XÃ HỘI SUY ĐỒI 11

(ĐC sưu tầm trên NET)

Không thể chấp nhận một luận văn rất phản văn hóa
Cập nhật lúc 15:24, Thứ Tư, 14/05/2014 (GMT+7)
Giữa năm 2013, trên một số tờ báo in (cả báo mạng) đăng các bài viết phản ánh về luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan - giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Sau đó lắng xuống những tưởng qua đi song, gần đây chuyện về luận văn này lại được xáo xới và “ầm ĩ” trên nhiều trang mạng khiến độc giả rất bất bình… Trước đây, Lâm Đồng Cuối tuần từng đăng bài viết “nhận diện” tác hại của luận văn này, nay thiết nghĩ rất cần trở lại thông tin về cái gọi là Nhóm “Mở Miệng” và tính chất phản văn hóa của luận văn “Vị trí của kẻ bên lề: Thực hành thơ của Nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa”!


 “Mở Miệng” là ai?


Trước sự quan tâm của dư luận, chúng tôi đã tìm đọc và đọc kỹ bản luận văn này (đã đăng trên mạng). Quả thật, khi đọc xong luận văn của Đỗ Thị Thoan, đề tài: "Vị trí của kẻ bên lề: Thực hành thơ của Nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa", chúng tôi hết sức bức xúc. Và, có lẽ đối với những ai học ngành Văn, giảng dạy văn học, hoặc sáng tác thơ nghiêm túc sẽ cảm thấy bị xúc phạm!


Nhóm “Mở Miệng” là những ai ? Sản phẩm họ “sản xuất” ra là những gì mà đã có “sức hút” để giảng viên trẻ được cho là “thông minh, tài năng” này chọn làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình gây đình đám hiện nay? Cách đây khoảng 10 năm, một nhóm gồm 4 người: Lý Đợi, Bùi Chát, Khúc Duy và Nguyễn Quán tụ họp lại và sáng tác những bài (tác giả luận văn gọi là “thơ”); về nội dung hết sức tục tĩu, thô bỉ, bậy bạ; hình thức, câu từ chắp vá thô thiển như thể một thứ hỗn tạp về ngôn từ. Ngoài “lắp ghép” để cho ra thứ sản phẩm gọi là “thơ” ấy, nhóm này còn giễu nhại (nghĩa là từ một số bài thơ chính thống của những người khác, họ “thêm” vào một vài từ…) để phá phách; trong đó, kể cả việc giễu nhại, xúc phạm đến những người mà cả dân tộc Việt Nam và thế giới kính trọng như Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh… Theo tác giả của luận văn, tháng 6.2002, tập “Mở Miệng” gồm những “thi phẩm” của 4 người này xuất bản và nhóm “Mở Miệng” chính thức hình thành. Tất nhiên, với những thứ thơ dơ dáy, rác rưởi vô văn hóa như vậy tự bản thân nó đã không thể chấp nhận thì thử hỏi có báo, tạp chí nào hay NXB chính thống nào chấp nhận để đăng, cấp phép in ấn, phát hành (?). Bởi vậy, một “Nhà xuất bản” Giấy Vụn do chính Bùi Chát đứng ra in bằng hình thức photocopy 50 bản chuyền tay nhau ở Sài Gòn rồi bị thu hồi và tiêu hủy…


Ngoài viết những bài thơ tục tĩu mà chính Bùi Chát - một thành viên trong nhóm “Mở Miệng” đã nhận, đó chỉ là “Nghịch thơ, Thơ rác, Thơ nghĩa địa, Thơ dơ”; nhóm này còn hô hào đòi cách tân thơ, làm mới thơ cả về nội dung và hình thức. Theo họ đó là tự do đưa mọi thứ tục tĩu, rác rưởi vào thơ, tự do phá phách, nổi loạn và “phản ứng lại lối sinh hoạt máy móc của một cơ chế văn nghệ hết sức suy đồi…”, chủ trương tự do làm nghệ thuật. Cái tên “Mở Miệng” đã phản ánh ý tưởng của những người sáng lập ra nó, một thái độ phản ứng về việc không được tự do “mở miệng”, ở đây là không được tự do công bố tác phẩm không qua kiểm duyệt. Bùi Chát bày tỏ: “Bổn thân tôi vốn thích dùng khái niệm Nghịch thơ hơn là Làm thơ”…


Việt Nam là quốc gia thơ (thi quốc), tất cả mọi người đều có quyền tự do làm thơ...  Tuy nhiên, cái gọi là “thơ” ấy liệu công chúng có “ngửi” được hay không mới là chuyện khác. Một lần nữa, Bùi Chát - người có nhiều thơ dơ nhất trong nhóm “Mở Miệng” đã thành thật thú nhận: “Nhiều người cho rằng, chúng tôi đang làm cách mạng thơ, thật ngớ ngẩn. Thử tưởng tượng nếu cả nền văn chương mà lại như chúng tôi thì sao, ai mà ngửi cho nổi”…


 Không thể chấp nhận một thứ “sản phẩm” rất phản văn hóa


Dòng chảy của cuộc sống có thể ví như một dòng sông, ven bờ dòng sông ấy chắc chắn sẽ có bọt bèo và rác rưởi. Dù có được chấp nhận hay không, những cái lập dị, “khác người”, thậm chí những thứ “rác rưởi” vẫn tồn tại.


Nhóm “Mở Miệng” thực ra chỉ là 4 người có cùng “thi hướng” (làm thơ, nhại thơ, nghịch thơ); có cùng “sở trường” (làm thơ dơ, thơ rác rưởi) và tạm gọi có cùng “chí hướng” (đòi cách tân làm mới thơ, đòi hỏi tự do ngôn luận, phản ứng chế độ, “phá rối trật tự”…). Thật lạ lùng, từ một sinh viên suốt những năm tháng ngồi trên ghế giảng đường ĐH theo đuổi ngành Ngữ văn, rồi trở thành giảng viên giảng dạy ở một trường ĐH có bề dày trong công tác đào tạo bao nhiêu thế hệ cán bộ, giáo viên phục vụ sự nghiệp “trồng người” cao cả, Đỗ Thị Thoan lại chọn nhóm “Mở Miệng” làm khách thể và những thứ rác rưởi kia làm đối tượng đề tài luận văn thạc sĩ - chiếc phao để vào đời của mình (?!).


Theo tác giả Nguyễn Xuân Đức (trong bài viết về luận văn của Đỗ Thị Thoan), thạc sĩ chỉ là người dự bị/tập sự khoa học (chưa phải là nhà khoa học); theo đó, luận văn thạc sĩ chưa yêu cầu là một công trình khoa học (chỉ cần nó có tính khoa học, nhất là phương pháp tiếp cận, xử lý vấn đề); và ông có lý khi lý giải: nếu luận văn là “công trình khoa học” và người viết nó là “nhà khoa học”, chắc chẳng cần có người hướng dẫn? Cứ cho việc Đỗ Thị Thoan làm nghiên cứu khoa học đi, thì theo tác giả Đinh Quang Tốn “việc chọn đề tài nghiên cứu là quyền tự do của mọi người. Đối tượng nghiên cứu có thể là tác giả, tác phẩm, nhóm, trào lưu văn chương tích cực hoặc tiêu cực, nhưng mục đích của việc nghiên cứu thì không thể lẫn lộn…”.


Điều đáng nói ở đây là Đỗ Thị Thoan đã “lẫn lộn” có chủ đích! Từ những “thi phẩm” (cách nói của Đỗ Thị Thoan) là những thứ tạp nhạp, hỗn độn rác rưởi, tục tĩu, quái dị mà bản thân các “cha đẻ” của nó không dám gọi là “thơ” đã bị xã hội phê phán, lên án và rơi rớt đâu đó dưới cống, gầm cầu, vỉa hè…, Đỗ Thị Thoan đã cố công tìm “vớt” lên và “gán” cho nó cái tên rất “thơm tho” - Thơ. Những tác giả của các sản phẩm ấy cũng được Đỗ Thị Thoan “phong” danh hiệu “nhà thơ”, trong khi đó Bùi Chát đã thú nhận: “Từ trước đến giờ tôi chưa bao giờ làm thơ để cố gắng hoàn thiện một bài thơ hay một tập thơ…”. Như đã nói trên, “Mở Miệng” chẳng qua là một nhóm những người bình thường thích làm thơ để “chơi”, để phá phách, để giải trí trong những cuộc tán gẫu nơi quán bar, quán nhậu, quán cà phê, vỉa hè… Cớ chi tác giả luận văn đã hết lời cổ súy, tâng bốc, cường điệu họ một cách quá đáng, gán cho họ những mỹ từ này, danh hiệu kia; khen họ “có tài”, thơ của họ hay và tự tiện cho rằng nhóm “Mở Miệng” là một trào lưu thơ cách tân, hiện tượng văn học, nghệ thuật, một hiện tượng văn hóa có tính đột phá …


Mặt khác, “tiếng nói” của họ cũng chỉ là những tiếng nói đơn lẻ, ý kiến của họ cũng chỉ là ý niệm về thơ nhưng lại được Đỗ Thị Thoan thổi phồng, “đẩy lên” và cho đó là “những tiếng nói ngầm”. Và, bằng lý luận nghèo nàn của mình, Đỗ Thị Thoan cố chứng minh rằng, từ “những tiếng nói ngầm”, từ cái “ngoại biên” này sẽ phá vỡ cái “trung tâm”, thay thế cái trung tâm, đồng nghĩa nó trở thành cái trung tâm. Cái trung tâm ở đây được hiểu là nền văn học cách mạng Việt Nam. Cũng cần nói thêm, từ “vị trí kẻ bên lề” được tác giả luận văn gắn vào thuyết “trung tâm và ngoại biên” rồi tập trung phân tích “giải trung tâm”, cường điệu, thổi vấn đề lên cho to tát, chứ thực ra nhóm “Mở Miệng” họ tự nhận ra vị trí của mình, của thứ thơ dơ, thơ nghĩa địa, thơ rác rưởi ấy chỉ để chơi, để quậy phá chẳng thể đi đến đâu, thay thế cho cái gì (!). Họ chẳng phải đã tự nhận: “Ở khía cạnh nào đó chúng tôi cổ vũ cho cái gọi là tính thiểu số trong nghệ thuật”. “Chúng tôi chấp nhận thế đứng bên lề”…


Đọc luận văn, ngoài một mớ những lý luận, phân tích… (gọi là luận cứ, luận chứng) mà tác giả đưa ra ngồn ngộn, rối rắm, nhất là việc cố ý trích dẫn những bài thơ tục tĩu của nhóm “Mở Miệng” cộng với cá tính thích “nổi loạn”, thích “phá rối trật tự” của tác giả được cộng hưởng đã cường điệu, cổ súy cho nhóm này khiến độc giả rất khó chịu. Đặc biệt, điều khiến người đọc cảm thấy rất thẹn và thực sự ngỡ ngàng trong hàng loạt các trang (66, 67, 68, 69…) của luận văn Đỗ Thị Thoan tràn ngập những từ ngữ hết sức tục tằn nói về vùng kín, bộ phận nhạy cảm của con người và mô tả những cử chỉ ân ái, làm tình quái dị… (xin lỗi, chúng tôi không thể viết ra được). Đồng thời, tác giả tỏ thái độ hứng khởi, say sưa khi phân tích và biểu đạt bằng thứ ngôn ngữ cũng hết sức dung tục, thậm chí dâm đãng! Chả lẽ như thế là cách tân? Là văn hóa? Là “hậu hiện đại”? Thật xấu hổ, giống động vật cái còn biết lấy cái đuôi để che… thì sao con người (mà là con người có học) lại nói huỵch toẹt cái kín đáo kia mà không biết ngượng? Thiết nghĩ, một nữ giảng viên ở một trung tâm văn hóa, một môi trường giáo dục lớn, tuổi đời chưa đến 30 sao lại quá táo tợn và trơ trẽn đến vậy? Có phải tác giả là người không bình thường mới đưa vào “con đẻ tinh thần” của mình những từ ngữ vô cùng bẩn thỉu mà có lẽ chỉ những kẻ vô văn hóa mới “văng” một cách tùy tiện như vậy (!).


Miễn bàn đến những khía cạnh “khác”, một luận văn đã góp nhặt từ những sản phẩm vô văn hóa để nhào nặn, chế biến thành một “sản phẩm” phản văn hóa là điều không thể chấp nhận. Lẽ ra, luận văn này phải được ngăn chặn ngay từ khi nó manh nha chứ không phải để nó được hướng dẫn, bảo vệ và chấm điểm tuyệt đối (!). Vậy nên, thu hồi bằng, hủy luận văn thạc sĩ, cắt hợp đồng giảng dạy đối với Đỗ Thị Thoan là việc làm đúng, tuy hơi muộn…

CHÍNH TÂM

NGUYÊN NGỌC VÀ NHÃ THUYÊN


Trong BẢN PHẢN ĐỐI VÀ YÊU CẦU gửi: PGS. TS. Nguyễn Văn Minh, Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội có 108 « NHÀ TRÍ THỨC» (Cập nhật từ ngày 18/4/2004 - 0h30 20/04/2004), trong đó Nguyên Ngọc đứng thứ 28. Họ viết: “Chúng tôi phản đối và yêu cầu Ông hủy Quyết định số 667/QĐ-ĐHSPHN ngày 11 tháng Ba năm 2014 và Quyết định số 708/QĐ-ĐHSPHN ngày 14 tháng Ba năm 2014, do trường Đại học Sư phạm Hà Nội ban hành, về việc không công nhận luận văn và thu hồi bằng Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn của Đỗ Thị Thoan” vì  « không có cơ sở pháp lý» và « đã xâm phạm thẩm quyền và quyền lợi của Hội đồng Đánh giá luận văn, của Người Hướng dẫn và Tác giả luận văn».

Tôi đang viết về điều này chưa xong, xin đăng trước bài này :

ĐÔNG LA

NGUYÊN NGỌC VÀ NHÃ THUYÊN



“nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng vụ đả kích luận văn Đỗ Thị Thoan đã đưa chúng ta «về thời kỳ đồ đá, nhất là trong lĩnh vực tư tưởng văn hóa».

TUYÊN HÓA trong bài MỘT “GÓC NHÌN” PHẢN VĂN HÓA … trên Báo Quân Đội Nhân Dân viết:


“…thơ của nhóm Mở Miệng còn hào hứng miêu tả những bộ phận sinh dục của đàn ông và đàn bà, những hành vi làm tình, hành lạc… bằng những từ ngữ thô tục, trần trụi nhất mà một người bình thường không thể nhắc lại được, dù là để phê phán… Ấy thế mà Đỗ Thị Thoan ca ngợi: “Những thi phẩm này (đúng là phải gọi bằng từ “thi phẩm”) đều sạch, đẹp và giàu năng lượng cảm xúc…” (tr.64)… Từ việc đồng lõa, bênh vực và “tôn vinh” thứ thơ bệnh hoạn, tắc tị như trên, tác giả đã bộc lộ thái độ chính trị của mình thông qua việc ca ngợi  những nhà văn “phản kháng” như Phạm Thị Hoài, Dương Thu Hương… để rồi xuyên tạc và kích động: “Nhưng giai đoạn khủng hoảng, phẩm tính phản kháng vốn tiềm tàng trong lòng các xã hội chuyên chế sẽ trỗi dậy. Đây là giai đoạn thích hợp cho nổi loạn, cho phá phách, cho thái độ vô trật tự, vô chính phủ…”

Tôi cũng thấy ngoài hành động kích động có tính chất phạm pháp của những kẻ nổi loạn, việc sử dụng tùy tiện hình ảnh các bậc thần thánh là hành động báng bổ của kẻ lưu manh, vô văn hóa, xúc phạm nghiêm trọng tín ngưỡng giáo dân. Giáo hội Thiên Chúa giáo và Giáo hội Phật giáo cần phải kiện những kẻ phạm pháp ra tòa!

Với những sự phê phán rất đúng, đầy tinh thần trách nhiệm, có chứng cớ cụ thể như vậy, tại sao Nguyên Ngọc lại cho rằng “vụ đả kích luận văn Đỗ Thị Thoan đã đưa chúng ta «về thời kỳ đồ đá, nhất là trong lĩnh vực tư tưởng văn hóa»? Việc phản đối bất chấp như vậy, phải chăng Nguyên Ngọc sống ngoài vòng pháp luật, theo luật rừng, thời bầy đàn ăn lông ở lỗ? Phải chăng do tuổi cao mờ mắt không còn đọc được chữ hay do cay cú thất bại trong tham vọng chính trị đã khiến ông mù văn hóa? Việc bênh vực Nhã Thuyên một cách bất chấp như vậy, Nguyên Ngọc thực sự đã có hành động vu cáo, nghĩa là đã phạm pháp!

Còn nếu Nguyên Ngọc cũng như Phạm Xuân Nguyên mang danh “khoa học” ra che chắn thì như tôi đã viết trong cuốn Bóng tối của ánh sáng: “Chủ nghĩa Hậu hiện đại cũng như mọi trào lưu đã xuất hiện khác đều có phần có lý. Tư tưởng … đấu tranh cho bình đẳng, dân chủ, vai trò cá nhân; phá vỡ những quy phạm nghệ thuật mòn cũ… là những mặt tốt”.

Một thể chế cũng có thể như một hệ kín, nó cũng tuân theo quy luật tăng entropy dẫn đến sự đổ vỡ nếu không mở để tiếp năng lượng của nền dân chủ. Vì vậy nếu coi Chủ nghĩa Hậu hiện đại như là phần bổ sung, sự đóng góp của hệ thống ngoài trung tâm, sẽ rất tốt cho sự phát triển.

Nhưng thực tế nhóm Mở miệng vì tôi cao, trí thấp với tính vọng ngoại đã hành động với tâm thế nô lệ tri thức, chỉ tiếp thu cái phần cực đoan, phản tiến bộ của Chủ nghĩa Hậu hiện đại. Một độc giả của tôi là chị  Phung Kim Yen, đã có ý kiến: “Tội ác trời không dung đất không tha cho những kẻ đầu độc thế hệ thanh thiếu niên bằng sản phầm văn chương, văn hóa, đồi trụy, đầy thú tính . Những kẻ tiếp tay bảo vệ ca tụng như PXN nên bị đuổi ra khỏi HNV Việt Nam”. (Chị Yến không biết PXN là Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội nhưng không “thèm” xin vào HNV Việt Nam).

Còn tôi đã viết: “Văn chương như phòng khách của tinh thần, không thể quăng bừa rác, uế tạp và thô bỉ lên đó được”.

Chỉ những người như Nguyên Ngọc, Phạm Xuân Nguyên cũng như những “nhà phê bình” vọng ngoại, nhai bã mía cũng suýt xoa khen ngọt, mới bênh Nhã Thuyên, mới bảo vệ thơ của nhóm Mở miệng. Nhưng thái độ đó chỉ là cái việc như tôi đã viết:

“… cố công độc đáo hóa cái lập dị, nghiêm túc hóa cái bông phèng, sâu sắc hóa cái vô nghĩa, cao siêu hóa cái tầm thường, và cuối cùng là nhân bản hóa cái phi nhân tính, bởi đã kỳ công đi phân tích mùi thơm của thối rữa, tô vẽ màu sắc cho rác rưởi; cả hai, cả sự sáng tạo và thẩm định, hoàn toàn có thể nói thực chất chỉ là sự xả rác trí tuệ mà thôi”.

Chỉ lạ là ở ngoài đời các vị vẫn phân biệt được bát cơm với phế thải nhưng tại sao trong văn chương thì lại không phân biệt được, những điều mà bất cứ ai có nhân tính cũng thấy. Hay tại các vị bất chấp tất cả, nên đã tận dụng mọi cơ hội để quấy rối?

24-4-2014
ĐÔNG LA

Dấu hiệu đạo văn của “nhà thơ nhập đồng”?

Một người bạn thân của ông Hoàng Quang Thuận vừa có bài viết về dấu hiệu ông này “đạo văn” để viết nhiều bài thơ trong tập Thi Vân Yên Tử.

Ngày 14.8, trao đổi với PV Thanh Niên, luật sư Nguyễn Minh Tâm, hội viên Hội Nhà văn TP.HCM, cho biết đã quen ông Thuận gần 20 năm, hai gia đình quan hệ khá thân thiết. Khi được ông Thuận tặng tập thơ Thi Vân Yên Tử gồm 63 bài thơ, ông Tâm cũng vô tư quảng bá với bạn bè. Sau đó, tình cờ một dịp viếng thăm Yên Tử, ông Tâm mua được cuốn sách Chùa Yên Tử, Lịch sử - Truyền thuyết di tích và danh thắng của tác giả Trần Trương, Trưởng ban Quản lý Yên Tử (1992-2003). Đọc xong cuốn sách trên, ông Tâm liên tưởng đến 63 bài thơ “Thiền” của ông Thuận và phát hiện thấy nhiều bài thơ ông Thuận viết, đều lấy từ nội dung cuốn sách này, thậm chí có nhiều bài thơ, câu thơ còn sao chép nguyên xi câu văn của tác giả Trần Trương. Trong bài viết Thi Vân Yên Tử của Hoàng Quang Thuận có phải là thơ nhập đồng?, ông Tâm đã dẫn chứng 16 bài thơ của ông Thuận có dấu hiệu đạo văn từ 16 đoạn văn (từ trang 20 đến trang 143) trong cuốn sách của Trần Trương.
 Cuốn sách độc bản Thi Vân Yên Tử được xác lập kỷ lục là tập thư pháp thơ thiền lớn nhất Việt Nam được ông Thuận trao tặng cho Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử Cuốn sách độc bản Thi Vân Yên Tử được xác lập kỷ lục là tập thư pháp thơ thiền lớn nhất
Việt Nam được ông Thuận trao tặng cho Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử - Ảnh: Tư liệu
Sau khi bài viết đăng trên một số trang mạng, ông Thuận có gọi điện thoại cho ông Tâm để hỏi. Ông Tâm đã xác nhận với ông Thuận rằng chính ông là người viết bài ấy với trách nhiệm của một người làm thơ và trách nhiệm của người phật tử đối với đạo Phật. “Tôi cho rằng tất cả sự mạo danh của người đời thì tội mạo danh đối với tiền nhân là tội rất nặng vì người có thể không biết nhưng trời đất biết hết cả. Tôi muốn giải nghiệp cho ông, muốn ông hồi tâm thôi”, ông Tâm nhắc lại điều đã nói với ông Thuận.
Trao đổi với Thanh Niên, ông Tâm cho biết không muốn hại bạn mình mà chỉ muốn ông Thuận tỉnh táo lại. Sau khi nghe lời khuyên của ông Tâm, ông Thuận chỉ nói rằng: “Nếu chuyện nhập đồng thơ ngẫu nhiên là có thật thì sao, vì tôi đã có ông Dương Kỳ Anh làm nhân chứng chuyện viết 121 bài thơ trong một đêm ở cố đô Hoa Lư trên những tờ giấy do ông Anh ký xác nhận!”. Ông Tâm lại khuyên: “Tốt nhất lúc này là ông nên im lặng, đừng giải thích nhiều nữa, không có lợi đâu. Vì chuyện ở Hoa Lư tôi không biết. Tôi chỉ biết chuyện tôi với ông liên quan đến tập Thi Vân Yên Tử mà thôi”.
Ông Tâm cũng cho rằng, việc hội thảo thơ của Hội Nhà văn vừa qua là có ý đồ tốt, nhưng lẽ ra phải thẩm định kỹ càng hơn và có khảo sát về hiện tượng này trước hội thảo.
Một số dẫn chứng của luật sư Nguyễn Minh Tâm
Trang 24, cuốn sách Chùa Yên Tử, Lịch sử - Truyền thuyết di tích và danh thắng viết:
Đến hẻm núi kia có ba tên cướp nhảy ra chặn đường, vua Trần khoan thai ra hiệu cho Bảo Sái cho chúng vài lạng bạc, cả suất cơm chay để độ đường. Đoạn ngồi trên mình ngựa, Ngài thuyết giáo, thức tỉnh từ tâm, đoạn trừ tam độc trong lòng chúng... Cả ba quỳ sụp xuống lạy tạ và hứa rằng “sẽ trở về lương thiện làm ăn”. Kể từ ngày đó, chúng bỏ nghề đao búa, chăm chỉ nghề nông, siêng làm công đức xây dựng chùa miếu, trở thành các tín đồ ngoan đạo của Trúc Lâm. Và từ độ ấy, nạn cướp nơi đây được tiệt trừ. Con đường dốc gập ghềnh nơi hẻm núi, kẻ lại người qua được bình an”.
- Trong bài thơ Kẻ cướp chắn đường (trong Thi Vân Yên Tử ), ông Thuận viết:
Ba tên kẻ cướp nhảy chắn đường
Vua Trần cho bạc lẫn phần cơm
Nhẹ nhàng thuyết giáo trừ tâm độc
Cả ba quỳ lạy hứa hoàn lương
Bỏ nghề đao búa thiện giáo đường
Sơn lâm từ ấy hết tai ương
Gập ghềnh hẻm núi người qua lại
Bình an vô sự hết đạo cường”.
Trang 53, cuốn sách viết:
Cá tôm say nước nhảy lia thia. Trăm hoa khoe sắc bên bờ suối… Mới hay chín suối chỉ chung một dòng… Con suối cắt chia tuyến đường Hạ Kiệu - Nam Mẫu thành chín đoạn”.
- Trong bài thơ Chín suối chung một dòng, ông Thuận viết:
Trăm hoa khoe sắc bên bờ suối
Cá tôm say nước nhảy lia thia
Mới hay chín suối chung dòng một
Đường đi Nam Mẫu suối cắt lìa.
Trang 84, cuốn sách viết:
Những đêm trăng sáng, bên tháp ngắm trăng thật thú vị. Trăng treo trên cành Tùng. Trăng rắc vàng trên cánh hoa Đại sực nức hương và đính hạt sương đêm. Trăng gắn vào đỉnh Tháp. Mỗi bước trăng trôi, cảnh vật nơi đây lung linh huyền ảo”.
- Trong bài thơ Trăng Yên Tử, ông Thuận viết:
Trăng treo lơ lửng trên cành Tùng
Trăng rắc vàng lên cánh hoa nhung
Sương đêm sực nức mùi hoa đại
Mỗi bước trăng trôi giữa núi rừng
Lung linh huyền ảo ánh trăng rơi
Tiếng hạc trong đêm tận cõi trời…
 “Từ những so sánh trên, tôi có thể suy luận rằng: Tập thơ Thi Vân Yên Tử của anh Hoàng Quang Thuận không phải là thơ “nhập đồng”, cũng không phải là “thơ Thiền” mà có xuất xứ từ cuốn sách của tác giả Trần Trương. Vì những bài thơ ấy thuần túy chỉ là tả cảnh vật qua con mắt của người phàm trần. Nếu thơ “nhập đồng” sẽ có giọng thơ khác, thâm linh, huyền bí và mang hồn cách của “người nhập”. (Luật sư Nguyễn Minh Tâm)
Nguyễn Việt Chiến


Những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng suy thoái đạo đức học sinh

Lượt xem: 3179
Trong đời sống hiện nay,  Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra những cơ hội thuận lợi rất lớn cho chúng ta phát triển, song cái gì cũng có mặt trái của nó, mặt trái của cơ chế thị trường đã và đang tác động đến tư tưởng lối sống của một bộ phận thanh thiếu niên thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước. Hiện nay tệ nạn xã hội xâm nhập vào trường học ngày càng nhiều nên vấn đề đặt ra là giáo dục ho thế hệ trẻ phải giáo dục một cách toàn diện.

1. Nguyên nhân về phía nhà trường: 

Nhà trường cũng có nhiều tác động dẫn tới tình trạng suy thoái đạo đức của học sinh, đầu tiên là việc phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường còn nhiều hạn chế, Chưa có biện pháp cứng rắn trong giáo dục học sinh cá biệt, chưa kể tới nội dung tiêu chí còn chung chung . Trong công tác tuyên truyền giáo dục tư tưởng đạo đức của nhà trường còn chưa mạnh mẽ, chưa sâu sát. Chưa có sự phối hợp nhịp nhàng giữa giáo viên chủ nhiệm với giáo viên bộ môn.Một số giáo viên trẻ thiếu kinh nghiệm, không có tính sáng tạo trong việc đề ra các biện pháp giáo dục học sinh đôi khi còn quá coi trọng thành tích của lớp, dẫn đến hiện tượng cứng nhắc, gò ép học sinh. 
Nhà trường có vai trò quan trọng trong giáo dục đạo đức học sinh
Còn một số giáo viên chủ nhiệm chưa thực sự có uy tín với học sinh, chưa có năng lực làm công tác chủ nhiệm, tính thuyết phục với học sinh chưa cao, chưa phát huy được hiệu quả của giờ sinh hoạt lớp; nội dung giờ sinh hoạt chủ yếu là thu các khoản tiền đóng góp, thiếu quan tâm đến nguyện vọng tâm sinh lý học sinh. 

2. Nguyên nhân về phía gia đình: 

Những em có dấu hiệu vi phạm đạo đức trong thời gian qua đều do gia đình thiếu quan tâm chăm sóc, giúp đỡ các em; một số gia đình do kinh tế khó khăn bố mẹ đi làm ăn xa chỉ biết đóng tiền cho con; một số gia đình không biết cách, không có phương pháp quản lý giáo dục con dẫn đến tình trạng buông lỏng. Bản thân học sinh không có sự rèn luyện tốt. Tác động tiêu cực của bạn bè. Sự ảnh hưởng của khoa học công nghệ: điện thoại, internet, games.

3. Nguyên nhân về phía xã hội: 

Tác động của cơ chế thị trường, sự phát triển của khoa học công nghệ, tác động lối sống hám cơ sở vật chất hơn tính nhân văn, xem nhẹ lời khuyên của cha mẹ, thầy cô, dẫn đến những biểu hiện lệch lạc về chuẩn mực đạo đức. 

Giả dối lên ngôi, đạo đức suy đồi

Tình trạng đạo đức suy đồi dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội trong nước – thể hiện nhan nhản trên mặt báo “lề phải” lẫn “lề trái” – hiện tiếp tục làm trĩu nặng nỗi trăn trở của những người có tâm huyết với quê hương, dân tộc.
Thanh Quang, phóng viên RFA
2012-06-24
Gian lận trong phòng thi tốt nghiệp THPT Đồi Ngô. 2012
Gian lận trong phòng thi tốt nghiệp THPT Đồi Ngô. 2012
Ảnh chụp từ clip

Từ A đến Z

Qua bài “Lạm bàn về căn bệnh dối trá tại Việt Nam”, Giáo sư Trần Kinh Nghị từ Hà Nội đề cập tới điều có thể nói hài hước – nhưng chua chát - rằng “ở Việt Nam mọi thứ đều giả, chỉ có dối trá là có thật!”
Một nhà giáo dục luôn quan tâm cho vận nước, dân tộc là GS Hà Văn Thịnh từ Huế cảnh báo rằng tình trạng giả dối ở Việt Nam giờ lan tỏa từ “A đến Z”, khi cảnh nhiễu nhương, tự tung tự tác đang hoành hành xã hội Việt Nam:
Vì giờ người ta giả dối từ A tới Z, từ trên xuống dưới. Ai muốn làm gì thì làm, ai muốn lừa ra sao thì lừa, muốn tự tung tự tác hay ăn cướp thế nào đó vẫn được.
GS Hà Văn Thịnh
“Trong bản chất xã hội Việt Nam có sự giả dối, vô cảm, ích kỷ, sự tàn nhẫn. Đó là tất cả những gì biểu hiện của văn hóa Việt Nam hiện nay. Nói ra chẳng ai thích đâu. Nhưng đó là sự thật. Vì sao? Vì giờ người ta giả dối từ A tới Z, từ trên xuống dưới. Ai muốn làm gì thì làm, ai muốn lừa ra sao thì lừa, muốn tự tung tự tác hay ăn cướp thế nào đó vẫn được.”
Theo GS Trần Kinh Nghị, thì dối trá thoạt nghe qua cũng chỉ là một thói đời không mấy tốt đẹp vốn nhan nhản trong xã hội loài người, nên người ta dễ tưởng rằng “không có gì nguy hại lắm”. Nhưng, khi “Lạm bàn về căn bệnh dối trá ở Việt Nam”, GS Trần Kinh Nghị không khỏi lưu ý rằng “Ở Việt Nam bệnh dối trá có những đặc thù riêng”. Những “đặc thù riêng” ấy là như thế nào ? Tác giả giải thích:
“Nó bắt nguồn từ thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc, trải qua nhiều biến cố lịch sử với những phong trào thi đua và những đợt cải cách ruộng đất, cải tạo công thương, nhân văn giai phẩm v.v… khiến xã hội bị xáo trộn, lòng người đảo điên. Những thời kỳ kinh tế khắc khổ cũng khiến con người ta trở nên bon chen và thủ đoạn. Tất cả tạo nên lối sống và tư duy phức tạp, thường mang tính hai mặt, nói và làm không đi đôi với nhau.”

Căn bệnh trầm kha

khoa-than-giu-dat-250.jpg
Hai mẹ con khỏa thân chịu nhục để phản đối việc cưỡng chế đất. Photo courtesy of blog lehienduc (lhdtt).
Vẫn theo GS Trần Kinh Nghị, thói “làm thì láo, báo cáo thì hay” cùng thói “chạy theo thành tích” vốn phát xuất từ thời XHCN ở Miền Bắc đã góp phần làm trầm trọng thêm căn bệnh dối trá ở Việt Nam hiện nay, và đã trở thành “căn bệnh trầm kha bám sâu rễ trong toàn xã hội đến độ ai không biết nói dối, không biết làm ẩu và không biết ‘ăn theo nói leo’ thì không thể tồn tại”. Và tác giả báo động rằng tệ nạn bè phái, tham nhũng nghiêm trọng tràn lan trên khắp quê hương hiện nay cũng có nguyên nhân sâu xa từ căn bệnh dối trá ấy, để từ đó, sinh sôi và dung dưỡng cho “những kẻ bất tài, vô đạo đức nhưng thích làm quan”. Nhà văn Nguyên Ngọc qua bài “Cần một cuộc tự vấn” đã thẳng thắn đề cập tới “một trạng thái chán chường sâu sắc và mênh mông về đạo đức xâm chiếm mọi con người”. Theo cái nhìn của nhà văn Nguyên Ngọc thì tâm trạng chán chường trước sự sa sút về đạo đức ấy phát sinh từ một “căn bệnh” cứ “vây kín quanh mình”, “va vào đâu cũng gặp” dưới “mọi kiểu trắng trợn hay tinh vi”, đó là sự giả dối. Nhà văn Nguyên Ngọc phân tích:
“Tôi cho rằng căn bệnh nặng nhất, chí tử nhất, toàn diện nhất của xã hội ta hiện nay là bệnh giả dối. Chính cái giả dối tràn lan khiến người ta không còn thật sự tin vào bất cứ điều gì nữa. Câu hỏi thường trực bây giờ: Tốt để làm gì? Sạch để làm gì? Quên mình để làm gì? Xả thân chống lại cái xấu, cái giả để làm gì? Liệu rồi có ai, có cơ chế nào bảo vệ những nỗ lực đạo đức đó không? Hay thậm chí bị cả cơ chế quật đánh lại như vẫn thấy không hề ít?”

Đang thống trị xã hội

Nhà văn Trần Mạnh Hảo cũng không tránh khỏi âu lo khi căn bệnh giả dối ấy “đang thống trị xã hội” Việt Nam, mà chủ yếu bắt nguồn từ tình trạng thiếu trung thực của nền giáo dục nước nhà:
Nhưng toàn bộ hệ thống đã hư, đã sai rồi, thì phải thay đổi cả hệ thống mới cải tạo được xã hội hiện nay. Hiện sự giả dối đang thống trị xã hội chúng ta.
Nhà văn Trần Mạnh Hảo
“Sự giả dối tồn tại ở xã hội Việt Nam lâu rồi. Ngay trong lãnh vực giáo dục, ông phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân phụ trách các mặt văn hóa-giáo dục cũng khẳng định là tình trạng thiếu trung thực trong giáo dục là bệnh lớn nhất tại VN.
Mà giáo dục là gì? Giáo dục là dạy cho con người trở thành người. Nó dạy cho con người phải có đạo đức. Mà cái đầu tiên của đạo đức là chân thật. Giả dối thì trái ngược lại, là phản giáo dục. Vừa rồi nhà bác học toán học Hoàng Tụy cũng vừa viết một bài rất hay góp ý cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về tái cấu trúc xã hội.
Theo GS Hoàng Tụy thì không thể nào tái cấu trúc xã hội. Bởi vì tái cấu trúc là những bộ phận rời. Nhưng toàn bộ hệ thống đã hư, đã sai rồi, thì phải thay đổi cả hệ thống mới cải tạo được xã hội hiện nay. Hiện sự giả dối đang thống trị xã hội chúng ta.”

Cả một hệ thống

nusinhdanhnhau250.jpg
Những học sinh khác thì vô tư nhìn bạn bị đánh một cách tàn nhẫn. Hình chụp từ YouTube.
Cách nay chưa lâu – tức hồi cuối năm ngoái, vào một buổi chiều cuối năm, khi “giá rét và nỗi buồn… tràn ngập tâm hồn khiến nỗi lòng chùng xuống”, TS Nguyễn Xuân Diện đã phóng bút bài “Chiều cuối năm nhìn lại”, qua đó ông không quên lưu ý tới “những vụ giết người cướp của ngày càng táo bạo, kẻ thủ ác tuổi đời càng ngày càng trẻ và cách thức giết người càng ngày càng dã man, độc án, quyết liệt” hơn. Nhà văn Trần Mạnh Hảo cũng có cái nhìn tương đồng về việc xã hội Việt Nam ngày nay – mà theo lời ông, “xuống cấp chưa từng thấy”: “TS Nguyễn Xuân Diện nói thế là chính xác bởi vì điều đó có rất nhiều người đã khẳng định rồi. Ngay cả nghị viên Quốc hội Việt Nam Dương Trung Quốc cũng nói rằng thế hệ chúng ta là thế hệ mất gốc. Mà mất gốc là mất những giá trị tốt đẹp của Việt Nam.
Còn xã hội Việt Nam hiện nay, về mặt đạo đức, xuống cấp chưa từng thấy. Tình trạng này đầy tràn những mặt báo “lề phải”: Ngày nào cũng cướp, cũng giết, cũng có những tội phạm xã hội khủng khiếp. Nó tràn lan, không còn là hiện tượng riêng lẻ, mà cả hệ thống như vậy rồi.”
Nếu ngày xưa – cách nay hơn một thế kỷ - nhà thơ Trần Tế Xương than phiền và báo động tình trạng xã hội VN lúc đó suy đồi về đạo đức, khi:
Nhà kia lỗi đạo con khinh bố
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng

thì ngày nay, tình hình đạo đức sa sút ngày càng trầm trọng trong nước đang gây bất an, trăn trở triền miên cho những người có tâm huyết với quê hương.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32