Chuyển đến nội dung chính

BÍ ẨN LỊCH SỬ 48/b (Tình hình Xyria)

-Ottoman! Sẽ đến lượt mày! Đừng lợi dụng kiểu "đục nước béo cò". Hãy nhớ: "Bà con xa không bằng láng giềng gần"
-Bản chất của quyền lực Tư Bản: tham lam, ích kỷ, tàn bạo, hẹp hòi, thích thống trị. Bản chất ấy đã bộc lộ rõ ràng trong chiến tranh thế giới I, trong chiến tranh thế giới II, và trong cuộc tàn phá Trung Đông hiện nay!
-Trung Quốc đã thành đế quốc Tư Bản xảo quyệt, gắn mác Cộng Sản, bắt đầu tung hoành ở Biển Đông!

----------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)



Vì sao Nga quyết liệt bảo vệ chính quyền Syria?

Mối quan hệ khăng khít Nga -Syria đã tồn tại từ hàng thập niên nay - Ảnh: Reuters


Mối quan hệ khăng khít Nga -Syria đã tồn tại từ hàng thập niên nay - Ảnh: Reuters

Tham chiến ở Syria không phải là một quyết định dễ dàng với Tổng thống Nga Vladimir Putin. Nhưng ông biết nếu không làm thế, cuộc chiến tiếp theo có mặt Nga có thể là ngay bên trong biên giới Nga.

Trên đây là nhận định của một quan chức Iran, nước đang đứng cùng đội hình với Nga ở Syria. Báo Al-Monitor dẫn lời quan chức này cho rằng lý do đầu tiên trong quyết định tham chiến của ông Putin là vì an ninh quốc gia của chính nước Nga. “Vì thế, điện Kremlin đã quyết định bắt đầu cuộc chiến đánh phủ đầu này”.
Quay lại Trung Đông sau một thời gian vắng mặt quá dài (từ thời Liên Xô sụp đổ), không bàn cãi gì, đó là một quyết định khó khăn cho ông Putin. Không riêng gì an ninh bên trong Nga mà Syria còn là con át chủ bài cho quyền lực của Nga ở Trung Đông.
Suốt nhiều thập niên dài, Syria đã luôn là đồng minh quan trọng của Nga ở Trung Đông. Sự sụp đổ của Liên Xô cũng không làm thay đổi điều đó. Từ năm 2011, khi các phong trào nổi dậy ở Syria bắt đầu rộ lên, Nga bắt đầu cảm thấy lo lắng. Rõ ràng, nếu cái ghế lãnh đạo Syria đổi chủ, vào tay các lực lượng chống đối thân Mỹ, nước Nga sẽ mất đáng kể ảnh hưởng ở Trung Đông.
Lập tức, Nga tăng cường sự hậu thuẫn tối đa cho Syria, dùng tất cả những quyền lực và nguồn lực Nga có để duy trì chính quyền Syria, dù đó là quyền phủ quyết tại Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc, gởi vũ khí cho chính quyền Syria hay như những gì thế giới đang chứng kiến, can thiệp quân sự để hỗ trợ chính quyền của Tổng thống Bashar al-Assad.
Với những bước đi thần tốc đến kinh ngạc, Tổng thống Putin đã liên tục tiến những nước cờ quân sự khiến cả những ông lớn sừng sỏ như Mỹ cũng trở tay không kịp. Sự chuẩn bị đã bắt đầu từ rất lâu, bởi ông Putin biết rõ đó không chỉ là cuộc chiến giành sự ảnh hưởng ở Syria, tham gia quyết định tương lai Syria mà là bàn cờ bao phủ cả Trung Đông.
Nếu thắng cuộc chiến này, tầm ảnh hưởng trên toàn thế giới của nước Nga và cá nhân ông Putin cũng theo đó mà mở rộng. Giữa bối cảnh Mỹ và phương Tây đang tìm mọi cách cô lập Nga, điều này càng có ý nghĩa với ông Putin hơn bao giờ hết.
Kiều Oanh

Tại sao Mỹ bất an, khi Nga tham chiến tại Syria?


(Quan hệ quốc tế) - Nếu Mỹ chần chừ vì lo ngại mà không cho Nga tham gia vào liên minh chống IS thì Nga sẽ không kích đơn phương và lập liên minh riêng với Iran. 

 
Xét về tình thế, hiện nay, quân đội Syria phải đối đầu trực tiếp với 3 lực lượng trên bộ, gồm IS, Nusra-al Qaeda và lực lượng “Quân đội Syria tự do”, còn trên không thì bao gồm một liên minh do Mỹ cầm đầu của gần 60 quốc gia.
Ba lực lượng này được Mỹ, phương Tây, các nước Trung Đông, tùy theo lợi ích liên quan, họ hỗ trợ, viện trợ vũ khí tối tân hiện đại. Chẳng hạn Thổ Nhĩ Kì thì cho IS để chống lại người Kurd, Mỹ thì cho quân đội Syria tự do…
Gần 4 năm trời, quân đội Syria chống đỡ và tồn tại được như bây giờ là cực kỳ oanh liệt, Tổng thống Assad vẫn không bị lật đổ như tuyên bố của Mỹ-phương Tây và các quốc gia Trung Đông cũng là người hùng đáng trân trọng thay vì như Gaddafi hoặc Hussein.
Tai sao My bat an, khi Nga tham chien tai Syria? 
Chính quyền của Tổng thống Assad chưa bị lật đổ như Lybia, Iraq mới ngạc nhiên!

Vào lúc khi quân đội Syria của Tổng thống Assad chỉ còn giữ được 30% lãnh thổ phía Tây đất nước thì Nga can thiệp quân sự. Nga can thiệp bằng cách: Một, viện trợ cấp tập vũ khí trang bị hiện đại cho quân đội Syria. Hai, biến quân cảng Tartus thành căn cứ Hải quân và sân bay Latakia thành căn cứ không quân. Ba, không kích IS.
Hành động quân sự của Nga tại Syria đã khiến Mỹ có thể nói là giật mình, lo lắng. Tại sao lại như vậy?
Thứ nhất là Mỹ đang luống cuống chưa biết đưa lực lượng nào lên nắm chính quyền khi chính quyền Assad sụp đổ, dù đã bỏ ra bao thời gian, công sức, tiền của để chuẩn bị.
Mỹ đã bỏ ra 500 triệu USD để huấn luyện lưc lượng “Quân đội Syria tự do” chừng 5000 người, dùng lực lượng này để thay thể chính quyền Assad khi lật đổ. Khi về Syria lực lượng này đã bị bắt hoặc đầu hàng IS và Nusra-al Qaeda, hiện chỉ có 4-5 người. Theo như tướng Lloyd J. Austin III Mỹ báo cáo trước UB quân vụ Thượng viện Hoa Kỳ thì đây là “kỷ lục cho quá trình đào tạo tốn kém nhất trong lịch sử nhân loại”. Vậy nếu Assad bị lật đổ thì IS sẽ hưởng lợi lớn, khi Mỹ “chỉ là ném bom, đánh thuê” cho IS mà thôi.
Thứ hai là, qua hơn 6 ngàn vụ không kích IS thì Mỹ rõ hơn ai hết thực chất của việc không kích hiệu quả ra sao. Chắc chắn 100% là nếu Mỹ toàn tâm toàn ý không kích IS thì IS không thể trụ nổi vài tuần.
Huống chi, trên chiến trường Syria quân đội Syria được sự hỗ trợ của Iran, Hezbollah là lực lượng bộ binh mạnh nhất, trung thành nhất. Nếu lực lượng này được cấp vũ khí hiện đại, được sự hỗ trợ tấn công từ trên không của không quân Nga thì bảo đảm IS và quân nổi dậy sẽ tan nát nhanh chóng.
Đó là lý do vì sao Mỹ tìm cách để Nga không thành lập một liên minh mới chống IS bao gồm Nga, Iran và ngay cả cho Nga vào liên minh, Mỹ cũng đang chần chừ lo ngại, bởi nếu IS bị tiêu diệt thì đối thủ còn lại sẽ bị quân của Assad tiêu diệt dễ như “bẻ cành củi khô”.

Tại sao Mỹ bất an, khi Nga tham chiến tại Syria? (Tiếp theo)

(Quan hệ quốc tế) - Nếu Mỹ chần chừ vì lo ngại mà không cho Nga tham gia vào liên minh chống IS thì Nga sẽ không kích đơn phương và lập liên minh riêng với Iran. 

 
Thứ ba là thế giới ai cũng đều hiểu rõ sự mất ổn định ở Syria gây ra cuộc khủng hoảng di cư, tị nạn lớn nhất sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 là do nội chiến và IS lộng hành. Mỹ thừa biết điều này và do có chủ ý riêng nên Mỹ đã để tình hình trở nên dây dưa, kéo dài mà chưa thể kết thúc theo ý muốn. Nếu Nga xuất hiện, can thiệp bằng quân sự, IS cơ bản bị tiêu diệt thì sớm muộn tình hình sẽ ổn định, lúc đó vai trò, ý đồ của Mỹ trong thời gian qua bị bộc lộ lên tất cả.
Tổng thống Putin sẽ “3 mặt 1 lời” với Mỹ ngay tại ĐHĐLHQ vào ngày 28/9 tới. Lúc đó, Mỹ hoặc là hợp đồng tác chiến với Nga để không kích IS hoặc là Nga đơn phương hay thành lập liên minh mới để không kích IS. Cả hai đều có lợi đến sự tồn tại của chính quyền Assad mà Mỹ luôn làm mọi cách để Assad phải ra đi.
Cuối cùng là, tại chiến trường Syria, Nga sẽ thắng.
Syria không phải là Apganixtan. Tại Apganixtan, Mỹ đường đường chính chính viện trợ vũ khí cho Taliban nhưng với IS thì Mỹ không thể. Tại đó chiến trường nó khác, lực lượng thân Nga quá yếu kém, vũ khí công nghệ cao chưa xuất hiện nhiều, trong khi tại Syria, Nga có căn cứ Hải quân, Không quân, Nga có lực lượng không kích mạnh, hiện đại và lực lượng bộ binh là quân đội Syria đủ sức đánh bại IS và quân nổi dậy. Nga không chịu áp lực vì không có lính bộ binh tham gia, cũng như Mỹ, Nga tác chiến trên không như “đại bàng đi săn trên thảo nguyên” vì họ làm chủ vùng trời. Chiến thuật này, Mỹ, NATO làm được thì Nga cũng làm được. Nói chung Nga có ưu thế hơn Mỹ để diệt IS và Mỹ lo sợ là Nga sẽ làm được điều này.
Nếu như Tổng thống Mỹ Obama đã từng nói: “Tại sao lại phải ném bom vào người của mình” thì khi thấy Nga cứ không kích túi bụi, không thương tiếc vào “đứa con hoang” của mình thì ai không xót.
Mỹ không ngồi nhìn để cho Nga hành động. Mỹ yêu cầu Bulgary, Hy lạp không cho máy bay Nga qua không phận đến Syria…
Nga thì đang tức giận, mất kiên nhẫn trước sự chần chừ của Mỹ trong việc để Nga vào liên minh hay không. Nga tuyên bố, nếu Mỹ từ chối liên minh với Nga thì Nga sẽ không kích đơn phương.
Rõ ràng Mỹ đã bị Nga dồn vào thế phải tự bộc lộ mình.
  • Lê Ngọc Thống
                                 

Bị quân nước ngoài vây đánh, Tổng thống Assad sắp bị lật đổ?

07:11, Thứ Tư, 30/11/2016 (GMT+7)

(VnMedia) - Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan tuyên bố, quân đội của họ tiến vào Syria là nhằm để đặt dấu chấm hết cho chính quyền của Tổng thống Bashar al-Assad – người bị Ankara cáo buộc là “khủng bố” và gây ra cái chết của hàng nghìn người.

Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan
Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan

“Chúng tôi tiến vào Syria để kết thúc chế độ cầm quyền của nhà độc tài al-Assad. Ông ta đang khủng bố đất nước. Chúng tôi tiến vào Syria không vì bất kỳ lý do nào khác”, Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ cho biết tại một hội nghị chuyên đề diễn ra ở Istanbul.

Ông Erdogan nói rằng, Thổ Nhĩ Kỳ không có tranh chấp lãnh thổ ở Syria nhưng thay vào đó muốn trao quyền lực cho nhân dân Syria. Ankara đang tìm cách khôi phục lại “công lý” ở Syria, Nhà lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ nhấn mạnh.

“Tại sao chúng tôi tiến vào chiến trường đó? Chúng tôi chẳng để mắt đến đất đai của Syria. Vấn đề là trao trả đất về cho những người chủ thực sự. Điều đó có nghĩa là chúng tôi ở đó để khôi phục lại công lý”, ông Erdogan tuyên bố.

Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ cho rằng, theo tính toán của ông này, khoảng 1 triệu người đã thiệt mạng trong cuộc xung đột ở Syria mặc dù không có tổ chức hay nhóm giám sát nào cung cấp con số tương tự. Theo ước tính mới nhất của Liên Hợp Quốc, khoảng 400.000 người đã thiệt mạng trong cuộc nội chiến kéo dài gần 6 năm qua ở đất nước Syria.

Theo lời ông Erdogan, Thổ Nhĩ Kỳ không thể “chịu được” tình trạng giết chóc dân thường kéo dài không dứt và “phải tiến vào Syria để hậu thuẫn cho Quân đội Syria Tự do”.

Nhà lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ cũng cáo buộc Liên Hợp Quốc bất lực, không có khả năng để thay đổi tình hình ở Syria. Ông Erdogan cho rằng, Liên Hợp Quốc hoạt động không hiệu quả trong tình trạng hiện nay.

“Thế giới lớn hơn 5”, ông Erdogan phát biểu, ám chỉ đến 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Đây là những thành viên nắm giữ quyền phủ quyết quan trọng.

Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu phát động chiến dịch tấn công vào Syria từ hôm 24/8 với mục đích được tuyên bố ban đầu là nhằm đánh đuổi lực lượng khủng bố Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) ra khỏi biên giới của họ. Tuy nhiên, giới phân tích tin rằng, mục đích chính của Ankara là ngăn chặn viễn cảnh đội quân người Kurd ở Syria tiến lại ngày một gần đến biên giới của họ. Sự tham chiến của Thổ Nhĩ Kỳ vào Syria đã làm cuộc nội chiến ở đây thêm phần hỗn loạn, phức tạp và đẫm máu.

Giờ đây, Thổ Nhĩ Kỳ công khai tuyên bố đưa quân vào Syria để lật đổ chính quyền của Tổng thống Bashar al-Assad.

Trên thực tế, Ankara từ lâu đã sát cánh cùng phương Tây để ủng hộ cho lực lượng nổi dậy trong cuộc chiến chống lại chính quyền của Tổng thống Assad. Rất nhiều nhóm nổi dậy hoạt động dưới lá cờ của Quân đội Syria Tự do nhận được viện trợ qua Thổ Nhĩ Kỳ như một phần của chương trình hỗ trợ quân sự từ Mỹ.

Thổ Nhĩ Kỳ cũng được cho là đang ủng hộ cho các nhóm Hồi giáo ở Syria như Ahrar al-Sham, mặc dù nước này bác bỏ quyết liệt cáo buộc về việc họ ủng hộ cho nhóm khủng bố Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS).

Quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đã triển khai bộ binh và không quân đến các khu vực phía bắc của Syria. Vào tháng 10, Không quân Thổ Nhĩ Kỳ từng giết hại từ 160 đến 200 chiến binh của lực lượng YPG người Kurd trong 26 cuộc không kích được tiến hành chỉ trong một đêm. Chiến dịch của quân đội Thổ Nhĩ Kỳ ở Syria đã gây ra mối quan hệ căng thẳng cao đội với chính quyền Assad.

Ankara buộc phải ngừng các cuộc không kích hậu thuẫn cho lực lượng dưới mặt đất ở Syria hôm 22/10 sau khi Damascus thề sẽ bắn hạ máy bay của Không quân Thổ Nhĩ Kỳ trên bầu trời Syria, cáo buộc Ankara xâm phạm chủ quyền quốc gia của họ. Đến lượt mình, Thổ Nhĩ Kỳ cáo buộc quân đội Syria tấn công lực lượng nổi dậy ở tỉnh phía bắc Aleppo.

Kiệt Linh (tổng hợp)

Vì sao Thổ Nhĩ Kỳ can thiệp quân sự vào Syria?

0 Hoàng Long
ANTD.VN - Ngày 24-8, Thổ Nhĩ Kỳ đã khởi động chiến dịch “Lá chắn sông Euphrates”, điều động xe tăng và lực lượng đặc nhiệm tràn qua biên giới tới chiến đấu cùng phe nổi dậy Syria thân Thổ Nhĩ Kỳ để giành lại thị trấn Jarabulus từ tay Tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng. Giới phân tích cho rằng quyết định này thực chất là nỗ lực của Ankara nhằm ngăn chặn cơn ác mộng tồi tệ nhất của họ thành hiện thực, đó là nguy cơ ra đời một khu tự trị của người Kurd ở Syria. 


ảnh 1 
Xe tăng Thổ Nhĩ Kỳ tràn qua biên giới của Syria
Sau khi Thổ Nhĩ Kỳ huy động lực lượng tràn qua biên giới sang Syria, nhóm Hồi giáo cực đoan IS đã rời bỏ thị trấn biên giới Jarabulus ngay lập tức. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng chiến dịch của Ankara không hẳn là nhằm trực tiếp vào IS mà thực chất, động thái này được tiến hành nhằm mục đích ngăn chặn đà tiến của lực lượng người Kurd tại Syria, vốn đang kiểm soát các vùng lãnh thổ rộng lớn dọc biên giới Syria - Thổ Nhĩ Kỳ. 
Lâu nay, Thổ Nhĩ Kỳ luôn coi phong trào Đơn vị Tự vệ Nhân dân người Kurd (YPG) là một nhánh của Đảng Công nhân người Kurd (PKK) - Tổ chức vốn bị Ankara quy kết là tổ chức “khủng bố”.
Bên cạnh đó, Thổ Nhĩ Kỳ cũng cảnh báo mạnh mẽ rằng họ sẽ phản đối việc thiết lập khu tự trị người Kurd ở phía Bắc Syria. Nhận định về vấn đề này, ông Aron Lund, chuyên gia về Syria tại Trung tâm Carnegie Endowment vì hòa bình quốc tế phân tích: “Vấn đề người Kurd dường như đang đứng đầu danh sách những ưu tiên cần giải quyết ở Syria của Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan. Viễn cảnh PKK thành lập một khu tự trị có nguồn thu từ dầu mỏ và được Mỹ hậu thuẫn ở biên giới phía Nam Thổ Nhĩ Kỳ là cơn ác mộng đối với Ankara”. 
Người Kurrd hiện chiếm khoảng 15% dân số Syria. Họ đã tránh không đứng về phe Chính phủ của Tổng thống Syria Bashar al-Assad hay phe nổi dậy kể từ khi cuộc xung đột ở nước này bùng nổ vào tháng 3-2011. Thay vào đó, người Kurd tập trung xây dựng các thể chế bán tự trị và đến tháng 3-2016 tuyên bố thành lập “khu vực liên bang” gồm “3 bang” ở phía Bắc và Đông Bắc Syria.
Được sự hậu thuẫn của liên minh chống IS do Mỹ dẫn đầu, YPG đã chiến đấu chống lại tổ chức khủng bố khét tiếng này để giành quyền kiểm soát khoảng 18% lãnh thổ Syria. Đây là nơi sinh sống của khoảng 2 triệu người, trong đó có 60% là người Kurd. Tuy nhiên, 2 trong số 3 “bang” của người Kurd vẫn bị chia tách khỏi “bang” còn lại bởi vùng lãnh thổ do IS kiểm soát và Thổ Nhĩ Kỳ đã cảnh báo rằng họ sẽ không cho phép YPG đạt được bước tiến nhằm thiết lập một khu tự trị bao gồm các thị trấn liền kề. 
Việc Lực lượng Dân chủ Syria (SDF) - liên minh gồm các tay súng Ả-rập và YPG được Mỹ hậu thuẫn - chiếm lại thành phố Manbij ngày 23-6 đã trở thành phép thử đối với “tối hậu thư” nêu trên của Thổ Nhĩ Kỳ. Sau thành công ở Manbij, người Kurd đã tuyên bố kế hoạch tiến tới thị trấn Al-Bab do IS chiếm đóng để kết nối 2 “bang” Kobane và Afrin của họ. Ông Mutlu 
Civiroglu, chuyên gia hàng đầu về người Kurd, nhận định rằng việc SDF giải phóng thị trấn Manbij đã khiến Thổ Nhĩ Kỳ lo lắng và từ đó Ankara đã thực hiện một số nỗ lực để ngăn chặn bước tiến này. Theo chuyên gia này, nếu IS thực sự là mục tiêu, thì Thổ Nhĩ Kỳ lẽ ra đã tiến hành chiến dịch từ cách đây rất lâu, bởi IS đã kiểm soát Jarabulus trong thời gian dài. Tuy nhiên, chuyên gia Civiroglu không cho rằng cuộc can thiệp của Thổ Nhĩ Kỳ có thể ngăn chặn các tham vọng của người Kurd.
Trong khi đó, chuyên gia Aaron Stein của Trung tâm Rafik Hariri nghiên cứu về Trung Đông thuộc Hội đồng Đại Tây Dương cho rằng cuộc can thiệp của Thổ Nhĩ Kỳ nhằm nhiều mục đích. Ông Aaron Stein nêu rõ: “Kế hoạch tấn công vào Jarabulus nhằm đạt hai mục tiêu có liên quan, đó là đánh đuổi IS khỏi biên giới, trong khi ngăn chặn người Kurd được tự do giành lấy Jarabulus và kết nối với thị trấn Afrin”.
Phản ứng trước động thái can thiệp quân sự của Ankara, người phát ngôn YPG Redur Xelil đã tuyên bố rằng Ankara không có quyền can thiệp vào Syria. Ông Xelil nhấn mạnh rằng: “YPG là lực lượng người Syria và Thổ Nhĩ Kỳ không thể áp đặt những hạn chế với bước tiến của người Syria trên lãnh thổ của Syria”. Điều mà ai cũng biết là Thổ Nhĩ Kỳ đã trở thành nhà bảo trợ “có máu mặt” cho phe đối lập Syria kể từ khi cuộc nổi dậy chống lại Tổng thống Bashar al-Assad nổ ra năm 2011. Tuy nhiên, chuyên gia Civiroglu cho rằng, Ankara có thể trông chờ vào sự mâu thuẫn trong tư tưởng của Damascus bởi hiện chính quyền của Tổng thống Assad đang coi người Kurd là mối đe dọa và bước tiến của người Kurd đã làm Damascus quan ngại sâu sắc. 
Nói về tham vọng của Thổ Nhĩ Kỳ, ông Fabrice Balanche - chuyên gia về Syria tại Viện Washington nói rằng Ankara sẽ phải hành động mạnh mẽ hơn nếu họ muốn ngăn chặn người Kurd thành lập vùng lãnh thổ gồm các thị trấn liền kề. Ông nêu rõ: “Người Kurd vẫn có thể kết nối Afrin với Manbij thông qua một hành lang nhỏ nếu họ chiếm được thị trấn Al-Bab từ tay IS. Việc chiếm đóng thị trấn Jarabulus sẽ không ngăn chặn người Kurd kết nối các “bang” của họ, trừ khi Thổ Nhĩ Kỳ điều động xe tăng xuống phía Nam tới thị trấn Al-Bab”. Tuy nhiên, đồng minh của ông Assad là Nga, quốc gia vừa làm ấm lại mối quan hệ với Thổ Nhĩ Kỳ, khó có khả năng ủng hộ một chiến dịch như vậy của Ankara. 
Lực lượng quân đội Thổ Nhĩ Kỳ hiện diện tại Syria vẫn khá mỏng, bởi vậy, có vẻ như hiện nay Ankara chưa thể có kế hoạch chiếm thêm nhiều vùng lãnh thổ khác ở Syria. Trong bối cảnh này, Washington cũng cảnh báo người Kurd không nên tiến sang phía Tây.
Theo chuyên gia Stein, YPG có thể đánh chiếm tới Al-Bab, nhưng hiện chưa rõ liệu họ có thể làm vậy hay không nếu không có sự trợ giúp của không lực Mỹ. Trước mắt, chỉ có thể khẳng định một điều là với sự can thiệp quân sự của Thổ Nhĩ Kỳ vào Syria, tình hình chiến sự ở quốc gia này vốn đã phức tạp nay sẽ càng phức tạp hơn, và tiềm ẩn nhiều diễn biến khó lường. Chỉ cần một tính toán sai lầm của một trong các bên, Syria, đất nước vốn đã bị xé nát bởi chiến tranh, sẽ còn bị lún sâu hơn nữa vào vòng xoáy chiến tranh tàn khốc. Và cũng không loại trừ khả năng Syria sẽ trở thành mồi lửa làm bùng nổ thùng thuốc súng Trung Đông vốn đã tiềm ẩn rất nhiều căng thẳng giữa các lực lượng và phe phái phức tạp.

Tổng thống Nga - Thổ Nhĩ Kỳ điện đàm
Tổng thống Nga Vladimir Putin và người đồng cấp Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan đã điện đàm về tình hình Syria. Cơ quan báo chí Điện Kremlin cho biết: “Theo sáng kiến của phía Thổ Nhĩ Kỳ đã diễn ra một cuộc điện đàm của Tổng thống Nga Vladimir Putin và Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan… Các nhà lãnh đạo tiến hành trao đổi kỹ lưỡng quan điểm về tình hình Syria. Tầm quan trọng của những nỗ lực chung phù hợp với cuộc chiến chống khủng bố đã được ghi nhận”. Ngoài ra, lãnh đạo hai nước đã thảo luận tiếp tục phát triển sự hợp tác Nga - Thổ Nhĩ Kỳ trong lĩnh vực chính trị, kinh tế và thương mại.

Mỹ chọn Thổ Nhĩ Kỳ hay người Kurd ở Syria?

26/09/2016 - 08:53 (GMT+7)

Mỹ đang gặp khó khăn ở Syria khi phải lựa chọn giữa Thổ Nhĩ Kỳ và người Kurd.


syria-tho-nhi-ky

Mỹ đang gặp khó khăn ở Syria khi phải lựa chọn giữa Thổ Nhĩ Kỳ và người Kurd. (Ảnh minh họa)

Ngày 25/9, Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Erdogan đã tuyên bố sẽ tham gia chiến dịch chung với Mỹ ở Syria nhưng kèm theo một số điều kiện. Trong đó, ông Erdogan đề nghị Mỹ loại bỏ lực lượng người Kurd ra khỏi các cuộc đàm phán nhằm đổi lấy sự tham gia của Thổ Nhĩ Kỳ.
Tuyên bố trên được ông Erdogan đưa ra sau khi tham dự phiên họp Đại hội đồng Liên hợp quốc tại Mỹ. Điều này cho thấy quan hệ giữa Thổ Nhĩ Kỳ và đồng minh Mỹ đang ngày một căng thẳng.
Ngày 24/8, Thổ Nhĩ Kỳ đã điều quân, xe tăng tấn công sang Syria trong chiến dịch quân sự mang tên "Lá chắn Euphrates". Theo Ankara, chiến dịch này nhằm tiêu diệt IS và ngăn người Kurd.
Trong khi đó, từ lâu Mỹ đã coi lực lượng người Kurd là "đồng minh" tại Syria trong cuộc chiến chống IS. Thổ Nhĩ Kỳ thì cho rằng lực lượng này là khủng bố.
Mới đây, Mỹ đang có kế hoạch vũ trang trực tiếp cho lực lượng người Kurd nhằm tăng hiệu quả trên chiến trường. Tuy nhiên, Ankara cho rằng quan điểm này sai lầm vì lực lượng này không thể tiêu diệt được IS.
Thời gian gần đây, Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ liên tục căng thẳng bởi việc dẫn độ giáo sĩ Gulen sau đảo chính. Khi tham chiến ở Syria, Thổ lại vấp phải lực lượng người Kurd được Mỹ hậu thuẫn.
Hiện, Mỹ vẫn chưa có câu trả lời cho việc chọn Thổ Nhĩ Kỳ hay người Kurd ở Syria. Trên thực tế, sự lựa chọn này không dễ dàng.

Trục trặc với Mỹ ở Syria, Thổ quay sang cầu cứu Nga



- Bộ Ngoại giao Nga cho biết Ngoại trưởng nước này Sergei Lavrov và người đồng cấp Thổ Nhĩ Kỳ Mevlut Cavusoglu ngày 31/8, đã có cuộc điện đàm trao đổi về tình hình Syria.


Ngoại trưởng Thổ Nhĩ Kỳ Mevlut Cavusoglu đã thông báo vắn tắt cho người đồng cấp Nga Sergei Lavrov về các hoạt động quân sự của Ankara ở Syria qua điện thoại.
Người phát ngôn của Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ, ông Ibrahim Kalin trước đó tuyên bố chiến dịch xâm nhập kéo dài một tuần vào miền Bắc Syria nhằm quét sạch các tay súng IS diễn ra ở vùng lãnh thổ trải rộng 90km, dọc biên giới Thổ Nhĩ Kỳ.

Truc trac voi My o Syria, Tho quay sang cau cuu Nga
Thổ Nhĩ Kỳ muốn mượn tay Nga để giải quyết tận gốc người Kurd - đang được Mỹ bảo vệ.
Thông tin về cuộc điện đàm Nga - Thổ Nhĩ Kỳ về việc nước này đưa quân sang Syria dưới sự yểm trợ của Không quân Mỹ cho thấy phần nào sự mức ảnh hưởng của Nga- người bạn vốn có ảnh hưởng lâu dài với Ankara, đặc biệt khi Moscow cũng là một bên tham chiến ở chiến trường Syria.
Bên cạnh đó, Thổ Nhĩ Kỳ cũng đang gặp nhiều sự "bức bối" vì phía Mỹ không hoàn toàn ủng hộ mình mà tạo ra những hành lang để kẻ thù của Tổng thống Erdogan - lực lượng dân quân người Kurd - có vùng hành lang để tấn công trở lại quân đội nước này.
Mới nhất là việc Mỹ nhắc tới việc Thổ Nhĩ Kỳ được Mỹ yểm hộ vào lãnh thổ Syria nhưng không làm tròn nghĩa vụ mà quay sang tấn công lực lượng thù địch. Hơn nữa, Mỹ đã thể hiện rõ quan điểm rằng, chính lực lượng người Kurd đã tuân theo các yêu cầu của Mỹ và Ankara, buộc Thổ Nhĩ Kỳ phải xem xét lại những động thái quân sự của mình là tập trung vào cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo IS.
Mỹ yêu cầu Thổ Nhĩ Kỳ dừng tấn công người Kurd ở Syria
Theo đó, hôm 29/8, AFP dẫn lời Peter Cook, người phát ngôn Lầu Năm Góc, cho biết trong một thông báo rằng: "Chúng tôi theo dõi chặt chẽ các báo cáo về đụng độ ở phía nam Jarabulus, nơi Nhà nước Hồi giáo (IS) không còn hiện diện, giữa lực lượng vũ trang Thổ Nhĩ Kỳ, một số nhóm đối lập và những đơn vị liên kết với Các lực lượng Dân chủ Syria (SDF) do người Kurd dẫn đầu".

Truc trac voi My o Syria, Tho quay sang cau cuu Nga
Lầu Năm Góc gọi những cuộc đụng độ giữa Thổ Nhĩ Kỳ và các đơn vị người Kurd ở Syria là "không thể chấp nhận", kêu gọi các bên rút quân.
Mỹ muốn "nêu rõ rằng những cuộc đụng độ này là không thể chấp nhận và chúng là nguồn gốc tạo ra lo ngại". "Syria vốn dĩ đã là một chiến trường đông người. Chúng tôi kêu gọi tất cả các nhóm vũ trang lập tức rút quân và có biện pháp phù hợp để giảm xung đột", ông Cook nói.
Ngày 30/8, một quan chức quốc phòng Mỹ cho biết các lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ và người Kurd đã đạt "thỏa thuận nới lỏng", ngừng tấn công lẫn nhau.

Truc trac voi My o Syria, Tho quay sang cau cuu Nga
Thổ Nhĩ Kỳ "không chấp nhận" việc Mỹ thông báo Ankara đã đạt thỏa thuận ngừng bắn với lực lượng người Kurd ở miền bắc Syria.
Tuy nhiên, Thổ Nhĩ Kỳ đã lên tiếng bác bỏ. "Chúng tôi không chấp nhận trong mọi tình huống... một 'sự thỏa hiệp hoặc lệnh ngừng bắn' giữa Thổ Nhĩ Kỳ và các thành phần người Kurd", Omer Celik, Bộ trưởng Thổ Nhĩ Kỳ phụ trách Các vấn đề về Liên minh châu Âu (EU), hôm 31/8 nói với hãng thông tấn Anadolu. "Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ là một nhà nước pháp quyền có chủ quyền".
Theo Celik, Thổ Nhĩ Kỳ không thể bị xếp ngang hàng với một "tổ chức khủng bố", nhắc đến Các đơn vị Bảo vệ Người dân (YPG) người Kurd ở Syria được Mỹ hậu thuẫn.
Như vậy, không có nhiều khả năng để đồn đoán sự hợp tác giữa Nga và Thổ Nhĩ Kỳ ở chiến trường Syria nhưng với tinh thần coi lực lượng người Kurd là "khủng bố", nhiều khả năng, Thổ Nhĩ Kỳ đang muốn nhờ người Nga để tận diệt người Kurd.
Minh Đức

Cuộc chơi nguy hiểm của Thổ Nhĩ Kỳ tại Syria


03/1/2016 10:38 UTC+7


(Công lý) - Khi cuộc nội chiến Syria nổ ra hồi năm 2011, Thổ Nhĩ Kỳ là một trong những nước đầu tiên “đầu tư lớn” cho việc lật đổ chế độ Tổng thống Bashar Al-Assad.


Mặc dù trải qua một thập kỷ có quan hệ nồng ấm với Syria, nhưng Tổng thống Recep Tayyip Erdogan đang nỗ lực đưa Thổ Nhĩ Kỳ trở thành một cường quốc thống trị khu vực. Tình hình tại Syria kể từ khi đó đến nay đã thay đổi rất nhiều - song chiến lược của ông Erdogan thì không. 
Kết quả là Thổ Nhĩ Kỳ đã trở thành rào cản ngăn chặn việc giải quyết cuộc xung đột. Thổ Nhĩ Kỳ gây chiến với người Kurd tại Syria- lực lượng chống tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) hiệu quả nhất tại đây. Và quốc gia này cũng là nơi tiếp nhận mạng lưới các phần tử thánh chiến có tổ chức, bao gồm cả IS. 
Cuộc chơi nguy hiểm của Thổ Nhĩ Kỳ tại Syria
Tổng thống Recep Tayyip Erdogan 
Trước đây, Thổ Nhĩ Kỳ muốn thúc đẩy một chính quyền với đa số người Hồi giáo dòng Sunni tại Syria được điều hành bởi một chi nhánh của tổ chức Anh em Hồi giáo tại địa phương. Điều này sẽ dẫn đến việc hai đối thủ trong quá khứ của Thổ Nhĩ Kỳ là Nga và Iran mất đi một đối tác quan trọng trong khi Thổ Nhĩ Kỳ giành được một đối tác cho chính mình. Kế hoạch này rất đơn giản và rõ ràng. Song chế độ của ông Assad đã cho thấy một sự kiên cường hơn dự đoán, và phương Tây đã từ chối can thiệp và không thực hiện “đòn kết liễu”. Các nhóm được gọi là quân nổi dậy ôn hòa hoặc bị các tay súng Hồi giáo gạt sang bên lề hoặc tự thừa nhận rằng họ cũng là các tay súng Hồi giáo. Do có sự xuất hiện của IS, cuộc chiến đã lan rộng và “nhấn chìm” một nửa Iraq. Cho đến giờ, khi mà cả thế giới đã nhất trí về tầm quan trọng của việc đánh bại IS, Thổ Nhĩ Kỳ vẫn tiếp tục cuộc chơi như hồi năm 2011. 
Cụ thể như việc mùa Hè năm 2015, Chính quyền Tổng thống Erdogan đã đưa ra một thỏa thuận quan trọng cho phép Mỹ sử dụng hai căn cứ không quân của Thổ Nhĩ Kỳ để tấn công IS. Tuy nhiên, Thổ Nhĩ Kỹ vẫn dùng những căn cứ đó để tấn công các lực lượng người Kurd tại Iraq và Syria. Chính quyền ông Erdogan hiện quan tâm đến việc hạn chế sức mạnh của người Kurd tại Syria hơn là đánh bại IS. 
Thổ Nhĩ Kỳ đã khiến giới chức chính quyền châu Âu, truyền thông và các học giả chuyển từ cách nhìn nhận Thổ Nhĩ Kỳ như là một thế lực ôn hòa, có tầm ảnh hưởng đối với sự ổn định khu vực và phát triển kinh tế thành một nước ngầm ủng hộ, nếu không muốn nói là tài trợ toàn bộ, cho chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Thổ Nhĩ Kỳ còn được coi là đồng minh nguy hiểm có khả năng nhấn chìm Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) vào một cuộc xung đột không mong muốn với Nga. 
Khi Tổng thống Nga Vladimir Putin gọi Chính quyền Tổng thống Erdogan là “những kẻ đồng lõa với các phần tử khủng bố” sau vụ các máy bay chiến đấu của nước này bắn rơi trực thăng của Nga hôm 24/11, ông đã thẳng thừng lặp lại lời buộc tội Thổ Nhĩ Kỳ với phương Tây, song theo cách ngoại giao hơn. Cáo buộc đó là: Thổ Nhĩ Kỳ cho phép dầu mỏ và cổ vật mà IS cướp được tràn qua biên giới của nước này theo một con đường, trong khi các phần tử thánh chiến nước ngoài, tiền mặt và vũ khí tràn qua bằng một con đường khác. 
Phát biểu hồi năm 2014 về đường biên giới lỏng lẻo giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Syria, Phó Tổng thống Joe Biden đã vô tình tiết lộ rằng, vấn đề lớn nhất mà Mỹ gặp phải trong cuộc chiến chống IS đó là từ những đồng minh của họ. Gần đây hơn, ngày 27/11, một quan chức cấp cao trong Chính quyền Tổng thống Barack Obama đã miêu tả với báo giới tình hình hiện nay là “một mối đe dọa quốc tế, và tất cả đều bắt nguồn từ Syria và sẽ tràn qua lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ”. 
Thổ Nhĩ Kỳ cho rằng vị trí quan trọng của họ trong khối NATO như là “bức tường thành” chống lại Nga sẽ “che chắn” cho nước này khỏi những chỉ trích của các đồng minh phương Tây, và kéo dài thời gian để định hình cuộc xung đột tại Syria theo ý họ. Tuy nhiên, Nga đã xoay chuyển hiệu quả sự đồng cảm quốc tế về vụ rơi máy bay của họ thành một sự gia tăng ảnh hưởng tại Syria. Ông Putin đã cam kết sẽ “ngay lập tức hủy diệt” bất cứ thứ gì đe dọa lực lượng quân đội Nga tại Syria. Ông cũng nâng cấp các kho vũ khí tại Nga để chứng minh rằng ông có thể giữ lời cam kết của mình. 
Cơ hội tốt nhất để ông Erdogan đạt được các mục đích của mình đó là thực hiện đầy đủ tư cách thành viên trong liên minh quân sự do Mỹ dẫn đầu. Ông có thể giúp liên minh này duy trì lợi thế trong đàm phán với Nga và Iran về giải quyết cuộc xung đột tại Syria và tương lai của ông Assad. Thổ Nhĩ Kỳ cũng cần phải thừa nhận khu tự trị của người Kurd ở Syria như là “sự đã rồi”. Đảng Liên đoàn Dân chủ người Kurd- vốn bị Thổ Nhĩ Kỳ chính thức xếp loại là tổ chức khủng bố- hiện đang chiến đấu chống IS cùng với Mỹ và được một số nước phương Tây hỗ trợ vũ trang và huấn luyện. Nhờ sự dũng cảm và hoạt động hiệu quả, nhóm này giờ đã có chỗ đứng chính trị đáng kể trên trường quốc tế. 
Việc trao quyền tự trị cho người Kurd tại Syria không hẳn có nghĩa là gia tăng các hoạt động ly khai tại Thổ Nhĩ Kỳ hơn so với những gì mà việc thành lập chính quyền tự trị người Kurd ở Iraq mang lại. Tuy nhiên, ông Erdogan cũng cần phải đàm phán hòa bình với người Kurd tại Syria, với những điều khoản rõ ràng về sự toàn vẹn lãnh thổ và tôn trọng quyền của người Kurd. Thổ Nhĩ Kỳ đã làm như vậy với người Kurd ở miền Bắc Iraq, và giờ đang có mối quan hệ chặt chẽ với nhóm người này. 
Thất bại trong việc thay đổi chính sách tại Syria có thể sẽ chỉ dẫn đến việc Thổ Nhĩ Kỳ ngày càng bị cô lập, khiến nước này mang tiếng là “một kẻ phản động bị ruồng bỏ” và làm kéo dài cuộc khủng hoảng tồi tệ này. Và đây không phải là đường hướng phát triển mà quốc gia này theo đuổi trong những thập kỷ gần đây.

TG

Đế quốc Ottoman

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Nhà nước Ottoman Tối cao
Devlet-i Âliye-yi Osmâniyye
دولت عليه عثمانيه
Đế quốc
1299–1923
Quốc kỳ Quốc huy
Khẩu hiệu
دولت ابد مدت
Devlet-i Ebed-müddet
(Quốc gia vĩnh cửu)
Quốc ca
سلام سلطاني عثماني
Reşadiye Marşı
(Đế quốc ca Ottoman)
Lãnh thổ của Đế quốc Ottoman năm 1683 (See: list of territories)
Thủ đô Söğüt (1299-1326),
Bursa (1326-1365),
Edirne (1365-1453),
Constantinople (1453-1922)
Chính quyền Quân chủ
Sultan
 •  1281-1326 Osman Ghazi
 •  1918-22 (cuối cùng) Mehmet VI
Đại Vizia
 •  1302-31 (đầu tiên) Alaeddin Pasha
 •  1920-22 (cuối cùng) Ahmed Tevfik Pasha
Lịch sử
 •  Được kiến lập 1299
 •  Đứt quãng 1402-1413
 •  1. Constitutional 1876-1878
 •  2. Constitutional 1908-1918
 •  Sultan Mehmed VI thoái vị 17 tháng 1, 1922
 •  Hiệp định Lausanne 24 tháng 7 1923
Diện tích
 •  1680 5.500.000 km² (2.123.562 sq mi)
Dân số
 •  1856 (ước tính) 35.350.000 
 •  1906 (ước tính) 20.884.000 
 •  1914 (ước tính) 185.200.000 
 •  1919 (ước tính) 14.629.000 
Tiền tệ Akçe, Kuruş, Lira
Biên niên sử Đế quốc Ottoman
Đế quốc Ottoman hay Đế quốc Osman (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: دولتِ عَليه عُثمانيه Devlet-i Âliye-i Osmâniyye, dịch nghĩa "Nhà nước Ottoman Tối cao"; tiếng Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại: Osmanlı İmparatorluğu), cũng thỉnh thoảng được gọi là Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ, là một quốc hiệu Thổ Nhĩ Kỳ đã tồn tại từ năm 1299 đến 1923. Thời đỉnh cao quyền lực ở thế kỷ XVIthế kỷ XVII, các lãnh thổ của Đế quốc Ottoman gồm các vùng Tiểu Á, Trung Đông, nhiều phần ở Bắc Phi, và đa phần đông nam châu Âu đến tận Kavkaz. Đế quốc Ottoman chiếm một vùng có diện tích khoảng 5,6 triệu km², nhưng vùng ảnh hưởng thực tế của đế quốc rộng hơn nhiều nếu tính cả các vùng lân cận do các bộ lạc du mục cai quản, nơi quyền bá chủ của đế quốc này được công nhận. Đế quốc Ottoman tương tác với cả văn hóa phương Đôngphương Tây trong suốt lịch sử 624 năm của nó.

Lịch sử qua các thời kì

Nguồn gốc

Các tổ tiên của vương triều Ottoman là một phần của các bộ lạc người Tây Đột Quyết (Gokturk) miền tây đã di cư từ Trung Á bắt đầu từ thế kỷ 10. Định cư tại Ba Tư trong thời kỳ này, những người Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu mở rộng về phía tây tới ArmeniaTiểu Á vào đầu thế kỷ 11. Những đợt di chuyển này đã dẫn đến mâu thuẫn giữa họ với Đế quốc Byzantine, từng là một quyền lực chính trị nổi trội tại khu vực miền đông Địa Trung Hải kể từ thời kỳ La Mã, nhưng vào thế kỷ 11 bắt đầu một thời kỳ suy thoái dài. Người Thổ Seljuk đã thiết lập địa vị chắc chắn tại Tiểu Á sau chiến thắng lịch sử tại trận Manzikert năm 1071, để thành lập nhà Seljuk ở Tiểu Á. Sau sự xâm lăng của người Mông Cổ tới Tiểu Á trong thế kỷ XIII, triều đại này đã sụp đổ và lãnh thổ của nó đã bị phân chia thành nhiều vương quốc của người Thổ Nhĩ Kỳ, tức các beylik.
Dưới quyền bá chủ của nhà Seljuk ở Tiểu Á, bộ lạc Kayı của người Thổ Oğuz đã tạo ra một thể chế mà cuối cùng đã trở thành vương quốc Ottoman tại miền tây Tiểu Á. Thủ lĩnh người Kayı là Ertuğrul Gazi đã nhận được vùng đất này sau lưng Seljuk trong cuộc va chạm biên giới nhỏ. Hệ thống Seljuk tạo cơ hội cho sự bảo vệ vương quốc từ bên ngoài, và cũng cho phép nó phát triển cấu trúc nội tại của nó. Vị trí của Kayı trên ven rìa phía viễn tây của nhà nước Seljuk cho phép họ xây dựng lực lượng quân sự của mình thông qua sự hợp tác với các dân tộc khác sống tại miền tây Tiểu Á, nhiều trong số đó là những người theo Ki-tô giáo. Sau sự tan rã của nhà Seljuk, Kayı trở thành chư hầu của Hãn quốc Y Nhi của Mông Cổ.

Khởi đầu (1299-1326)

Tên gọi Ottoman có nguồn gốc từ Osman I (còn gọi là Osman Bey) (tiếng Ả Rập: Uthman) (1299-1326), con trai của Ertuğrul Gazi, người đã tuyên bố sự độc lập của nhà nước Ottoman năm 1299. Trong khi các vương quốc khác của người Thổ Nhĩ Kỳ còn phải bận tâm với các mâu thuẫn nội bộ, Osman đã có thể mở rộng biên giới của khu định cư Ottoman về phía rìa của Đế quốc Byzantine. Ông đã dời đô tới Bursa, và định hình sự phát triển chính trị ban đầu của dân tộc. Người ta gọi ông với tên hiệu "Kara" vì sự can đảm của ông, Osman đã được ca ngợi là một ông vua hùng mạnh và năng động một thời gian rất dài sau khi ông mất, như được thể hiện trong thành ngữ của người Thổ Nhĩ Kỳ "Ông/anh ta có thể tuyệt vời như Osman". Danh tiếng của ông cũng được đánh bóng trong câu chuyện thời Trung đại của người Thổ Nhĩ Kỳ, được biết dưới tên gọi "Giấc mơ của Osman", một sự thành lập huyền thoại trong đó chàng trai trẻ Osman là người có đầy năng lực để chinh phục một đế quốc nhìn thấy trước.
Thời kỳ này là sự hình thành của triều đình Ottoman chính thức mà các cơ quan, tổ chức cấu thành ra nó gần như không thay đổi lớn gì trong gần 4 thế kỷ. Ngược lại với nhiều nhà nước cùng thời kỳ đó, hệ thống quan lại của Đế quốc Ottoman đã cố gắng tránh sự cai trị theo kiểu quân sự. Triều đình cũng tạo ra một thể chế pháp lý gọi là millet (kiểu lãnh thổ tự trị), mà trong đó thiểu số từ các dân tộc ít người và tôn giáo có khả năng quản lý công việc của chính họ với một sự độc lập đáng kể từ sự kiểm soát của trung ương.
Trong thế kỷ sau khi Osman qua đời, sự thống trị của Ottoman đã bắt đầu mở rộng trên toàn khu vực miền đông Địa Trung Hải và Balkan. Thessaloniki, một thành phố quan trọng của Venezia bị chiếm năm 1387, và chiến thắng của quân Thổ Nhĩ Kỳ tại trận Kosovo năm 1389 làm cho Serbia mất quyền kiểm soát trên vùng đất này, mở đường cho các cuộc xâm lược châu Âu của sultan. Trận Nicopolis năm 1396 được xem là cuộc Thập tự chinh cuối cùng của thời Trung cổ, trong trận này quân Thập tự chinh đại bại trước quân Ottoman. Với sự mở rộng ảnh hưởng của người Thổ vào vùng Balkan, thì cuộc chinh phục chiến lược vào Constantinople đã trở thành mục tiêu quyết định. Đế quốc của người Thổ đã chiếm được các vùng đất Byzantine phụ cận Constantinople, nhưng người La Mã vẫn đứng vững được khi Tamerlane xâm lược Tiểu Á, và bắt giam sultan Bayezid I sau trận Ankara năm 1402. Các lãnh thổ Ottoman ở vùng Balkan (điển hình như Thessaloniki, Macedonia và Kosovo) đều bị mất năm 1402, nhưng các vùng đất này được Murad I chiếm lại trong thập niên 1430 - 1450.
Việc Bayezid bị bắt làm cho đất nước rơi vào loạn lạc. Từ năm 1402 đến 1413, nội chiến bùng nổ giữa các con của Bayezit. Cuộc chiến này kết thúc khi vua Mehmed I lên ngôi và xây dựng lại đất nước, kết thúc Thời kì đứt quãng của Đế quốc Ottoman. Cháu nội ông, Mehmed II đã tái cấu trúc của cả nhà nước lẫn quân đội, và đã thể hiện các kỹ năng quân sự của mình trong cuộc chiếm đóng Constantinople vào ngày 29 tháng 5 năm 1453, khi mới 21 tuổi. Thành phố này trở thành kinh đô mới của Đế quốc Ottoman, và Mehmed II xưng làm Kayser-i Rum (Hoàng đế La Mã). Dù vậy, ngôi Hoàng đế La Mã của sultan Ottoman không được người Hy Lạp và các nước phương Tây công nhận, và các Nga hoàng cũng tự phong cho mình chức vị này. Để nắm vững ngôi Hoàng đế La Mã, Mehmed II khao khát chiếm Roma, và cho quân xâm lược bán đảo Ý, chiếm OtrantoApulia ngày 28 tháng 7, 1480. Nhưng sau khi ông bị ám sát ngày 5 tháng 3, 1481, chiến dịch ở Ý thất bại và quân Ottoman rút lui về.

Lớn mạnh (1453-1683)

Các cuộc mở mang và cực điểm (1453-1566)


Mehmed II và đội quân chiến thắng tại Constantinople, họa phẩm của Musée des Augustins Toulouse

Lãnh thổ của Đế quốc Ottoman từ lúc khởi lập đến năm 1683.
Vào thời lớn mạnh, Đế quốc Ottoman đã trải dài toàn bộ đông-nam châu Âu bờ bắc Địa Trung Hải, cả bờ biển bắc châu Phi cho đến Maroc phía nam Địa Trung Hải. Trong thế kỷ XVII, Đế quốc Ottoman có khoảng 25 triệu dân – một con số khổng lồ vào thời đó, gần bằng gấp đôi bất cứ nước nào ở châu Âu ngoại trừ Pháp. Gần 30 quốc gia hiện nay đã được thành lập từ lãnh thổ cũ của Đế quốc Ottoman: Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Bulgaria, România, Nam Tư (sau này phân làm 5 nước độc lập), Hungary, Albania, Syria, Liban, Jordan, Israel, Aden, Kuwait, Ai Cập, Sudan, Libya, Iraq, Yemen, Tunisia, Algérie, Síp, Armenia, Gruzia, Ukraina và một phần nước Nga.
Vào đầu thế kỷ XVI, Đế quốc Ottoman trở thành một trong những nhà nước lớn nhất thế giới thời bấy giờ. Trong thời kì này, nhiều ông vua kiệt xuất lên cai trị Thổ Nhĩ Kỳ: điển hình như Selim I (1512-1520), người có công sát nhập vùng Trung Đông vào Ottoman. Vào năm 1514 trong trận Chaldiran, ông đã đánh bại vua Ismail I (1501-1524) nhà Safavid (Ba Tư). Ông đã tiêu diệt nhà MamlukAi Cập vào năm 1517 rồi giành danh hiệu khalip từ nhà AbbasidCairo (các sultan Ottoman tiếp tục giữ danh hiệu này đến năm 1924), bắt đầu thời kì Ai Cập thuộc Ottoman.

Trận Mohács (1526) là cuộc xâm lược Hungary của Ottoman
Sau khi Hoàng đế Selim I mất, Hoàng đế Suleiman I (1520-1566) tiếp tục mở mang đế quốc. Sau khi thôn tính được Beograd năm 1521, Suleyman chinh phục Vương quốc Hungary và sau chiến thắng trong trận Mohács năm 1526, đế quốc Osmanli chiếm được Hungary và nhiều vùng đất ở Trung Âu. Sau đó, năm 1529 ông bao vây thành Wien, nhưng vì thời tiết ở đây khắc nghiệt nên quân đội ông rút lui  Năm 1532, 25.000 quân Ottoman mở cuộc tấn công Wien, nhưng bị đẩy lui cách Wien 97 km tại pháo đài Guns. Sau cuộc mở mang xa nhất của Ottoman năm 1543, hoàng đế Habsburg là Ferdinand công nhận quyền cai trị của Ottoman trên đất Hungary năm 1547. Dưới triều vua Suleyman I, Transilvania, WallachiaMoldavia trở thành những công quốc chư hầu của đế quốc. Ở phía đông, Ottoman chiếm Bagdad từ tay Ba Tư năm 1535, chiếm được Lưỡng Hà và Hải quân Ottoman tiến vào Vịnh Ba Tư. Khi Hoàng đế Suleyman I qua đời, dân số Ottoman lên đến 15.000.000 người.  Công cuộc bành trướng của ông đã mang lại cho ông một Đế quốc Ottoman vô cùng rộng lớn, và thậm chí ông còn vượt xa cả những tham vọng của Hoàng đế Xerxes I của Đế quốc Ba Tư năm xưa.
Quân đội Ottoman đã để lại những nhà nguyện Hồi giáo rải rác khắp các sườn đồi và thung lũng vùng Balkan. Nổi giận vì những biểu hiện cho việc chiếm đóng của người đạo Hồi này, các vương quốc theo đạo Cơ đốcTây Âu xem người Thổ Nhĩ Kỳ là kẻ xâm lược Hy Lạp và các sắc dân theo Cơ đốc giáo khác. Nhưng đế quốc Ottoman rộng lượng hơn, chấp nhận tôn giáo khác với đạo Hồi. Sultan chính thức công nhận Giáo hội Hy Lạp và giáo khu của giáo chủ và các tổng giám mục, cho phép các giáo đường Chính thống giáo được duy trì tài sản của họ. Người Thổ Nhĩ Kỳ thích cai trị qua định chế chính trị địa phương, và để đổi lại cho tiền triều cống, các tỉnh Cơ đốc giáo được phép duy trì các hệ thống hành chính, thứ bậc và giai cấp.

Dấu hiệu suy yếu và sự hồi phục (1566-1683)

Năm 1571, Chiến tranh Thổ Nhĩ Kỳ-Venezia (1571-1573) nổ ra, quân Ottoman xâm chiếm đảo Síp. Hạm đội Liên minh Thần thánh (bao gồm Venezia, Tây Ban Nha, Savoie,...) đã đập tan Hạm đội Ottoman tại Lepanto. Nhưng, năm 1573 Hải quân Ottoman được khôi phục lại, kết quả là Venezia phải kí hòa ước và nhượng Síp cho Đế quốc Ottoman.
Đế quốc Ottoman bấy giờ bao lần tung quân đi xâm lược Ba Tư. Người Ba Tư thuộc hệ phái Shia và tin mình là con cháu của Imam Ali bin Abu Talib, trong khi người Ottoman thuộc hệ phái Sunni. Đầu thế kỷ 17, quân Ba Tư tấn công lãnh thổ Đế quốc Ottoman ở Lưỡng Hà.

Hạm đội Ottoman do Barbarossa Hayreddin Pasha chỉ huy đánh thắng hạm đội Liên minh Thần thánhÂu Châu do Andrea Doria chỉ huy tại Trận Preveza năm 1538.
Trong thế kỷ 1617, Đế quốc Ottoman là một trong những thực thể chính trị mạnh nhất thế giới, các nước mạnh ở Đông Âu luôn bị đe dọa bởi sự mở rộng thường xuyên của nó qua Balkan và phần phía nam của Liên bang Ba Lan-Litva. Hải quân của nó cũng là một lực lượng rất mạnh ở Địa Trung Hải. Nhiều lần, quân đội Ottoman đã tấn công Trung Âu, bao vây Viên năm 1529 và một lần nữa năm 1683 trong nỗ lực chinh phục lãnh địa của gia tộc Habsburg, và cuối cùng chỉ bị đẩy lui bởi một liên minh to lớn của các nước mạnh tại châu Âu cả trên bộ và trên biển. Nó là quyền lực duy nhất không thuộc châu Âu đã thách thức được sự nổi lên về quyền lực của phương Tây trong khoảng giữa thế kỷ 15thế kỷ 20, tới mức nó đã trở thành một phần trong tổng thể của chính trị cân bằng quyền lực châu Âu, vì thế làm giảm bớt sự khác biệt giữa hai bên.

Hạm đội Liên minh Thần thánh do Don Juan nước Áo chỉ huy đánh tan hạm đội Ottoman do Muezzinzade Ali Pasha chỉ huy trong trận Lepanto năm 1571.
Đầu thế kỷ 17, Đế quốc Ottoman bắt đầu suy yếu. Các sultan vào lúc này thường chỉ vui hưởng trong hậu cung, ngoài ra, binh đoàn Janissary thường hay nổi dậy. Bên ngoài, quyền lực của đế quốc Ottoman bị suy giảm trầm trọng đến nỗi tàu thuyền của người Venezia và người Cozak thường xuyên quấy phá. Đế quốc được cứu nguy do tài năng của một đại gia đình làm quan Tể tướng gồm cha, con trai và em rể - đó là gia đìng Köprülü.
Năm 1656, dưới triều Mehmed IV (1648-1687), trong khi đế quốc gần bị sụp đổ,[cần dẫn nguồn] hậu cung đành phải cử một người Albania 71 tuổi, Köprülü Mehmed Pasha làm tể tướng (1656-1661). Ông này ra lệnh xử tử 50.000-60.000 người để bài trừ tham nhũng. Năm năm sau, lúc ông qua đời, tình hình có phần ổn định. Dưới quyền Tể tướng của con trai ông, Köprülü Fazıl Ahmed Pasha (1661-1676), và sau đó em rể ông, Kara Mustafa Pasha (1676-1683), uy quyền của Ottoman được hồi phục. Các hạm đội và lục quân của Venezia, Ba Lan, ÁoNga bị đẩy lui. Quân đội Ottoman xâm chiếm UkrainaPodolia. Năm 1680, đế quốc Ottoman đã đạt tới lãnh thổ rộng lớn nhất trong lịch sử đế quốc (11.5 triệu km²).

Cuộc bao vây Wien lần hai, năm 1683.
Năm 1683, đáp lời kêu gọi của Hungary chống lại hoàng đế Leopold I nhà Habsburg, sultan Mehmed IV đã ra lệnh cho tể tướng Kara Mustafa phái 200.000 quân ngược dòng sông sông Donau, và lần thứ hai trong lịch sử, quân Ottoman tiến đến chân tường thành của Wien, nhưng cuối cùng bị liên minh các nước Tây Âu (Liên minh Thần thánh), do vua Ba Lan Jan III Sobieski chỉ huy, đánh bại. Năm 1683, tại Beograd, sultan Mehmed IV ra lệnh thắt cổ tể tướng Kara Mustafa. Trận Wien đánh dấu sự bắt đầu của cuộc Đại chiến Thổ Nhĩ Kỳ (1683-1699) ở châu Âu.
Trong những năm tiếp theo, quân Ottoman bị đại bại do sức tiến công từ Wien. Quân Venezia công hãm Athena. Trong đợt pháo kích của họ ngày 26 tháng 9 năm 1687, một quả đạn rơi trúng ngôi đền Parthenon được xây vào thế kỷ 5 TCN, lúc ấy được quân Ottoman dùng làm kho chứa thuốc súng. Ngôi đền còn khá nguyên vẹn lúc ấy bị nổ tung, để lại tình trạng cho đến bây giờ.
Cuộc đại chiến Thổ Nhĩ Kỳ kết thúc với Hiệp ước Karlowitz ngày 26 tháng 1 năm 1699, và theo hiệp ước này, Đế quốc Ottoman phải nhượng cho Đế quốc Áo một số vùng lãnh thổ như Hungary thuộc Ottoman.
Trong thời kì này, chỉ có hai vị sultan cai trị rất năng nổ, đó là: Murad IV (1612-1640) chiếm lại Yerevan (1635) và Bagdad (1639) từ tay Ba Tư và cai trị một cách độc đoán  Mustafa II (1695-1703) mở cuộc tấn công nhà Habsburg ở Hungary trong các năm 1695-96, nhưng phải rút về sau khi thảm bại tại Zenta (11 tháng 9, 1697).

Trì trệ và cải tổ (1699-1827)

Trong những năm tháng trì trệ, nhiều vùng đất ở Balkan bị nhượng lại cho nước Áo. Những vùng đất khác của Đế quốc Ottoman, như Ai CậpAlgérie, trở nên độc lập trên thực tế, và sau đó hứng chịu ảnh hưởng do các đế quốc thực dân như AnhPháp truyền bá. Vào thế kỷ 18, chính quyền trung ương đã ban cho các lãnh đạo và thủ lĩnh địa phương nhiều mức tự quyết hơn. Một loạt các cuộc chiến đã diễn ra giữa đế quốc Nga và đế quốc Ottoman từ thế kỉ từ 17 đến thế kỉ thứ 19.
Vào giai đoạn cuối của thời kỳ trì trệ, xuất hiện những cải tổ về nền giáo dục và công nghệ, bao gồm sự thiết lập những trường học lớn như Đại học công nghệ Istanbul; khoa học công nghệ được ghi nhận là đạt đỉnh cao ở thời Trung Cổ, đó là kết quả của việc các học giả Ottoman kết hợp cách học cổ điển với Triết học Hồi giáo và toán học cũng như các kiến thức tiên tiến về công nghệ của Trung Hoa như thuốc súngla bàn. Tuy nhiên, cũng chính trong giai đoạn này, các thế lực bảo thủ và phản đối công nghệ xuất hiện. Hội đoàn các nhà văn của đế chế cho rằng kỹ thuật in ấn là "sáng tạo của quỷ dữ" khiến công nghệ in, được Gutenberg Johannes phát minh ở châu Âu năm 1450, phải mất 43 năm sau mới được giới thiệu tại Constantinople nhờ vào những người Do thái Sephardic. Những người Do Thái Sephardic, vốn sống ở Tây Ban Nha, di cư tới đế quốc Ottoman để trốn chạy cuộc thanh giáo tại Tây Ban Nha vào năm 1492 và mang theo kỹ nghệ in tới Ottoman.

Vương công Eugène xứ Savoie đã đánh tan tác quân Thổ Nhĩ Kỳ tại Beograd, buộc Sultan phải giảng hòa.
Thời đại Tulip, được đặt tên vì tình yêu của Sultan Ahmed III (1703-1730) với hoa tulip và được dùng như biểu tượng của triều đại thanh bình của ông. Trong giai đọan này, chính sách của đế chế với châu Âu có sự thay đổi. Sau khi quân Nga đánh thắng quân Thụy Điển trong trận Poltava vào năm 1709, vua Thụy Điển là Karl XII có lúc đã trốn sang xin người Thổ Nhĩ Kỳ cho tị nạn  Đất nước thanh bình từ năm 1718 đến 1730, sau khi Quân đội Thổ Ottoman đập tan tác quân Nga trong trận đánh tại sông Pruth năm 1712, Vương công Eugène xứ Savoie kéo quân Áo đánh chiếm thành phố Beograd  và Hiệp định Passarowits được ký kết sau đó mang đến một giai đoạn đình chiến. Sau đó, Đế quốc Ottoman cũng cải thiện hệ thống thành lũy ở các thành phố tiếp giáp các nước Balkan, để bảo vệ đất nước chống lại chủ nghĩa bành trướng của châu Âu. Một số cải cách không dứt khoát cũng được tiến hành: giảm thuế; cải thiện hình ảnh của các bang Ottoman; hình thái đầu tiên của đầu tư tư nhân và doanh nghiệp tư nhân xuất hiện.
Vào năm 1736, Đế quốc Ottoman lại phải lâm chiến với Áo, và nước Áo thất bại.  Lúc này danh tướng Eugène xứ Savoie đã qua đời, do đó tinh thần quân Áo suy sụp, tổ chức kém cỏi, nên đại bại, và đồng minh của họ là Nga đạt lợi thế hơn trong cuộc chiến tranh này.  Sau này, cuộc Chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763) bùng nổ ở châu Âu.  Vua nước PhổFryedrich II Đại Đế phải chống chọi với liên quân Nga - Áo - Pháp - Thụy Điển. Nền quân chủ Phổ bị suy sụy nghiêm trọng, nhiều lãnh thổ của nước này bị rơi vào tay địch quân. Vua Friedrich II Đại Đế trong vòng nhiều năm đã đàm phán với Đế quốc Ottoman và người Tartar, nhưng rồi ông chẳng thấy quân Thổ - Tartar đâu. Tuyệt vọng, nhà vua quyết định chờ quân Thổ - Tartar kéo đến vào tháng 2 năm 1762, nếu không ông sẽ nhận lấy cái chết anh dũng của Cato Trẻ. Nhưng rồi liên quân chống Phổ đã tan rã và vua Friedrich II Đại Đế giành thắng lợi. Sau năm 1768, khi tình hình Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva bất ổn, người Thổ Nhĩ Kỳ cũng can thiệp vào. Nhưng rồi ba nước Vương quốc Phổ, Áo và Nga đã tiến hành cuộc chia cắt Ba Lan lần thứ nhất vào nắm 1772.
Công cuộc cải tổ quân sự Ottoman được bắt đầu với Sultan Selim III (1789-1807), vị vua tiến hành những nỗ lực lớn đầu tiên để hiện đại hóa quân đội gần biên giới châu Âu. Những nỗ lực này, tuy vậy, đã bị cản trở bởi phong trào phản kháng bắt nguồn một phần từ các lãnh đạo tôn giáo và chủ yếu từ toán Ngự Lâm quân Janissary - toán kiêu binh này trở nên rất uy quyền và chẳng biết sợ vua. Với tư tưởng bảo thủ và lo sợ mất đại quyền, họ tiến hành cuộc bạo loạn Janissary. Do tiến hành một loạt cải cách, Sultan Selim III bị lật đổ, Hoàng tử cổ hủ Mustafa lên làm vua - tức Sultan Mustafa IV, và sát hại phần lớn các công thần phò vua Selim III năm xưa. Dưới triều vua Mustafa IV, Quân đội Ottoman liên tục bị quân Nga đánh bại. Vào năm 1808, hai bên ngừng bắn, một cuộc binh biến nổ ra. Alemdar Mustafa Pasha - một công thần của cựu hoàng Selim III, kéo quân vào kinh thành Constantinopolis đánh Sultan Mustafa VI. Nhà vua bèn truyền lệnh cho hành quyết cựu hoàng Selim III và hoàng đệ Mahmud, nhưng không may Mahmud trốn thoát. Ông lên làm Sultan Mahmud II (1808 - 1839) và giết chết cựu hoàng Mustafa IV. Ông tiến hành thảm sát đẫm máu toán Ngự Lâm Quân Janissary, rồi giải tán luôn toán Ngự Lâm Quân này vaò năm 1826.

Suy vong và hiện đại hóa (1828-1908)

Tan rã (1908-1923)

Đầu thế kỷ 20, một nhóm người cải cách đòi hỏi phải đổi mới và hiện đại hóa nước Thổ, gọi là Những người Thổ trẻ. Năm 1909, họ lật đổ sultan Abdul Hamid II, nhưng họ đã làm cho Đế quốc Ottoman tan rã vì tập trung quyền lực Thổ Nhĩ Kỳ bất chấp sự phiền muộn của các dân tộc thuộc Ottoman ở Syria, Ả Rập, Albania, Bosna và Hercegovina, Kríti, MacedoniaTripoli.
Với sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1914, Đế quốc vẫn còn kiểm soát phần lớn vùng Trung Đông, và về phe Liên minh trung tâm (Đế chế Đức, Đế quốc Áo-Hung,...), phe này thua trận. Các dân tộc vùng Trung Đông nổi dậy, và theo phe Entente (Nga, Anh, Pháp, Hoa Kỳ...) để giành độc lập.

Mustafa Kemal (Atatürk) trong chiến hào tại trận Gallipoli (1915)
Sự tan rã của đế quốc Ottoman là hậu quả trực tiếp của Chiến tranh thế giới thứ nhất, khi phe Entente đánh bại phe Liên minh Trung tâm ở châu Âu cũng như các lực lượng Ottoman tại Mặt trận Trung Đông. Ở thời điểm kết thúc chiến tranh từ năm 1918, chính quyền nhà nước Ottoman sụp đổ và đế quốc bị Anh, Hy Lạp, Pháp, Ý, ArmeniaGruzia chinh phạt và phân chia. Những năm sau đó các nước mới độc lập từ Ottoman tuyên bố thành lập và năm 1919, Mustafa Kemal Atatürk và lực lượng Cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu cuộc chiến tranh giành độc lập Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1923, lực lượng cách mạng Thổ thắng trận và Thổ Nhĩ Kỳ được độc lập. Cùng năm đó, đế quốc Ottoman cáo chung, sultan Mehmed VI Vahdettin thoái vị, và Mustafa Kemal Atatürk thành lập nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ, dựa trên một phần lãnh thổ của đế quốc Ottoman.

Năm 1922, Sultan Mehmed VI thoái vị
Các thành viên của gia đình Osmanlı cai trị sau đó đã bị trục xuất khỏi Thổ Nhĩ Kỳ vào khoảng năm 1923-1924. Năm 1924, chế độ khalip bị bãi bỏ, khalip Abdul Mejid II nhà Ottoman cũng thoái vị. Năm 1974, sau 50 năm, Nghị viện Thổ Nhĩ Kỳ đã trao quyền tái yêu cầu quyền công dân Thổ Nhĩ Kỳ cho những con cháu của dòng họ này, và họ đều đã thực hiện điều đó trong những thập kỷ tiếp sau trong một quá trình đã hoàn thành với việc người đứng đầu dòng họ Ertuğrul Osman V đã được trao quyền công dân năm 2004.

Quá trình các lãnh thổ thuộc đế quốc Ottoman

Tripoli Tunisia Algérie Ai Cập Síp Musul Bagdat Syria Van (Thổ) Karamanoğlu Trabzon Sogut Bursa Serbia Albania Bulgaria Istanbul Hy Lạp Bosnia Krym Herzegovina Montenegro Moldova Hungary

Xã hội chính trị

Dân cư sinh sống trên lãnh thổ Ottoman chủ yếu theo đạo Hồi, và sắc tộc chính là người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman, kế tiếp là người Ả Rập, người Kurd, người Tatar Krym, người Bosnia, người Albania v.v. Các sultan Đế quốc Ottoman cũng trị vì hàng triệu dân theo Cơ đốc giáo: người Hy Lạp, người Serb, người Hungari, người Bulgar...
Vì thế mà sợi dây chính trị nối kết các sắc tộc và tôn giáo khác nhau cần thiết phải linh động và lỏng lẻo. Sultan trị vì từ thủ đô Constantinople (nay là Thành phố Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng bộ máy hành chính địa phương nằm trong tay các tiểu vương, hoàng thân, hãn vương,..., có địa phương được tự trị mọi việc ngoại trừ cái tên. Các hoàng thân Cơ đốc giáo vùng Balkan được sultan chọn, nhưng một khi đã lên nắm quyền, lòng trung thành của họ chỉ thể hiện qua việc nộp triều cống cho các sultan. Mỗi năm, từng đoàn xe goòng tải đến Constantinople vàng và những loại tiền thuế. Hãn vương người Tatar của Hãn quốc Krym cai trị từ thủ phủ Bakhchisarai như là vị lãnh chúa độc tôn, chỉ có nhiệm vụ cung ứng 20.000-30.000 kỵ binh mỗi khi các triều đình Ottoman có chiến tranh. Về phía tây cách gần 2.000 kílômét, các vùng Tripoli, TunisAlgérie chỉ thực hành nghĩa vụ chiến tranh bằng cách điều tàu chiến (bình thường làm giàu nhờ nghề hải tặc cướp bóc tất cả các nước) đi đánh các cường quốc Hải quân theo Cơ đốc giáo như VeneziaGenova.

Các sứ thần nước ngoài trong điện Topkapi
Xuyên suốt lịch sử của họ, đế quốc Ottoman luôn luôn ở trong tình trạng chiến tranh. Khi vị sultan có tính khí mạnh mẽ và thông minh, đế quốc cường thịnh lên. Trong khi ông yếu đuối, thì đế quốc bị suy yếu. Điều dễ nhận thấy là cuộc đời trong cấm thành, chung quanh là phụ nữ đầy sinh lực nồng nàn và thái giám đầy mưu đồ, dễ làm cho một vị quân vương bị suy nhược. Một tình huống thứ hai trong lịch sử của đế quốc cũng khiến cho sultan trở thành con người kém cỏi. Điều oái oăm là việc này bắt đầu bằng hành động nhân từ. Cho đến thế kỷ 15, truyền thống ở Ottoman là một hoàng thái tử khi lên ngôi kế vị sẽ ra lệnh thắt cổ tất cả anh em trai còn lại, để triệt hạ mọi âm mưu soán ngôi, đó là theo lệnh của sultan Mehmed II - người khi lên ngôi năm 1451 đã giết một đứa em khác mẹ còn nằm trong nôi. Năm 1595, sultan Mehmed III (1595-1603) khi mới lên ngôi đã ra lệnh thắt cổ tất cả 19 em trai và, để tận diệt mọi mầm mống phản loạn, hạ sát luôn bảy vương phi của vua cha lúc đó đang mang thai. Tuy nhiên, đến năm 1603, ấu chúa Ahmed I (1603-1617) mới lên ngôi đã chấm dứt truyền thống khủng khiếp này khi không muốn giết người em nào. Thay vào đó, ông cách ly họ trong một khu riêng biệt, nơi họ không liên lạc được gì với thế giới bên ngoài. Một người em của Ahmed chính là sultan Mustafa I (1617-1618, 1622-1623) trong tương lai, Mustafa được xem là bị mất trí.
Từ lúc này trở đi, mọi hoàng tử Ottoman đều sống mỏi mòn trong khu biệt lập, bên cạnh chỉ có thái giám và cung phi đã quá tuổi sinh nở để ngăn ngừa họ có hậu duệ hòng làm phản. Nếu có một bé trai ra đời do sơ suất, đứa bé này không được phép làm rối loạn thứ tự truyền ngôi, nên phải bị xử tử. Vì thế, khi một sultan qua đời hoặc bị truất phế, một hoàng tử sống trong khu biệt lập có thể được triệu đến để được tấn phong - bởi vì theo luật Ottoman, người kế vị của sultan là người đàn ông cao tuổi nhất trong hoàng tộc. Trong số các hoàng tử ngu dốt và thụ động này, hiếm khi triều đình tìm được người có đủ sự phát triển trí tuệ hoặc kiến thức về chính trị để trị vì đế quốc. Vì vậy, có những trường hợp các vị sultan có điều kiện tinh thần không tốt như Mustafa I hay Ibrahim I (1640-1648).
Dinh Đại Vizia có quyền lực rộng lớn – có khi đủ mạnh để mưu đồ lật đổ và giết chết được sultan – nhưng cũng có nhiều rủi ro và ít khi hứa hẹn một cái chết êm thấm. Khi thất trận, Đại Vizia bị sultan quy trách nhiệm và tiếp theo đó là bị cách chức, đi đày hoặc không hiếm khi bị thắt cổ. Giữa các năm 1683-1703, có mười hai vị Đại Vizia đến và đi.





Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32