KÝ ỨC CHÓI LỌI 51
(ĐC sưu tầm trên NET)
Tên thật của Trần Đại Nghĩa là Phạm Quang Lễ. Ông sinh ngày 13/09/1913 tại thị xã Vĩnh Long, miền Tây Nam bộ trong một gia đình có cha làm giáo viên tiểu học. Ngay từ bé, ông đã ham thích tìm hiểu các hiện tượng thiên nhiên, thiên văn. Đến khi học lớp 5, ngoài những bài học ở lớp, cậu trò nhỏ còn được cha mình dạy thêm những môn như Pháp văn, toán... Cha ông là người vốn là nhà nho uyên thâm chuyển sang học tiếng Pháp, đỗ Thành Chung, được biết đến là người học rộng biết sâu.
Nhưng một biến cố lớn xảy đến, cuộc sống đang yên ấm thì người cha đột ngột qua đời. Vậy là cậu bé Lễ mới lên 7 tuổi đã mồ côi cha. Trước khi mất, ông cụ gọi các con tới trăng trối: “Quanh ta, số người sung sướng chẳng là bao, lớn lên các con có thể cũng đi dạy học như cha, nhưng cũng có thể làm nghề khác, làm nghề chỉ để nuôi thân thì chưa đủ, nhất là với Lễ - phải trở thành trụ cột gia đình, phải biết mang hiểu biết của mình giúp ích cho đời”.
Sau đám tang, cuộc sống bộn bề khốn khó. Cậu Lễ, may thay gửi được vào nhà một ông giáo đồng nghiệp của cha. Thế là cuộc sống ở trọ bắt đầu từ đó. Nỗi nhớ cha, thương mẹ, thương chị luôn khắc khoải trong lòng cậu trò nhỏ. Mẹ và chị gái ở quê thì tần tảo một nắng hai sương nuôi Lễ ăn học, muôn vàn cơ cực.
Đến hè năm 1926, Phạm Quang Lễ thi đậu vào trường Trung học Mỹ Tho. Chuyện cơm áo gạo tiền không còn phải lo nữa, vì vào đây là có học bổng. Lễ luôn học rất tốt các môn khoa học tự nhiên. Đến năm 20 tuổi, những tháng cuối của niên khoá 1932-1933, trong lúc chuẩn bị cho kỳ thi lấy bằng tú tài bản xứ, Phạm Quang Lễ quyết định ghi danh thi lấy bằng tú tài Tây. Hoàn toàn tin vào khả năng của mình, bởi Lễ đã học kỹ các môn tự nhiên như toán, lý hoá- những môn quyết định trong việc thi lấy loại bằng này. Năm ấy, Phạm Quang Lễ thi đỗ thủ khoa cả tú tài Tây và tú tài bản xứ.
Hoài bão của tuổi trẻ
Trở thành thủ khoa, Lễ không ra Hà Nội học đại học mà đi làm ở toà sứ Mỹ Tho. Đó cũng là hai năm tìm cơ hội để đi học nước ngoài với hoài bão sưu tầm tài liệu chế tạo vũ khí. Lòng yêu nước nhen nhóm trong chàng thanh niên mỗi lúc một lớn dậy, để rồi Phạm Quang Lễ nhận ra, chỉ có đấu tranh vũ trang mới có thể giải phóng dân tộc khỏi cảnh thuộc địa.
Lễ chẳng mong gì trở thành một viên chức giống cha, để cả nhà vẫn khổ, mà muốn tiến xa hơn nữa. Thật may, chàng trai trẻ được nhà báo Vương Quang Ngưu nâng đỡ. Ông Ngưu là người luôn gần gũi, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của những người trẻ tuổi có chí hướng giành độc lập cho Tổ quốc để tìm cách nâng đỡ họ. Nhờ đó, Lễ được hội Ái hữu của trường Chasseloup- Laubat cấp học bổng một năm sáng Pháp. Nếu thi đậu đại học, nhà nước Pháp sẽ tiếp tục cấp học bổng.
Tháng 9/1935, chàng trai Phạm Quang Lễ khi đó 22 tuổi, bước chân xuống tàu thuỷ đi Pháp. Hành trang mang theo mình chẳng có gì ngoài hoài bão được học hỏi để trở về phục vụ quê hương. Lần đầu bước chân tới Paris hoa lệ, chàng trai xứ Đông Dương lặng người ngắm nhìn tháp Eiffel để cảm nhận đến tận cùng sự hùng vĩ của nó, cũng như sự cao siêu của khoa học nơi kinh đô ánh sáng. Tháp cao tới 318m nhưng toàn bộ bằng thép và chỉ nặng 7.000 tấn. Tại sao người ta có thể có những tính toán chính xác tuyệt vời nhường ấy!
Được nhận vào một trường Trung học đặc biệt 2 năm để chuẩn bị thi vào Đại học, Lễ vạch ra phương pháp học để có thể hoàn tất chương trình trong vòng 1 năm. Với trí thông minh và lòng ham học, chàng thanh niên học nhảy một lớp (rút ngắn được 1 năm). Trong lòng luôn nung nấu, phải làm sao để có kiến thức đầy đủ cho việc nghiên cứu, thiết kế và chế tạo vũ khí trở về phục vụ sự nghiệp giải phóng đất nước. Nhưng nên bắt đầu bằng cách nào đây, khi mà điều ấy là vô cùng bí mật đối với bất kỳ quốc gia nào? Hoài bão và những câu hỏi luôn cháy bỏng trong lòng chàng thanh niên.
Những chiều hoàng hôn ngồi ghế đá bên bờ sông Seine, lặng ngắm cảnh vật êm đềm thanh bình và lãng mạn, trong lòng Lễ lại ngập lên nỗi nhớ nhà, nhớ quê. Gương mặt khắc khổ vì sương gió của mẹ, hình ảnh chị, những giọt nước mắt tiễn biệt, tiếng còi tàu rú lên rời cảng Nhà Rồng... lại chầm chậm trôi trong đầu như một đoạn phim. Những lúc ấy chỉ biết nén xuống nín lặng tất cả, chờ mong đến ngày đoàn viên.
Những bước ngoặt cuộc đời
Phạm Quang Lễ quyết tâm nộp đơn thi vào trường đại học có những chuyên ngành liên quan đến hoài bão của mình nhiều nhất. Anh chọn Trường quốc gia Cầu đường Paris. Công sức cuối cùng cũng được đền đắp. Anh thi đỗ và được học bổng lên tới 1.200 franc mỗi tháng. Ngoài việc học ở trường Cầu đường, anh cũng nghe giảng ở các đại học danh tiếng khác như Trường tổng hợp Sorbonne, Đại học Mỏ, Đại học Báck khoa, Đại học điện và Học viện kỹ thuật Hàng không và lần lượt thi đậu các bằng Cử nhân khoa học, kỹ sư cầu đường, kỹ sư điện, kỹ sư hàng không.
Mùa hè năm 1937, chị gái mất, ông trở về chịu tang chị rồi lại quay trở lại Pháp. Niềm đau khôn nguôn đành vùi sâu vào lòng. Phải gạt lệ để tiếp tục con đường đã bắt đầu. Không được buồn chán, không thể để người thân thất vọng. Trong suốt thời gian này, ông dồn tâm lặng lẽ nghiên cứu thu thập những thông tin về vũ khí. Sau khi ra trường, ông vào làm ở một hãng Điện khí và tiếp sau đó là một Hãng chế tạo máy bay dân dụng.
Người ta thấy ông thường xuyên xuống các nhà máy, xí nghiệp, vào thư viện, đứng hàng giờ trước những thiết bị khí tài trong Viện bảo tàng vũ khí. Thời gian làm việc cho phòng thiết kế của hãng máy bay, ông đã tiếp xúc với rất nhiều tài liệu quân sự, vũ khí vì hãng nọ còn sản xuất cả máy bay quân sự. Kiến thức cứ âm thầm ngấm vào và lớn lên trong ông theo cách ấy.
Sau ngày đất nước giành độc lập (tháng 8/1945), tình hình trong nước vô cùng phức tạp và căng thẳng. Các thế lực thù trong giặc ngoài, đế quốc phản động luôn tìm mọi cách để xoá bỏ chính quyền cách mạng non trẻ.
Trước tình hình nước sôi lửa bỏng đó, tháng 9/1946 đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Pháp, cũng là để chọn lựa một số trí thức yêu nước có hiểu biết về vũ khí đưa về Tổ quốc trong đó có Phạm Quang Lễ - lúc đó 33 tuổi, đang là kỹ sư của hãng chế tạo máy bay. Hồ Chủ tịch ân cần hỏi ông:
- Nguyện vọng của chú lúc này là gì?
Quá cảm động vì sự giản dị và quan tâm một cách sâu sắc của Bác, ông nói luôn điều mình đang ấp ủ:
- Kính thưa Cụ, nguyện vọng cao nhất là được trở về Tổ quốc cống hiến hết năng lực và tinh thần.
- Bây giờ ở nhà cực khổ lắm, chú có chịu nổi không? Bác Hồ hỏi.
- Tôi chịu nổi.
- Bây giờ ở nhà kĩ sư và công nhân về vũ khí không có, máy móc thiếu liệu chú có làm được không? Hồ Chủ tịch tiếp lời.
- Tôi đã chuẩn bị 11 năm rồi và tôi tin là sẽ làm được.
Trong những ngày gần gũi Hồ Chủ tịch ở Paris, Phạm Quang Lễ lại càng hiểu sâu sắc hơn về tài đức của Người. Ông đã trình bày với Người nhiều kiến thức về khoa học kỹ thuật, đặc biệt là khoa học quân sự, về những hiểu biết xung quanh thế chiến 2. Những gì ôm ấp bấy nay giờ được dịp thổ lộ, như cá gặp nước, ông lập tức chuẩn bị cho ngày rời Pháp. Trước khi về nước, ông còn tập trung thu thập hàng nghìn cuốn sách liên quan đến nhiều lĩnh vực mà phần lớn là để phục vụ chiến tranh.
Ngày 20/10/1946, con tàu đưa Hồ Chủ tịch và đoàn tuỳ tùng cập bếën Hải Phòng. Bến cảng rợp bóng cờ hoa, hàng nghìn đồng bào kéo nhau ra hân hoan chào đón Chủ tịch. Những tiếng reo hò: "Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!" dậy lên khắp nơi. Trong lòng chàng trai trẻ Phạm Quang Lễ nghẹn ngào khó diễn tả. Ông tự nhủ lòng phải làm gì đó góp phần xứng đáng với niềm tin yêu của Bác, của người dân đã dành cho mình.
Chỉ 7 ngày sau khi về nước (27/10/1946), Phạm Quang Lễ lập tức được Bác trực tiếp giao nhiệm vụ lên Thái Nguyên, nghiên cứu chế tạo súng chống tăng dựa theo mẫu badôca của Mỹ, với hai viên đạn do GS Tạ Quang Bửu lúc này là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cung cấp. Phải bắt tay vào việc ngay. Nhưng mới chỉ được ít hôm thì lại có điện gấp từ Bộ Quốc phòng gọi về gặp Bác Hồ.
Ngày 5/12/1946, Phạm Quang Lễ tới Bắc bộ phủ. Lòng khấp khởi, chàng kỹ sư trẻ không hiểu Bác muốn gặp mình để giao nhiệm vụ gì. Vừa gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng nhưng cũng đầy thân mật bảo: "Kháng chiến sắp đến nơi rồi, hôm nay tôi gọi chú lại để trao cho chú nhiệm vụ làm Cục trưởng quân giới. Chú lo vũ khí cho bộ đội diệt giặc". Bác Hồ giao cho ông toàn quyền hành động trong việc chế tạo vũ khí mà không phải thông qua bất kỳ một cấp nào khác.
Rồi Người căn dặn: "Việc của chú là việc đại nghĩa, vì thế từ nay Bác đặt tên cho chú là Trần Đại Nghĩa. Dùng bí danh này để giữ bí mật cho chú và để bảo vệ gia đình, bà con chú còn ở trong Nam". Bác giải thích ý nghĩa cái tên: "Một là họ Trần, là họ của danh tướngTrần Hưng Đạo. Hai là, Đại Nghĩa là nghĩa lớn để chú nhớ đến nhiệm vụ của mình với nhân dân, với đất nuớc. Đại Nghĩa còn là chữ của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo. Chú có ưng bí danh đó không?".
Thế
là từ đấy, cái tên Trần Đại Nghĩa gắn với cuộc đời ông. Có thể nói
trong những ngày tháng miệt mài nghiên cứu chế tạo vũ khí ở Chiến khu
Việt Bắc là thời gian kĩ sư Trần Đại Nghĩa cảm thấy có ý nghĩa nhất
trong cuộc đời hoạt động của mình. Sau này, đến những ngày trước khi qua
đời, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa vẫn nhắc lại tình cảm sâu sắc Bác dành cho
ông, nhắc lại ngày 5/12 lịch sử, ông được giao nhiệm vụ Cục trưởng Cục
quân giới và trao bí danh đầy ý nghĩa này. Đó là mốc lịch sử rất lớn đối
với cuộc đời ông.
Chế tạo súng Badôca
Cùng các cộng sự, Trần Đại Nghĩa bắt tay vào công việc ngay từ tháng 11/1946. Ông say mê làm việc đến quên ăn, quên ngủ. Nhiều đêm ông chỉ mong cho trời chóng sáng để làm việc, nghiên cứu, thử nghiệm. Song công việc không hề dễ dàng. Ông chỉ đạo xưởng Giang Tiên sản xuất thành công một khẩu súng Badôca 60 mm và 50 quả đạn. Khi bắn thử, đạn nổ nhưng chưa xuyên.
Đạn Badôca của Mỹ được nhồi bằng thuốc phóng, còn ta chỉ có loại thuốc súng lấy được từ bom đạn của Pháp. Tất cả đều phải tính toán lại từ đầu và phải hiểu được những nguyên lý cơ bản về thuốc phóng, thuốc nổ. Những kiến thức sách vở 11 năm thu lượm xứ người bắt đầu phát huy tác dụng. Hình ảnh người kỹ sư miệt mài tính toán tốc độ cháy, đốt thử các loại thuốc súng, ngày đêm với cây thước tính trong tay... đã trở nên quá đỗi quen thuộc với các cán bộ Chiến khu. Chỉ một sai sót nhỏ sẽ phải trả giá bằng xương thịt của chiến sĩ nơi trận mạc, vì thế trách nhiệm càng đè nặng lên vai ông.
Những cán bộ chiến khu sau này kể lại, họ rất... sợ khi đi qua phòng ông vì đó là nơi rất nguy hiểm. Trong căn phòng chứa đầy thuốc nổ đủ loại, chỗ nào cũng thấy ngổn ngang bao tải thuốc nổ, trên mặt bàn làm việc la liệt các loại đạn Badôca, quả đang nghiên cứu, quả đã nhồi xong, quả thì chưa nhồi, rồi thì hạt nổ... Kỹ sư lại có thói quen... hút thuốc mỗi lúc tư duy. Rõ ràng tai hoạ luôn rình rập. Cuối cùng, điều kì diệu đã đến. Cuối tháng 2 năm 1947, cuộc thử nghiệm Badôca thành công. Mức đâm xuyên của đạn vừa chế tạo đạt độ sâu 75cm trên tường thành xây gạch tương đương với sức nổ xuyên của đạn Badôca do Mỹ chế tạo. Đây là bất ngờ lớn đối với địch.
Người ta kể rằng một cuộn dây điện trở loại nhỏ, được tháo ra từ một chiếc vôn kế. Nếu không có thì việc nghiên cứu của ông không thể thực hiện được. Nó được dùng làm sợi tóc đốt mồi thuốc súng đen a-moóc, nếu sợi tóc bị đứt thì đạn bị xịt. Trần Đại Nghĩa luôn giữ cuộn dây ấy bên mình, cho đến một đêm đáng nhớ: 2/3/1947. Cuộn dây đã được đem ra sử dụng trong tình trạng khẩn cấp.
Đêm đó, ông Phan Mỹ, Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ sản xuất cấp tốc đạn Badôca để cản phá cuộc hành quân của Pháp. Chúng ta đã vây Pháp hơn 2 tháng ở Hà Nội và giờ chúng đang tìm cách thoát ra. Ông Phan Mỹ yêu cầu: "Các đồng chí đã bắn thử Baôca thành công, tuy chưa chắc chắn lắm nhưng tình hình lúc này rất cấp bách. Sáng mai quân Pháp có khả năng chọc thủng mặt trận Cầu Mới- Hà Đông. Đề nghị anh Nghĩa cho nhồi gấp đạn Badôca ngay trong đêm để kịp mang đến cho đồng chí Vương Thừa Vũ trong ngày mai. Anh Vũ đang bảo vệ Bác Hồ và Chính phủ ở Quốc Oai, Hà Tây.
Dưới ánh đèn võ vàng, tất cả đều được huy động nhồi thuốc, lắp đạn. Chẳng ai còn đầu óc nào để nghĩ đến căn phòng đáng sợ của kỹ sư. Cật lực suốt đêm, đến 3 giờ sáng thì tổ nghiên cứu của Trần Đại Nghĩa cùng anh em trong cơ quan Cục Quân giới nhồi lắp được 10 quả đạn mang mã hiệu B60, kèm 1 quả đạn khói, 1 súng Mỹ cải tiến đưa ra mặt trận.
Nỗi kinh hoàng của kẻ địch
Sáng 3/3/1947, máy bay Pháp bắt đầu quần đảo nhằm yểm trợ cho xe tăng, cơ giới của địch đánh chiếm thị xã Hà Đông. Quân ta bố trí dọc đê. Chiếc xe đi đầu bị bắn cháy ngùn ngụt, chiếc thứ 2 cũng bị đạn bắn hỏng. Cả đoàn xe địch khựng lại, hỗn loạn rồi thối lui. Sự xuất hiện của một loại vũ khí mới đã khiến chúng bất ngờ và hoang mang. Ngày 3/3/1947 đã trở thành một mốc son của ngành Quân giới Việt Nam trong việc chế tạo khí tài, súng đạn. Chiến công này góp phần bẻ gẫy cuộc tấn công của địch ra vùng Chương Mỹ, Quốc Oai.
Sau việc sản xuất súng đạn Badôca thành công, cục Quân giới chuyển lên Việt Bắc và tiếp tục sản xuất hàng loại súng này. Vũ khí của ta lúc này rất hiếm, riêng Badôca là loại vũ khí quí. Badôca xuất hiện lần đầu tiên trên thể giới vào Thế chiến 2, năm 1943, đã trở thành vũ khí đáng sợ đối với nhiều đơn vị quân đội. Tuy nhiên việc một đất nước vừa thoát khỏi cảnh thuộc địa và nửa phong kiến như nước ta đã chế tạo thành công loại vũ khí hiện đại này, thật như huyền thoại và là điều không thể ngờ đến của địch.
Bộ đội sau khi được trang bị nhiều súng Badôca đa có nhiều sáng tạo trong chiến đấu. Nếu trước kia Badôca chỉ nhắm vào các loại xe tăng, thiết giáp thì sau này, bộ đội còn sử dụng để bắn ôtô, lô cốt, dùng thay thế lựu đạn ở những nơi đối phương tập trung đông. Đạn Badôca có tầm xa tới 600m, phạm vi sát thương tới 50m, nhưng không làm hỏng vũ khí đối phương. Vì vậy chúng ta đã tịch thu được nhiều súng đạn của giặc sau mỗi trận thắng. Từ khi đưa vào sử dụng, Badôca đã gây cho địch nhiều tổn thất rất lớn.
Từ các mặt trận, thư của chiến sĩ gửi về ngành quân giới tới tấp. Những người lính trực tiếp chiến đấu đã có nhiều phản hồi giúp kỹ sư hoàn thiện hơn loại vũ khí này. Súng Badôca đã trở thành nỗi kinh hoàng của kẻ địch, nhưng vẫn còn những hạn chế, chẳng hạn như tầm bắn chưa tốt, nếu bắn cách xa 100m thì sức phá sẽ kém đi...
Người lính trông đợi những vũ khí uy lực hơn, tiện dụng hơn, và thế là những kỹ sư lại miệt mài nghiên cứu. Chiến sự ngày một ác liệt, ngoài Badôca chiến trường cần phải có thêm vũ khí hạng nặng. Trần Đại Nghĩa lại đêm ngày nghiên cứu. Năm 1948, khi vũ khí hạng nặng bắt đầu được sản xuất thì Trần Đại Nghĩa cũng được phong quân hàm Thiếu tướng, trở thành một trong 10 vị tướng đầu tiên của quân đội ta. Khi ấy ông mới 35 tuổi.
Cuộc chiến đang vào hồi cam go, Trần Đại Nghĩa không đêm nào có được một giấc ngủ trọn vẹn. ông luôn suy nghĩ về các loại vũ khí mới, có uy lực, ngay cả trong những giấc ngủ ngắn ngủi. Ngay từ đầu kháng chiến, các cơ sở quân giới của ta đã sản xuất nhiều vũ khí như lựu đạn, mìn gửi ra mặt trận, nhưng hiệu quả của chúng không lớn. Lựu đạn, thậm chí có quả khi nổ chỉ vỡ làm 4 mảnh, tính sát thương không cao.
Những năm 1948 - 1949, Cục Quân giới bắt đầu nghiên cứu các loại vũ khí hạng nặng. Đánh địch cố thủ trong lô cốt bêtông cốt thép, thông thường ta cho nổ bộc lôi hoặc mìn lõm cỡ lớn. Người chiến sĩ phải áp sát đồn địch, rất nguy hiểm, nhiều người đã hi sinh. Các nước tiên tiến khi đó người ta hay dùng đại bác hạng nặng, hạng trung hoặc đạn bay. Đạn bay ta chưa có, còn đại bác chỉ sử dụng trong những chiến dịch lớn vì nó rất nặng, mỗi cỗ pháo nặng tới vài tấn thép.
Trần Đại Nghĩa luôn nghĩ về một loại súng thật nhẹ, có thể vận chuyển, mang vác dễ dàng, nhưng lại có sức công phá ngang... đại bác. Lúc đầu có người gợi ý làm Badoca cỡ lớn, chuyển đường kính từ 60 ly lên 90 ly nhưng không được, vì những hạn chế kỹ thuật. Ông nghĩ tới súng không giật (SKZ: súng- không- giật). Đây là loại vũ khí hiện đại, mới xuất hiện lần đầu trong trận quân Mỹ đổ bộ lên đảo Okinawa của Nhật Bản hồi cuối chiến tranh thế giới thứ hai. Tất nhiên, công nghệ chế tạo ra nó ra sao, cách thức thế nào thì chỉ... người Mỹ mới biết.
Cùng các kỹ sư cộng sự gần gũi như Lê Tâm, Nguyễn Trinh Tiếp,... Trần Đại Nghĩa phải lặp lại cái công việc mà các nhà sáng chế Mỹ đã hoàn thành. Cuối cùng, ông đã thành công. Đó là loại súng rất nhẹ, chỉ 20kg, đầu đạn lõm cỡ 160mm, dùng để bắn vào những pháo đài kiên cố của địch, đầu đạn xuyên thủng bêtông dầy hàng mét.
Chỉ sau SKZ của Mỹ mấy năm, SKZ Việt Nam xuất hiện lần đầu trong trận Phố Lu, đánh phá tan tành các lô cốt địch. Sau này, trong cuốn "Chiến tranh Đông Dương" xuất bản tại Paris năm 1963, ký giả Lucien Bodart viết: "Cái thứ gây khó khăn cho chúng tôi, cái thứ xuyên thủng bêtông dày 60cm là những quả đạn SKZ. Chỉ cần vài quả là đã tiêu diệt được lôcốt của chúng tôi".
Ta đã nghiên cứu mất 2 năm mới thành công, trước đó không một tài liệu nào nhắc tới vũ khí này. SKZ đã phát huy tác dụng rất lớn. Gần đến chiến dịch Điện Biên Phủ, Cục Quân giới chuyển vào chiến trường 10 khẩu SKZ và 100 quả đạn. Số súng đạn này đã góp phần giúp anh em chiến sĩ hạ gục nhiều đồn bốt địch.
Bom bay ra đời
Cuộc chiến đấu thần thánh đang đứng trước nhiều yêu cầu cấp bách, đòi hỏi các loại vũ khí ngày càng hoàn thiện hơn. Ta đã tạo được những thay đổi lớn trên cục diện chiến trường, đẩy quân địch vào thế co cụm. Nhưng chính lúc này, tình thế cũng đặt ra yêu cầu cần các loại vũ khí có sức tiêu diệt lớn, đánh những đòn chí mạng vào các điểm co cụm của địch.
Dù đã nhiều lần nghiên cứu các loại bom bay mang bí số V1, V2 của Đức nhưng bí mật về các loại vũ khí đó, Trần Đại Nghĩa vẫn chưa giải mã được. Trong ông luôn nung nấu sẽ có ngày tạo ra một loại vũ khí có uy lực sấm sét. Dựa trên thực địa chiến trường, ông đã có phác hoạ đôi nét về loại vũ khí này. Đó là do ta và địch luôn ở thế cài răng lược, vì vậy tầm hiệu quả của "bom bay" chỉ hạn chế từ 3 đến 4km, quả đạn cũng chỉ nặng tầm 25 - 30kg.
Nhưng vấn đề là làm sao để đẩy cả khối thuốc nổ đó đi xa một hành trình dài tới mấy km. Trần Đại Nghĩa đã dành toàn bộ thời gian để nghiên cứu phương án tối ưu chế tạo thuốc đẩy. Ngày đêm mày mò, cuối cùng việc gì đến cũng phải đến. Trong một lần đi tắm suối, nhà khoa học đã nghĩ tới phương án ép từng lớp thuốc vào ống thép. Và ông thành công.
Vũ khí mới được khẩn trương sản xuất với tên gọi khiêm nhường: đạn bay. Sau đó, nó được cấp tốc đưa đến các vùng chiến sự khốc liệt. Nó đúng hơn phải gọi là bom bay bởi đã trút những đòn sấm sét nhất xuống đầu quân thù. Một hàng binh sau này khai: Ngay cả lính cảm tử của đội quân lê dương cũng có nhiều kẻ muốn chạy sang hàng ngũ Việt Minh để tránh được thảm cảnh gây ra bởi một loại vũ khí mới rất khủng khiếp, chẳng kém gì so với bom V1, V2 hồi Thế chiến 2.
Vị Cục trưởng tài ba của 2 Cục quan trọng
Sau chiến dịch Việt Bắc (Thu Đông 1947), Trung ương Đảng và Bác Hồ quyết định phong quân hàm cho một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân đội. Ngày 20/11/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 110/SL, phong quân hàm Đại tướng cho Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp, sắc lệnh phong Trung tướng cho đồng chí Nguyễn Bình và phong Thiếu tướng cho các đồng chí Nguyễn Sơn, Chu Văn Tấn, Hoàng Văn Thái, Lê Thiết Hùng, Hoàng Sâm, Lê Hiến Mai, Trần Tử Bình, Văn Tiến Dũng và Trần Đại Nghĩa. Lễ phong Đại tướng được tổ chức trọng thể vào ngày 28/5/1948.
Buổi lễ được cử hành trong căn nhà gỗ lợp tranh, phên nứa, bên bờ suối. Bác Hồ và cụ Bùi Bằng Đoàn (Trưởng ban Thường trực Quốc hội) đứng hai bên bàn thờ. Toàn thể nhân viên Chính phủ đứng xếp hàng phía trước. Đúng 13h, buổi lễ bắt đầu. Không khí tĩnh lặng và trang nghiêm. Bác bước lên cầm bản sắc lệnh, đoạn gọi Tướng Giáp ra đứng bên cạnh: "Nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Bác trao cho chú hàm Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ, làm tròn sứ mệnh mà nhân dân phó thác cho"...
Đối với kỹ sư Trần Đại Nghĩa, việc được phong quân hàm thiếu tướng là vinh dự rất lớn. Hai năm trước, khi còn là một kỹ sư trẻ, được Bác đón về phục vụ kháng chiến, ông chưa bao giờ dám nghĩ đến điều này, dù chỉ là trong mơ. Nhưng kháng chiến đã hun đúc, tôi luyện con người yêu nước trong ông, từ một kỹ sư trẻ trở thành một Thiếu tướng quân đội với đầy đủ kinh nghiệm vững vàng về súng ống, vũ khí chỉ trong vòng hai năm trời. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ thấy cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc ta mang ý nghĩa lớn lao đến nhường nào.
Năm 1949, Trần Đại Nghĩa 36 tuổi, được giao đồng thời hai nhiệm vụ Cục trưởng cục Quân giới và Cục trưởng Cục Pháo binh. Ông đã góp phần quan trọng xây dựng lực lượng pháo binh để tham gia chiến dịch Biên giới năm 1950, sau đó là chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Đông Xuân 1953-1954. Thời kỳ này, việc đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ pháo binh là yêu cầu vô cùng cấp bách. Lúc đó, Bộ Tổng tham mưu thành lập ba Trung đoàn Pháo binh và đến năm 1952 thì thành lập Đại đoàn pháo binh. Đó là đơn vị pháo binh đầu tiên của quân đội ta, sau này tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ và gây những tổn thất lớn cho quân địch.
Lê Bảo Trung
Những xưởng binh khí đặc biệt sau Cách mạng Tháng Tám
Vũ khí thô sơ tự tạo góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến toàn quốc
Sau
khi giành được độc lập, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gặp muôn vàn khó
khăn tưởng chừng không vượt qua nổi. Vận mệnh của cách mạng Việt Nam,
của dân tộc Việt Nam lúc đó đứng trước thử thách vô cùng nghiêm trọng.
Chính quyền nhân dân có thể bị lật đổ. Nền độc lập vừa mới giành được có
thể bị thủ tiêu, nhân dân ta có nguy cơ trở lại cuộc sống nô lệ.
Trước tình hình đó, Đảng ta,
đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đánh giá đúng tình hình, nhận thức
rõ những khó khăn, đồng thời cũng thấy được những mặt mạnh cơ bản của
cách mạng, đề ra những chủ trương giải pháp nhằm hy vọng đẩy lùi và ngăn
chặn chiến tranh, hoặc hòa hoãn nhằm kéo dài thời gian hòa bình để
chúng ta có điều kiện chuẩn bị khi có chiến tranh xảy ra.
Trước hết để ngăn chặn chiến tranh,
Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nỗ lực trong vấn đề ngoại giao, chuẩn bị
lực lượng, chuẩn bị vũ khí trang bị. Sau khi thực dân Pháp nổ súng đánh
chiếm Sài Gòn và mở rộng chiến tranh ra các tỉnh Nam Bộ, ngày
25/11/1945, Trung ương Đảng ra chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, xác định
nhiệm vụ của cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc. Nhưng lúc này nếu cùng một lúc chống cả quân Tưởng và
thực dân Pháp, chúng ta sẽ khó đứng vững. Do vậy với sách lược hòa hoãn
với quân Tưởng, đàm phán với chính phủ Pháp nhằm phá vỡ thế bao vây, uy
hiếp của kẻ thù.
Đồng bào người Thượng Tây Nguyên hưởng ứng lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946 - Ảnh tư liệu BTLSQSVN. |
Để đối phó với kẻ thù lúc này, vấn đề
khó khăn nhất với nước Việt Nam non trẻ vẫn là vũ khí. Cùng với công tác
chuẩn bị về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu của kháng chiến trường kỳ, Chủ
tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 34/SL, ngày 25 tháng 3 năm 1946, quy định
tổ chức Bộ Quốc phòng, thành lập cơ quan “Chế tạo Quân giới” (1). Đêm
ngày 19 rạng ngày 20 tháng 12 năm 1946, các lực lượng vũ trang và nhân
dân Thủ đô Hà Nội và các thành phố nổ súng chiến đấu. Toàn quốc bước vào
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Sáng ngày 20 tháng 12
năm 1946, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh
(viết ngày 19/12/1946) được phát đi khắp cả nước: “…Bất kỳ đàn ông,
đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân
tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu
Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì
dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu
nước…” (2). Không cam tâm là nô lệ, nhân dân cả nước nhất tề đứng
lên hưởng ứng lời kêu gọi kháng chiến của Người. Tại Hà Nội, cuộc chiến
đấu ở nội thành dự kiến một tháng kéo dài đến tháng 2 năm 1947. Nhiều
trận đánh diễn ra ác liệt ở Bắc Bộ Phủ, nhà Xô-Va, chợ Đồng Xuân…, nhiều
chiến sỹ ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch với tinh thần “Quyết tử để
Tổ quốc quyết sinh”. Tại Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định, Vinh, Huế, Đà
Nẵng… các lực lượng vũ trang, tự vệ và nhân dân anh dũng, bao vây, tiến
công quân Pháp tiêu diệt nhiều sinh lực địch bằng vũ khí thô sơ và tự
tạo.
Ngày 12 tháng 1 năm 1947, Hội nghị Quân sự lần thứ nhất họp tại Chương Mỹ, Hà Đông, quyết định: “Nhiệm
vụ chính lúc này là bảo toàn lực lượng để kháng chiến lâu dài. Chủ
trương đối với ngành quân giới các khu phải tổ chức sản xuất vũ khí thô
sơ để cung cấp cho bộ đội chiến đấu”.
Vận chuyển máy móc từ Hà Nội lên Việt Bắc năm 1947 - Ảnh tư liệu BTLSQSVN. |
Khi bộ đội rút khỏi Thủ đô Hà Nội, máy
móc thiết bị của các nhà máy được công nhân chuyển lên căn cứ địa Việt
Bắc xây dựng xưởng sản xuất vũ khí. Ở Sài Gòn, công nhân tháo gỡ máy
móc, nguyên vật liệu rời nội đô, ra vùng ven lập cơ sở sửa chữa và làm
vũ khí sản xuất đạn, mìn và lựu đạn cung cấp cho bộ đội. Tại các địa
phương tỉnh, huyện, làng, xã lập các lò rèn, các tổ “rờ sạc” (nhồi thuốc
nổ và đầu đạn vào vỏ đạn đã qua sử dụng)… Các lò rèn ngày đêm đỏ lửa
rèn kiếm, rèn giáo, mác, mã tấu, mìn, lựu đạn tự tạo… Nhiệm vụ của các
cơ sở này là: “Tăng gia việc sản xuất các vũ khí tinh xảo, sáng chế
vũ khí mới; tổ chức và sản xuất những vũ khí thô sơ như súng kíp, dao,
kiếm, cung, nỏ” (3). Các địa phương trên cả nước, nơi nào cũng có
phong trào sản xuất vũ khí thô sơ, tự tạo và tự trang bị vũ khí cho tự
vệ và nhân dân đánh địch càn quét. Quân dân làng Cự Nẫm tỉnh Quảng Bình
sử dụng vũ khí thô sơ, tự tạo đánh bại cuộc càn lớn của địch, được tuyên
dương là “làng chiến đấu kiểu mẫu”. Khu 8, Khu 9 là những nơi đã hình
thành các cơ sở sản xuất vũ khí nhưng rất thiếu nguyên liệu. Khoa Quân
giới Khu 8, Khu 9 quyết định thành lập các đội sưu tầm mò lặn đạn cũ ở
các con sông có tàu địch bị đắm. Để có nguồn nguyên liệu thường xuyên,
nhiều binh công xưởng ở Khu 8, Khu 9 vận động nhân dân tại các bưng biền
các vùng thành thị, vùng địch hậu, tổ chức các “ủng hộ viên” kể cả
người nước ngoài quyên góp tiền bạc, mua sắm hóa chất, quyên góp nguyên
liệu cho các xưởng sản xuất vũ khí. Các “ủng hộ viên” hoạt động rất tích
cực thu nhặt đường ray, nhíp xe bò, thậm chí mang cả mâm đồng, chân
đèn, lư hương, chuông chùa ủng hộ cho các binh công xưởng sản xuất vũ
khí. Ngoài số nguyên liệu do nhân dân đóng góp, các đội tự vệ ra sức
tước vũ khí của binh lính Pháp bại trận, tổ chức đánh chiếm các kho
tàng, các xe vận tải cướp súng của địch trang bị cho mình. Các trận đánh
của bộ đội địa phương và du kích bằng vũ khí thô sơ, tự tạo đã gây cho
địch nhiều tổn thất nặng nề. Bộ đội địa phương Khu 8 bằng lựu đạn, mìn
tự tạo diệt đoàn xe vận tải quân sự của địch ở Giồng Dứa, Mỹ Tho, bộ đội
Khu 9 diệt 6 xe vận tải và hơn một trăm lính Pháp ở Tầm Vu, Rạch Giá,
bộ đội Khu 5 diệt nhiều đoàn xe địch trên đèo Hải Vân. Xã đội trưởng
Đinh Văn Gió (tức A Gió) người dân tộc H’Rê, quê ở xã Nước Lò, huyện Kon
Plong, tỉnh Kon Tum là người từng tham gia du kích Ba Tơ và là người
đầu tiên ở Kon Tum dùng tên tẩm độc để diệt Pháp. Ở huyện Tiên Lữ, Hưng
Yên, nhiều lần địch đi càn gây tội ác với nhân dân, bộ đội địa phương và
nhân dân nơi đây đã tìm cách đánh địch giữ làng. Đồng chí Lê Hữu Dưỡng
đã sáng tạo nhiều cách đánh địch, dùng chông tre kết hợp với gài mìn,
làm địa lôi, cạm bẫy, cùng đơn vị diệt hàng chục tên địch. Căn cứ Dương
Minh Châu tên một địa điểm quen thuộc trong hai cuộc kháng chiến chính
là tên của người anh hùng tỉnh Tây Ninh. Ngày 7 tháng 3 năm 1947, khi
quân Pháp mở cuộc càn quét đánh phá khu căn cứ, đồng chí Dương Minh Châu
trực tiếp hướng dẫn các chiến sĩ sử dụng cung, ná, cài bẫy bằng chông
quay diệt hàng trăm tên địch, phá trận càn của địch…
Xưởng sản xuất chông của Liên khu 5 trong kháng chiến chống Pháp - Ảnh tư liệu BTLSQSVN |
Trước yêu cầu của kháng chiến, Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 2, họp ngày 3 tháng 4 năm 1947, Đảng ta chỉ rõ: “Chú
trọng chế tạo vũ khí chống xe tăng, chống canô (Badôca, thủy lôi) và vũ
khí thô sơ (lựu đạn, súng kíp); Phải chống khuynh hướng coi thường vũ
khí thô sơ mà chỉ chú trọng vũ khí tối tân. Động viên nhân dân tìm
nguyên liệu và tham gia sản xuất vũ khí thô sơ, phổ biến cách chế tạo
lựu đạn, súng kíp đơn giản cho dân theo và tự vũ trang” (4).
Quán triệt Nghị quyết của Trung ương,
các địa phương nhanh chóng triển khai thành lập các binh công xưởng chế
tạo vũ khí có sức công phá lớn. Tại Khu 12, tháng 6 năm 1947, nhiều
công trường bán công lưu động sửa chữa, nhồi lắp lựu đạn kịp thời phục
vụ tác chiến được thành lập. Ở miền Bắc có Công trường LDI (ở Cầu Mây,
Thái Nguyên), LDII (ở Hiệp Hòa, Bắc Giang) và LDIII (ở Lạng Giang, Bắc
Giang)… Ở miền Nam có Xưởng Giải phóng quân Nam Bộ, Binh công xưởng Liên
chi 2 - 3 Bình Xuyên, Binh công xưởng của các ban công tác thành, Binh
công xưởng số 1, Binh công xưởng Cần Thơ, Rạch Giá, Cà Mau… Lúc này,
trên cả nước đã hình thành Cục Quân giới và một hệ thống các ty quân
giới. Tại các ty quân giới thành lập các xưởng, binh công xưởng. Các
xưởng này sản xuất đạn, lựu đạn, mìn và vũ khí thô sơ… Cơ sở đóng quân
của các binh công xưởng là những hẻm núi, trong hang đá, hoặc là những
căn nhà lá trong rừng, bờ kênh, thậm chí đặt trên vài chiếc ghe ở rừng U
Minh, vài căn hầm trong ngoại ô thành phố. Binh công xưởng thời đó rất
thiếu cán bộ chuyên môn kỹ thuật, thiếu nguyên liệu, máy móc, việc sản
xuất chủ yếu bằng phương pháp thủ công. Tuy nhiên anh em cán bộ quân
giới đã khắc phục mọi khó khăn, thiếu thốn chế tạo ra một số loại vũ khí
có sức công phá lớn để đánh tàu, xe của địch.
Đoàn tàu quân sự của Pháp bị trúng mìn tự tạo của du kích đường 5, Hải Dương trong kháng chiến chống Pháp - Ảnh tư liệu BTLSQSVN. |
Giữa năm 1946, Kỹ sư Hoàng Phúc và công
nhân ở xưởng Giang Tiên, Thái Nguyên đã cho ra đời súng Bazôca. Khi chế
thử, xưởng không có máy dập đồng lá, thép lá, việc tiện, hàn đều phải
làm thủ công nên sức công phá của súng và đạn chưa đạt hiệu quả cao.
Tháng 11 năm 1946, Kỹ sư Trần Đại Nghĩa được Bộ Quốc phòng cử đến xưởng
Giang Tiên nghiên cứu, chỉ đạo, chế tạo thành công súng đạn Bazôca theo
mẫu của Mỹ (kiểu ATM6A1), cỡ 60 mm, dài 1,27 mét, nặng 11kg, có thể vác
vai, bắn không giật. Ngày 3 tháng 3 năm 1947, súng Bazôca được sử dụng
tiêu diệt hai xe tăng Pháp ở khu vực chùa Trầm, Hà Đông. Cũng trong
thời gian này, các cơ sở quân giới còn nghiên cứu, chế tạo được một số
vũ khí chống tăng cỡ nhỏ (AT), súng phóng lựu, cối 51mm. Tại Đà Nẵng,
Huế, vào những năm 1947 - 1948, trên đèo Hải Vân những đoàn xe lửa chở
quân của địch liên tiếp bị lật đổ, trên sông Hội An - Câu Lâu nhiều ca
nô của địch bị đánh chìm. Các trận đánh bằng mìn, thủy lôi tự tạo đã gây
cho quân Pháp nhiều tổn thất nặng nề. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân Bùi Chát đã cùng bộ đội và du kích Liên khu 5 chiến đấu 55 trận,
dùng mìn, thủy lôi tự tạo phá huỷ 3 đầu máy xe lửa, lật đổ 7 đoàn tàu,
18 toa, diệt 5 xe và cùng đơn vị diệt gần 2 đại đội địch. Những chiến
thắng đó đã tạo niềm tin cho toàn thể dân tộc Việt Nam khi phải đương
đầu với một kẻ địch có tiềm năng sức mạnh về kinh tế, vũ khí, trang bị
hơn ta hàng ngàn lần nhưng thua ta về ý chí, nghị lực, nhưng trên hết đó
là chiến thắng của chính nghĩa.
Với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Chủ
tịch Hồ Chí Minh trong việc nhận định tình hình, khả năng tạo thế và
lực, tận dụng thời cơ. Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp,
bằng các loại vũ khí thô sơ, tự tạo cộng với lối đánh du kích, quân và
dân ta đã tạo ra sức mạnh của chiến tranh nhân dân rộng khắp, bảo vệ
được chính quyền cách mạng non trẻ trong những ngày đầu lập nước, trong
thế bị bao vây cô lập bốn bề. Với cách đánh mưu trí, sáng tạo lối đánh
tập trung kết hợp vật cản, công sự và uy lực của vũ khí thô sơ tự tạo,
quân và dân ta đã ngăn chặn hoặc đánh bại các thủ đoạn bao vây, lấn
chiếm, tiến công, càn quét của địch, làm cho địch phân tán lực lượng,
luôn căng thẳng về tinh thần, do dự, lo sợ, giảm ý chí chiến đấu. Thế
mạnh của xe tăng, xe thiết giáp… của Pháp bị bẻ gẫy, hệ thống hầm ngầm,
lô cốt kiên cố bị đánh sập, các đoàn tàu chiến của địch bị đánh chìm
chính từ những loại vũ khí thô sơ tự tạo được chế tạo từ những nguyên
vật liệu có sẵn ở các địa phương. Từ Bắc chí Nam, ta mở liên tiếp nhiều
chiến dịch tiến công và phản công quy mô ngày càng lớn đi đôi với việc
đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích rộng khắp và phong trào nổi dậy
của quân chúng ở nhiều vùng sau lưng địch. Những trận đánh ở khắp các
địa phương của quân và dân ta đã làm thất bại chiến lược “đánh nhanh
thắng nhanh”, “chiến thuật giao thông”, “chiến dịch bình định”, “chiến
thuật cố thủ” trong các lô cốt vững chắc của đối phương, tiến lên giành
những thắng lợi quyết định trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 mà
đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ. Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn
thắng đã góp phần quyết định đánh bại kế hoạch Nava và ý chí xâm lược
của thực dân Pháp, kịp thời hậu thuẫn cho thành công Hội nghị Giơnevơ về
Đông Dương (8/5 - 21/7/1954), kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lược./.
----------------------
(1) Biên niên sự kiện lịch sử Quân khí, NXB QĐND, Hà Nội 1996, Tr.26.
(2) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, T.3, Tr.557.
(3) Trích nội dung Hội nghị Chính trị Ủy
viên khu và Chính trị viên trung đoàn toàn quân lần thứ nhất, ngày 16
tháng 02 năm 1947.
(4) Biên niên sự kiện lịch sử Quân khí, NXB QĐND, Hà Nội 1996, Tr.32.
Lâm Phú
Trần Đại Nghĩa - 'ông vua' vũ khí Việt Nam
Giáo sư, viện sĩ Trần Đại Nghĩa là tên tuổi lớn trong lĩnh vực chế tạo vũ khí của Việt Nam, gắn liền với những sản phẩm nổi tiếng trong lịch sử kháng chiến như đạn Bazoka, súng SKZ hay các loại bom bay có sức công phá mạnh.
Giáo sư, viện sĩ Trần Đại Nghĩa. Ảnh: Vast.ac
|
Những ngày qua, tại các viện, trung tâm nghiên cứu khoa học và quê
hương Vĩnh Long của giáo sư Trần Đại Nghĩa diễn ra nhiều hoạt động nhân
kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông (13/9/1913-13/9/2013). Ông có tên
thật là Phạm Quang Lễ, sinh ra ở Vĩnh Long và mồ côi cha từ khi 6
tuổi. Trước khi từ giã cõi đời, cha ông căn dặn người thân phải cố
gắng cho ông ăn học đến nơi đến chốn để giúp nhà và giúp đời.
Chị gái của ông đã phải bỏ học để cùng mẹ làm lụng nuôi Phạm Quang Lễ
được đến trường. Ông lớn lên trong vòng tay yêu thương của mẹ và chị
gái. Với tư chất thông minh vượt trội, sau khi kết thúc Đệ nhất cấp
trường tỉnh Mỹ Tho, ông lên Sài Gòn theo học trường Trung học Pétrus Ký
nổi tiếng, bây giờ là trường THPT Lê Hồng Phong.
Giữa năm 1933, ông thi đỗ đầu hai bằng tú tài của cả Việt và Pháp.
Nhưng vì nhà nghèo, không có tiền ra Hà Nội để học tiếp, Phạm Quang Lễ
quyết định đi làm để giúp mẹ, giúp chị và nuôi chí chờ thời cơ.
Năm 1935, ông du học Pháp và sau những năm tháng học tập cần cù, với
trí thông minh và nghị lực cao, Phạm Quang Lễ đã nhận được cùng lúc ba
bằng đại học: Kỹ sư cầu đường, kỹ sư điện và cử nhân toán học. Sau đó
ông học lấy tiếp bằng Kỹ sư hàng không, bằng của Trường mỏ và Đại học
bách khoa.
Trong 11 năm du học ở nước ngoài, ông đã âm thầm nghiên cứu kỹ thuật,
công nghệ và hệ thống tổ chức chế tạo vũ khí. Năm 1946, Phạm Quang Lễ
theo Hồ Chủ tịch trở về quê hương. Tên Trần Đại Nghĩa là do Bác đặt cho
ông năm đó để dễ dàng hơn trong hoạt động cách mạng. Đây cũng là cái tên
đã đi vào lịch sử ngành chế tạo vũ khí của Việt Nam.
Đạn Bazoka
Tháng 11/1946, ông và các đồng nghiệp đã bắt tay nghiên cứu chế tạo
súng chống tăng dựa theo mẫu Bazoka của Mỹ. Công việc không dễ dàng,
thất bại liên tiếp nhưng đã không khiến ông nản chí. Cuối cùng,
tháng 2/1947, cuộc thử nghiệm Bazoka thành công. Mức đâm xuyên của đạn
vừa chế tạo đạt độ sâu 75 cm trên tường gạch, tương đương đạn Bazoka do
Mỹ chế tạo. Vũ khí mới xuất hiện đã khiến quân Pháp hoang mang.
Súng bazoka 40 mm do Quân giới Việt Nam sản xuất năm 1947 trang bị cho bộ đội chiến đấu trong Chiến dịch Việt Bắc. Ảnh: VinhlongOnline.
|
Ngày 3/3/1947 đã trở thành một mốc son của ngành Quân giới Việt Nam
trong việc chế tạo khí tài, khi đạn Bazoka góp phần bẻ gẫy cuộc tấn công
của địch ở vùng Chương Mỹ, Quốc Oai (Hà Tây cũ). Trong chiến dịch Thu
Đông năm 1947, Bazoka còn bắn chìm cả tàu chiến Pháp trên sông Lô. Sau
này, Cục Quân giới tiếp tục sản xuất hàng loạt đạn Bazoka với tầm xa tới
600 m và phạm vi sát thương 50 m.
Súng SKZ
Sau đạn Bazoka, những năm 1948 - 1949, ông Trần Đại Nghĩa và các đồng
nghiệp trong Cục Quân giới bắt đầu nghiên cứu và chế tạo loại súng có
sức công phá mạnh - súng không giật SKZ. Đây là dòng vũ khí hiện đại,
mới xuất hiện lần đầu trong trận quân Mỹ đổ bộ lên đảo Okinawa của Nhật
Bản hồi cuối chiến tranh thế giới thứ hai.
SKZ là loại súng hạng nặng có trọng lượng 20 kg, đầu đạn lõm, dùng để
bắn vào những pháo đài kiên cố của địch, đầu đạn xuyên thủng bê tông
dầy. SKZ Việt Nam xuất trận lần đầu trong trận Phố Lu, đánh phá nhiều lô
cốt địch. Năm 1950, tại chiến trường Nam Trung Bộ, trong một đêm, với
loại súng không giật này ta đã loại bỏ 5 đồn giặc. Địch hoảng sợ tháo
chạy khỏi hàng loạt đồn bốt khác.
Bom bay
Bom bay do Quân giới Việt Nam sản xuất 3/1948. Ảnh: VinhlongOnline.
|
Để có thể đánh đòn chí mạng vào các điểm co cụm của địch, Trần Đại
nghĩa tiếp tục nghiên cứu chế tạo loại bom bay tương tự loại V1, V2 của
Đức. Sau đó ông đã tạo ra loại bom bay được cho là có sức tấn công
chẳng kém gì so với V1, V2. Ngoài ra, ông cũng tạo ra thành công loại
tên lửa nặng 30 kg có thể đánh phá các mục tiêu ở cách xa 4 km.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trần Đại Nghĩa đã góp phần to lớn
trong cuộc chiến chống máy bay B-52 , phá hệ thống thủy lôi của địch và
chế tạo những trang thiết bị đặc biệt cho Bộ đội Đặc công. "Ông vua" vũ
khí của Việt Nam Trần Đại Nghĩa mất chiều ngày 9/8/1997 và tên tuổi
của ông luôn gắn liền với lịch sử ngành quân giới Việt Nam.
Hương Thu
“Ông vua” vũ khí Việt Nam Trần Đại Nghĩa (1)
Dân trí Nhà khoa học Trần Đại Nghĩa không chỉ là tên tuổi lớn trong làng khoa học quân sự , có nhiều đóng góp cho đất nước trên nhiều lĩnh vực. Ông là nhà khoa học đầu tiên được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động và Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I. Trải qua hai cuộc kháng chiến cứu nước, tên tuổi ông trở thành một huyền thoại đối với nhiều thế hệ người Việt cũng như bạn bè quốc tế.
Kỳ 1: Những hoài bão cháy bỏng trong chàng trai trẻ
Thủ khoa tú tài TâyTên thật của Trần Đại Nghĩa là Phạm Quang Lễ. Ông sinh ngày 13/09/1913 tại thị xã Vĩnh Long, miền Tây Nam bộ trong một gia đình có cha làm giáo viên tiểu học. Ngay từ bé, ông đã ham thích tìm hiểu các hiện tượng thiên nhiên, thiên văn. Đến khi học lớp 5, ngoài những bài học ở lớp, cậu trò nhỏ còn được cha mình dạy thêm những môn như Pháp văn, toán... Cha ông là người vốn là nhà nho uyên thâm chuyển sang học tiếng Pháp, đỗ Thành Chung, được biết đến là người học rộng biết sâu.
Nhưng một biến cố lớn xảy đến, cuộc sống đang yên ấm thì người cha đột ngột qua đời. Vậy là cậu bé Lễ mới lên 7 tuổi đã mồ côi cha. Trước khi mất, ông cụ gọi các con tới trăng trối: “Quanh ta, số người sung sướng chẳng là bao, lớn lên các con có thể cũng đi dạy học như cha, nhưng cũng có thể làm nghề khác, làm nghề chỉ để nuôi thân thì chưa đủ, nhất là với Lễ - phải trở thành trụ cột gia đình, phải biết mang hiểu biết của mình giúp ích cho đời”.
Sau đám tang, cuộc sống bộn bề khốn khó. Cậu Lễ, may thay gửi được vào nhà một ông giáo đồng nghiệp của cha. Thế là cuộc sống ở trọ bắt đầu từ đó. Nỗi nhớ cha, thương mẹ, thương chị luôn khắc khoải trong lòng cậu trò nhỏ. Mẹ và chị gái ở quê thì tần tảo một nắng hai sương nuôi Lễ ăn học, muôn vàn cơ cực.
Đến hè năm 1926, Phạm Quang Lễ thi đậu vào trường Trung học Mỹ Tho. Chuyện cơm áo gạo tiền không còn phải lo nữa, vì vào đây là có học bổng. Lễ luôn học rất tốt các môn khoa học tự nhiên. Đến năm 20 tuổi, những tháng cuối của niên khoá 1932-1933, trong lúc chuẩn bị cho kỳ thi lấy bằng tú tài bản xứ, Phạm Quang Lễ quyết định ghi danh thi lấy bằng tú tài Tây. Hoàn toàn tin vào khả năng của mình, bởi Lễ đã học kỹ các môn tự nhiên như toán, lý hoá- những môn quyết định trong việc thi lấy loại bằng này. Năm ấy, Phạm Quang Lễ thi đỗ thủ khoa cả tú tài Tây và tú tài bản xứ.
Hoài bão của tuổi trẻ
Trở thành thủ khoa, Lễ không ra Hà Nội học đại học mà đi làm ở toà sứ Mỹ Tho. Đó cũng là hai năm tìm cơ hội để đi học nước ngoài với hoài bão sưu tầm tài liệu chế tạo vũ khí. Lòng yêu nước nhen nhóm trong chàng thanh niên mỗi lúc một lớn dậy, để rồi Phạm Quang Lễ nhận ra, chỉ có đấu tranh vũ trang mới có thể giải phóng dân tộc khỏi cảnh thuộc địa.
Lễ chẳng mong gì trở thành một viên chức giống cha, để cả nhà vẫn khổ, mà muốn tiến xa hơn nữa. Thật may, chàng trai trẻ được nhà báo Vương Quang Ngưu nâng đỡ. Ông Ngưu là người luôn gần gũi, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của những người trẻ tuổi có chí hướng giành độc lập cho Tổ quốc để tìm cách nâng đỡ họ. Nhờ đó, Lễ được hội Ái hữu của trường Chasseloup- Laubat cấp học bổng một năm sáng Pháp. Nếu thi đậu đại học, nhà nước Pháp sẽ tiếp tục cấp học bổng.
Tháng 9/1935, chàng trai Phạm Quang Lễ khi đó 22 tuổi, bước chân xuống tàu thuỷ đi Pháp. Hành trang mang theo mình chẳng có gì ngoài hoài bão được học hỏi để trở về phục vụ quê hương. Lần đầu bước chân tới Paris hoa lệ, chàng trai xứ Đông Dương lặng người ngắm nhìn tháp Eiffel để cảm nhận đến tận cùng sự hùng vĩ của nó, cũng như sự cao siêu của khoa học nơi kinh đô ánh sáng. Tháp cao tới 318m nhưng toàn bộ bằng thép và chỉ nặng 7.000 tấn. Tại sao người ta có thể có những tính toán chính xác tuyệt vời nhường ấy!
Được nhận vào một trường Trung học đặc biệt 2 năm để chuẩn bị thi vào Đại học, Lễ vạch ra phương pháp học để có thể hoàn tất chương trình trong vòng 1 năm. Với trí thông minh và lòng ham học, chàng thanh niên học nhảy một lớp (rút ngắn được 1 năm). Trong lòng luôn nung nấu, phải làm sao để có kiến thức đầy đủ cho việc nghiên cứu, thiết kế và chế tạo vũ khí trở về phục vụ sự nghiệp giải phóng đất nước. Nhưng nên bắt đầu bằng cách nào đây, khi mà điều ấy là vô cùng bí mật đối với bất kỳ quốc gia nào? Hoài bão và những câu hỏi luôn cháy bỏng trong lòng chàng thanh niên.
Những chiều hoàng hôn ngồi ghế đá bên bờ sông Seine, lặng ngắm cảnh vật êm đềm thanh bình và lãng mạn, trong lòng Lễ lại ngập lên nỗi nhớ nhà, nhớ quê. Gương mặt khắc khổ vì sương gió của mẹ, hình ảnh chị, những giọt nước mắt tiễn biệt, tiếng còi tàu rú lên rời cảng Nhà Rồng... lại chầm chậm trôi trong đầu như một đoạn phim. Những lúc ấy chỉ biết nén xuống nín lặng tất cả, chờ mong đến ngày đoàn viên.
Những bước ngoặt cuộc đời
Phạm Quang Lễ quyết tâm nộp đơn thi vào trường đại học có những chuyên ngành liên quan đến hoài bão của mình nhiều nhất. Anh chọn Trường quốc gia Cầu đường Paris. Công sức cuối cùng cũng được đền đắp. Anh thi đỗ và được học bổng lên tới 1.200 franc mỗi tháng. Ngoài việc học ở trường Cầu đường, anh cũng nghe giảng ở các đại học danh tiếng khác như Trường tổng hợp Sorbonne, Đại học Mỏ, Đại học Báck khoa, Đại học điện và Học viện kỹ thuật Hàng không và lần lượt thi đậu các bằng Cử nhân khoa học, kỹ sư cầu đường, kỹ sư điện, kỹ sư hàng không.
Mùa hè năm 1937, chị gái mất, ông trở về chịu tang chị rồi lại quay trở lại Pháp. Niềm đau khôn nguôn đành vùi sâu vào lòng. Phải gạt lệ để tiếp tục con đường đã bắt đầu. Không được buồn chán, không thể để người thân thất vọng. Trong suốt thời gian này, ông dồn tâm lặng lẽ nghiên cứu thu thập những thông tin về vũ khí. Sau khi ra trường, ông vào làm ở một hãng Điện khí và tiếp sau đó là một Hãng chế tạo máy bay dân dụng.
Người ta thấy ông thường xuyên xuống các nhà máy, xí nghiệp, vào thư viện, đứng hàng giờ trước những thiết bị khí tài trong Viện bảo tàng vũ khí. Thời gian làm việc cho phòng thiết kế của hãng máy bay, ông đã tiếp xúc với rất nhiều tài liệu quân sự, vũ khí vì hãng nọ còn sản xuất cả máy bay quân sự. Kiến thức cứ âm thầm ngấm vào và lớn lên trong ông theo cách ấy.
Sau ngày đất nước giành độc lập (tháng 8/1945), tình hình trong nước vô cùng phức tạp và căng thẳng. Các thế lực thù trong giặc ngoài, đế quốc phản động luôn tìm mọi cách để xoá bỏ chính quyền cách mạng non trẻ.
Trước tình hình nước sôi lửa bỏng đó, tháng 9/1946 đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Pháp, cũng là để chọn lựa một số trí thức yêu nước có hiểu biết về vũ khí đưa về Tổ quốc trong đó có Phạm Quang Lễ - lúc đó 33 tuổi, đang là kỹ sư của hãng chế tạo máy bay. Hồ Chủ tịch ân cần hỏi ông:
- Nguyện vọng của chú lúc này là gì?
Quá cảm động vì sự giản dị và quan tâm một cách sâu sắc của Bác, ông nói luôn điều mình đang ấp ủ:
- Kính thưa Cụ, nguyện vọng cao nhất là được trở về Tổ quốc cống hiến hết năng lực và tinh thần.
- Bây giờ ở nhà cực khổ lắm, chú có chịu nổi không? Bác Hồ hỏi.
- Tôi chịu nổi.
- Bây giờ ở nhà kĩ sư và công nhân về vũ khí không có, máy móc thiếu liệu chú có làm được không? Hồ Chủ tịch tiếp lời.
- Tôi đã chuẩn bị 11 năm rồi và tôi tin là sẽ làm được.
Trong những ngày gần gũi Hồ Chủ tịch ở Paris, Phạm Quang Lễ lại càng hiểu sâu sắc hơn về tài đức của Người. Ông đã trình bày với Người nhiều kiến thức về khoa học kỹ thuật, đặc biệt là khoa học quân sự, về những hiểu biết xung quanh thế chiến 2. Những gì ôm ấp bấy nay giờ được dịp thổ lộ, như cá gặp nước, ông lập tức chuẩn bị cho ngày rời Pháp. Trước khi về nước, ông còn tập trung thu thập hàng nghìn cuốn sách liên quan đến nhiều lĩnh vực mà phần lớn là để phục vụ chiến tranh.
Lê Bảo Trung
(Còn nữa)
(Còn nữa)
"Ông vua" vũ khí Việt Nam Trần Đại Nghĩa (2)
Dân trí Vừa về nước, Phạm Quang Lễ lập tức được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao nhiệm vụ lên Thái Nguyên cùng cán bộ công nhân xưởng quân khí Giang Tiên tiến hành nghiên cứu chế tạo đạn badôca, một loại vũ khí chủ yếu dùng đánh xe tăng thời đó. Với những đóng góp của ông cho ngành quân giới, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tặng ông danh hiệu "Ông Phật làm súng".
Kỳ II: Phát minh lay chuyển cục diện
Phạm Quang Lễ trở thành Trần Đại NghĩaNgày 20/10/1946, con tàu đưa Hồ Chủ tịch và đoàn tuỳ tùng cập bếën Hải Phòng. Bến cảng rợp bóng cờ hoa, hàng nghìn đồng bào kéo nhau ra hân hoan chào đón Chủ tịch. Những tiếng reo hò: "Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!" dậy lên khắp nơi. Trong lòng chàng trai trẻ Phạm Quang Lễ nghẹn ngào khó diễn tả. Ông tự nhủ lòng phải làm gì đó góp phần xứng đáng với niềm tin yêu của Bác, của người dân đã dành cho mình.
Chỉ 7 ngày sau khi về nước (27/10/1946), Phạm Quang Lễ lập tức được Bác trực tiếp giao nhiệm vụ lên Thái Nguyên, nghiên cứu chế tạo súng chống tăng dựa theo mẫu badôca của Mỹ, với hai viên đạn do GS Tạ Quang Bửu lúc này là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cung cấp. Phải bắt tay vào việc ngay. Nhưng mới chỉ được ít hôm thì lại có điện gấp từ Bộ Quốc phòng gọi về gặp Bác Hồ.
Ngày 5/12/1946, Phạm Quang Lễ tới Bắc bộ phủ. Lòng khấp khởi, chàng kỹ sư trẻ không hiểu Bác muốn gặp mình để giao nhiệm vụ gì. Vừa gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng nhưng cũng đầy thân mật bảo: "Kháng chiến sắp đến nơi rồi, hôm nay tôi gọi chú lại để trao cho chú nhiệm vụ làm Cục trưởng quân giới. Chú lo vũ khí cho bộ đội diệt giặc". Bác Hồ giao cho ông toàn quyền hành động trong việc chế tạo vũ khí mà không phải thông qua bất kỳ một cấp nào khác.
Rồi Người căn dặn: "Việc của chú là việc đại nghĩa, vì thế từ nay Bác đặt tên cho chú là Trần Đại Nghĩa. Dùng bí danh này để giữ bí mật cho chú và để bảo vệ gia đình, bà con chú còn ở trong Nam". Bác giải thích ý nghĩa cái tên: "Một là họ Trần, là họ của danh tướngTrần Hưng Đạo. Hai là, Đại Nghĩa là nghĩa lớn để chú nhớ đến nhiệm vụ của mình với nhân dân, với đất nuớc. Đại Nghĩa còn là chữ của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo. Chú có ưng bí danh đó không?".
Đảng và Nhà nước ta đánh giá cao công trình
nghiên cứu súng Badôca. Năm 1996, GS VS Trần Đại Nghĩa đã vinh dự nhận
được Giải thưởng Hồ Chí Minh về công trình nghiên cứu chế tạo Badôca
trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.
|
Cùng các cộng sự, Trần Đại Nghĩa bắt tay vào công việc ngay từ tháng 11/1946. Ông say mê làm việc đến quên ăn, quên ngủ. Nhiều đêm ông chỉ mong cho trời chóng sáng để làm việc, nghiên cứu, thử nghiệm. Song công việc không hề dễ dàng. Ông chỉ đạo xưởng Giang Tiên sản xuất thành công một khẩu súng Badôca 60 mm và 50 quả đạn. Khi bắn thử, đạn nổ nhưng chưa xuyên.
Đạn Badôca của Mỹ được nhồi bằng thuốc phóng, còn ta chỉ có loại thuốc súng lấy được từ bom đạn của Pháp. Tất cả đều phải tính toán lại từ đầu và phải hiểu được những nguyên lý cơ bản về thuốc phóng, thuốc nổ. Những kiến thức sách vở 11 năm thu lượm xứ người bắt đầu phát huy tác dụng. Hình ảnh người kỹ sư miệt mài tính toán tốc độ cháy, đốt thử các loại thuốc súng, ngày đêm với cây thước tính trong tay... đã trở nên quá đỗi quen thuộc với các cán bộ Chiến khu. Chỉ một sai sót nhỏ sẽ phải trả giá bằng xương thịt của chiến sĩ nơi trận mạc, vì thế trách nhiệm càng đè nặng lên vai ông.
Những cán bộ chiến khu sau này kể lại, họ rất... sợ khi đi qua phòng ông vì đó là nơi rất nguy hiểm. Trong căn phòng chứa đầy thuốc nổ đủ loại, chỗ nào cũng thấy ngổn ngang bao tải thuốc nổ, trên mặt bàn làm việc la liệt các loại đạn Badôca, quả đang nghiên cứu, quả đã nhồi xong, quả thì chưa nhồi, rồi thì hạt nổ... Kỹ sư lại có thói quen... hút thuốc mỗi lúc tư duy. Rõ ràng tai hoạ luôn rình rập. Cuối cùng, điều kì diệu đã đến. Cuối tháng 2 năm 1947, cuộc thử nghiệm Badôca thành công. Mức đâm xuyên của đạn vừa chế tạo đạt độ sâu 75cm trên tường thành xây gạch tương đương với sức nổ xuyên của đạn Badôca do Mỹ chế tạo. Đây là bất ngờ lớn đối với địch.
Người ta kể rằng một cuộn dây điện trở loại nhỏ, được tháo ra từ một chiếc vôn kế. Nếu không có thì việc nghiên cứu của ông không thể thực hiện được. Nó được dùng làm sợi tóc đốt mồi thuốc súng đen a-moóc, nếu sợi tóc bị đứt thì đạn bị xịt. Trần Đại Nghĩa luôn giữ cuộn dây ấy bên mình, cho đến một đêm đáng nhớ: 2/3/1947. Cuộn dây đã được đem ra sử dụng trong tình trạng khẩn cấp.
Đêm đó, ông Phan Mỹ, Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ sản xuất cấp tốc đạn Badôca để cản phá cuộc hành quân của Pháp. Chúng ta đã vây Pháp hơn 2 tháng ở Hà Nội và giờ chúng đang tìm cách thoát ra. Ông Phan Mỹ yêu cầu: "Các đồng chí đã bắn thử Baôca thành công, tuy chưa chắc chắn lắm nhưng tình hình lúc này rất cấp bách. Sáng mai quân Pháp có khả năng chọc thủng mặt trận Cầu Mới- Hà Đông. Đề nghị anh Nghĩa cho nhồi gấp đạn Badôca ngay trong đêm để kịp mang đến cho đồng chí Vương Thừa Vũ trong ngày mai. Anh Vũ đang bảo vệ Bác Hồ và Chính phủ ở Quốc Oai, Hà Tây.
Dưới ánh đèn võ vàng, tất cả đều được huy động nhồi thuốc, lắp đạn. Chẳng ai còn đầu óc nào để nghĩ đến căn phòng đáng sợ của kỹ sư. Cật lực suốt đêm, đến 3 giờ sáng thì tổ nghiên cứu của Trần Đại Nghĩa cùng anh em trong cơ quan Cục Quân giới nhồi lắp được 10 quả đạn mang mã hiệu B60, kèm 1 quả đạn khói, 1 súng Mỹ cải tiến đưa ra mặt trận.
Nỗi kinh hoàng của kẻ địch
Sáng 3/3/1947, máy bay Pháp bắt đầu quần đảo nhằm yểm trợ cho xe tăng, cơ giới của địch đánh chiếm thị xã Hà Đông. Quân ta bố trí dọc đê. Chiếc xe đi đầu bị bắn cháy ngùn ngụt, chiếc thứ 2 cũng bị đạn bắn hỏng. Cả đoàn xe địch khựng lại, hỗn loạn rồi thối lui. Sự xuất hiện của một loại vũ khí mới đã khiến chúng bất ngờ và hoang mang. Ngày 3/3/1947 đã trở thành một mốc son của ngành Quân giới Việt Nam trong việc chế tạo khí tài, súng đạn. Chiến công này góp phần bẻ gẫy cuộc tấn công của địch ra vùng Chương Mỹ, Quốc Oai.
Sau việc sản xuất súng đạn Badôca thành công, cục Quân giới chuyển lên Việt Bắc và tiếp tục sản xuất hàng loại súng này. Vũ khí của ta lúc này rất hiếm, riêng Badôca là loại vũ khí quí. Badôca xuất hiện lần đầu tiên trên thể giới vào Thế chiến 2, năm 1943, đã trở thành vũ khí đáng sợ đối với nhiều đơn vị quân đội. Tuy nhiên việc một đất nước vừa thoát khỏi cảnh thuộc địa và nửa phong kiến như nước ta đã chế tạo thành công loại vũ khí hiện đại này, thật như huyền thoại và là điều không thể ngờ đến của địch.
Bộ đội sau khi được trang bị nhiều súng Badôca đa có nhiều sáng tạo trong chiến đấu. Nếu trước kia Badôca chỉ nhắm vào các loại xe tăng, thiết giáp thì sau này, bộ đội còn sử dụng để bắn ôtô, lô cốt, dùng thay thế lựu đạn ở những nơi đối phương tập trung đông. Đạn Badôca có tầm xa tới 600m, phạm vi sát thương tới 50m, nhưng không làm hỏng vũ khí đối phương. Vì vậy chúng ta đã tịch thu được nhiều súng đạn của giặc sau mỗi trận thắng. Từ khi đưa vào sử dụng, Badôca đã gây cho địch nhiều tổn thất rất lớn.
Từ các mặt trận, thư của chiến sĩ gửi về ngành quân giới tới tấp. Những người lính trực tiếp chiến đấu đã có nhiều phản hồi giúp kỹ sư hoàn thiện hơn loại vũ khí này. Súng Badôca đã trở thành nỗi kinh hoàng của kẻ địch, nhưng vẫn còn những hạn chế, chẳng hạn như tầm bắn chưa tốt, nếu bắn cách xa 100m thì sức phá sẽ kém đi...
Người lính trông đợi những vũ khí uy lực hơn, tiện dụng hơn, và thế là những kỹ sư lại miệt mài nghiên cứu. Chiến sự ngày một ác liệt, ngoài Badôca chiến trường cần phải có thêm vũ khí hạng nặng. Trần Đại Nghĩa lại đêm ngày nghiên cứu. Năm 1948, khi vũ khí hạng nặng bắt đầu được sản xuất thì Trần Đại Nghĩa cũng được phong quân hàm Thiếu tướng, trở thành một trong 10 vị tướng đầu tiên của quân đội ta. Khi ấy ông mới 35 tuổi.
Lê Bảo Trung(Còn nữa)
"Ông vua" vũ khí Việt Nam Trần Đại Nghĩa (3)
Dân trí Năm 1948, chiến sự diễn ra ngày một ác liệt hơn. Chiến trường cần thêm những loại vũ khí hạng nặng, ngoài Badoca đã "thành danh". Trần Đại Nghĩa khi đó là Cục trưởng Cục Quân giới lại một lần nữa nghiên cứu thành công súng không giật SKZ và bom bay, hai loại vũ khí đặc biệt lúc đó.
Kỳ III: Vị Cục trưởng tài ba của 2 Cục quan trọng
Súng SKZ bắt kịp vũ khí hiện đại của MỹCuộc chiến đang vào hồi cam go, Trần Đại Nghĩa không đêm nào có được một giấc ngủ trọn vẹn. ông luôn suy nghĩ về các loại vũ khí mới, có uy lực, ngay cả trong những giấc ngủ ngắn ngủi. Ngay từ đầu kháng chiến, các cơ sở quân giới của ta đã sản xuất nhiều vũ khí như lựu đạn, mìn gửi ra mặt trận, nhưng hiệu quả của chúng không lớn. Lựu đạn, thậm chí có quả khi nổ chỉ vỡ làm 4 mảnh, tính sát thương không cao.
Những năm 1948 - 1949, Cục Quân giới bắt đầu nghiên cứu các loại vũ khí hạng nặng. Đánh địch cố thủ trong lô cốt bêtông cốt thép, thông thường ta cho nổ bộc lôi hoặc mìn lõm cỡ lớn. Người chiến sĩ phải áp sát đồn địch, rất nguy hiểm, nhiều người đã hi sinh. Các nước tiên tiến khi đó người ta hay dùng đại bác hạng nặng, hạng trung hoặc đạn bay. Đạn bay ta chưa có, còn đại bác chỉ sử dụng trong những chiến dịch lớn vì nó rất nặng, mỗi cỗ pháo nặng tới vài tấn thép.
Trần Đại Nghĩa luôn nghĩ về một loại súng thật nhẹ, có thể vận chuyển, mang vác dễ dàng, nhưng lại có sức công phá ngang... đại bác. Lúc đầu có người gợi ý làm Badoca cỡ lớn, chuyển đường kính từ 60 ly lên 90 ly nhưng không được, vì những hạn chế kỹ thuật. Ông nghĩ tới súng không giật (SKZ: súng- không- giật). Đây là loại vũ khí hiện đại, mới xuất hiện lần đầu trong trận quân Mỹ đổ bộ lên đảo Okinawa của Nhật Bản hồi cuối chiến tranh thế giới thứ hai. Tất nhiên, công nghệ chế tạo ra nó ra sao, cách thức thế nào thì chỉ... người Mỹ mới biết.
Cùng các kỹ sư cộng sự gần gũi như Lê Tâm, Nguyễn Trinh Tiếp,... Trần Đại Nghĩa phải lặp lại cái công việc mà các nhà sáng chế Mỹ đã hoàn thành. Cuối cùng, ông đã thành công. Đó là loại súng rất nhẹ, chỉ 20kg, đầu đạn lõm cỡ 160mm, dùng để bắn vào những pháo đài kiên cố của địch, đầu đạn xuyên thủng bêtông dầy hàng mét.
Chỉ sau SKZ của Mỹ mấy năm, SKZ Việt Nam xuất hiện lần đầu trong trận Phố Lu, đánh phá tan tành các lô cốt địch. Sau này, trong cuốn "Chiến tranh Đông Dương" xuất bản tại Paris năm 1963, ký giả Lucien Bodart viết: "Cái thứ gây khó khăn cho chúng tôi, cái thứ xuyên thủng bêtông dày 60cm là những quả đạn SKZ. Chỉ cần vài quả là đã tiêu diệt được lôcốt của chúng tôi".
Ta đã nghiên cứu mất 2 năm mới thành công, trước đó không một tài liệu nào nhắc tới vũ khí này. SKZ đã phát huy tác dụng rất lớn. Gần đến chiến dịch Điện Biên Phủ, Cục Quân giới chuyển vào chiến trường 10 khẩu SKZ và 100 quả đạn. Số súng đạn này đã góp phần giúp anh em chiến sĩ hạ gục nhiều đồn bốt địch.
Bom bay ra đời
Cuộc chiến đấu thần thánh đang đứng trước nhiều yêu cầu cấp bách, đòi hỏi các loại vũ khí ngày càng hoàn thiện hơn. Ta đã tạo được những thay đổi lớn trên cục diện chiến trường, đẩy quân địch vào thế co cụm. Nhưng chính lúc này, tình thế cũng đặt ra yêu cầu cần các loại vũ khí có sức tiêu diệt lớn, đánh những đòn chí mạng vào các điểm co cụm của địch.
Dù đã nhiều lần nghiên cứu các loại bom bay mang bí số V1, V2 của Đức nhưng bí mật về các loại vũ khí đó, Trần Đại Nghĩa vẫn chưa giải mã được. Trong ông luôn nung nấu sẽ có ngày tạo ra một loại vũ khí có uy lực sấm sét. Dựa trên thực địa chiến trường, ông đã có phác hoạ đôi nét về loại vũ khí này. Đó là do ta và địch luôn ở thế cài răng lược, vì vậy tầm hiệu quả của "bom bay" chỉ hạn chế từ 3 đến 4km, quả đạn cũng chỉ nặng tầm 25 - 30kg.
Nhưng vấn đề là làm sao để đẩy cả khối thuốc nổ đó đi xa một hành trình dài tới mấy km. Trần Đại Nghĩa đã dành toàn bộ thời gian để nghiên cứu phương án tối ưu chế tạo thuốc đẩy. Ngày đêm mày mò, cuối cùng việc gì đến cũng phải đến. Trong một lần đi tắm suối, nhà khoa học đã nghĩ tới phương án ép từng lớp thuốc vào ống thép. Và ông thành công.
Vũ khí mới được khẩn trương sản xuất với tên gọi khiêm nhường: đạn bay. Sau đó, nó được cấp tốc đưa đến các vùng chiến sự khốc liệt. Nó đúng hơn phải gọi là bom bay bởi đã trút những đòn sấm sét nhất xuống đầu quân thù. Một hàng binh sau này khai: Ngay cả lính cảm tử của đội quân lê dương cũng có nhiều kẻ muốn chạy sang hàng ngũ Việt Minh để tránh được thảm cảnh gây ra bởi một loại vũ khí mới rất khủng khiếp, chẳng kém gì so với bom V1, V2 hồi Thế chiến 2.
Vị Cục trưởng tài ba của 2 Cục quan trọng
Sau chiến dịch Việt Bắc (Thu Đông 1947), Trung ương Đảng và Bác Hồ quyết định phong quân hàm cho một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân đội. Ngày 20/11/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 110/SL, phong quân hàm Đại tướng cho Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp, sắc lệnh phong Trung tướng cho đồng chí Nguyễn Bình và phong Thiếu tướng cho các đồng chí Nguyễn Sơn, Chu Văn Tấn, Hoàng Văn Thái, Lê Thiết Hùng, Hoàng Sâm, Lê Hiến Mai, Trần Tử Bình, Văn Tiến Dũng và Trần Đại Nghĩa. Lễ phong Đại tướng được tổ chức trọng thể vào ngày 28/5/1948.
Buổi lễ được cử hành trong căn nhà gỗ lợp tranh, phên nứa, bên bờ suối. Bác Hồ và cụ Bùi Bằng Đoàn (Trưởng ban Thường trực Quốc hội) đứng hai bên bàn thờ. Toàn thể nhân viên Chính phủ đứng xếp hàng phía trước. Đúng 13h, buổi lễ bắt đầu. Không khí tĩnh lặng và trang nghiêm. Bác bước lên cầm bản sắc lệnh, đoạn gọi Tướng Giáp ra đứng bên cạnh: "Nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Bác trao cho chú hàm Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ, làm tròn sứ mệnh mà nhân dân phó thác cho"...
Đối với kỹ sư Trần Đại Nghĩa, việc được phong quân hàm thiếu tướng là vinh dự rất lớn. Hai năm trước, khi còn là một kỹ sư trẻ, được Bác đón về phục vụ kháng chiến, ông chưa bao giờ dám nghĩ đến điều này, dù chỉ là trong mơ. Nhưng kháng chiến đã hun đúc, tôi luyện con người yêu nước trong ông, từ một kỹ sư trẻ trở thành một Thiếu tướng quân đội với đầy đủ kinh nghiệm vững vàng về súng ống, vũ khí chỉ trong vòng hai năm trời. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ thấy cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc ta mang ý nghĩa lớn lao đến nhường nào.
Năm 1949, Trần Đại Nghĩa 36 tuổi, được giao đồng thời hai nhiệm vụ Cục trưởng cục Quân giới và Cục trưởng Cục Pháo binh. Ông đã góp phần quan trọng xây dựng lực lượng pháo binh để tham gia chiến dịch Biên giới năm 1950, sau đó là chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch Đông Xuân 1953-1954. Thời kỳ này, việc đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ pháo binh là yêu cầu vô cùng cấp bách. Lúc đó, Bộ Tổng tham mưu thành lập ba Trung đoàn Pháo binh và đến năm 1952 thì thành lập Đại đoàn pháo binh. Đó là đơn vị pháo binh đầu tiên của quân đội ta, sau này tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ và gây những tổn thất lớn cho quân địch.
Lê Bảo Trung(Còn nữa)
"Ông vua" vũ khí Việt Nam Trần Đại Nghĩa (4)
Dân trí Dù ở cương vị nào, GS Trần Đại Nghĩa cũng quy tụ được đội ngũ trí thức, đoàn kết và hướng họ vào mục tiêu xây dựng một nền khoa học Việt Nam hiện đại, đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra. Ông trở thành một trong số những người đại diện tiêu biểu của giới trí thức yêu nước Việt Nam.
Kỳ cuối: Một đại trí thức, nhà khoa học anh hùng
Chống vũ khí hiện đại của Mỹ
Năm
1952, tại Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất,
Trần Đại Nghĩa được phong danh hiệu Anh hùng lao động, một trong bảy Anh
hùng lao động đầu tiên của nước ta. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền
Bắc được hoàn toàn giải phóng, Trần Đại Nghĩa được chuyển ra ngoài quân
đội. Nhưng một thời gian sau, ông được trở lại để chế tạo vũ khí trong
chiến tranh chống Mỹ.
Năm
1966, Bác Hồ đã nói với Quân uỷ Trung ương: "Kháng chiến chống Pháp tôi
đem chú Nghĩa về nước là để chú ấy phục vụ cho Quốc phòng. Nay kháng
chiến chống Mỹ cũng đang gặp nhiều khó khăn về mặt vũ khí, đạn dược, sao
lại để chú ấy ngồi làm việc ở cơ quan bên ngoài, không gọi chú ấy về
giúp cho Bộ Quốc phòng?" Sau đó, Trần Đại Nghĩa được gọi trở lại Bộ Quốc
phòng, làm Phó Chủ nhiệm Tổng Cục hậu cần, phụ trách về kỹ thuật. Đó
cũng chính là năm ông được bầu làm Viện sĩ tại Viện Hàn lâm khoa học
Liên Xô, danh vị cao nhất của những người làm công tác khoa học.
Về
lại với quân đội, Trần Đại Nghĩa vận dụng tất cả những kinh nghiệm quý
báu tích luỹ được trong cuộc kháng chiến chống Pháp cũng như các kinh
nghiệm rất phong phú của thế giới sau Thế chiến 2. Cần nói thêm rằng,
đến năm 1966, nước ta đã mạnh hơn nhiều so với năm 1946, có đội ngũ Quân
giới mạnh sau 20 năm xây dựng, được Liên Xô và các nước xã hội chủ
nghĩa anh em giúp đỡ nhiệt tình về vũ khí hiện đại và hậu cần. Nhưng về
phía địch thì đế quốc Mỹ năm 1966 mạnh hơn Pháp năm 1946 nhiều lần.
Đối
đầu với những vũ khí, khí tài hiện đại và phức tạp của Mỹ, lúc đầu ta
phải cải tiến các vũ khí được viện trợ. Sau đó, phải phát triển nhiều
loại vũ khí khác nhau để địch đối phó khó hơn. Tình hình chiến trường,
chiến lược, chiến thuật của ta có nhiều điểm khác với các nước, bởi vậy
việc sản xuất thêm vũ khí mới cho thích hợp là rất cần thiết, mặc dù
việc cải tiến các vũ khí tài trợ cũng quan trọng không kém. Chẳng hạn,
máy bay B52 của địch có tầm bay rất cao, ngoài tầm bắn của tên lửa SAM-2
do Liên Xô viện trợ và có sức oanh tạc ghê gớm. Ta phải phá chống nhiễu
của B52 đối với SAM-2, phải nghiên cứu cải tiến để nâng độ bay cao của
SAM-2. Nếu không cải tiến thì tên lửa này khó lòng tiêu diệt được mục
tiêu.
Mỹ
dùng đủ loại vũ khí mới với khối lượng khổng lồ. Những năm 1965 - 1966,
đế quốc Mỹ bắt đầu oanh tạc đường 559 bằng vũ khí đa dạng như bom bi,
bom laze, bom từ trường, cây nhiệt đới, tia hồng ngoại, máy đếm, máy
thông tin... Kèm theo đó là các loại máy bay mà nổi tiếng nhất trong số
đó phải kể đến B52. Ta làm thêm nhiều đường bí mật mới để tăng thêm khối
lượng vận chuyển cho chiến trường miền Nam.
Các đơn vị như Cục Quân giới, Viện Kỹ thuật quân sự, các quân chủng,
binh chủng đều phải nghiên cứu về các loại vũ khí mới của địch.
Các
nhà khoa học đã hướng dẫn cho các đơn vị nhiều biện pháp chống vũ khí,
chẳng hạn bom từ trường, cách chống đơn giản nhất là dùng mảnh sắt buộc
vào đầu dây, kéo qua chỗ có bom để phá. Cây nhiệt đới thì lấy dây buộc
các cành lại làm chúng mất tác dụng. Bom laze thì đốt khói đánh lừa. Với
mìn lá thì ta đối phó bằng cách đi theo những con đường mòn sẵn có,
không có cỏ, có thể tránh được mìn. Khi phát hiện thì gom cành lá cây
vun lại thành đống lá để người sau phát hiện được. Đặc biệt, với máy bay
B52- loại pháo đài bay chiến lược của Mỹ, ta đã nghiên cứu và có những
biện pháp đối phó hữu hiệu, như dùng cao xạ phòng không, cải tiến nâng
tầm cao của tên lửa SAM-2...
Nhận
định về những vũ khí, khí tài của Mỹ, Trần Đại Nghĩa cho rằng vũ khí
cho dù có hiện đại đến mấy đi nữa thì vẫn có nhược điểm. Ta cần nghiên
cứu, phát hiện và khoét sâu vào những nhược điểm và đó là biện pháp đối
phó tích cực nhất. Ngày 30/4/1975, miền Nam
hoàn toàn được giải phóng. Ngày lịch sử ấy, ông ghi vào sổ tay: "Nhiệm
vụ của Bác giao cho chúng tôi và tập thể các nhà khoa học Việt Nam là tham gia về mặt vũ khí và khoa học quân sự trong hai cuộc kháng chiến đã được hoàn thành".
Đưa Phạm Tuân lên vũ trụ
Ngay sau khi miền Nam được giải phóng, tháng 5/1975 Chính phủ đã quyết định thành lập Viện Khoa học Việt Nam
- Trung tâm nghiên cứu khoa học lớn nhất cả nước về khoa học tự nhiên
và một số ngành kỹ thuật. Viện sĩ Trần Đại Nghĩa lúc này là Chủ nhiệm Uỷ
ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước được cử kiêm chức vụ Viện trưởng đầu
tiên của Viện khoa học Việt Nam.
Ban
lãnh đạo Viện phải gánh vác trách nhiệm nặng nề, xây dựng nền khoa học
Việt Nam trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, đất nước vừa trải qua hai
cuộc chiến tranh, thiếu thốn đủ mọi đường, từ lực lượng cán bộ khoa học,
cơ sở vật chất, kinh phí... Nhưng Giáo sư Trần Đại Nghĩa vẫn luôn dành
sự quan tâm đặc biệt đến việc bồi dưỡng thế hệ trẻ, đội ngũ nhà khoa học
giỏi.
Năm
1979, có một sự kiện rất đáng nhớ: Viện được giao nhiệm vụ phối hợp với
Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô để thực hiên chương trình khoa học cho
chuyến bay vào vũ trụ của nhà du hành Phạm Tuân vào giữa năm 1980. Viện
sỹ Trần Đại Nghĩa cùng các đồng sự của ông đã có những chuẩn bị rất tích
cực.
Vào lúc 1 giờ 33 phút 03 giây (giờ Hà Nội) ngày 24/7/1980, tại sân bay vũ trụ Bai-cô-nua (Liên Xô) tàu vũ trụ Liên hợp 37 do Gorơbatco và Phạm Tuân điều khiển đã phóng lên quỹ đạo. Tới 3 giờ 2 phút ngày 25/7/1980,
tàu đã thực hiện thành công việc lắp ghép với tổ hợp qũy đạo "Salút 6".
Khi bay lên vũ trụ, Pham Tuân mang theo Quốc huy Việt Nam, Huy hiệu Chủ
tịch Hồ Chí Minh, chân dung hai Tổng Bí thư Đảng cộng sản: Brê-giơ-nép
và Lê Duẩn, bản Tuyên ngôn độc lập của Bác, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, một nắm đất lấy từ quảng trường Ba Đình, nơi Bác đọc Tuyên ngôn
độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà...
Những
kỷ vật ấy đều gắn với lịch sử dân tộc, mang ý nghĩa rất lớn. Chuyến bay
lên vũ trụ có ý nghĩa đặc biệt đối với nhân dân ta. Riêng với Viện khoa
học Việt Nam và Viện sĩ Trần Đại Nghĩa thì ý nghĩa về mặt khoa học và chính trị càng to lớn.
Một tấm gương trí thức sáng ngời
Về
già, giáo sư Trần Đại Nghĩa mới có dịp hồi tưởng lại những gì đã trải
qua trong suốt cuộc đời ông. Ông mồ côi cha từ năm lên bảy. Tuổi thơ bất
hạnh của người con duy nhất trong gia đình tạo cho ông sớm có nếp suy
nghĩ tự lập. Từ trí óc non nớt, ông đã chấp nhận một cuộc sống cô đơn
với đèn sách để mong có ngày đền đáp lại công đức của cha mẹ, người thân
ruột thịt đã từng nuôi dạy giúp đỡ. Chính sự dồn nén, kiên nhẫn quyết
tâm lâu ngày trở thành một tập quán trong sinh hoạt định hình của ông,
đó là suốt ngày cặm cụi đọc tài liệu, ghi chép và suy tư.
Hình
ảnh của Trần Đại Nghĩa lắng đọng sâu đậm nhất trong tâm trí mọi người
là một con người nhân hậu, khiêm tốn, bình dị. Tấm lòng ông rộng mở với
mọi người. Những người từng tiếp xúc với ông luôn thấy ở ông vẻ hiền
lành bình dị rất đáng mến. Dù là một nhà khoa học uyên bác, một GS.VS
nhưng ông luôn khiêm nhường. Ông luôn ca tụng hết lời những nhà khoa học
khác như Tạ Quang Bửu, Tôn Thất Tùng, Lê Văn Thiêm... và nhận phần yếu
kém hơn về mình.
Những
ngày cuối cùng, nhà khoa học tuổi già sức yếu, sống cùng bệnh tật.
16h20 ngày 09 tháng 08 năm 1997, ông đã qua đời hưởng thọ 85 tuổi. Người
ta nói rằng, vẻ mặt ông lúc ra đi rất thanh thản, ông nhìn người vợ đã
tần tảo bên ông suốt mấy chục năm bằng ánh mắt trìu mến, rồi nhẹ nhàng
trút hơi thở cuối cùng. Cuộc đời ông chính là cuộc đời phù hợp với bức
chân dung lý tưởng của người Việt đi du học để tiếp thu những gì cần
thiết cho đất nước rồi trở về hoà mình với nhân dân trong nước, đem trí
tuệ, tài năng, công sức tham gia chiến đấu và xây dựng Tổ quốc.
Nhận xét
Đăng nhận xét