Chuyển đến nội dung chính

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 128 (Bảo Đại)

(ĐC sưu tầm trên NET)

                               Bảo Đại Vị vua cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn ở Việt Nam

                                             Số phận 6 bà vợ tuyệt sắc của vua Bảo Đại

Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại


Bài viết của
Xuất bản: | Chỉnh sửa: 28/11/2016 10:25:47
Vua Bảo Đại: tên gọi là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, Thân Phụ: Vua Khải Định, Thân Mẫu: Từ Cung Hoàng Thái Hậu.
Ông sinh ngày 22/10/1913 tại cố đô Huế, mất  31/7/1997 tại Paris, Pháp, ông là vị vua thứ 13 của triều đại nhà Nguyễn, cũng là vị vua cuối cùng trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam.
Trị vì: 6/11/1925, Thoái vị: 25/8/1945.
28/4/1922, khi lên 9 tuổi Vĩnh Thụy được tấn phong làm Đông Cung Hoàng Thái Tử.
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 01
Vua Bảo Đại mặc lễ phục trong dịp tấn phong Đông Cung Hoàng Thái Tử.
Năm 1922 ông được vua cha Khải Định đưa đi cùng trong chuyến công du sang Pháp dự hội chợ thuộc địa Marseille, được vợ chồng cựu Khâm sứ Trung Kỳ Jean François Eugène Charles nhận làm con nuôi và bắt đầu quá trình học tập theo chương trình giáo dục Pháp.
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 02
Hoàng tử Vĩnh Thụy, tới Pháp năm 1922 (Ảnh: T. Do Khac).
Ngày 6/11/1925 vua cha Khải Định qua đời tại Huế, Ngày 8/1/1926 Đông Cung Hoàng Thái Tử Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy chính thức lên nối ngôi vua cha, lấy niên hiệu là Bảo Đại. Vừa mới lên ngôi ông lại tiếp tục qua Pháp vào tháng 3/1926 để theo học tại trường Sciences Po một trường về khoa học chính trị, công việc trong nước giao lại cho các đại thần phụ trách.
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 03
Vua Bảo Đại ngồi trên ngai vàng trong Điện Thái Hòa.
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 04
Bảo Đại trong trang phục dạ hội tại Pháp vào năm 1932 (Ảnh: Agence Mondial).
Sau mười năm theo học tại Pháp, vua Bảo Đại về nước vào ngày 16/8/1932, trị vì Việt Nam tại Huế cho đến năm 1945.
Bảo Đại được biết đến là một người cưỡi ngựa điêu luyện như một kỵ sỹ. Ông cũng yêu thích và hâm mộ nhiều môn thể thao thời thượng, quý tộc thời đó như golf, tennis, bơi thuyền. Bảo Đại đặc biệt thích chơi tennis. Vì vậy sau khi về nước ông đã cho xây dựng một sân quần vợt “tiêu chuẩn quốc tế” ngay tại kinh thành Huế, khiến nhiều du khách hiện nay tới thăm di tích Cố đô Huế vẫn nghĩ đó là một công trình hiện đại được xây sau này!
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 06
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 05
Cách mạng tháng Tám thành công, Bảo Đại quyết định thoái vị và trở thành “công dân Vĩnh Thụy”. Trong bản Tuyên ngôn Thoái vị, ông có câu nói nổi tiếng “Trẫm muốn được làm dân một nước tự do, hơn làm vua một nước nô lệ“.
Tháng 9/1945, ông được chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra Hà Nội nhận chức “Cố vấn tối cao Chính phủ Lâm thời Việt Nam”. Đến ngày 6/1/1946, ông  được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 07
Bảo Đại chụp cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Ảnh: T. Do Khac).
Ngày 16/3/1946, cố vấn Vĩnh Thụy tham gia phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang Trùng Khánh thăm viếng Trung Hoa, nhưng ông không trở về mà viết thư về nước xin từ chức. Sau thời gian dài lưu vong ở Hồng Kông rồi Pháp, Bảo Đại về nước vào tháng 3/1949 để 4 tháng sau đó lên làm Quốc trưởng Chính phủ Lâm thời Quốc gia Việt Nam do thực dân Pháp dựng lên.
Bảo Đại làm Quốc trưởng đến tháng 10/1955 thì bị Ngô Đình Diệm phế truất. Ông sau đó sang Pháp sống lưu vong tại Paris cho đến cuối đời.
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 09
Vua Bảo Đại trên trang bìa tạp chí Pháp Paris Match, số ra tháng 9/1953, (Ảnh: Walter Carone/Paris Match).
Cựu hoàng Bảo Đại qua đời vào 5 giờ sáng ngày 31 tháng 7 năm 1997 tại Quân y viện Val-de-Grâce, hưởng thọ 85 tuổi. Đám tang Bảo Đại được tổ chức vào lúc 11 giờ ngày 6 tháng 8 năm 1997 tại nhà thờ Saint-Pierre de chaillot, số 35 đại lộ Marceau, quận 16 Paris và linh cữu được mai táng tại nghĩa địa Passy trên đồi Trocadero.
Tình sử
Do tiếp xúc, sống và học tập cùng văn hóa phương Tây từ nhỏ, Bảo Đại trưởng thành giống với một cậu trai Pháp bảnh bao hơn là một vị vua của một nước phong kiến châu Á. Vị vua cuối cùng của Việt Nam có vóc dáng cao lớn (1m82), gương mặt điển trai, lối sống phóng khoáng, phong độ, vì vậy mà có đời sống tình cảm khá phức tạp.
1. Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan (Nam Phương Hoàng Hậu)
Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan xuất thân trong một gia đình Công giáo giàu có bậc nhất miền Nam những năm đầu của thế kỷ 20. Năm 14 tuổi, cô được gia đình gửi sang Pháp, học trường dòng Couvent des Oiseaux ở Paris. Nguyễn Hữu Thị Lan là người nổi tiếng xinh đẹp, từng ba năm liền đạt giải hoa hậu Đông Dương, nhưng bà mang quốc tịch Pháp và theo Công giáo.
Năm 1933 khi vua Bảo Đại lên nghỉ mát tại Đà Lạt, trong một buổi dạ tiệc tại khách sạn La Palace tại Đà Lạt do toàn quyền Đông Dương và viên Đốc lý thành phố sắp đặt, Nguyễn Hữu Thị Lan và Bảo Đại đã gặp nhau.
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 11
Vẻ đài các quý tộc Tây Phương của Nam Phương Hoàng Hậu.
Về mối tình duyên đó, Bảo Đại có viết trong cuốn Con rồng Việt Nam Le Dragon d’ Annam:
“Cũng như tôi, Marie Thérèse rất thích thể thao và âm nhạc. Nàng có vẻ đẹp dịu dàng của người miền Nam pha một chút Tây phương. Do vậy mà tôi đã chọn từ kép Nam Phương để đặt danh hiệu cho nàng. Các vị Tiên Đế của tôi cũng thường hướng về người đàn bà miền Nam”.
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 11
Vẻ đẹp chim sa cá lặn của Nam Phương Hoàng Hậu.
Hoàng hậu Nam Phương cũng nhắc lại:
“Về sau, khi đã trở thành vợ chồng, Ngài mới cho tôi biết hôm đó Ngài rất chú ý cách phục sức đơn sơ của tôi. Tôi nghĩ rằng tôi được nhà vua lưu ý một phần do trong suốt buổi dạ tiệc chỉ có tôi là người đàn bà Việt Nam duy nhất nói tiếng Pháp và theo hành lễ đúng cung cách lễ nghi Âu tây đối với Ngài”.
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 12
Nam Phương Hoàng hậu được vua Bảo Đại tấn phong ngay sau khi cưới.
Ngày 20/3/1934, vua Bảo Đại làm đám cưới với Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan. Cô dâu năm ấy 19 tuổi, với nhan sắc mặn mà, một vẻ đẹp đậm chất Á Đông, Nam Phương hoàng hậu được liệt vào danh sách “5 vị hoàng hậu đẹp nhất” thời bấy giờ..
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 15
Vua Bảo Đại và Nam Phương Hoàng Hậu.
Bà và vua Bảo Đại đã có 5 người con, Nam Phương Hoàng Hậu có 12 năm sống tràn đầy hạnh phúc, 16 năm sống cô đơn trong cuộc đời lưu vong nơi đất Pháp. Năm 1963, bà qua đời ở Pháp.
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 16
Nam Phương Hoàng Hậu và 5 công chúa hoàng tử con vua Bảo Đại ăn mặc theo phong cách Pháp.
2. Thứ Phi Bùi Mộng Điệp
Sinh năm 1924 tại Bắc Ninh, bà Bùi Mộng Điệp từng có một đời chồng và một con trai. Nhưng nhan sắc mặn mà của người phụ nữ Kinh Bắc đã khiến cựu hoàng vội quên lời hứa “một vợ một chồng” với hoàng hậu Nam Phương. Nếu Nam Phương hoàng hậu đại diện cho vẻ đẹp ‘chim sa, cá lặn’ thì thứ phi Mộng Điệp lại là vẻ đẹp có nhan sắc ‘nghiêng nước nghiêng thành’, tiêu biểu của xứ Kinh Bắc làm đắm say biết bao nhiêu chàng trai.
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 17
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 12
Mộng Điệp khi còn trẻ.
Được biết, Mộng Điệp được một người sắp xếp gặp mặt Bảo Đại trên sân tennis. Lúc đó mặc dù đã có vợ là Nam Phương Hoàng hậu nhưng ngài Bảo Đại rất si tình trước nhan sắc Mộng Điệp, chẳng mấy lúc hai người phải lòng nhau, Mộng Điệp trở thành thứ phi. Mặc dù trước đó, Bảo Đại từng có thời thề son sắc một chồng một vợ với Nam Phương. vài năm sau đó, họ chuyển về sống tại Đà Lạt.
Khi Bảo Đại không còn làm vua nữa, đất nước chiến tranh nên Mộng Điệp sang Pháp sinh sống.
Bà có với vua Bảo Đại 3 người con nhưng không may, 2 con trai lại mất khi tuổi đời còn quá trẻ.
Sau cái chết của người con thứ hai, thứ phi Mộng Điệp trở nên sống khép kín hơn, bà thu mình trong không gian nhỏ bé của ngôi nhà ở thủ đô Paris không tiếp đón bất kì một vị khách nào.
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 13
Thứ Phi Mộng Điệp trong trang phục hoàng gia.
Ngày 26-6-2011, sau ca giải phẫu tim không thành công, bà Mộng Điệp qua đời tại bệnh viện Saint Antoine vào lúc 12 giờ trưa Chủ nhật cùng ngày, thọ 87 tuổi.
3. Bà Phi Ánh
Bà Phi Ánh con nhà lành, giàu có, thuộc dòng họ danh giá. Sinh thời, bà cũng là một tuyệt sắc giai nhân nên được Bảo Đại yêu thương, tặng một biệt thự sang trọng. Bà sinh cho Bảo Đại 2 người, một gái, một trai. Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, bà Phi Ánh ở lại sinh sống cho đến cuối đời tại Sài Gòn Việt Nam. Con gái là Phương Minh, lấy chồng Pháp và sang lập nghiệp ở Hoa Kỳ.
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 14
Bà Phi Ánh thời xuân sắc.
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 15
“Công Chúa” Phương Minh và “Hoàng Tử” Bảo Ân bên cạnh mẹ trong thời gian thơ ấu ở Ðà Lạt.
4. Lý Lệ Hà
Lý Lệ Hà là một cô gái nông thôn nghèo ở Thái Bình đoạt giải hoa hậu Áo lụa Hà Đông vào năm 1930. Hoa hậu Lý Lệ Hà có hàm răng rất đẹp, như những hạt ngọc. Người đẹp mặc áo lụa Hà Đông là nguồn cảm  hứng để  nhà  thơ Nguyên  Sa sáng tác bài  thơ “Áo Lụa Hà Đông” và được người nhạc sĩ trẻ tài hoa Ngô Thuỵ Miên phổ thơ thành nhạc. Cô là người tình của Bảo Đại trong thời gian ông sống ở Hà Nội, làm Cố Vấn Tối Cao của Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam, cũng là thời kỳ ông sống với Mộng Điệp còn bà Nam Phương đang ở Huế…
5. Cô gái Trung Hoa Hoàng Tiểu Lan
Năm 1946, khi sống lưu vong ở Trung Hoa, Bảo Đại thương yêu một cô gái Tàu lai Tây, tên Hoàng Tiểu Lan (Jenny Woong) và đã có với cô một đứa con gái. Sau này ông cũng đưa bà về Đà Lạt và tặng bà một biệt thự.
6. Bà Vicky
Khi sống lưu vong ở Pháp, Bảo Đại mải ăn chơi, săn bắn, bài bạc, các lâu đài và tài sản lần lượt ra đi. Khi mua một trang trại ở Alsace, ông sống với cô vợ “hờ” người Pháp tên là Vicky mấy năm và sinh hạ được một con gái đặt tên là Phương Từ thì hai người chia tay. Bảo Đại phải rời khỏi Alsace bỏ lại nhà cửa đồ đạc cho Vicky.  
7. Cô Clément
Chia tay Vicky, Bảo Đại càng lâm vào trầm uất và thất vọng. Có lần cảnh sát và người thân bắt gặp ông tại nhà cô vũ nữ Clément làm ở nhà hàng Le Moulin Rouge.
8. Monique Baudot
Khi toàn bộ tài sản đã đội nón ra đi, Bảo Đại gặp và chung sống với Monique Baudot, một phụ nữ Pháp sinh năm 1946 tại Lorraine, kém ông 30 tuổi. Bảo Ðại vào đạo Thiên Chúa, có tên thánh là Jean-Robert. Khi kết hôn với cựu hoàng Bảo Đại bà đổi tên thành: Princess Monique Vĩnh Thụy.
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 17
Monique Baudot khi còn trẻ.
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 18
Cựu Hoàng Bảo Đại và vợ Hoàng Phi Monique Vĩnh Thụy.
Về tiểu sử của Monique có nhiều nguồn tin khác nhau. Báo chí Pháp viết cô từng làm tùy viên báo chí trong một tòa đại sứ. Nhưng bạn bè lại kể cô làm việc dọn phòng trong một khách sạn. Một người bạn đã đi thuê cho ông một căn hộ trong cao ốc 29 Fresnel, quận 16 – Paris. Chính nhờ làm bồi phòng ở cao ốc 29 Fresnel nên Monique Baudot mới biết được có một ”ông vua lưu vong” bệnh tật không người chăm sóc, cô đến giúp đỡ và trở thành người thân cận nhất của cựu hoàng suốt mấy thập niên cuối đời. Dù mặn nồng trong nhiều năm chung sống, nhưng hai người không có con.
Cuộc đời và tình sử Vua Bảo Đại - 19
Bảo Đại chụp cùng vợ Monique Vĩnh Thụy tại Paris vào năm 1992.
Cựu hoàng Bảo Đại qua đời vào 5 giờ sáng ngày 31 tháng 7 năm 1997 tại Quân y viện Val-de-Grâce, hưởng thọ 85 tuổi. Trả lời BBC về sự kiện này, bà Monique nói: “Ngày hôm nay tôi rất đau buồn. Dĩ nhiên rồi, trước hết và trên hết là vì chồng tôi vừa qua đời. Nhưng hôm nay trang sử của triều Nguyễn Việt Nam cũng được chấm dứt. Tôi cầu nguyện cho chồng tôi“.
Có thể thấy, ông hoàng Bảo Đại dù có cuộc đời và sự nghiệp long đong do sinh thời trong giai đoạn lịch sử nước nhà và thế giới có nhiều biến động và phức tạp. Tuy nhiên, trong tình trường, ông lại là một người đào hoa hết sức với 2 người vợ (có đám cưới hoặc kết hôn), rất nhiều người tình và 13 người con. Những người tình của ông đều là những bóng hồng xinh đẹp nổi tiếng một thời, và cho dù trong hoàn cảnh khó khăn nhất của cuộc đời mình, ông vẫn luôn tìm được những người phụ nữ rất mực thủy chung và yêu thương ông sâu sắc.

Cặp ấn kiếm của vua Bảo Đại giờ ở đâu?

TP - Chiều ngày 30/8/1945 tại Quảng trường Ngọ Môn (Huế), trong lễ thoái vị của vua Bảo Đại, nhà sử học Trần Huy Liệu thay mặt phái đoàn đại diện Chính phủ VNDCCH đón nhận cặp ấn kiếm từ vị vua cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.
Ngay hôm sau, đoàn mang quốc ấn và quốc kiếm đưa về Hà Nội. Kể từ ngày ấy, người dân Việt Nam  ai cũng nghĩ quốc ấn và quốc kiếm đã được cơ quan có trách nhiệm gìn giữ như những bảo vật quốc gia khác. Không ngờ, sau ngày Toàn quốc kháng chiến, cặp ấn kiếm lịch sử này lại rơi vào tay người Pháp.
Chiếu thoái vị chính thức chấm dứt chế độ quân chủ ở Việt Nam, được vua Bảo Đại viết vào ngày 25/8/1945 tại điện Kiến Trung. Ngày 29/8, khi làm việc với phái đoàn đại diện Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ Hà Nội vào, vua Bảo Đại đã trao tờ chiếu cho vị trưởng đoàn là nhà Sử học Trần Huy Liệu. Ông Trần Huy Liệu đã đạt được thỏa thuận với vua Bảo Đại là sẽ tổ chức một buổi lễ để nhà vua công khai tuyên bố trước quốc dân đồng bào, để mọi người đều được biết sự cảm hóa của cách mạng tháng Tám, và nhà vua đã tự nguyện thoái vị, trao quốc ấn và quốc kiếm, bảo vật tượng trưng cho quyền lực của vương triều.
Chiều ngày 30/8/1945, vua Bảo Đại mặc triều phục đọc bản chiếu thoái vị trước hàng vạn người dự mít tinh ở Quảng trường Ngọ Môn. Trong hồi ký Trần Huy Liệu viết, đọc xong tờ chiếu, vua Bảo Đại “giơ hai tay dâng lên chiếc kiếm dài nạm ngọc và sau đó là chiếc ấn vàng hình vuông. Tôi thay mặt Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp nhận hai vật tượng trưng của chế độ phong kiến. Cùng với ấn kiếm còn có một chiếc túi gấm đựng một bộ quân cờ bằng ngọc và những thứ quý giá khác”.
Cặp ấn kiếm của vua Bảo Đại giờ ở đâu? - ảnh 1 Lính ngự lâm dâng ấn kiếm trong lễ trao lại ấn kiếm cho cựu hoàng Bảo Đại. Ảnh tư liệu của Nguyễn Đắc Xuân.
Rơi vào tay người Pháp
Theo nhiều tài liệu lịch sử, báo chí, đặc biệt là hồi ký của cụ Phạm Khắc Hòe, Ngự tiền Văn phòng Tổng lý của vua Bảo Đại, chúng ta được biết vào tháng 12/1946, nhiều tài liệu quan trọng, các bảo vật của nhà nước được chuyển lên An toàn khu, hoặc chôn giấu ở Hà Nội. Cuối năm 1946, trong lúc đào đất xây dựng công trình quân sự ở ngoại thành Hà Nội, lính Pháp tìm thấy một cái thùng dầu hỏa bằng sắt, bên trong đựng một cái ấn và một cái kiếm bị bẻ gãy làm đôi. Ngày 8/3/1952, người Pháp tổ chức lễ trao lại ấn kiếm cho cựu hoàng Bảo Đại. Sự kiện này được báo Paris Match dành một số đặc biệt đăng bài tường thuật, có nhiều hình ảnh minh họa là tư liệu lịch sử vô cùng quý giá.
Người Pháp trả lại ấn kiếm cho cựu hoàng Bảo Đại là có lý do chính trị. Khi thành lập cái gọi là “Chính phủ quốc gia” do Bảo Đại đứng đầu, người Pháp long trọng tổ chức lễ trả lại ấn kiếm nhằm gây tác động tâm lý đối với nhân dân vùng tạm chiếm, với hàm ý “vua đi rồi vua lại về”. Vua Bảo Đại thoái vị ngày 30/8/1945, nay cựu hoàng Đại đã trở về làm Quốc trưởng.
“Chính tay tôi đã lau chùi cặp ấn kiếm khi ông Lê Thanh Cảnh đi tàu bay từ Hà Nội đem lên Ban Mê Thuột giao cho tôi. Cái kiếm bị gãy làm đôi. Tôi nhờ hai người hầu cận là anh Tứ Lang và anh Thừa Tể đi hàn lại. Hai anh đem cái kiếm đi hàn rồi nhờ người ta mài để không còn thấy dấu vết gãy. Còn cái ấn bằng vàng, chính tay tôi cân nặng 12,9 kg.
Bà Mộng Điệp kể
Năm 1996, một nhân chứng quan trọng là bà Mộng Điệp, thứ phi của vua Bảo Đại, kể chuyện này với nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân (Huế) khi ông “Qua Pháp tìm Huế xưa”, như sau: “Họ trả lại ấn kiếm cho nhà Nguyễn nhưng ông Bảo Đại lúc ấy đang nghỉ mát ở bên Tây, không ai đủ tư cách để nhận lại cả. Ông Lê Thanh Cảnh làm việc cho Pháp thấy thế gọi dây nói lên Buôn Mê Thuột gặp tôi. Nhưng tôi chưa thấy những báu vật ấy bao giờ, không biết có đúng hai cái ấn kiếm mà ông Bảo Đại đã trao cho ông Trần Huy Liệu năm 1945 hay không (!). Tôi phân vân nên đã mời Đức Từ Cung ở Huế đi tàu bay lên.  Hôm đón ấn kiếm, Đức Từ Cung bắt phải đặt lên một cái bàn ở sân bay Buôn Mê Thuột, phủ khăn đỏ, lạy ấn và kiếm năm lạy rồi mới được phép đưa về Dinh. Sau đó ông Bảo Đại về, tôi nói: “Ấn kiếm Ngài đã trao cho phái đoàn ông Trần Huy Liệu, không hiểu sao lại rơi vào tay người Pháp. Vừa rồi họ gọi trả lại cho Ngài”. Ông Bảo Đại đến giật cái khăn đỏ ra và bảo: “Ờ! Đúng rồi.. Ngày xưa những thứ nầy ra đi nó cứu mạng anh. Bây giờ tự nhiên nó lại về có lẽ mình sắp chết rồi!”. Tôi nói:” Sao lại chết? Đáng lẽ Ngài mừng mới phải?”. Ông nói đùa với tôi: “Mừng vì nó gần 13 ký lô vàng chứ gì? Bởi thế em mới cho người canh gác cẩn thận!”. Để khỏi sợ mất một lần nữa, ông Bảo Đại giao cho Nguyễn Duy Trinh (em ruột Nguyễn Duy Quang) ở Sài Gòn đóng một cái cốp sắt đem lên để giữ hai báu vật nầy và một cái mũ của vua Gia Long do Đức Từ Cung mang từ Huế lên. Cái mũ nầy bện bằng tóc, có kết chín con rồng tí tí bằng vàng. Năm 1953, chiến tranh trở nên ác liệt, không dám đem cặp ấn kiếm về Huế. Cuối cùng ông Bảo Đại viết giấy giao cho tôi mang sang Pháp cùng với một số tư trang. Sau đó tôi giao hai báu vật ấy lại cho Hoàng hậu Nam Phương và Hoàng tử Bảo Long. Khi tôi đem sang giao có mặt các ông Nguyễn Đệ, Nguyễn Duy Quang, Nguyễn Tiến Lãng, Phạm Bích (con ông Phạm Quỳnh). Bốn người bưng hai cái ấn kiếm lên và giúp bà Nam Phương đưa vào tủ sắt”… 
 
Cặp ấn kiếm của vua Bảo Đại giờ ở đâu? - ảnh 2 Ấn Hoàng đế chi bửu. Ảnh tư liệu của Nguyễn Đắc Xuân.
Cha giữ ấn, con giữ kiếm?
Chiếc ấn được vua Bảo Đại trao cho đại diện Chính phủ VNDCCH vào ngày 30/8/1945 là một trong hàng chục ngọc tỷ và bửu ấn của triều Nguyễn. Theo các công trình nghiên cứu về ấn chương, bửu tỷ, triều Nguyễn có 24 kim tỷ và ngọc tỷ (ấn bằng vàng và bằng ngọc), được xếp vào loại Quốc bảo. Mỗi ấn được sử dụng cho một loại văn bản nhất định.
Theo ông Paul Boudet - người đã được ông Phạm Quỳnh, với sự đồng ý của vua Bảo Đại, cho xem các tỷ, ấn của các vua Nguyễn được bảo quản trong điện Càn Thành, thì các vua Nguyễn có đến 46 chiếc tỷ, ấn mà phần lớn được chế tạo sau thời Minh Mạng cho đến thời Khải Định. Sau Cách mạng tháng 8/1945 những bảo vật này được bàn giao cho Chính phủ Việt Nam DCCH. Người nhận bàn giao là ông Lê Văn Hiến, nguyên Bộ trưởng bộ Tài Chính. Hiện tại phần lớn kim tỷ và ngọc tỷ triều Nguyễn đang được bảo quản tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Cặp ấn kiếm do vua Bảo Đại trao cho chính quyền Dân chủ Nhân dân trong ngày đầu lập quốc được quan tâm đặc biệt là vì giá trị lịch sử của nó.
Cũng theo bà Mộng Điệp, sau khi Hoàng hậu Nam Phương qua đời (1963), cặp ấn kiếm lịch sử đó nằm trong tay Hoàng thái tử Bảo Long. Năm 1980, ông Bảo Đại xuất bản tập hồi ký Le Dragon d’ Annam (Con rồng An Nam), ông muốn dùng con dấu lịch sử đó để làm vi-nhét đặt vào cuối các chương hồi ký nhưng Bảo Long không cho mượn. Ông Bảo Đại hết sức bực mình nhưng không làm gì lay chuyển được Bảo Long. Cuối cùng ông Bảo Đại phải dùng con dấu “Việt Nam ngự tiền văn phòng” của ông Nguyễn Đệ thay cho khuôn dấu của vị Hoàng đế nước Nam.
Theo các tác phẩm “Qua Pháp tìm Huế xưa” và “Hỏi chuyện đời bà thứ phi Mộng Điệp với cựu hoàng Bảo Đại” của Nguyễn Đắc Xuân, thì cặp ấn kiếm Bảo Long giữ được gửi tủ sắt của Liên hiệp Ngân hàng châu Âu (Union des banques européennes). Sau ngày xuất bản cuốn Le Dragon d’ Annam (1980) và sau ngày Bảo Đại làm giấy hôn thú với bà Monique Baudot (1982), ông Bảo Đại làm đơn kiện con trai Bảo Long đòi lại cặp ấn kiếm. Toà xử Bảo Long được giữ cây kiếm và giao lại chiếc ấn cho Bảo Đại. Đó chính là chiếc ấn lịch sử mà cả dân tộc Việt Nam đã và đang quan tâm. 
Bà Mộng Điệp kể: “Chính tay tôi đã lau chùi cặp ấn kiếm khi ông Lê Thanh Cảnh đi tàu bay từ Hà Nội đem lên Ban Mê Thuột giao cho tôi. Cái kiếm bị gãy làm đôi. Tôi nhờ hai người hầu cận là anh Tứ Lang và anh Thừa Tể đi hàn lại. Hai anh đem cái kiếm đi hàn rồi nhờ người ta mài để không còn thấy dấu vết gãy. Còn cái ấn bằng vàng, chính tay tôi cân nặng 12,9 kg. Cái núm ấn hình con rồng. Con rồng uốn cong và ngóc đầu lên. Con rồng không được sắc sảo lắm, có đính hai hạt ngọc đỏ, trông giống như con rắn”.
Theo ông Trần Huy Liệu, chiếc ấn nặng 7 kg vàng. Ông Phạm Khắc Hoè viết: “chiếc quốc ấn bằng vàng (ấy) nặng gần 10 kilôgam”. Theo Lê Văn Lân, tác giả cuốn “Chiếc bảo ấn cuối cùng của Hoàng đế Việt Nam” (xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1998) thì chiếc ấn nặng 280 lượng 9 chỉ 2 phân vàng mười tuổi = 10,534 kg vàng. Chiếc ấn lịch sử ấy có tên là Hoàng đế chi bửu, hình vuông, mỗi cạnh dài 12 cm; dày 2 cm; cuốn núm hình con rồng lượn cong. Ấn Hoàng đế chi bảo đúc năm Minh Mạng thứ tư (1823); được đóng lên các bản cáo dụ quan trọng ban xuống. 
Còn chiếc kiếm, cũng theo tài liệu của Lê Văn Lân, trên vỏ có khắc dòng chữ “Khải Định niên chế”. Tức là chiếc kiếm ra đời trong khoảng các năm từ 1916-1925. Chuôi kiếm nạm ngọc. Hình dáng chung của kiếm rất đẹp. Giá trị vật chất cũng như niên đại của cây bảo kiếm không bao nhiêu, nhưng nó được xem là quốc bảo vì giá trị lịch sử. Đó là một vật chứng quan trọng góp phần khẳng định sự thành công vang dội của cuộc Cách mạng Dân chủ tháng Tám năm 1945.
Sau 70 năm kể từ ngày cặp ấn kiếm của triều Nguyễn được trao cho chính quyền nhân dân, cặp quốc bảo này vẫn đang lưu lạc ở trời Tây. Chúng ta phải có trách nhiệm tìm kiếm cho bằng được địa chỉ lưu trú của cặp ấn kiếm lịch sử này, và bằng con đường chính trị ngoại giao, hay ngoại giao văn hóa, để có một ngày “châu về hợp phố”.
 
Cuộc Phỏng Vấn Trưc Tiếp Vua Bảo Đại Trước Lúc Lâm Chung Và Trăn Trối Mơ Về Cố Hương

Vua Bảo Đại con ai?

bao-dai-va-khai-dinh
Bảo Đại tiếp xúc với nền văn hóa Pháp từ rất sớm. Bức ảnh trên chụp khi ông còn đang là Hoàng tử Vĩnh Thụy, trong chuyến thăm tới Pháp năm 1922 cùng Vua cha Khải Định (Ảnh: T. Do Khac)
Võ Hương An
Khi chế độ quân chủ đang còn (trước 1945), chuyện thân thế không chính thống của vua Bảo Đại chỉ tồn tại qua cửa miệng.   Từ sau 1975  thì dư luận  được định hình bằng chữ nghĩa sách vở đàng hoàng.  Trong nước, có nhiều tác giả viết về đề tài này (Nguyễn Đắc Xuân, Phạm Khắc Hòe, Phan Thứ Lang), ngoài nước thì có Nguyễn Lý Tưởng, Trần Gia Phụng, và  chính người viết cũng có một vài dòng qua Chuyện cung đình nghe kể lại.  Trong cuốn Bảo Đại, vua cuối cùng Triều Nguyễn (nxb Đà Nẵng, 2004), tác giả Phan Thứ Lang đã có mục Bảo Đại con ai (tr. 12-23) để duyệt lại toàn bộ vấn đề này, trong đó ông đã trích dẫn khá nhiều tài liệu của hai tác giả Nguyễn  Đắc Xuân và Phạm Khắc Hòe.  Vì vậy, để tiện cho độc giả hải ngoại tra cứu, tôi chỉ trích dẫn lại từ Phan Thứ Lang vì thấy sách này có lưu hành ở Hoa Kỳ.
            Trong bài viết Chuyện cung đình nghe kể lại đăng trên niên san Tiếng Sông Hương, Dallas, 1997, tôi có nói sơ qua về chuyện mệ ngoại tôi kể thời hàn vi của bà Cúc (Bà Từ Cung, thân mẫu vua Bảo Đại).
Bà ngọai tôi húy là Hồ Thị Thìn, sinh năm 1880.  Bà người ở Vạn Vạn, có hàng quán ở chợ An Cựu, thường cung cấp thực phẩm cho phủ Phụng Hóa nên có dịp vào ra nơi này, có cơ hội chuyện trò với kẻ ăn người làm trong đó nên mới nghe được câu chuyện để kể lại cho cháu nghe.  Vào thời điểm câu chuyện xảy ra, hầu như chưa có cái tên Cúc, mọi người đều gọi bà là chi Út.
            Bà tôi kể:  một đêm nọ, sau khi dự tiệc ở lầu Sứ (Tòa Khâm Sứ) về, ông hòang  (tức vua Khải Định về sau) ngó bộ ngà ngà và hứng tình , gọi anh người hầu, biểu : “Coi có đứa mô ở dưới đó, kêu lên cho ta một đứa.” Người hầu vâng lịnh đi kiếm.  Thường thì trong phủ có hai ba chị, nhưng hôm đó chị thì đi ra ngoài có việc, chị thì có tháng, chỉ một mình chị  Út rảnh rang sạch sẽ  nên được kêu lên hầu . Sau đó chị Út có thai.  Đức Thánh Cung (mẹ đích) và Đức Tiên Cung (mẹ đẻ) khi biết chị Út có thai, liền mở một cuộc tra hỏi gắt gao. Vì cái bụng chị Út đã lùm lùm, nên các ngài cho đào cái hố nông, bắt chị Út nằm sấp bụng xuống đó cho an tòan rồi mới sai nhịp roi vào mông mà hỏi tội. Dù bị đánh nhưng trước sau chị Út cũng chỉ một mực  khai là có thai với ông hòang. Hỏi ngày tháng gần nhau, chị Út khai ra, hai bà biểu ghi sổ và hăm rằng  “Nếu sau ni mi đẻ không đúng ngày đúng tháng thì ta chém đầu ba họ.”  Chị Út khóc lóc cam đoan là đúng sự thật.  Hai bà đem việc này hỏi lại ông hòang thì ông cũng công nhận đúng y như vậy. Sau sinh ra vua Bảo Đại, tính ngày tháng đúng y như đã khai nên hai ngài mới công nhận. 
            Nội dung câu chuyên mệ ngoại tôi kể cũng tương tự như các tài liệu đã dẫn.  Cái điều mà dư luận đồn đãi là ông hoàng Phụng Hóa ( vua Khải Định sau này) bất lực nên không thể nào có con được, và dường như dư luận này nở rộ sau năm 1916, khi ngai vàng bỗng may mắn lọt vào tay ông hoàng Phụng Hóa.
            Người thì nói rằng đó là con của ông Hường Đề, một người, kể về thế thứ ở vai ông (Miên, Hường, Ưng, Bửu, Vĩnh, theo Đế hệ thi :  Hường Đề/Bưủ Đảo) nhưng lại là bạn rất thân của ông hoàng Phụng Hóa,  và như vậy thì vua Khải Định đã nhận chú làm con [1] .  Kẻ thì đồn rằng đó là con của Thừa Mai, một người hầu của ông hoàng; thậm chí, có kẻ nói rằng đó là con của ông Dương Quang Lược, em ruột của bà Tiên Cung [2]   Đóng góp vào rừng tin đồn này hẳn người trung thực thì ít mà kẻ ác cảm với ông hoàng thì nhiều, lại được người hiếu sự khuyếch đại nên dễ lan xa, phổ biến. Chính vì những tin đồn này nên khi vua Khải Định bày tỏ ý định lập Hoàng tử Vĩnh Thụy làm Đông cung Thái tử, Tòa Khâm sứ Trung kỳ đã phải điều tra cặn kẽ rồi mới chấp thuận. 
            Cụ Trần Trọng Phúc, một nhân sĩ lão thành  người  Huế ở Mountain View, Bắc California, vốn có bà con cả hai bên, phía bà Tiên Cung và cà bà Từ Cung, biết rất nhiều chuyện của Huế xưa.  Trong cuộc nói chuyện ngày 25/4/2005 tại nhà riêng và những lần điện đàm sau đó , đã cho biết những chi tiết khác về quảng đời thơ ấu, hàn vi của bà Cúc.  Theo cụ Phúc, qua lời kể lại của bà nội, thời hàn vi bà Cúc có tên là Khế, vì là con út nên mới gọi là Út.  Cái tên Cúc mới có sau khi gá nghĩa với ông hoàng Phụng Hóa cho lịch sự.  Mẹ bà  Cúc có một đời chồng trước sinh ra ông Tứ Huề  [3]  Sau khi chồng chết,  bà về ở với chị ruột, là vợ ông Phủ Tích, rồi làm lẻ ông này, sinh ra bà Cúc.  Ông Tứ Huề có công bồng ẳm  săn sóc em gái khác cha khi còn nhỏ nên khi nên danh phận, bà Cúc không bao giờ quên ơn, thường giúp đở mọi cách. Bà Cúc còn có một người anh cùng cha khác mẹ là ông Hường Khanh.  Ông hoàng Phụng Hóa khi còn tiểm để là một người ham chơi, các món bài bạc không thiếu, vì vậy thường mắc nợ.  Một trong những chủ nợ đó là bà Phủ Tích.  Người thường được sai đi đòi nợ là bà Cúc.  Không phải khi nào ông hoàng cũng có tiền để trả nợ nên phải lui tới nhiều lần. Trong một lần như thế, gặp lúc ông hoàng đang tắm, ông kêu bà Cúc vào kỳ cọ rồi hứng tình mà sinh ra có con. Khi bà Cúc sanh Hoàng tử Vĩnh Thụy, chính bà nội cụ Phúc và ông Hường Khanh là hai người lo chăm nuôi săn sóc. Trong thời gian có bầu, bà Cúc vẫn ở tại phủ Phụng Hóa; người ta cất một cái chòi nhỏ ở góc vườn, xa khuất nơi ăn ở thường ngày để làm chỗ “nằm nơi” (sinh đẻ) cho bà Cúc [4] Mặc dầu sinh con trai và tính ngày tính tháng thi đúng như đã khai nhưng hai bà Tiên Cung và Thánh Cung vẫn chưa công nhận  ngay đứa bé sơ sinh là cháu.  Một hôm Bà Chúa Tám [5] tới thăm.  Thấy cái chòi lấp ló ở góc vườn bèn hỏi hai bà.  Hai bà nói đó là “chòi cất cho con Khế nằm nơi”.  Bà Chúa Tám nghe nói thế bèn đi ra thăm.  Sau khi thăm xong, trở vô, bà khen “cái mặt nó giống anh tui [6] như đúc, mà răng để thiếu tả thiếu áo tội nghiệp”  Hai bà Tiên Cung và Thánh Cung nghe vậy mới động lòng, nhìn nhận là cháu và sai đem áo cũ của các bà ra cho để làm tả và may xơ (áo) cho cháu. Vì cái ơn này nên khi có quyền hành, vua Khải Định đã trả ơn  bằng cách can thiệp với người Pháp cho Bà Chúa Tám được độc quyền mở sòng bài lớn nhất ở Huế mà trước 1945 ở Huế ai cũng biết tiếng “Sòng bài Bà Chúa Tám”..
            Ngày nay việc truy tầm phụ hệ không còn là chuyện khó khăn vì đã có phương pháp xét nghiệm DNA chính xác. Tôi tin rằng sẽ có lúc người ta làm được việc đó nếu có dịp thu được mẫu sinh học của hai vua Khải Định và Bảo Đại và hậu duệ.            
            Ở đây, tôi chỉ muốn nêu lên vài điểm  rất thực tế mà đang khi say sưa đồn đãi theo ý riêng hay dưới sự chi phối của nhãn quan chính trị  [7], người ta đã vô tình hay cố ý bỏ qua để nói cho sướng miệng. Những thực tế đó sẽ được đặt thành câu hỏi, và khi trả lời câu hỏi có nghĩa là tiếp cận được sự thật. 
            1)  Làm sao giải thích cho ổn về sự giống nhau về ngoại hình giữa Khải Định và Bảo Đại?
                Cha con giống nhau là thường; cha cao mà sinh con thấp và ngược lại;  cha mập mà sinh con ốm và ngược lại;  là những điều cũng thường thấy và  vốn không mấy khi gây thắc mắc ở người đời, nhưng một khi đã nói rằng giữa hai bên không phải là cha con mà lại giống nhau thì cần phải có lời cắt nghĩa hợp lý mới được, chứ không thể nói bừa như một người nào đó nói rằng vì em của bà Tiên Cung (mẹ vua Khải Định) là ông Dương Quang Lược lấy bà Cúc sinh ra vua Bảo Đại nên mới có sự giống nhau đó.    Sự giống nhau đó không những người Pháp công nhận mà ngay cả  người xa lạ với chốn cung đình như  cụ Vương Hồng Sển một khi được thấy tận mắt hai bố con bằng xương bằng thịt cũng đã viết “…thậm chí con ruột của ông giống ông như khuôn đúc, mà miệng thế gian ăn mắm ăn muối vẫn đồn không phải thật con.” (Vương Hồng Sển, sđd, tr.289)
            Ngày nay, qua hình ảnh, chúng  ta cũng có thể nhận ra nét giống nhau của hai nhân vật này thể hiện qua chiều cao và  khuôn mặt, nhất là cái mũi.  Cả hai đều có cái  mũi cao  và kín, cả hai đều có chiều cao không hổ thẹn với người Pháp, dù một bên gầy ốm và một bên mập mạp.  Thế là thế nào? Xin xem hình.



















2)Ông hoàng Phụng Hóa (vua Khải Định)  nhận con người khác làm con  vì lòng hiếu đối với mẹ ? 
Người ta nói rằng vì  để tỏ lòng hiếu đối với hai bà mẹ, vì muốn làm vui lòng hai bà mẹ mà phải dựng kịch bản có con [8]Vua Khải Định được đào tạo trong nền văn hóa cổ.  Hẳn vua dư biết rằng “Bất hiếu hữu tam, vô tự vi đại” —  trong ba điều bất hiếu thì việc không có con nối dõi là tội lớn nhất – nhưng đồng thời vua cũng phải biết rằng  để tỏ lòng hiếu với hai bà mẹ bằng cách nhận con người khác làm con, thì đều này lại càng bất hiếu đối với  cha mẹ và tổ tiên dòng họ hơn nữa! Nhất là khi nhận con của một người vai ông để làm con thì quả là cương thường điên đảo.  Nếu ông hoàng Phụng Hóa là một người duy vật, thì điều này có xảy ra cũng không lạ. Dẫu rằng trong lịch sử, đã có một Trần Thủ Độ vì muốn bảo vệ ngai vàng cho Nhà Trần nên đã buộc người trong họ lấy nhau, chấp nhận loạn luân, nhưng ở trường hợp của một người chưa đánh mất lương tâm, vẫn còn biết tôn trọng những giá trị đạo đức cổ truyền như ông hoàng Phụng Hóa, làm gì mà phải táng tận luân thường đến thế? Ông có thể che mắt thế gian nhưng ông không thể che mắt tổ tiên.  Vả chăng, ông hoàng Phụng Hóa không phải là người duy nhất trong dòng họ lâm vào cảnh vô tự. Ông dư biết rằng tiền bối của ông là  vua Tự Đức, vốn nổi tiếng là người con hiếu đối với thân mẫu là Thái hậu Từ Dũ, cũng vô tự, phải nuôi cháu gọi bằng bác[9] làm con để chờ kế vị, và đâu có giải quyết vấn đề một cách vô đạo như vậy? Vậy nên thuyết “mượn người đúc cốt”  để “tráng men”  làm con là vì lòng hiếu với mẹ,  muốn làm vui lòng mẹ,  là một thuyết không hợp lý, nếu không nói  là quá gượng ép.
            3) Việc ghi danh vào sổ bộ của Hoàng tộc (Ngọc phả) như thế nào?
            Trong chế độ quân chủ, nhà nước quản lý con người bằng làng xã và tộc họ. Việc xử một tội phạm phản nghịch bằng án “tru di tam tộc” (giết ba họ, là họ cha, họ mẹ và họ vợ) được các triều đại áp dụng  giống nhau nhằm củng cố quyền lực.  Vì thế, để bảo vệ nòi giống, các dòng họ phải có biện pháp kiểm soát nội bộ, nắm vững người trong họ, không cho người khác dòng máu đánh lộn sòng, sợ có hậu quả không tốt về sau.  Vào thời bấy giờ, khi chưa biết DNA là gì, bằng kinh nghiệm và cảm tính, khi nghi ngờ về phụ hệ, người ta dùng phương pháp “chích huyết giao hòa” để xác minh thân phận một người, mặc dầu ngày nay khoa học biết rằng đó là phương pháp không đúng. [10] Một Họ chia ra làm nhiều Nhánh, một Nhánh lại chia ra làm nhiều Chi. Tùy theo qui định riêng của mỗi họ mà có độ tuổi vô Chi, vô Nhánh, vô Họ khác nhau;  chẳng hạn, 9 tuổi vô Chi, 12 tuổi vô Nhánh, 15 tuổi vô Họ.  “Vô” có nghĩa là  xin gia nhập và được chấp nhận vào cộng đồng đó, và phải qua một nghi lễ, ít ra là khay cau trầu rượu, có khi với chút đỉnh lệ phí, do cha hay chú bác đứng ra xin.
            Trong dân gian mà biện pháp kiểm soát nội bộ còn chặt chẽ như thế, huống hồ là hoàng tộc.  Vua Minh Mạng lập ra Tôn Nhơn Phủ với một tổ chức nhân sự đủ mạnh để làm việc, ban hành Đế hệ thi, Phiên hệ thi  [11] để phân biệt trưởng, thứ, thân sơ; qui định thể thức ghi danh vào sổ hoàng tộc; đặt chức vụ quản lý từng Phòng, Hệ v.v đều nhằm mục đích tránh lộn sòng gây nguy hại cho dòng họ. 
            Trong bối cảnh đó, liệu ông Hoàng Phụng Hóa có đủ quyền lực hoặc thế lực để cứ làm bừa đi (nhận con người khác làm con) rồi áp lực hoặc mua chuộc các giới chức có thẩm quyền trong  Tôn Nhơn Phủ để họ phải chấp nhận cho ghi tên Vĩnh Thụy vào Ngọc phả?  Nếu không vì áp lực của ông hoàng Phụng Hóa để làm việc sai nguyên tắc đó, thì hóa ra những viên chức vụ  có trách nhiệm và có thẩm quyền tại Tôn Nhơn Phủ đều là hạng ngớ ngẩn không biết gì hết sao? Kinh đô Huế nhỏ lắm, có tin đồn gì mà không biết?  Lệ năm Minh Mạng thứ 19 (1818) định rằng các hoàng tử tước Công (ví dụ Phụng Hóa Công) và Thân Công khi sinh được con trai hay con gái thì ngày hôm ấy làm giấy đóng ấn của mình báo cho Tôn Nhơn Phủ biết. [12] Ông Hoàng Phụng Hóa cũng  phải qua thủ tục đó.  Nếu ông đã làm như vậy và Phủ Tôn Nhơn đã chấp thuận, chính thức ghi danh Vĩnh Thụy vào Tôn phả mà không thắc mắc thì người ngoài sao lại lắm chuyện?
            4)Liệu ông hoàng Phụng Hóa có vì một mưu đồ tương lai mà nhận con người khác làm máu  thịt của mình không?
            Nếu ông hoàng Phụng Hóa nhận con người khác làm máu thịt không phải do lòng hiếu đối với mẹ, thì vì động cơ gì?  Dọn đường đi đến ngai vàng chăng?           
            Theo Phạm Khắc Hòe, sau khi truất phế vua Thành Thái vào năm 1907, trong một cuộc họp giữa Khâm sứ Trung kỳ và các quan lớn của triều đình Huế, người Pháp muốn chọn ông hoàng Phụng Hóa lên thay nhưng nhiều đình thần phản đối, không muốn chọn người “vô tự” làm vua, do đó phải chọn vua Duy Tân. [13] Phải chăng vì biết chỗ thiếu sót này nên ông Hoàng Phụng Hóa đã kiếm con người khác lấp vào chỗ trống để chuẩn bị điều kiện thuận lợi cho tương lai?
            Như ta đã biết, hoàng tử Vĩnh Thụy sinh ngày  22/10/1913 (23 tháng 9 Quí Sửu).  Nếu lấy 9 tháng 10 ngày mang thai làm chuẩn thì việc  hai bên nam nữ gần nhau để đem lại hài nhi đó phải xảy ra vào đầu năm 1913. Vào cái thời điểm 1913 đó, đầu năm hay cuối năm cũng thế, tình hình an ninh và chính trị của Đông Dương rất ổn định, địa vị của vua Duy Tân rất vững vàng, chính quyền bảo hộ rất yên tâm về ông vua trẻ đang lớn này.  Đó không phải là điều kiện thuận lợi để cho ông hoàng Phụng Hóa nuôi một hy vọng mơ hồ về ngai vàng tương lai để mà thúc đẩy đi kiếm con. Vì vậy, nghi vấn này đặt ra cũng không có cơ sở vững vàng . François de Tessan, khi viết bài giới thiệu về vua Khải Định, đăng trên Revue de Paris, có nói rằng  đang khi sống một cuộc đời khiêm tốn bên bờ sông An Cựu, ông hoàng Phụng Hóa không  dám mơ tới  một ngày kia ngai vàng  tới tay [14]
    Thế nên, trong bài viết  Chuyện cung đình nghe kể lại tôi đã có  viết vắn tắt rằng:
 “Giữa những chuyện đồn đãi về nguồn gốc vua Bảo Đại, tôi nghĩ rằng người ta quên một điều rất quan trọng, đó là việc hoàng tử Vĩnh Thụy được sinh ra và được công nhận là chính thống ngay từ khi vua Khải Định đang còn tiềm để, nghĩa là đang còn là một ông hoàng ngồi chờ thời. Đang là một ông hoàng chờ thời, vậy mà đã toan tính nuôi con người khác để chờ kế vị? Làm sao có chuyện ngược đời đến thế?”
            Khi viết về thời thơ ấu của vua Bảo Đại, Trần Gia Phụng đã có một kết luận về thân thế của nhân vật này như sau:
      “Nói cho cùng, về mặt pháp luật, khi hai người kết hôn thành vợ chồng, người vợ sinh con mà người chồng không thắc mắc khiếu nại gì về lai lịch đứa con; và nếu người con đó khi đủ 18 tuổi không kiện tụng để truy nguyên nguồn gốc của mình, thì người con đó đương nhiên là con của cặp vợ chồng này.  Trong trường hợp vua Khải Định, nhà vua nhận Vĩnh Thụy là con mình, đã hết lòng lo lắng cho tương lai của Vĩnh Thụy.  Khi lớn lên, Vĩnh Thụy, tức vua Bảo Đại, rất hãnh diện là con của vua Khải Định.  Ngoài ra, sự ra đời của ông Vĩnh Thụy còn được còn được hai bà mẹ của ông hoàng Bửu Đảo (tức vua Khải Định) chính thức thừa nhận.  Vậy là toàn thể thành viên trong gia đình ông Khải Định  hoàn toàn cùng một ý kiến  về việc này, thì không có gì để nói thêm về lai lịch của ông Bảo Đại.  Chỉ khi nào một người bị chính cha mình từ bỏ vì bất hiếu hay có vợ con mà giấu diếm, giết vợ, chối con, giao cho người khác nuôi mới đáng bàn cải cả về pháp lý lẫn về đạo đức.” [15]
            Tôi hoàn toàn tán thành quan điểm đó./

San Jose, 7/2006
 Chú thích:
[1] Phan Thứ Lang, sđd, tr .17.  Ông Hường Đề cùng tuổi với vua Khải Định (sinh 1885),  xuất thân Tây học, bạn rất thân của ông hoàng Phụng Hóa, thường giúp thông ngôn khi ông hoàng phải tiếp xúc với người Pháp.  Ra đời với nghề dạy học, năm 1916, khi ông hoàng trở thành vua Khải Định, ông Hường Đề được phong  làm Ngự tiền Văn Phòng. Và sau đó  làm đến Tham tri Bộ Lễ, Bố chánh Thanh Hóa.
[2] Xem Phan Thứ Lang, sđd, tr..
[3] Nhờ Đức Từ, ông Huề gia nhập quan trường, ngạch quan võ. Khi ông lên chức Đội trưởng thì người ta gọi là ông Đội Huề, đến khi lên Tứ đẳng Thị vệ thì người ta gọi là ông Tứ Huề. Trước 1945, ông thỉnh thoảng ông đến nhà chơi nên tôi có biết nhân vật này.
[4] Trước 1945, nhà hộ sinh không phổ biến, huống chi là đầu thế kỷ 20.  Sản phụ thường sinh nở tại nhà, với sự đở đẻ của bà mụ vườn.  Người ta vẫn cho rằng sinh đẻ là chuyện ô uế nên không cho sinh trong nhà mà cất một cái chòi ở góc vườn dành cho việc này.  Bản thân người viết cũng sinh ra do bà mụ vườn .
[5] Tức Công chúa Tân Phong, con của vua Dục Đức, em vua Thành Thái.
[6] Kể về thế thứ trong gia tộc thì Bà Chúa Tám là vai chị, kể về tuổi tác thì đúng là vai em.
[7] Tôi muốn nói đến tác giả Phạm Khắc Hòe và kiến giải liên hệ trong cuốn Kể chuyện vua quan Nhà Nguyễn  (nxb Thuận Hoá,Huế, 1997) của ông.  Đã từng làm quan lớn trong triều đình Huế với chức vụ Đổng lý Ngự tiền Văn phòng, có điều kiện thuận tiện để tiếp cận những nguồn tin giúp tìm ra sự thực, vậy mà vẫn không chứng minh được gì, để rồi cuối cùng, vì  gió chính trị thổi bạt lý trí  nên đã đại ngôn kết luận rằng “bố đẻ của Bảo Đại là chủ nghĩa thực dân Pháp” thì thật tào lao quá sức!
[8] Phan Thứ Lang, sđd., tr. 13-14, 20.
[9] Đó là: Hoàng tử Ưng Chân, sau là vua Dục Đức, thân phụ của vua Thành Thái;  Hoàng tử Ưng Kỳ, sau là vua Đồng Khánh, thân phụ của vua Khải Định;  và Hoàng tử  Ưng  Đăng tức vua Kiến Phước.
[10] Trước sự chứng kiến của các bậc trưởng thượng trong dòng họ, người ta múc một bát nước đầy, chích huyết nơi ngón tay của người cha nhỏ vào bát nước, xong lại chích huyết nơi ngón tay người con nhỏ tiếp vào.  Nếu huyết của hai người hòa quyện với nhau, ấy là cha con.  Nếu không, thì giữa hai người không có liên hệ máu huyết.  Ngày nay thì  ai cũng biết rằng con  người thuộc các nhóm máu, A, B, AB và O. Hai loại máu khác nhau thì không thể nào dung hợp. Cha con khác loại máu là thường, vì vậy phương pháp chích huyết giao hoà không đúng.

[11] Đế hệ thi là bài thơ 28 chữ, qui định chữ lót cho nhưng người thuộc dòng làm vua, dòng của vua Minh Mạng.  Phiên hệ thi là bài thơ 28 chữ qui định chữ lót cho  dòng anh em của vua Minh Mạng.
[12] Hội điển, Tập I, tr. 76
[13] Phan Thứ Lang, sđd, tr.22
[14] F. Tessan, S.M.Khai Dinh, Empereur d’ Annam, La Revue de Paris, No13, 1922, tr.155
[15] Trần Gia Phụng, bđd, tr,. 108


Xây mộ cho cựu hoàng Bảo Đại


Bài: Huy Phương/Người Việt
Hình: Tư liệu của gia đình ông Bảo Ân

Gian nan những chuyến đi

Khoảng cuối năm 1975, bà Phi Ánh vào Tòa Ðại Sứ Pháp tại Sài Gòn, yêu cầu xin cho toàn gia đình (gồm cả chồng, con riêng và con của cựu hoàng) được đi Pháp. Ít lâu sau, qua ông đại sứ Pháp, Cựu Hoàng Bảo Ðại chỉ chấp thuận cho bà Phi Ánh và hai con sang đoàn tụ và tòa đại sứ đã nhanh chóng cấp Laissez-Passer cho bà Phi Ánh, Phương Minh và Bảo Ân. Tuy nhiên, Phương Minh đã có thời gian sống ở Pháp, nói rằng đời sống ở Pháp rất khó khăn, và tuy vì tình thương con, cựu hoàng thật ra không đủ khả năng bảo trợ nuôi dưỡng ba người. Mặt khác gia đình của bà Phi Ánh không thể chia cắt như thế, và Bảo Ân cũng không thể bỏ vợ con ở lại, nên chuyện ra đi không thành.


Ông Bảo Ân và Thứ Phi Mộng Ðiệp trước tranh vẽ Cựu Hoàng Bảo Ðại (Paris 2004). Năm 1978, người chồng sau của bà Phi Ánh vượt biên sang Mỹ thành công, gửi giấy bảo lãnh về, nhưng lúc ấy Bảo Ân đã có gia đình, không đủ điều kiện ra đi. Trong khi chờ đợi đi Mỹ, bà Phi Ánh mắc bệnh ung thư và qua đời năm 1984.
Năm 1985, bà Phương Minh và các con riêng của bà Phi Ánh đi định cư ở Mỹ.
Mãi đến năm 1992, gia đình ông Bảo Ân được gia đình bên vợ bảo lãnh, sang Mỹ và định cư tại quận Cam từ đó đến nay. Những năm đầu tiên, cũng như bao nhiêu người mới sang khác, bà Bảo Ân phải ngồi shop may suốt ngày, ông làm trong một hãng in áo T-shirt và về sau sang làm cho một hãng Nhật chuyên sản xuất CD tại Garden Grove.
Con trai ông Bảo Ân, cháu đích tôn của Cựu Hoàng Bảo Ðại, Nguyễn Phước Quý Khang tốt nghiệp UCI về ngành thương mãi và hiện làm cho một công ty ngoại quốc ở Sài Gòn.
Xây mộ cho phụ hoàng
Gia đình Bảo Ân đến Mỹ năm 1992 nhưng vì thất lạc hồ sơ nên đến năm 2005 gia đình mới có quyền công dân. Cầm passport trong tay, quốc gia đầu tiên mà ông muốn đến là Pháp, để thăm mộ cha, điều mà ông mơ ước từ lâu, nhưng chưa có cơ hội thực hiện. Ông Bảo Ân đã liên lạc với một người bạn ở Paris là Ðặng Văn Phụng, nhờ vợ chồng người này đi xem thử tình trạng ngôi mộ của Vua Bảo Ðại hiện nay tại nghĩa trang Passy thuộc hạt Trocadero Paris 16e ra sao. Theo lời kể của ông Bảo Ân, người bạn này suốt một ngày đi tìm, đọc hết các tấm bia mộ mà không không thấy, nghi ngờ rằng cựu hoàng không được chôn cất tại đây. Ông Bảo Ân gợi ý cho người bạn là nên đi tìm người gác nghĩa trang để hỏi, mặc dầu với bản sơ đồ trong tay, cuộc tìm kiếm cũng không kết quả. Một lần khác, trong khi đang đứng gần ngôi mộ của cựu hoàng, người bạn này tình cờ gặp và hỏi một người cảnh sát già về ngôi mộ của “Sa Majesté Bảo Ðại,” thì ông này chỉ ngay vào ngôi mộ gần đó. Ðó là một ngôi mộ không có bia, không khắc tên, chỉ trơ trọi hai tấm “đan” xi măng sần sùi, với mấy chậu hoa đã quá cũ kỹ qua thời gian. Người bạn của anh nhìn xuống ngôi mộ mà bật khóc. Nơi yên nghỉ của một ông vua mà như thế này sao?
Ông Bảo Ân hồi tưởng: “Nghe anh kể mà tôi khóc nức nở, thật là tội nghiệp cho cha tôi, cha nằm đó lạnh lẽo như một kẻ vô danh đã 8 năm rồi, không ai biết để thắp một nén nhang cho cha ấm lòng.”
Ông Bảo Ân ngậm ngùi trước ngôi mộ đơn sơ của cha. Nghĩa trang Passy ở Paris là một nghĩa trang nổi tiếng được xây dựng từ đầu thế kỷ XIX, nơi chôn cất nhiều nhân vật lừng danh của thế giới như tài tử phim hài Fernandel (1903-1971,) nhà văn Virgil Gheorghiu (1916-1992,) họa sĩ Edouard Manet (1832-1883,) người sáng lập công ty xe hơi Marcel Renault (1872-1903,) Tổng Thống Pháp Alexandria Millerand (1859-1943)… Cũng theo lời kể của ông Bảo Ân, Vua Bảo Ðại không tiền và cũng không có thế lực để được chôn cất tại đây, đây là phần mộ của một thương gia giàu có ở Paris, rất kính trọng cựu hoàng, khi nghe ông qua đời đã hiến phần đất này cho ngài.
Về việc xây mộ cho Cựu Hoàng Bảo Ðại, khi ông từ trần ở Paris, chỉ có người vợ cuối cùng của ông là bà Monique Baudot, người Pháp ở bên cạnh, và trên pháp lý, chỉ có bà Monique, người vợ có hôn thú còn sống mới có quyền xây mộ cho ngài.
Theo sự hiểu biết của ông Bảo Ân, bà Thứ Phi Mộng Ðiệp và các con tuy có tiền nhưng lại không muốn giao cho bà Monique xây mộ. Lúc sinh thời, Thái Tử Bảo Long không làm được, gia đình bên các công chúa không làm được, phía Nguyễn Phước Tộc cũng không làm được vì không có sự đồng ý của bà Monique, thậm chí hội này có quyên góp và giao lại cho bà Monique một số tiền để xây mộ nhưng không có kết quả… Nhiều người giàu có muốn xây mộ cho Vua Bảo Ðại để lấy tiếng cũng bị bà Monique cản trở.
Ông Bảo Ân rất xúc động và đau lòng khi nghe người bạn từ Paris mô tả những gì về ngôi mộ này, nên muốn nhờ người bạn đi kiếm người làm một tấm plaque khắc tên Vua Bảo Ðại đặt trên ngôi mộ và sau này có thể xúc tiến việc xây mộ cho ngài. Người bạn tìm đến ông Nguyễn Duy Hiệp, một người Việt, có dịch vụ chuyên lo về thủ tục mai táng của thành phố Paris. Ông này khi nghe nói đến có một người con cựu hoàng hiện ở Mỹ có quan tâm đến ngôi mộ, ông rất cảm kích và ngỏ ý ông sẽ liên lạc với bà Monique để có thể tiến hành việc xây mộ. Ông Nguyễn Duy Hiệp giải thích là bà Monique có nhờ ông quyên tiền để xây mộ cho cựu hoàng, nhưng trong ba năm, ông chỉ nới quyên được 1,200 Euros, vậy nếu “Mệ” Bảo Ân có khả năng làm được, “thì mời sang Paris, chúng ta sẽ bàn tiếp”.
Một chủ công ty mộ bia ở Paris là ông Cridel thấy hoàn cảnh của Cựu Hoàng Bảo Ðại đáng thương nên đã gặp bà Monique, và điều đình với bà, nếu bà bằng lòng thì ông sẽ thực hiện bản vẽ và ông sẽ giúp 50% phí tổn xây cất. Ông Nguyễn Duy Hiệp cũng góp lời thuyết phục, cuối cùng bà Monique đồng ý và giao cho ông Hiệp gây quỹ trong bà con cộng đồng Việt Nam.
Ông Bảo Ân và con trai, Quý Khang, cháu đích tôn của Cựu Hoàng Bảo Ðại bên ngôi mộ mới vừa hoàn thành. Gây quỹ
Tốn phí cho công trình xây mộ ước tính ban đầu là khoảng 25,000 Euros. Công ty Cridel chịu 50%, ông Nguyễn Duy Hiệp quyên được 3,000 và cá nhân ông đóng thêm 1,000, chùa Tịnh Ðộ đóng góp 1,000, các vị đạo hữu Cao Ðài cho được 400. Số tiền còn lại do các vị trong cộng đồng Việt Nam đóng góp. Xúc động nhất là có 1 cháu gái gởi tới 5 Euros kèm theo bức thư đại ý là cháu còn đi học không có nhiều tiền nhưng thấy thương ông vua của mình quá nên xin được đóng góp để xây mộ cho ngài. Như vậy còn thiếu khoảng 9,000 Euros cho nên việc xây mộ đã chờ đợi hơn 3 năm nay rồi mà không thực hiện được.
Sau sự tường trình của ông Nguyễn Duy Hiệp, ông Bảo Ân hứa sẽ cung cấp số tiền còn lại. Ông Bảo Ân cũng cho chúng tôi biết, qua Mỹ phải làm ăn vất vả, không có tiền, tuy vậy ông đã “cà” tất cả thẻ “credit” ông có mới có đủ tiền xây mộ cũng như trang trải tốn phí cho những chuyến đi sang Pháp.
Năm 2005, ông Bảo Ân qua đến Pháp, việc đầu tiên là đến gặp ông Cridel để xem bản vẽ, để xem có cần sửa chữa gì không? Ghi khắc tên tuổi của cựu hoàng trên bia đá như thế nào? Ðể khắc chữ bằng vàng trên bia mộ, phải tốn thêm 2,200 Euros. Sau khi bà Monique chấp thuận, ông Cridel sẽ cho xúc tiến xây mộ ngay lập tức, và khi nào hoàn tất, ông sẽ báo cho ông Bảo Ân trở qua Pháp để tổ chức lễ tưởng niệm và cầu siêu cho cựu hoàng.
Khi được thông báo công việc êm xuôi, cuối năm 2006, ông Bảo Ân trở lại Paris. Ông “chạm trán” bà Monique tại phần mộ của cựu hoàng. Bà Monique nổi tiếng là khó khăn, câu nói đầu tiên của bà Monique khi nhận ra Bảo Ân là “mắng” ông sao sang Paris mà không đến thăm viếng bà theo phép lịch sự, trong khi đó lại đến thăm bà Mộng Ðiệp. Ông Bảo Ân đành lấy lý do ông không rành tiếng Pháp và không biết đường sá.
Bà Monique cũng than phiền là các con Vua Bảo Ðại “làm phiền bà quá nhiều!”
Việc ông Bảo Ân xây được mộ cho cựu hoàng cũng là do duyên định, hình như vua cha dành cho ông vinh dự này vì gần 10 năm nay, không ai có thể thuyết phục được bà Monique để cho họ xây mộ của Vua Bảo Ðại, trong khi chính bà lại không có tiền hay không muốn xây mộ.
Bốn chữ “Bảo Ðại Sắc Tứ” được khắc trên đầu bia mộ. Ngoài các dòng chữ do ông Bảo Ân soạn khắc trên bia mộ, bà Monique đã quyết định là khắc thêm hình ảnh kim khánh bốn chữ “Bảo Ðại Sắc Tứ”(*) khắc trên tấm bia, mà có lẽ những người làm bia mộ, không ai biết ý nghĩa của nó.
Trước ngày khánh thành, ông Bảo Ân cho bà Monique hay là ông sẽ đem lá cờ vàng ba sọc đỏ vào treo trước ngôi mộ, vì đây là lá cờ ngày 2 Tháng Sáu năm 1948, chính phủ của Quốc Trưởng Bảo Ðại (với Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân) đã chính thức dùng làm quốc kỳ của quốc gia Việt Nam. Cuộc thương thảo bất thành vì bà Monique không bằng lòng và de dọa sẽ gọi cảnh sát can thiệp nếu ông Bảo Ân đem lá cờ VNCH vào lễ khánh thành.
Con trai của cựu hoàng phản đối bằng cách không đến tham dự lễ khánh thành ngôi mộ của cha, và bài diễn văn soạn sẵn, với tư cách là đại diện của gia đình Vua Bảo Ðại, để cám ơn các quan khách và hội đoàn người Việt tại Paris, sẽ không bao giờ còn cơ hội để đọc nữa.
Ngày khánh thành mộ cựu hoàng có đủ các chức sắc thành phố, các hội đoàn người Việt ở Paris, nhưng lại vắng bóng các “Mệ” con của Vua Bảo Ðại, ngoài lý do trên của Bảo Ân, không ai muốn gặp mặt bà Monique. Ông Bảo Ân cho biết lý do, nếu ai đến, tức là đã công nhận bà Monique trong vai trò người vợ chính thức của nhà vua, đó lại là điều tất cả mọi người không ai muốn.
___

Kỳ tới: Sau khi bị truất phế, tài sản của toàn gia đình Quốc Trưởng Bảo Ðại (kể cả vợ không hôn thú) và của các ông Vĩnh Cẩn, Nguyễn Ðệ đều bị tịch thu. Thân mẫu của Quốc Trưởng Bảo Ðại, Ðức Từ Cung phải dọn ra khỏi Cung An Ðịnh.
Ghi chú:
(*) Theo nhà biên khảo Võ Hương An, 4 chữ “Bảo Ðại Sắc Tứ” khắc trong kim khánh trên bia của lăng Vua Bảo Ðại tại nghĩa trang ở Paris, nhìn thì đẹp nhưng không có nghĩa. Hai chữ sắc tứ (hay có khi là ân tứ) được dùng khi vua ban thưởng một vật gì đó cho bầy tôi; ở đây, Vua Bảo Ðại đã là vua rồi thì không viết “Bảo Ðại Sắc Tứ” được. Nếu muốn trang trí thì nên ghi “Bảo Ðại Hoàng Ðế”.
Trong bài báo này chúng tôi dùng tiếng “mộ” để chỉ nơi an nghỉ của Cựu Hoàng Bảo Ðại. Nhưng theo sách vở triều Nguyễn, mộ của Hoàng Ðế, Hoàng Hậu, Thái Hậu được gọi là “lăng,” còn ngoài ra, dân thường và quan lại, dù đến nhất phẩm triều đình cũng chỉ được gọi là “mộ.”
 
Mộ các vì Vua tại Pháp
  
Dinh thự xa hoa của vua Bảo Đại tại Đà Lạt
Dinh 1 Đà Lạt được xây dựng bởi Robert Clément Bourgery một triệu phú người Pháp vào những năm 40 của thế kỷ trước. Tổng diện tích của khu dinh thự này lên tới 60ha với một hệ thống kiến thúc đồ sộ thuộc hàng khủng nhất thời bấy giờ.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32