mang quân hàm đại tá GRU
VietnamDefence -
Tính tự cao tự đại thái quá đòi
hỏi phải có những ưu đãi đặc biệt. Baranov quyết định lừa dối tất cả,
bắt cá hai tay và đánh giá quá cao khả năng của mình.
Làm thế nào mà một viên đại tá Nga trở thành điệp viên Tony
Ngày
17 tháng 12 năm 1993, Toà quân sự-Toà án Tối cao Liên bang Nga kết án
giam giữ 6 năm đối với đại tá V. Baranov, cựu nhân viên Tổng cục Tình
báo Bộ Tổng tham mưu GRU vì tội phản quốc vì đã hoạt động gián điệp cho
tình báo Mỹ.Vào thời còn KGB khi phát giác được một tên gián điệp thì trên báo chí chỉ có vài dòng thông báo ngắn gọn. Không ai bình luận gì việc phát giác này, chẳng có bài báo nào được viết. Còn các nhân viên Cheka thì giữ im lặng. Người ta viện ra nào là lý do bảo đảm bí mật, khả năng áp dụng thủ pháp nghiệp vụ và các lý do chuyên môn thuần tuý khác để giải thích cho tất cả những điều đó.
Nếu tính đến thực tế là sự đối đầu giữa các cơ quan tình báo vẫn còn tiếp diễn trên thế giới thì trong cách giải thích đó cũng có lý. Phía chịu thất bại, hiển nhiên, là cố tìm nguyên nhân thất bại, đánh giá thiệt hại, áp dụng các giải pháp đối phó để giảm bớt các hậu quả tiêu cực. Bởi vậy, phía bên kia sẽ chả có lợi gì khi ngửa hết các con bài của mình, kể cả việc mô tả chi tiết các hoạt động của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Trong trường hợp của Vyacheslav Baranov, nhiều báo chí đã miêu tả dựa trên những tin tức rời rạc lấy từ các phiên xử kín và các hiểu biết cá nhân mà đôi khi rất xa vời chủ đầu của câu chuyện.
Các tin tức trên báo chí viết về việc vạch mặt tên gián điệp đã gây ra ở người Nga những phản ứng hoàn toàn trái ngược. Một số thì cho là Baranov đã bị xử quá nhẹ vì tội phản quốc. Những người khác thì ngược lại, cho là hình phạt là quá nặng với lý lẽ nguỵ biện là tên đại tá này đã đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản, muốn cứu gia đình và v.v.. Vấn đề chưa được rõ ràng là vai trò của Cục Tình báo Trung ương Mỹ CIA trong việc tuyển mộ điệp viên người Nga này. Lời lẽ mô tả bản thân sự kiện tuyển mộ cũng giống như một cuộc đấu giá nóng hổi - Baranov đã mất giá hay chưa.
Các bằng chứng thu được được trong quá trình truy tìm nghiệp vụ và điều tra đã được toà án công nhận là vững chắc và không thể chối cãi được. Bản thân bị cáo trong tất cả các giai đoạn tố tụng đã cư xử đúng đắn và có giúp đỡ nhiều trong quá trình điều tra. Sau khi xem xét tất cả các tình tiết, toà đã tính đến các tình tiết giảm nhẹ và kết án ở dưới mức giới hạn dưới. Trừ thời gian tạm giam ở Lefortovo để điều tra sơ bộ, Bararnov phải ngồi trong trại lao động cải tạo 4 năm rưỡi.
Không có những tên phản bội bẩm sinh, mà chỉ có những người sẽ trở thành phản bội. Chúng ta có thể nói phỏng theo một câu ngạn ngữ quen biết như thế. Vyacheslav sinh ra ở Magilyov. Thực tế từ 15 tuổi đã gắn số phận mình với quân đội. Đã tốt nghiệp trường quân sự Suvorov, sau đó tốt nghiệp cao đẳng quân sự Chernigov.
Ở đâu, Baranov cũng tỏ ra có năng lực khác người và ham hiểu biết. Hắn luôn có nguyện vọng lập được công danh. Hắn đọc nhiều, học thêm tiếng Anh. Trong phi đội, hắn đã được bầu làm bí thư chi bộ. Còn khi trung đoàn không quân có chỉ tiêu chọn người đi tại Học viện Ngoại giao Quân sự, nguời ta đã không tìm thấy sĩ quan nào xứng đáng hơn Baranov.
Việc học tập diễn ra xuôn xẻ. Người tình báo viên tương lai được đề bạt đều đặn, dễ dàng học hết năm học này sang năm học khác và triển vọng cực kỳ sáng sủa đã hiện lên trước mắt hắn.
Năm 1979, trước khi tốt nghiệp học viện, học viên Baranov đã phạm một khuyết điểm lớn là vi phạm nghiêm trọng chế độ bảo mật. Trong những năm ấy, bản thân việc kỷ luật do khuyết điểm là không đáng sợ bằng những hậu quả của khuyết điểm đó, nhất là đối với những người có nhiệm vụ hoạt động ở nước ngoài.
Trong 5 năm trời, Vyacheslav hết tiễn đi lại đón về các bạn từ nước ngoài và anh ta đã cố gắng một cách vô vọng nhằm xoá đi cái vết của người “không được xuất ngoại”. Các cấp chỉ huy cũng rất thông cảm, nhưng “đèn đỏ” đã làm tất cả họ phải bó tay. Mãi đến năm 1985, họ mới có “tư duy mới” và tháng 6 năm 1985, Baramov mới được cử đến một nước Đông Nam Á.
Vị tất 5 năm đó đã biến được viên sĩ quan Baranov thành tên phản bội. Nó không thể làm hư hỏng một con người đến thế được. Mà trả thù các cấp chỉ huy bằng cách làm hại nền an ninh của tổ quốc thì thậm chí đối với những người ít hiểu biết, cũng là không phải lẽ.
Aristotle đã nói, rằng tội ác chỉ cần có nguyên cớ. Trong trường hợp của chúng ta thì sự chờ đợi ở Moskva có thể là nguyên cớ, còn cơ sở của tội ác thì nên tìm ở chỗ khác. Đó là ở sự thay đổi đột biến các quan điểm chính trị và tư tưởng, quan điệm về bạn thù trong sự phân chia quái dị xã hội thành những kẻ rất giàu sang và những người rất khốn cùng, ở tình hình bất ổn và tương lai mù mịt. Sẽ không thừa nếu ta nhắc đến cả một số phẩm chất cá nhân của viên đại tá phản bội.
Tính tự cao tự đại thái quá đòi hỏi phải có những ưu đãi đặc biệt. Hắn quyết định lừa dối tất cả, bắt cá hai tay và đánh giá quá cao khả năng của mình. Tính ích kỷ đạo đức giả đã khiến hắn đứng giữa đồng đội và tưởng tượng ra hình ảnh một chiến sĩ trên mặt trận vô hình, đồng thời lại toan tính làm thế nào để cứu được mạng mình một khi “máy chém sẽ hoành hành” khắp đất nước. Thói hám lợi, ước vọng muốn giàu sang ngay tức khắc đã làm mờ mắt Baranov đến mức đến năm 1992 hắn vẫn chưa hiểu là hắn đang có những cơ hội thực sự lớn đến thế nào. Tổ quốc đã dạy dỗ hắn nên người, hắn trở thành một chuyên gia giỏi về quan hệ quốc tế, luật pháp, thành thạo nhiều ngoại ngữ. Hai chục “vé” mà hắn được trả để bán những bí mật của nước Nga cho người Mỹ, sẽ chẳng là gì so với số tiền mà hiện nay hắn có thể kiếm được bằng con đường chính đáng.
Và tất cả những điều vừa kể chính chỉ là tiền đề, là những viên đá tạo ra nền móng cho tên phản bội. Còn việc làm sao xếp cho đúng các viên đá đó, đổ xi măng và biến nó thành một khối lại là nhiệm vụ của các đồng nghiệp ở CIA.
Trong những năm 1990, người Mỹ đã hành xử trên hành tinh chúng ta như thể những ông vua. Họ chẳng khó khăn gì để có được sự cho phép hình thức của Liên Hiệp Quốc để sử dụng sức mạnh quân sự, dễ như trở bàn tay trong việc áp dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế nghiệt ngã nhất, tổ chức bao vây cấm vận, bắt buộc các nước phải quay lưng với bạn bè, vi phạm các nghĩa vụ đã cam kết... Do đó, ta cũng dễ dàng tưởng tượng ra điều gì đang diễn ra trên lĩnh vực đối kháng giữa các cơ quan tình báo và kẻ nào đang thống trị trên lĩnh vực đặc thù này.
Đã có bao giờ có chuyện nhân viên tình báo Mỹ Crocket, kẻ đã bị trục xuất khỏi Liên Xô vì liên hệ với tên phản bội Filatov lại dễ dàng bán các cuộc nói chuyện bí mật với Baranov và các đại diện Nga khác ở nước ngoài như thế không? Tôi không biết trong từ vựng ngoại giao cái đó được gọi là gì, còn trong tiếng Nga cái đó gọi là sự láo xược tột đỉnh.
Tóm lại thì người Mỹ đã lôi kéo Baranov, hứa hẹn ngon ngọt, sau đó hoặc là họ đã sử dụng không tốt, hoặc là đơn giản là họ vứt bỏ. Độc giả hẳn còn nhớ câu ngạn ngữ Nga “Gián điệp cũng như khúc củi, dùng xong thì vứt đi”. Làm sao mà hắn trở thành điệp viên Tony thì không ai có thể kể lại điều đó tốt hơn chính bản thân Baranov, còn chuyện hắn đã bại lộ cùng với các nhân viên CIA thì các nhân viên phản gián Nga, các nhân viên các đơn vị điều tra, kỹ thuật và chiến đấu của Bộ An ninh Nga cũ biết rất rõ.
Điệp viên thế kỷ XX: Nhật Bản không chi một xu cho gián điệp
VietnamDefence -
Kẻ cắp gặp bà già.
Ngày 30 tháng 9 năm
1900, Phòng Động viên của Bộ Tổng tham mưu Nga đã gửi công văn mật cho
tham mưu trưởng quân khu Vilensky báo tin:“Một gói bưu kiện chứa nhiều tài liệu mật, được gói trong một mảnh vải thô, buộc chặt chẽ và đóng dấu xi đã được gửi đến một bộ tham mưu và tại Bộ Tổng tham mưu, các tài liệu đó đã được lấy ra khỏi gói bưu kiện mà dấu xi và dây buộc vẫn được giữ y nguyên. Thay vào các tài liệu đó, ở Bộ Tổng tham mưu người ta đã nhét các giấy tờ khác vào gói bưu kiện với dấu xi nguyên vẹn, sau đó bưu kiện đã được bảo vệ.
Khi thông báo tin này, Bộ Tổng tham mưu yêu cầu phải đặc biệt lưu ý đến việc đóng gói, gắn xi các bưu kiện có tài liệu mật sao cho các vết gắn xi nằm đúng trên đường khâu và nút buộc để người khác không thể mở các bưu kiện ấy mà không làm hỏng dấu xi”.
Tài liệu có một không hai này cho thấy: trong một thời gian dài trướcchiến tranh Nga-Nhật, trong Bộ Tổng tham mưu Nga đã có những “chuột chũi” ẩn náu và chúng đã trắng trợn moi ruột các bưu kiện chứa tài liệu mật mà “không làm suy xuyển dấu xi và mối buộc”. Chắc chắn là bọn chúng đã dùng dao cạo sắc cắt đường chỉ khâu, sau đó lấy tài liệu ra và thay vào đó là một mớ giấy lộn, xong đâu đó mảnh vải gói lại được khâu lại theo đúng đường chỉ cũ. Dấu xi vẫn nguyên vẹn...
Lúc đó đã nổ ra một vụ xì căng đan ầm ĩ đã nổ ra ở Nga mà “nhân vật chính” là đại uý Nikolai Ivanovich Ivcov. Tên này thường lấy trộm các chỉ thị và mệnh lệnh bí mật rồi bán cho trung tá gián điệp Nhật Bản Akashi. Cơ quan phản gián Nga đã phát giác ra Ivcov và tên này đã phải chịu hình phạt nghiêm khắc. Nhưng đáng tiếc là đã không bắt được ba tên phản bội khác. Bọn này đã gây ra những tổn thất lớn lao đối với lợi ích quốc gia của Nga ngay trước chiến tranh Nga-Nhật. Đó là các sĩ quan Aleksandr Fedorov, Vladimir Varsky và bá tước Igor Zelinsky.
Sau khi đã moi ruột không phải một bưu kiện như vậy, chúng mới nghĩ là phải bán cho ai đây? Phải tìm người mua ở đâu? Sau khi suy tính rất lâu, bộ ba này đã quyết định liên hệ với người Nhật. Nhờ một cơ hội ngẫu hợp, chúng đã gặp được ở Nhật Bản một đại diện cao cấp của nhóm đầu sỏ quân sự Nhật là nguyên soái Yamaguchi và ký một hợp đồng với ông ta. Theo hợp đồng thì mỗi tên phản bội có thể được trả “công” 50 triệu rúp. Thời bấy giờ, số tiền này quả một món tiền khổng lồ.
Nhưng Yamaguchi được sự chấp thuận của chính quyền Nhật đã không run tay ký hợp đồng này. Thứ nhất là vì tiền chỉ được trả nếu Nhật chiến thắng trong chiến tranh với Nga. Thứ hai là chỉ trả sau năm 1915.
Như ta đã biết, cuộc chiến tranh đã kết thúc với thất bại của Nga và nhiều người ở nước Nga đã tự hỏi: tại sao điều đó lại có thể xảy ra? Bọn Zelinsky, Fedorov và Varsky thì không tự hỏi như vậy. Chúng nóng lòng chờ đợi cái năm 1915. Cuối cùng thì thời hạn quy định trong hợp đồng đã đến, Zelinsky và Fedorov liền từ Nga lên đường sang Nhật thanh toán hợp đồng. Tại Nagasaki, chúng đã nhận được ba tấm séc trị giá 46 triệu Yên mỗi tờ. Bọn đánh quả này không phải là những kẻ ngu ngốc nên khi quay về Nga, chúng đã áp dụng những biện pháp đề phòng cần thiết. Khi phát hiện mình bị theo dõi, Varsky đã đưa tấn séc của mình cho Fedorov và chúng chia tay để mỗi tên đi một đường đến cảng. Nhưng do không thạo đường ở một thành phố xa lạ, không may Varsky đã bị lạc vào một ngõ tối. Lập tức vang lên hai tiếng súng và Varsky lăn ra chết. Tên này đã bị lục soát, nhưng người ta không tìm ra tấm séc.
Fedorov thì gặp may. Hắn đã đến được cảng an toàn và về được Nga. Sau đó trong vòng xoáy của cuộc nội chiến, hắn đã có mặt Odessa và chết ở đó vì bệnh sốt phát ban. Bản gốc của hợp đồng và hai tấm séc được một đàn bà họ hàng của hắn lưu giữ ở thành phố cảng này. Còn Zelinsky mang theo bản sao hợp đồng và tấm séc của mình (tấm séc thứ ba) đã khôn ngoan rời nước Nga đến Thuỵ Sĩ và mang tới các giấy tờ vào nhà băng ở đó. Người ta đã tiếp nhận những giấy tờ ấy, nhưng lại yêu cầu Zelensky xuất trình bản gốc. Thế là tên này chạy khắp thành phố Geneva yên tĩnh để tìm một luật sư có thể giúp hắn lấy được bản gốc ở Odessa có chữ ký của nguyên soái Yamaguchi.
Thế mà đã xảy ra điều không thể tưởng tượng nổi, bất kể sự hỗn loạn đang ngự trị khắp nước Nga, ý đồ của Zelinsky đã đạt được. Không chỉ bản gốc hợp đồng mà cả hai tấm séc kia đã được gửi từ Odessa sang cho hắn. Hắn vui sướng tột độ! Lập tức hắn đến ngân hàng Anh để nhận bạc triệu.
Nhưng tại đó, người ta khoát tay: “Chúng tôi không thể giúp gì được ông vì người Nhật từ chối trả tiền theo các tấm séc”. Zelensky phát đơn kiện. Trong quá trình điều tra của toà, cả sứ quán Nhật ở London lẫn nhà băng Nhật ở Tokyo đều không phủ nhận việc ký hợp đòng và trả séc, nhưng họ đã phủ nhận hiệu lực pháp lý của hợp đồng. Người Nhật đã lấy cớ rằng chữ ký của người đại diện cho phía họ không nằm ở phía dưới văn bản mà ở bên cạnh...
Cuối cùng toà đã bác đơn của một tên lừa đảo kiện một tên lừa đảo khác. Vậy là bá tước Zelinsky lâm vào cảnh trắng tay. Nhưng chuyện cũng không thể khác được - tội phản quốc nói cho cùng không bao giờ có thể “chuộc lại” được.
Điệp viên thế kỷ XX: Thuỷ thủ kiêm tình báo viên Sergey Pleshcheyev
VietnamDefence -
Trong thời gian chiến tranh
Nga-Thổ (1768-1774), Nga đã quyết định phái đến Địa Trung Hải các chiến
hạm để tác chiến trên các tuyến giao thông của Thổ, bắn phá các đồn binh
ven biển, thu hút một phần lực lượng bộ binh và hải quân của địch từ
các hướng Danuyp và Crime.
Như đã nói trong
thư của Nữ hoàng Ekaterina ngày 29 tháng 1 năm 1769, mục tiêu của cuộc
viễn chinh là “thực hiện các hành động phá hoại lớn từ phía Hy Lạp, trên
đất liền cũng như trên các đảo của Quần đảo”. Quần đảo ở đây là chỉ
quần đảo Ion.Việc chuẩn bị hoạt động phá hoại được giao cho Aleksei Grigorievich Orlov, người đã chữa bệnh tại Italia từ mùa thu năm 1768. Khi sống tại Pisa, thủ đô của công quốc Tuscany, Orlov đã lập tức liên hệ với người Hy Lạp, người Montenegro và người Albania. Công quốc có quan hệ hữu hảo với Nga này không những giành cho các tàu Nga sự ưu đãi ở các cảng của mình mà còn hỗ trợ cho hoạt động dũng cảm của Orlov. Aleksei Grigorievich đã quyết định tổ chức một cuộc khởi nghĩa đồng loạt của các dân tộc đã đấu tranh từ lâu cho độc lập ở các vùng khác nhau của đế quốc Ottoman rộng lớn. Các đơn vị đổ bộ được chở trên các tàu Nga có nhiệm vụ hỗ trợ, còn các sĩ quan Nga đã phải làm các cố vấn trong các đơn vị quân khởi nghĩa.
Trước khi bức thư nổi tiếng được ký, trong các báo cáo gửi Nữ hoàng Ekaterina, Orlov đã tỏ ý mong muốn đặt quan hệ với các quốc gia “trên vùng bờ man rợ” - Tripoli, Angiêri, Tunis, nơi mà quyền lực của quốc vương Thổ Nhĩ Kỳ thực tế chỉ là danh nghĩa.
Người ta đã không tiến hành được cuộc khởi nghĩa đồng loạt. Nhưng vào tháng 2 năm 1770, binh đoàn tàu của Đô đốc G.A. Spiridov đã đổ quân lên Itilon. ở Hy Lạp và Albania, nhân dân đã vùng lên chống lại ách đô hộ Thổ Nhĩ Kỳ. Quân Nga chiếm Mizitra và Navarin.
Quân Thổ không chịu để yên. Với sự giúp đỡ của các cố vấn quân sự Pháp, chúng đã tăng cường phòng thủ lối vào eo biển Dardamell từ phía biển Êgiê. Nhưng dù sao thì Dardanell cũng vẫn bị các binh đoàn tàu Nga hoạt động ở Đông Địa Trung Hải và biển Êgiê phong toả gây cản trở cho việc vẫn chuyển ngũ cốc từ vựa lúa chính của đế quốc Ottoman là Ai cập. Trong thời gian này, lực lượng Thổ đã bị phân tán đi bảo vệ vùng bờ biển. Ngày 26 tháng 7 năm 1770, hạm đội Nga đã đánh tan hạm đội Thổ Nhĩ Kỳ ở vịnh Chesmen.
Xét đến việc hạm đội Nga đã làm chủ hoàn toàn Địa Trung Hải, viên tổng trấn Thổ Nhĩ Kỳ ở Ai Cập là Ali Bey (1728-73) đã thực sự nghĩ đến khả năng tuyên bố Ai Cập độc lập tách khỏi với đế quốc Ottoman.
Ali Bey xuất thân từ Abkhazia (Kapkaz), sinh năm 1728 trong một gia đình tu sĩ. 13 tuổi bị bắt cóc và bán cho thủ lĩnh người Mameluke là Ibrahim Cathoda. Cậu bé được người ta cho nhập đạo Hồi và đổi tên thành Ali Bey.
Trong thời gian này cai trị Ai Cập trên thực tế không chỉ là viên quan đại diện của quốc vương, tức Pasha (Tổng trấn) mà còn có cả Divan bao gồm 24 thủ lĩnh của người Mameluke, các tỉnh trưởng các tỉnh của Ai Cập. Người đứng đầu được bầu ra của các thủ lĩnh, hay shah al-baljad, đã phế bỏ nhiều lần, thậm chí đuổi khỏi Cairô các quan đại diện của quốc vương Thổ.
Từ năm 1744, shah al-baljad là ông Ibrahim Cathoda, cũng là người vùng Kavkaz. Thủ lĩnh Ali Bey tài năng và dũng cảm đã nhanh chóng trở thành cánh tay phải của ông.
Năm 1763, Ali Bey đã giữ chức vụ của người đỡ đầu mình, nhưng 2 năm sau đã buộc phải chạy sang Syria và ở đó đã kết bạn với lãnh chúa vùng Galilee và Aqqui Dager Omar.
Năm 1776, Ali Bey quay lại nắm quyền. Nhiều bạn chiến đấu của Ali Bey là người Gruzia, Cherkes và Abkhazia đã biết rất rõ sự ủng hộ mà nước Nga dành cho các dân tộc mình trong cuộc đấu tranh vì độclập. Lúc đó, Ali Bey đã quyết định thiết lập quan hệ với cường quốc Nga vĩ đại để đảm bảo nền độc lập của Ai Cập.
Khi chiến tranh Nga Thổ bắt đầu, Ali Bey đã nhận được lệnh của quốc vương Thổ yêu cầu trang bị và gửi 12 quân đến để giúp quân Thổ. Những cừu nhân của Ali Bey đã tố cáo với quốc vương Thổ là Ali Bey đang thành lập quân đội không phải là để giúp đỡ đế quốc Ottoman mà là để đánh nó từ sau lưng. Quốc vương Thổ hạ lệnh phải mang đến cho ông ta thủ cấp của tên phản nghịch. Nhưng người của Ali Bey đã cướp được lệnh đó. Bây giờ thì Ali Bey không còn lối thoát nào khác ngoài việc tuyên bố độc lập. Quan tổng trấn Thổ bị đuổi khỏi Ai Cập và người ta bắt đầu đúc lấy đồng tiền của mình.
Là một chính trị gia thông minh và tinh tế, Ali Bey đã hiểu là muốn chiến thắng trong cuộc chiến đấu với quân Thổ thì phải cần đoàn kết được tất cả các lực lượng chống Thổ. Vì thế mà ông đã liên minh không chỉ với người Arập mà cả với người Venice. Và mùa xuân 1771, ông đã gửi đến bộ chỉ huy hạm đội Nga trên đảo Paros một thủ hạ thân tín là Yakov người Armenia. Về công khai thì Yakov có nhiệm vụ tìm hiểu vụ rắc rối khi một tàu Nga đã chiếm giữ các tàu chở gạo chở cho đồng minh Syria. Hiển nhiên là họ coi gạo này là của Thổ. Đồng thời, Ali Bey đã qua Yakov gửi một bức thư cho A.G. Orlov. Ali Bey bày tỏ “nguyện vọng muốn ký một hiệp ước liên minh vĩnh viễn với Nữ hoàng Nga và cùng chống lại những kẻ thù chung của họ” và đề nghị bá tước Orlov trang bị cho hạm đội và quân lính của ông ta lương thực và tiền bạc một khi ông bị thiếu. Thực ra thì để gặp được Orlov, Yakov đã phải đến tận Livorno. Orlov hứa sẽ chuyển thư tới Nữ hoàng Nga và khi cần thiết sẽ ra tay giúp đỡ người cầm quyền Ai Cập.
Tháng 12 năm 1771, thêm một nhân vật thân tín nữa, bộ trưởng thứ nhất của Ali Bey, cựu thương gia người Venice là Rosseti đã đến Paros. Ali Bey xin Đô đốc Spiridov chiếm cho Ai Cập đảo Sip. Đô đốc vẫn chờ đợi. Chúng ta không được biết nội dung câu trả lời của ông, nhưng rõ ràng là cả hai bên đã rất dè chừng nhau. Mùa xuân năm sau, sự phản bội kinh tởm của tổng tư lệnh Ismail Bey và con nuôi Abu-al-Dhahab đã buộc Ali Bey cùng với 7 ngàn lính Marmeluke trung thành và bạn bè phải rút khỏi Cairô. Trước đó, Ali Bey lại cử Yakov người Armenia đến đảo Paros để “trình bày tình thế của mình và xin giúp đỡ”.
| Trận đánh Chesme |
Cuối tháng 5 năm 1772, một phân hạm đội Nga do tướng tuỳ giá Georgia Rizo chỉ huy đã được phái đến bời biển Syria để giúp Ali Bey.
Các sứ giả của Ali Bey đã đến thăm các tàu Nga đang đậu ở Jaffa để báo tin là các đơn vị của chủ nhân họ và Dager Omar đang bị đạo quân Thổ 30 ngàn quân vây hãm ở Saida. 3 tàu nhỏ của Nga được cử ngay đến đó. Chúng đã bất thần xuất hiện, buộc 11 tàu Thổ phải rút chạy khỏi cảng họ và bắn phá doanh trại địch. Đồng thời, Ali Bey tiến đánh quân Thổ trên bộ buộc quân Thổ phải rút chạy sau khi bị tổn thất 1/3 lực lượng.
Hạm đội Nga và quân đội của Ali Bey đã bắt đầu phối hợp tác chiến với nhau như vậy. Trong một thời gian dài, sứ giả của Ali Bey là viên cận thần thân tín Giulphikar, người đã được binh đoàn tàu của tướng Rizo chở đến Paros. Mãi đến ngày 29 tháng 8 năm 1772, Giulphikar mới trở về trên chiếc tàu vận tải Tartar của Nga. Chiếc tàu Tartar treo cờ Anh và do một thuyền trưởng người Anh chỉ huy. Cùng với Giulphikar, trên tàu còn có Yakov người Armenia, đại uý kỵ binh Kligenau và trung uý hải quân Nga Sergey Pleshcheyev. Thế là ông đã bắt đầu bước lên sân khấu. Viên trung uý chỉ mới 20 tuổi, nhưng lại có thừa kinh nghiệm và sự quả cảm. Vào năm 1765, anh là một trong những học viên võ bị xuất sắc nhất của trường võ bị hải quân được cử đến Anh không chỉ để thực tập nghề đi biển mà cả học tiếng Anh. Pleshcheyev đã làm việc trên các tàu của hạm đội Anh cho đến cuối 1770 và đã tinh thông cả nghề đi biển lẫn tiếng Anh không kém bất kỳ người Anh nào.
Tại London, anh chuyển sang các tàu Nga thuộc binh đoàn tàu viễn chinh đến quần đảo Ion.
Giulphikar mang theo lá thư của Aleksei Orlov gửi Ali Bey, còn Pleshcheyev và Kligenau thì phải chuyển cho quốc vương Ai Cập 3 khẩu pháo 4 funtt, 8 thùng thuốc súng, 500 quả đạn và 3 càng pháo.
Ngày 7 tháng 9, Ali Bey vui mừng chào đón các sĩ quan Nga trong hành dinh dã chiến của mình ở thành Jaffa dang bị vây hãm. Lúc này, Ali Bey rất hy vọng vào sự giúp đỡ của nước Nga. Trong cuốn nhật ký của mình “Ghi chép hàng ngày trên đường đi từ đảo Paros của quần đảo (Ion) thuộc Nga đến Syria và đến các địa danh đáng nhớ trong địa hạt Jerusalem, cùng với thời kỳ ngắn những thành tựu của Ali Bey”, Sergey Ivavanov Pleshcheyev đã viết: “Nhiều người đã đến hỏi: Số tàu Nga còn lại sẽ đến nhanh chứ và số lượng chúng là bao nhiêu? Theo yêu cầu của thủ lĩnh, chúng tôi trả lời rằng, nếu gió thuận thì đã có một đoàn chiến hạm đông đảo theo sau chúng tôi sự cho chúng ta; lúc đó thì chỉ có những lời phao đồn, còn sự thật ra sao rồi thì nhân dân nhất định sẽ cố hiểu ra”.
Sứ mạng người thuỷ thủ này thật đặc biệt. Anh có trách nhiệm tìm hiểu thực trạng của quân đội của Ali Bey và các đồng minh của ông. Đó cũng là nhiệm vụ bí mật mà Aleksei Grigorievich Orlov giao cho. Vì khi đó đang có lệnh ngừng bắn với Thổ, nên Sergey Pleshcheyev đã giả làm người cho Anh, một việc quá dễ với anh.
Nhưng viên trung uý hải quân không chỉ phải thực hiện nhiệm vụ của một tình báo viên. Ali Bey yêu cầu anh áp dụng mọi nguyên tắc nghệ thuật quân sự để lên kế hoạch công phá Jaffa mà hai tháng vây hãm vô hiệu đã làm nản lòng quân sĩ. Pleshcheyev và Klingenau đề xuất với Ali Bey tiến hành công phá Jaffa đồng thời cả trên bộ và từ biển. Ngày 13 tháng 9, người thuỷ thủ kiêm tình báo viên Nga đã nhận lệnh chỉ huy 3 chiến hạm mà Dager Omar chi viện cho Ali Bey. Kiligenau ra lệnh cho toàn bộ pháo binh bắn thủng bức tường của thành phố. Mặc dù Ali Bey đã cực kỳ dũng cảm, “đích thân chạy khắp nơi với khẩu súng trường trong tay” nhưng trận đánh vẫn thất bại. Còn ngày hôm sau, một viên đạn lạc đã giết chết Kligenau trong pháo đài.
Mười ngày sau, Pleshcheyev từ giã Ali Bey và sau khi ghé thăm Jerusalem, đã trở về Paros. Ali Bey gửi anh mang đi hai lá thư: một cho G.A. Orlov “dù sao cũng cảm ơn ông đã ủng hộ”, còn lá thứ kia được gửi cho Nữ hoàng Ekaterina xin giúp đỡ. Các lá thư này được Sergey Ivanovich Pleshcheyev và đặc sứ của Ali Bey là Suleiman Kiagaya đem đi.
Thành Jaffa mà viên trung uý Nga từng tham gia công phá đã đã thất thủ ngày 1 tháng 2 năm 1773, nhưng số phận của Ali Bey, người mà sau đó đã được một đội tàu Nga chở quân đổ bộ dưới quyền đại uý Kozhukhov chỉ huy đến hỗ trợ, đã kết thúc thật bi thảm.
Tên Abu-al-Dhahab nham hiểm hứa trả lại quyền cai trị Ai Cập, và Ali Bey đã chỉ đem theo hai ngàn kỵ binh tiến về Cairô. Dager Omar thì vẫn ở lại Syria. Ngày 13 tháng 4 năm 1773, Ali Bey bị trọng thương và bị bắt trong trận đánh với Abu-al-Dhahab tại Salahje. Thủ cấp của Ali Bey bị chặt và gửi về Istalbun. Than ôi! Viện binh của Nga đã quá chậm chân.
Nhà tình báo trên biển Segey Pleshcheyev đã mô tả tỷ mỷ hành trình của mình với những câu chuyện về các thành phố, hải cảng, về thương mại, về các công trình phòng thủ của Syria và Palestine.
Một năm sau, cuốn nhật ký đã nêu trên của nhà tình báo Nga đã được xuất bản tại St. Petersburg và được in ở Riga bằng tiếng Đức vào năm 1773.
Năm 1775, tình báo viên can trường này đã có chuyến công tác ở Constantinople trong thành phần sứ quán của Repnin. Trong thời gian làm việc ở sứ quán, Pleshcheyev đã tính toán ghi chép và đo đạc eo biển Dardanell và sau đó đã mô tả các thành phố pháo đài Sinop và Trapezund.
Sau đó, viên sỹ quan hải quân Nga này đã tiếp tục công việc mà Lomonosov đã khởi xướng trong lĩnh vực địa lý, đã kết thân với nhà khai sáng Novikov và năm 1786 đã xuất bản cuốn sách rất nổi tiếng “Tổng quan hiện trạng đế quốc Nga”. Tác phẩm này đã được tái bản nhiều lần và đã được dịch sang tiếng Pháp và tiếng Đức.
Kinh nghiệm của một tình báo viên cũng rất hữu ích với Pleshcheyev-nhà địa lý. Ông cũng đã dịch từ tiếng Anh sang tiếng Nga những ký sự về chuyến đi của Huân tước Baltimore từ Constantinople đến qua Rumelia. Vùng Rumelia vào thế kỷ XVII-XVIII gồm có Bungaria, Serbia, Albania, Macedonia, Epirus và Phessalia bị Thổ Nhĩ Kỳ chiếm đóng. Cuốn sách mang đậm tính cẩm nang tra cứu này đã được tình báo viên hải quân đưa thêm một loạt những hiệu đính, bổ sung và ghi chú. Bản dịch này cũng đã được xuất bản nhiều lần.
Nhà đi biển kiêm tình báo viên Pleshcheyev đã qua đời 1822.
Nhận xét
Đăng nhận xét