BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 1.

-Mọi người đều mù quáng đi trên con đường đời của mình! Vì đố ai thấy chính xác con đường ấy!
-Đường đời riêng đã không thấy thì làm sao thấy được đường đời chung, tức định mệnh của nhân loại?
-Chỉ toàn suy đoán và tưởng tượng thôi! Vì vậy, hãy thận trọng trước những " tiên tri" về xã hội!

-----------------------------------------------------------
(ĐC sưu tầm trên NET)

C.Mác
C.Mác

Tiểu sử C.Mác
Ngày 12/6/2003. Cập nhật lúc 15h 38'
C. Mác sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 ở thành phố Tơriơ trong gia đình luật sư Heinrich Marx. Năm mười hai tuổi (1830) C. Mác vào học trường trung học ở Tơriơ. Sức học của C. Mác thuộc loại giỏi, đặc biệt C. Mác nổi bật ở những lĩnh vực đòi hỏi tính độc lập sáng tạo. C. Mác cũng tỏ ra có năng lực về toán học. Mùa thu 1835, C. Mác tốt nghiệp trường trung học, sau đó không lâu, tháng mười 1835, C. Mác vào trường đại học tổng hợp Bonn để học luật. Hai tháng sau theo lời khuyên của bố C. Mác tiếp tục học ở trường Đại học Tổng hợp Berlin. ở trường Đại học, năm 1836, ngoài luật học, sử học và ngoại ngữ C. Mác bắt đầu đi sâu nghiên cứu triết học. Mùa xuân 1837, C. Mác bắt đầu nghiên cứu kỹ những tác phẩm của Hê-ghen, sang năm 1839 thì vùi đầu vào nghiên cứu triết học, suốt cả năm 1939 và một phần của năm 1840 C. Mác tập trung nghiên cứu những vấn đề lịch sử triết học Cổ đại. Ngày 15 Tháng Tư 1841, khi mới 23 tuổi, C. Mác nhận được bằng Tiến sĩ triết học với luận án Về sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Démocrite, và triết học tự nhiên của épicure tại trường Iêna.


Tháng Năm 1843, C. Mác đến Kroisnak, một thành phố nhỏ vùng Rhein và ông đã chính thức làm lễ thành hôn với Jenny vôn Vestphalen.


Lần đầu tiên, C. Mác gặp Ph. Ăng-ghen vào cuối tháng Mười Một 1842, khi Ph. Ăng-ghen trên đường sang Anh và ghé thăm ban biên tập tờ Rheinische Zeitung (Nhật báo tỉnh Ranh). Mùa hè năm 1844, Ph. ăng-ghen đến thăm C. Mác ở Pa-ri. Hai ông đã trở thành những người bạn cùng chung lý tưởng và quan điểm trong tất cả mọi vấn đề lý luận và thực tiễn. Theo yêu cầu của Chính phủ Vương quốc Phổ, Chính phủ Pháp đã trục xuất C. Mác. Ngày 3 tháng Hai 1845, C. Mác rời Pa-ri đến Brussel, ít lâu sau Ph. Ăng-ghen cũng đến đây và hai ông lại tiếp tục cộng tác chặt chẽ với nhau. Sau khi cách mạng năm 1848, ở Pháp nổ ra Chính phủ Bỉ trục xuất C. Mác. Ông lại đến Pa-ri, Tháng tư 1848, C. Mác cùng với Ph. Ăng-ghen đến Kioln, tại đây Mác trở thành Tổng biên tập tờ Nhật báo tỉnh Ranh, cơ quan của phái dân chủ. Năm 1849 Chính phủ Phổ đóng cửa tờ báo và trục xuất C. Mác. Ông lại đến Pa-ri, nhưng lần này ông chỉ lưu lại ba tháng. Tháng Tám 1849, từ Pa-ri C. Mác đi Luân-đôn và sống đến cuối đời (1883). C. Mác qua đời ngày 14 Tháng Ba 1883 ở Luân-đôn.


Hoạt động cách mạng sôi nổi và con đường tìm ra quy luật lịch sử C. Mác


Công tác thực tiễn ở báo Rheinische Zeitung đã làm thay đổi cơ bản thế giới quan của C. Mác chuyển từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật và từ chủ nghĩa dân chủ - cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản. Tháng Hai 1844, trên tờ tạp chí Niên giám Pháp - Đức C. Mác đăng bài Góp phần phê phán triết học pháp luật của Hê- ghen. Từ tháng Tư - tháng Tám 1844, C. Mác viết Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, thực chất là những phôi thai của những tư tưởng hết sức quan trọng mà sau này C. Mác phát triển một cách khoa học trong bộ Tư bản. Tháng hai 1845, cuốn sách Gia đình thần thánh của C. Mác và Ph. Ăng- ghen viết chung ra đời phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm chủ quan của phái Hê-ghen trẻ, thực chất là phê phán toàn bộ chủ nghĩa duy tâm , đồng thời nêu ra vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Thời kỳ hoạt động của C. Mác ở Pa-ri kết thúc (tháng Hai 1845), một thời kỳ mới sau đó mở ra với mục đích rõ ràng mà C. Mác tự đặt ra cho mình: đề xuất một học thuyết cách mạng mới. C. Mác cùng với Ph. Ăng- ghen hợp sức viết Hệ tư tưởng Đức (1845-1846) tiếp tục phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hê-ghen và phái Hê-ghen trẻ đồng thời phê phán chủ nghĩa duy tâm không nhất quán của Ludvich Phoiơbach. Trong cuốn Sự bần cùng của triết học (1847) C. Mác đã chống lại triết học tiểu tư sản của P.J. Pruđông và trình bày những cơ sở của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chính trị kinh tế học vô sản. Năm 1848 được sự uỷ nhiệm của Đại hội II Liên đoàn những người cộng sản C. Mác và Ph. Ăng- ghen viết Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản- một văn kiện mang tính chất cương lĩnh của chủ nghĩa C. Mác và đảng vô sản. Tháng Sáu năm 1859, công trình thiên tài của C. Mác Góp phần phê phán môn chính trị kinh tế học ra đời viết về tiền tệ và lưu thông tiền tệ; nhưng điều đặc biệt quan trọng là lần đầu tiên tác phẩm đã trình bày học thuyết Mác-xít về giá trị , cơ sở của học thuyết kinh tế của C. Mác.


C. Mác là người tổ chức và là lãnh đạo của Quốc tế cộng sản I thành lập ngày 28 tháng 9 1864, ở Luân- đôn. Năm 1867 bộ Tư bản (tập I)- tác phẩm chủ yếu của C. Mác ra đời. Tập II và III C. Mác không kịp hoàn tất, Ph. Ăng-ghen đảm nhận việc chuẩn bị xuất bản hai tập này. Trong bộ Tư bản C. Mác đã vạch rõ quy luật giá trị thặng dư dưới hình thái giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối; và quy luật giá trị với tư cách là quy luật chung của nền sản xuất hàng hóa được phát triển trong quy luật cung và cầu, trong những quy luật của lưu thông tiền tệ.


Trong tác phẩm những năm cuối đời C. Mác nêu lên hình thức hợp lý nhất của chuyên chính vô sản là kiểu tổ chức chính trị như công xã Pa-ri (Cuộc nội chiến ở Pháp- 1871).


Trong cuốn Phê phán cương lĩnh Gôta (1875) C. Mác đã kịch liệt phê phán những sai lầm cơ hội chủ nghĩa của những người lãnh đạo đảng xã hội dân chủ Đức, đề ra một vấn đề hết sức quan trọng về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản và hai giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản, nghĩa là bản thân xã hội cộng sản phải phát triển qua hai giai đoạn: giai đoạn thấp- chủ nghĩa xã hội, giai đoạn cao- chủ nghĩa cộng sản. Năm 1876 sau khi Quốc tế cộng sản đệ nhất giải tán, C. Mác nêu lên ý kiến thành lập các đảng vô sản ở các nước là nhiệm vụ chính trị hàng đầu trong phong trào công nhân.
F.Ăng-Ghen
F.Ăng-Ghen

Tiểu sử Ph. Ăngghen
Ngày 12/6/2003. Cập nhật lúc 15h 44'
Ph. Ăng-ghen sinh ngày 28 tháng 11 năm 1820 tại Barmen, tỉnh Ranh, Vương quốc Phổ trong một gia đình chủ xưởng dệt. Từ nhỏ Ph. Ăng- ghen đã bộc lộ tính cách độc lập. Những lời dạy bảo nghiêm khắc của cha và những sự đe doạ trừng phạt không thể làm cho ông đi đến chỗ phải phục tùng mù quáng. Cho đến năm 14 tuổi, Ph. Ăng- ghen học ở trường tại thành phố Barmen. Ph. Ăng- ghen sớm bộc lộ năng khiếu về ngoại ngữ. Tháng Mười 1834, Ph. Ăng- ghen chuyển sang học ở trường trung học Elberfelder, một trường tốt nhất ở Phổ thời bấy giờ. Năm 1837, theo yêu cầu của bố, Ph. Ăng- ghen buộc phải rời bỏ trường trung học khi chưa tốt nghiệp để bắt đầu công việc buôn bán ở văn phòng của bố ông. Trong thời gian này ông tự học các ngành sử học, triết học, văn học, ngôn ngữ và thơ ca. Tháng 6 năm 1838, Ph. Ăng- ghen đến làm việc tại văn phòng thương mại ở thành phố cảng Barmen. Cuối năm 1839 Ph. Ăng- ghen bắt tay vào nghiên cứu các tác phẩm của Hê- ghen. Tháng 9- 1841, Ph. Ăng- ghen đến Berlin và gia nhập binh đoàn pháo binh ở đây ông được huấn luyện quân sự mà trong những năm sau, ông rất cần đến nó, nhưng ông vẫn lui tới trường Đại học tổng hợp Berlin nghe các bài giảng triết học, tham gia hội thảo về lịch sử tôn giáo. Mùa xuân 1842, Ph. Ăng- ghen bắt đầu cộng tác với tờ Rheinische Zeitung (Nhật báo tỉnh Ranh). Trong những bài báo in năm 1842, trên tờ báo Ph. Ăng- ghen đã lên tiếng phản kháng chế độ kiểm duyệt của Chính phủ Vương quốc Phổ, trật tự phong kiến ở Đức. Ngày 8 tháng 10 năm 1842, Ph. Ăng- ghen mãn hạn phục vụ trong quân đội. Từ Berlin ông trở về Barmen, một tháng sau, Ph. Ăng- ghen sang Anh thực tập buôn bán. Trên đường sang Anh, Ph. Ăng- ghen đã thăm trụ sở tờ báo Rheinische Zeitung ở Kioln và ông đã gặp C. Mác, Tổng biên tập tờ báo. Ông đã ở lại Anh hai năm. Bài báo Tình cảnh của giai cấp công nhân ở Anh (1842) cùng với những bài báo khác của Ph. Ăng- ghen viết ra năm đó đã phân tích rõ sự phân chia xã hội thành ba giai cấp cơ bản: giai cấp quý tộc chiếm hữu ruộng đất, giai cấp tư sản công nghiệp và giai cấp vô sản. Ph. Ăng- ghen tham gia viết bài cho tờ tạp chí Niên giám Pháp - Đức (tháng 21844). Các bài báo này đề cập đến việc áp dụng phương pháp biện chứng vào việc phân tích các quan hệ kinh tế của xã hội tư sản.

Tác phẩm Những phác thảo phê phán môn kinh tế chính trị học của Ph. Ăng-ghen đã chỉ rõ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa là cơ sở của toàn bộ sinh hoạt vật chất và tinh thần của xã hội tư sản. Tháng 2-1845, cuốn sách Gia đình và Thần thánh của C. Mác và Ph. Ăng-ghen ra đời đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm và phương pháp của nó, nêu luận điểm về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Hai ông cùng hợp sức viết công trình nổi tiếng Hệ tư tưởng Đức (1845-1846), phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm của Hê- ghen và phái Hê- ghen trẻ đồng thời phê phán chủ nghĩa duy vật không nhất quán của Ludvich Phoiơbach nêu ra những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tiếp đó năm 1848, Đại hội II Liên đoàn những người cộng sản đã uỷ nhiệm C. Mác và Ph. Ăng- ghen cùng viết Tuyên ngôn của Đảng cộng sản.

Trong thời gian sống ở Pa-ri, Ph. Ăng-ghen quan tâm nhiều đến hoạt động của BCH Trung ương Liên đoàn những người cộng sản và trở thành Uỷ viên của Ban lãnh đạo và là một trong những lãnh đạo Câu lạc bộ công nhân Đức (Tháng3-1848) do BCH Trung ương LĐNNCS lập ra.

Tháng 3- 1848, cùng với C. Mác , Ph. Ăng-ghen thảo ra Những yêu sách của Đảng cộng sản Đức được BCH Trung ương LĐNNCS thông qua như là văn kiện có tính chất cương lĩnh cho hành động của giai cấp vô sản Đức. Tháng 4-1848 ông cùng với C. Mác trở về Đức tham gia cuộc cách mạng Đức. Ngày 20 tháng 5/1848 Ph. Ăng-ghen đến cùng với C. Mác chuẩn bị xuất bản tờ Neue Rheinische Zeitung. Ph. Ăng-ghen tham gia viết các bài xã luận, bài điểm tình hình chính trị. Tháng 10/1848 ông đi Bỉ để tránh lệnh truy nã của chính quyền Phổ nhưng ông không được phép cư trú chính trị. Ph. Ăng- ghen lại đến Paris sau đó sang Thuỵ Sĩ tham gia Đại hội các liên đoàn công nhân Đức, ông được bầu vào Uỷ ban trung ương của tổ chức này.

Tháng giêng năm 1849 ông trở về Đức tiếp tục hoạt động cách mạng. Khi cuộc đấu tranh bùng nổ ở Tây và Nam nước Đức (tháng 5/1849) Ph. Ăng-ghen đã vạch ra một kế hoạch hoạt động quân sự, thành lập quân đội cách mạng tiến hành cuộc khởi nghĩa. Ngày 10/5/1849, Ph. Ăng- ghen đến Elberfeld và được sung vào Ban quân sự. Ăng-ghen đưa ra một kế hoạch để triển khai cuộc đấu tranh cách mạng dấy lên thành phong trào toàn nước Đức. Trong thời kỳ này, ông tham gia trực tiếp bốn trận đánh lớn, trong đó có trận Rastatt. Sau này Ph. Ăng- ghen đã viết trước tác Luận văn quân sự nổi tiếng.

Tháng 11/1849, Ph. Ăng- ghen đến Luân đôn và được bổ sung vào BCH Trung ương Liên đoàn Những người cộng sản mà C. Mác đã cải tổ sau khi đến đây. Ph. Ăng-ghen sống ở Luân- đôn một năm, trong thời gian đó ông đã viết các tác phẩm Cách mạng và phản cách mạng ở Đức, Cuộc chiến tranh nông dân ở Đức. Tháng 11-1850, Ph. Ăng-ghen buộc phải chuyển dến Manchester vàn lại bắt đầu làm việc ở Văn phòng thương mại. Điều này tạo điều kiện cho Ăng-ghen có thể giúp đỡ về vật chất cho C. Mác hoạt động cách mạng. Ph. Ăng-ghen đặc biệt chú ý nghiên cứu các môn khoa học tự nhiên, môn quân sự, chính sách quốc tế. Cùng với C. Mác, Ph. Ăng-ghen tham gia lãnh đạo Quốc tế cộng sản I. Tháng 9-1870, Ph. Ăng-ghen đến Luân Đôn và được đưa vào tổng hội đồng của quốc tế cộng sản I. Ph. Ăng- ghen kiên trì đấu tranh chống lại quan điểm cơ hội của phái Bakunin, Proudhon, Lassalle. Năm 1871, Ph. Ăng- ghen tham gia vào việc tổ chức chiến dịch bảo vệ công xã Pari. Trong thời gian này, Ph. Ăng-ghen đã viết một số tác phẩm có giá trị lý luận, đặc biệt là cuốn Chống Đuy-rinh (1818) góp phần to lớn cho việc hoàn thiện lý luận cho chủ nghĩa C. Mác. Sau khi C. Mác qua đời (1883), Ph. Ăng-ghen là người lãnh đạo tổ chức những người theo chủ nghĩa xã hội ở châu Âu, chuẩn bị cho in tập 2 và 3 của bộ Tư bản mà C. Mác chưa kịp hoàn thành. Ph. Ăng-ghen viết nhiều tác phẩm nổi tiếng vào những năm cuối đời: Nguồn gốc gia đình, Chế độ tư hữu và Nhà nước (1884), Lút-vích Phơ-bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức (1866), Biện chứng tự nhiên, Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức (1894).

Trong lịch sử, dưới nhiều góc độ khác nhau mà có rất nhiều quan điểm khác nhau về tình bạn, Tình bạn bắt nguồn từ cảm tính, ở trực giác, tác động của các giác quan (ánh mắt, nụ cười...) thông qua sự tiếp xúc gần gũi (cùng học tập, lao động, vui chơi…), ở sự đồng điệu về sở thích, tâm hồn và lối sống....
TÌNH BẠN GIỮA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN
                                                                                      Nguyễn Hữu Đường*
    Cuộc sống là “tổng hòa các mối quan hệ xã hội”- Tình bạn ( hay gọi là tình bằng hữu) là một trong những mối quan hệ cơ bản nhất của xã hội.
Trong lịch sử, dưới nhiều góc độ khác nhau mà có rất nhiều quan điểm khác nhau về tình bạn, Tình bạn bắt nguồn từ cảm tính, ở trực giác, tác động của các giác quan (ánh mắt, nụ cười...) thông qua sự tiếp xúc gần gũi (cùng học tập, lao động, vui chơi…), ở sự đồng điệu về sở thích, tâm hồn và lối sống. Từ cảm tính mà có cảm tình với nhau, rồi từ cảm tình người ta tiến tới những sự gắn kết về lí trí. Tình bạn chân chính, sâu sắc, lâu bền bao giờ cũng đi từ sự bồng bột, sôi nổi, đôi khi say đắm rồi đến yêu thương, quý trọng và đồng điệu tâm hồn, về tư tưởng, hành động tới mức có thể sẵn sàng hi sinh vì nhau. Khi ấy lí trí soi sáng, dẫn dắt đường đi cho tình cảm; và tình yêu thương gắn kết làm cho lí trí có linh hồn. đỉnh cao của tình bạn là tình đồng chí, sự phát triển tình bạn sang tình đồng chí là một quy luật chuyển hóa tự nhiên.
Trong xã hội phong kiến, tình bạn được xem là một trong những yếu tố tạo nên “Ngũ ThườngTình bạn không giới hạn ở tuổi tác, địa vị và luôn cần thiết cho cuộc sống. Tình bạn là nền tảng để chúng ta xây dựng những mối tương quan khác, tình bạn làm chúng ta lớn lên và được trở nên chính mình nhiều hơn. Alessandro Manzoni, một nhà văn người Ý đã từng nói: “Một trong những hạnh phúc lớn nhất ở đời này là tình bạn, và một trong những hạnh phúc của tình bạn là có một người để gửi gắm những tâm sự thầm kín”. Trong xã hội loài người, từ cổ chí kim, từ đông sang tây có rất nhiều câu chuyện sáng chói về tình bạn như Lưu Bình và Dương Lễ, như Quản Trọng và Bảo Thúc Nha... song tình bạn nào đẹp hơn, sáng chói hơn tình bạn giữa K.Marx và Ăngghen, cái tình bạn mà ở nơi đó người ta đã thấy được một không phân biệt đẳng cấp, thể hiện đức hy sinh lớn lao của con người vì mục tiêu của nhân loại mà cống hiến: “Những chuyện cổ tích thường kể lại những tấm gương cảm động về tình bạn. Giai cấp vô sản châu Âu có thể nói rằng khoa học của mình là tác phẩm sáng tạo của hai nhà bác học kiêm chiến sĩ mà tình bạn đã vượt xa tất cả những gì là cảm động nhất trong những truyền thuyết của đời xưa kể về tình bạn của con người1.
Ph.Ăngghen sinh ngày 28-11-1820 tại thành phố Bác-men, tỉnh Ranh (nước Đức) trong một gia đình tư sản sùng tín tôn giáo. Từ một học sinh đầy mơ mộng, một chàng trai giàu lòng nhân đạo, nồng nhiệt yêu tự do đã dùng thi ca làm vũ khí biểu lộ sự đồng tình với nhân dân và khát vọng tương lai. Tốt nghiệp tú tài, Ph.Ăngghen vâng lời cha thôi học, theo nghề kinh doanh thương mại. Những quan sát xã hội và hoạt động thực tiễn đã làm biến chuyển thế giới quan và tư duy chính trị của ông. Từ con đường tự học, học trong sách báo, trong các câu lạc bộ bác học, trong tổng kết thực tiễn và trong sự phẫn nộ với xã hội đương thời, Ph.Ăngghen đã trở thành một nhà bác học. Trên con đường học tập và nghiên cứu, Ph.Ăngghen đã gặp K.Marx một cách gián tiếp thông qua đọc các tác phẩm của K.Marx. Dần dần từ việc nghiên cứu triết học, kinh tế chính trị học, hai ông đã tìm đến nhau rồi trở thành những người đồng chí - những người đồng sáng lập nên một học thuyết cách mạng dẫn đầu thời đại.
K.Marx sinh ngày 15-5-1818 ở thành Tơ-ri-a thuộc tỉnh Ranh (nước Đức) trong một gia đình trí thức (cha ông là luật sư). Từ nhỏ ông đã được giáo dục và hun đúc trong tinh thần khai sáng của chủ nghĩa tự do, nhân đạo và lý tính. Ông tốt nghiệp tú tài rồi vào học khoa Luật tại trường Đại học Tổng hợp Bon, sau chuyển sang học trường Đại học Béc-lin, một trung tâm nghiên cứu về triết học. Mác đã bảo vệ xuất sắc luận án Tiến sĩ triết học, rồi vừa nghiên cứu vừa tổng kết thực tiễn, ông cùng với Ăngghen sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học.
Hai con người xa lạ, từ những hoàn cảnh xuất thân, môi trường giáo dục và quá trình đào tạo rất khác nhau đã trở thành hai người đồng chí rồi sau trở thành hai người bạn, một tình bạn vĩ đại và cảm động, gắn quyện tình đồng chí sắt son chung thuỷ tới mức mà sau khi K.Marx qua đời Ph.Ăngghen đã đề xuất rằng những công trình sáng tạo riêng cũng như những công trình hợp tác chung của hai người nên lấy tên là học thuyết K.Marx.
Lần đầu tiên, K.Marx gặp Ph. Ăngghen vào cuối tháng Mười Một 1842, khi Ph. Ăngghen trên đường sang Anh và ghé thăm ban biên tập tờ Rheinische Zeitung (Nhật báo tỉnh Ranh). Mùa hè năm 1844, Ph. Ăngghen đến thăm K.Marx ở Pa-ri. Hai ông đã trở thành những người bạn cùng chung lý tưởng và quan điểm trong tất cả mọi vấn đề lý luận và thực tiễn và đây được xem như là “cuộc gặp mặt lịch sử của hai vĩ nhân. Hai ông trở thành đôi bạn hiếm có trong lịch sử. Bằng cả cuộc đời, hai ông đã chứng minh rằng: từ mục đích lý tưởng và học thuyết, họ đã sống vì nhau, cho nhau trọn cả cuộc đời. Họ đã dành cho nhau những gì tốt đẹp nhất, tôn trọng và quý mến nhau hơn cả chính bản thân mình. K.Marx kể rằng: Ăngghen luôn đi trước K.Marx trên nhiều lĩnh vực, mọi điều tiên đoán của Mác bao giờ xảy ra cũng muộn hơn ở Ăngghen và K.Marx bao giờ cũng theo gót Ăngghen. Chính những nghiên cứu phác thảo trong lĩnh vực kinh tế của Ăngghen đã làm cho K.Marx nảy ra ý tưởng phải đi vào nghiên cứu môn kinh tế chính trị. Không ai có thể phủ nhận thiên tài của Mác khi nghiên cứu kinh tế chính trị học thể hiện ở bộ Tư bản vĩ đại nhưng cũng không ai có thể phủ nhận ảnh hưởng to lớn và sự cộng tác của Ăngghen đối với K.Marx khi hoàn thành tác phẩm đó. Hơn thế nữa, Vì lý do vật chất, trong lúc gia đình K.Marx phải bôn ba từ nơi này đến nơi khác do sự truy lùng của chính quyền đương thời, chính Ăngghen là người đứng ra lo chu toàn thu xếp gia đình để K.Marx phần nào yên tâm nghiên cứu, Ăngghen đã phải làm nghề thư ký hãng buôn trong gần 20 năm. Và cũng vì thế, có lần K.Marx chỉ vào bộ Tư bản và nói rằng: Chính đây là của Ăngghen.
K.Marx cũng cho biết rằng Ăngghen chắc còn có thể sáng tạo thêm bao công trình đồ sộ, nếu gần hai mươi năm ấy ông được tự do, không bị cái nghề thư ký hãng buôn cầm tù khổ sai. Bởi lẽ, Ăngghen là người có khối óc bách khoa, sắc sảo, với sự hiểu biết phong phú lạ thường và khả năng làm việc kỳ diệu. K.Marx ngưỡng mộ, tự hào và lấy làm thảo mãn về đạo đức, tài trí của Ăngghen. K.Marx yêu mến Ăngghen hơn cả bản thân mình. K.Marx luôn luôn lo cho sức khoẻ của Ăngghen và sẵn sàng quên cả bản thân mình để bảo vệ Ăngghen.
Còn Ăngghen, suốt cả cuộc đời đã hy sinh, giúp đỡ cho cả gia đình K.Marx về vật chất lẫn tinh thần. Nếu không có sự giúp đỡ hết lòng của Ăngghen thì K.Marx khó có điều kiện vật chất để hoàn thành những tác phẩm đồ sộ của mình. Ăngghen luôn luôn chăm lo cho K.Marx về mọi mặt, không những về công việc, mà cả sức khoẻ và cuộc sống gia đình. Do điều kiện tài chính khó khăn và do làm việc quá sức, Mác khó tránh khỏi bị ốm đau. Mỗi lần K.Marx ốm, Ăngghen sốt sắng sưu tầm các loại sách báo nói về bệnh tật và phương thức điều trị và tự mình trở thành bác sĩ điều trị cho K.Marx. Ăngghen đã trở thành linh hồn của gia đình K.Marx và luôn đóng vai trò trung tâm hoà giải những mâu thuẫn, là trọng tài trong các cuộc vui gia đình. Ăngghen nuôi hầu hết các con của K.Marx và được họ xem như người cha thứ hai của mình. Nhưng không chỉ có thế, trên bình diện lý luận, ngoài những tác phẩm riêng của mình, Ăngghen còn giúp đỡ Mác rất nhiều về mặt khoa học. K.Marx đã dành cho bộ Tư bản bao nhiêu năm tháng của cuộc đời, bao nhiêu sức lực và tâm huyết của mình. “Tư bản” là một tác phẩm biểu hiện trí tuệ tuyệt vời với trình độ hiểu biết phi thường. Chính K.Marx trước khi xuất bản bộ Tư bản tập I đã đề nghị Ăngghen cùng đứng tên với tư cách đồng tác giả nhưng Ăngghen đã khiêm nhường từ chối.  Sau khi K.Marx  mất, chính sự uyên bác và sự mẫn cảm khoa học cùng với đồng điệu về tư tưởng và tâm hồn, đã cho phép Ăngghen soạn thảo hai tập còn lại của bộ Tư bản đồ sộ, bộ tác phẩm đó vẫn mang tên K.Marx mà liền mạch tư tưởng. Ngay khi Tư bản tập II và III được xuất bản, có người băn khoăn hỏi Ăngghen sao không lấy tên mình, ông tuyên bố: “Phần ông đóng góp như thế nào thì tuỳ độc giả nhận xét nhưng tư tưởng chủ đạo của các tác phẩm ấy hoàn toàn là của bạn ông K.Marx”.
Khi K.Marx qua đời, có người từng hỏi Ăngghen, ông có thể nói tư tưởng chủ đạo của học thuyết Mác là gì? Ăngghen đã không ngần ngại trả lời “sự tự do của mỗi người là là điều kiện tạo nên sự do của xã hội”
 Sau khi K.Marx qua đời, Ăngghen là người duy nhất có quyền công bố những tác phẩm của K.Marx nhưng cho đến trước khi trút hơi thở cuối cùng ông vẫn nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng công lao sáng lập ra triết học và khoa kinh tế chính trị học mácxit chủ yếu thuộc về K.Marx - Ăngghen đã đề xuất rằng những công trình sáng tạo riêng cũng như công trình hợp tác chung của hai người nên lấy tên là học thuyết Mác. Đối với K.Marx - Ăngghen luôn tự cho mình chỉ là vai phụ. Còn bất cứ ở đâu và bất kỳ trong vở diễn nào, K.Marx bao giờ cũng là kép chính. Tên tuổi của Ăngghen vang lừng khắp thế giới vì nó luôn gắn liền với tên tuổi của K.Marx. Để đánh giá về công lao của Ăngghen, V.I. Lênin viết: “Sau bạn ông là Các Mác, Ăng-ghen là nhà bác học và người thầy lỗi lạc nhất của giai cấp vô sản hiện đại trong toàn thế giới văn minh. Từ ngày mà vận mệnh đã gắn liền Các Mác với Phri-đrích Ăng-ghen thì sự nghiệp suốt đời của hai người bạn ấy trở thành sự nghiệp chung của họ. Cho nên muốn hiểu Ph.Ăng-ghen đã làm gì cho giai cấp vô sản thì phải nhận rõ ý nghĩa của học thuyết và hoạt động của Các Mác đối với sự phát triển của phong trào công nhân hiện đại
K.Marx và Ăngghen không những để lại cho nhân loại một khối lượng tri thức khoa học khổng lồ mà các ông còn để lại một tấm gương sáng chói về nhân cách, một tình bạn-tình đồng chí vĩ đại đáng để chúng ta học hỏi.
02h, ngày 14 tháng 4 năm 2011* Nguyễn Hữu Đường- GV môn GDCD Trường THPT Tân Phú







Cuộc đời và những cống hiến của nhà tư tưởng vĩ đại C. Mác

C.Mác là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại trên thế giới. Cuộc đời và sự nghiệp của ông có nhiều thăng trầm và cũng đầy gian khổ. Những tư tưởng của ông góp phần làm thay đổi tư duy của một bộ phận những dân tộc chịu áp bức, từ đó giúp họ đứng lên giành lại độc lập và thoát ra cảnh lầm than.


Cuộc đời và những cống hiến của nhà tư tưởng vĩ đại C. Mác

Các Mác (1818-1883) là nhà đồng sáng lập với Ăng-ghen , gắn liền với các phong trào chính trị Chủ nghĩa cộng sản. Ông đã có những đóng góp có ý nghĩa lịch sử ở các chuyên ngành triết học, kinh tế, chính trị và chủ nghĩa lịch sử. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông và người đồng tác giả Ăng - ghen là Tư bản (tiếng Đức: Das Kapital) là một tác phẩm về kinh tế chính trị quan trọng của Karl Marx được viết bằng tiếng Đức. Cuốn sách là sự phân tích về chủ nghĩa tư bản, về phương thức sản xuất và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, của Tuyên Ngôn của Đảng Cộng Sản.
Với khẩu hiệu là "Công nhân của thế giới đoàn kết" là lời kêu gọi tập hợp cho phong trào cách mạng Bolshevik của Nga và cuộc cách mạng năm 1949 của Trung Quốc; và vận động của Mác “Mỗi người làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu” đã trở thành nguồn cổ vũ cho các Đảng cộng sản trên khắp thế giới.
C. Mác, vĩ đại, nhà tư tưởng, triết gia, thế giới, Ăng - ghen,
C. Mác - nhà tư tưởng vĩ đại

Cuộc đời và sự nghiệp của C.Mác

Các Mác sinh ra trong một gia đình trung lưu ở thành phố Rhineland, Trier – Đức. Ở tuổi 17, Mác tiếp thu nền giáo dục cổ điển và ông học tập một năm tại khoa luật thuộc Đại học Bonn. Năm 18 tuổi ông và bà Jenny von Westphalen (1814-1881) đính hôn.
Ông bắt đầu chịu ảnh hưởng bởi triết lý của G.W.F Hegel mà sau đó chi phối phong trào Chủ nghĩa duy tâm Đức.
Sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ, ông chuyển sang báo chí và bắt đầu cộng tác với tờ Rheinische Zeitung. Ông nhanh chóng trở thành chủ bút, nhưng sau đó bị các nhà chức trách cho đóng cửa tờ báo vào tháng 5 năm 1843 và C. Mác chuyển về lại Paris.
Khi ở Pari ông đã phát triển hiệp hội lâu dài với F. Ăng – ghen, và đặt ra những suy luận về chủ nghĩa cộng sản mà ngày nay được biết đến cái được gọi là Các bản thảo ở Pari. Sau khi bị trục xuất khỏi Pháp, ông chuyển đến Brussels và ghi chép lại những tư tưởng triết học phát triển trong Luận cương về Feuerbach (Theses on Feuerbach).
Vào năm 1846, Mác đã cùng Ăng – ghen viết Hệ tư tưởng Đức, đây là văn bản đặt nền móng cho Tuyên ngôn Đảng Cộng Sản. Quay lại Pháp, ông bắt đầu làm việc cho một loạt các tờ rơi về Đấu tranh giai cấp ở Pháp và trong thời điểm này, năm 1848, ông cùng bạn mình là Ăng – ghen đã xuất bản Tuyên ngôn Đảng Cộng Sản.
Sau khi chuyển đến London năm 1849, Mác đã cống hiến nhiều năm nỗ lực cho tác phẩm chính là Tư bản (tiếng Đức: Das Kapital) là một tác phẩm về kinh tế chính trị quan trọng của Karl Marx được viết bằng tiếng Đức. Cuốn sách là sự phân tích về chủ nghĩa tư bản, về phương thức sản xuất và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Trong suốt những năm sau của cuộc đời cho đến khi ông qua đời vào năm 1883, Mác là một người ủng hộ tích cực của Liên đoàn Cộng sản, mà sau này trở thành Quốc tế Cộng sản.
Di sản để lại
Tác động trí tuệ
Trước Chiến tranh thế giới thứ I, các tác phẩm của Mác làm nổi lên một số phản hồi tích cực từ bên ngoài Đông Âu. Sự hỗ trợ nhiệt tình từ Lenin là nhân tố chủ chốt ảnh hưởng đến những cuộc cách mạng ở Nga, và một phần hệ tư tưởng chính thống của Liên Xô được hướng theo bởi ảnh hưởng thời kỳ hậu chiến. Năm 1920, Tổ chức Frankfurt, một tổ chức của các trí thức đã họp lại nhằm thảo luận và phổ biến chủ nghĩa Mác, sau đó họ được sự tham gia của nhà triết học Mỹ Herbert Marcuse.
Dựa theo sử gia nghiên cứu về C. Mác, Eric Hobsbawm, chủ nghĩa Mác đã trở thành một lực lượng chủ chốt trong giới tri thức Tây Âu và những nước nói tiếng Anh trong những năm 1930, ảnh hưởng trí tuệ của chủ nghĩa Mác đạt đỉnh điểm vào những năm 1970, nhưng sau đó bị từ chối. Những di sản trí tuệ còn sót lại của Mác bị giới hạn trong các nguyên lý của triết học.
Đóng góp của ông với chủ nghĩa lịch sử phần lớn bị mất đi sự tín nhiệm và đó là kết quả của sự thất bại hiển nhiên đã được dự đoán, Những lý luận lao động về giá trị (labour theory of value) không có được sự được chấp nhận của các nhà kinh tế học.
Tác động về chính trị
Di sản Mác để lại cho đời rất nhiều. Hobsbawm đã ghi nhận rằng Chủ nghĩa Mác đã trở thành hệ tư tưởng chính thống của các quốc gia, khi đó, là đỉnh điểm của họ, cái được xem như cuộc đua sinh tồn thứ 3. Những lý luận của ông cũng đã ảnh hưởng đến sự xuất hiện của các phong trào dân chủ xã hội chủ nghĩa mà trước đây đã từng không chấp nhận, hoặc cấm đoán không xem chủ nghĩa Mác như là một hệ tư tưởng của họ.
Một số tác phẩm của ông đặc biệt là Tuyên ngôn Cộng sản quen thuộc với hàng triệu nhà hoạt động chính trị trên toàn thế giới, đây cũng chính là nhân tố chính trong việc áp dụng các hình thức của Chủ nghĩa Cộng sản bởi Liên Xô, và tiếp theo là các chính phủ Cuba, Venezuela, Bolivia, Nicaragua, và các quốc gia khác.
Khoahocthuvi.net
Nguồn: citizendium

Những điều ít biết về chuyện tình Các Mác

Giadinh.net - "Không có Gien-ny Phôn-vet-pha-len thì Các Mác không bao giờ được như thế". Ê-lê-ô-nô-rơ-mác A-rư-linh, người con gái út của vị lãnh tụ giai cấp vô sản toàn thế giới đã viết về bố mẹ mình như vậy. Chưa bao giờ hai cuộc đời - và cả hai cùng tuyệt diệu - lại gắn bó chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau một cách hoàn hảo đến thế.

“Nghệ thuật không  sao đẹp bằng Gien-ny”
Là dòng dõi nam tước Phôn-vet-pha-len, Gien-ny thuộc tầng lớp quý tộc thần thế bậc nhất nước Phổ. Ông nội là Tổng tư lệnh của quân đội Phổ. Bà nội thuộc tầng lớp quý tộc cao nhất ở nước Tô-cách-lan. Nhưng ông thân sinh của Gien-ny, Lu-vich Phôn-vet-pha-len khác với số đông những đại biểu của giai cấp mình, là một người có học vấn uyên thâm, lại có tư tưởng phóng khoáng (chính vì vậy, sau này Các Mác đã đề tặng bố vợ tương lai của mình luận án tiến sĩ). Còn bà thân sinh lại là một người đàn bà giản dị, chân thành, dành cả cuộc đời vào việc chăm sóc chồng con.
Ngày 12/2/1814, người con gái yêu quý Gien-ny của dòng họ Phôn-vet-pha-len ra đời ở Dan-xve-đen thuộc tỉnh Rê-na-ni. Lên hai tuổi, gia đình dọn đến Tơ-re-vơ. Thời thơ ấu của bé Gien-ny không hề biết đến thiếu thốn, một tuổi thơ đẹp đẽ vây bọc giữa tình thương của gia đình.
Các Mác và Gien-ny.
Ngôi nhà xinh đẹp có khu vườn rộng sum xuê hoa lá mà cô bé tóc vàng, mắt đen, vừa kháu khỉnh, vừa lanh lợi, thường chơi trò trẻ con đầu tiên, nằm giữa khu phố đông đúc của những kẻ giàu sang, đó chính là tổ ấm của gia đình quan cố vấn chính phủ hoàng gia Phổ. Lút-vich Phôn-vet-pha-len, một người có uy tín lớn trong giới quý tộc Tơ-re-vơ. Ông là bạn thân của quan cố vấn tư pháp Hen-rích-mác, thân sinh cậu bé Mác. Bọn trẻ hai gia đình thường nô đùa với nhau trong khu vườn đó. Sau các trò chơi trẻ con, cậu bé Mác tiếp tục là vị khách thường xuyên của gia đình Vet-pha-len.
Năm lên mười hai tuổi, Mác bắt đầu cắp sách tới trường trung học, thì Gien-ny đã là một thiếu nữ mười sáu tuổi và bắt đầu bước vào giới thượng lưu ở Tơ-re-vơ. Cô có một sắc đẹp lộng lẫy, huy hoàng được mệnh danh là “Nữ hoàng của các vũ hội”. Sau này, trong một bức thư gửi cho cha, Mác đã phải thốt lên: “Nghệ thuật không sao đẹp bằng Gien-ny”.
Biết bao chàng trai quý tộc vây quanh cô gái diễm kiều ấy. Các cụ thân sinh cũng muốn chọn một chàng rể trong đám thanh niên giàu sang cho con gái yêu của mình. Nhưng cuộc sống hào nhoáng mà trống rỗng của giới thượng lưu không hề rung động lòng cô, Gien-ny thờ ơ trước sự săn đuổi của bọn họ. Cô tìm kiếm một lý tưởng cao cả, một cuộc sống ý nghĩa hơn. Sau này cô đã tìm thấy ở người bạn thời niên thiếu thường lui tới gia đình mình.
Dần dà vượt qua tuổi thiếu niên, Gien-ny và Mác bắt đầu nói với nhau những câu chuyện đứng đắn về những vấn đề của cuộc sống xã hội. Đôi bạn trẻ tỏ ra hâm mộ những nhà tư tưởng lớn đương thời, khao khát những lý tưởng tự do của họ. Sau khi tốt nghiệp trung học, Mác đã mạnh bạo và dứt khoát tỏ rõ quan điềm chính trị của mình. Gien-ny rất tâm đắc với những quan điểm tiến bộ của Mác. Chẳng bao lâu cô cảm thấy trở nên thân thiết đối với trái tim anh và lòng cô tràn ngập một niềm hạnh phúc mới mẻ.
Lúc này Mác phải xa Tơ-re-vơ để vào trường Đại học Bon, mang theo bao nhiêu kỷ niệm đẹp đẽ về người bạn gái thân yêu của mình. Anh viết cho cha: “Khi con rời nhà ra đi, trước mắt con mở ra một thế giới mới, thế giới của tình yêu - một tình yêu say đắm...”. Năm sau về nghỉ hè, Mác và Gien-ny đã bí mật hứa hôn.  
Vượt qua thiên kiến giai cấp
Nhưng con đường dẫn tới hạnh phúc của họ không suôn sẻ. Thiên kiến của dòng họ Phôn-vet-pha-len và nhất là của xã hội thượng lưu vây bọc quanh nàng, không dễ dàng chấp nhận một cô gái quý phái bậc nhất có thể trao cuộc đời cho một chàng sinh viên nghèo, lại mang tư tưởng tự do. Vì vậy khi hứa hôn, hai người phải giấu hết mọi người.
Vượt qua chặng đường bảy năm trời đấu tranh gian khổ với những thiên kiến tàn nhẫn đó, cuối cùng tình yêu son sắt và sự kiên trì đã thắng. Ngày 19/6/1843. Một lễ cưới giản dị khác với tập tục đã được tổ chức, vĩnh viễn gắn cuộc đời hai con người tuyệt diệu với nhau.
Từ nay Gien-ny đã có thể hoàn toàn tham gia vào cuộc sống và hoạt động của Mác. Và như sau này, Phô-ri-đrich Ăng-ghen, người bạn chí thiết của hai người đã viết: “Gien-ny không những đã cùng chia sẻ số phận, công việc và cuộc đấu tranh của chồng, mà còn dự phần vào đấy với một trí minh mẫn phi thường và một trái tim nồng cháy”.
Gia đình Các Mác chụp cùng Ăng-ghen.
Sau ngày cưới, một bước ngoặt quan trọng mở ra trước đường đời của hai vợ chồng trẻ. Từ thời sinh viên, Các Mác đã là một chiến sĩ cách mạng, lãnh tụ của “nhóm Hê-ghen trẻ”. Giờ đây là một tiến sĩ triết học, ông đã nổi tiếng là một trong những đại biểu ưu tú của nền dân chủ Đức mới hình thành. Ông bị liệt vào số những nhà cách mạng nguy hiểm nhất đối với chế độ phản động Đức.
Trước sự đe dọa thường xuyên của chúng, Mác mất khả năng hành động. Ông quyết định dứt khoát dời khỏi nước Đức, để từ nước ngoài có điều kiện đấu tranh mạnh hơn cho cách mạng. Với tình yêu tha thiết, không chút ngại ngùng về cuộc sống có phần phiêu lưu sắp tới, Gien-ny Mác đã dũng cảm cùng chồng sang Pháp. Tháng 10/1843, họ tới Pari, mở đầu cuộc sống lưu vong đầy sóng gió.
Lúc đầu là một cuộc ra đi tự nguyện. Nhưng chỉ ít lâu sau, bị nhà cầm quyền Pháp tiếp tay cho chính phủ Phổ trục xuất; vợ chồng Mác phải chạy sang Bỉ. Khi cuộc cách mạng 1848 bùng nổ ở châu Âu, không chỉ Mác bị bắt mà cảnh sát Bỉ đã vô cớ bỏ tù luôn cả Gien-ny.
Ra tù, trở về Pari, bị chính phủ Pháp can thiệp lần thứ hai, họ lại phải dời sang Luân Đôn (Anh quốc). Từ đó là một cuộc sống lưu vong thật sự, với tất cả cảnh khủng khiếp của nó. Vào những năm này, Gien-ny Mác phải chịu những đòn giáng tới tấp của số phận, tàn nhẫn đến mức tưởng không chịu nổi đối với ngay cả người phụ nữ dũng cảm kiên cường này.
Cảnh thiếu thốn cùng cực đã lần lượt cướp đi của bà ba đứa con nhỏ. “Tôi đã trải qua nhiều cơn bất hạnh, nhưng đến bây giờ tôi mới hiểu được thế nào là một điều bất hạnh thực sự”. Mác đã viết cho Ăng-ghen như vậy. Còn Gien-ny đã ghi vào nhật ký của mình: “Nỗi đau xót của tôi thật vô cùng to lớn!”.
Chuyện tình thời đại
Tuy nhiên nỗi đau khổ khủng khiếp đó không cản được bước đường đấu tranh cách mạng của Gien-ny Mác. Cùng với chồng, bà làm việc suốt ngày đêm không mệt mỏi. Dẫu hết sức bận rộn, lo lắng vì cuộc sống khó khăn của một gia đình đông con, bà vẫn đảm đương xuất sắc nhiệm vụ thư ký cho chồng. Bà chép các bản thảo của Mác, hoặc ông đọc cho bà viết.
Bà thường đóng góp cho ông những ý kiến sắc sảo. Hầu như Mác không cho công bố một bản thảo nào khi chưa được Gien-ny xem và góp ý. Bà thường thay mặt chồng giao dịch về bản thảo với các chủ nhà in, nhà xuất bản. Ngoài ra bà đã thực hiện bất kỳ nhiệm vụ nào được giao, ngay cả những nhiệm vụ phức tạp nhất đòi hỏi sự thông minh và dũng cảm.
Gien-ny và con gái Lau-ra.
Chính nhờ sự tâm đắc và hỗ trợ lẫn nhau đó, ngay cả trong những năm gian khổ nhất, phải sống giữa cảnh bần cùng cay đắng và bệnh tật, gia đình Mác vẫn cảm thấy hạnh phúc, Mác và Gien-ny bao giờ cũng là cha mẹ mẫu mực của con cái. Tình yêu đó và sự vui vẻ vô tư của họ đã in sâu vào ký ức các con.
Cuộc đời sôi nổi, trong sáng của cha mẹ đã ảnh hưởng lớn đến sự hình thành phẩm chất và tương lai con cái họ. Hai vợ chồng sinh hạ được sáu con, chỉ còn lại ba người khôn lớn và đều trở thành những người dũng cảm, tiến bộ và hạnh phúc.
Bà mẹ rất sung sướng thấy cả ba con gái mình đều đi theo con đường của cha, đều là những chiến sĩ kiên cường của giai cấp vô sản; đồng thời cũng là những người vợ đảm, mẹ hiền theo gương bà. Bà cảm thấy tự hào và tràn đầy hạnh phúc. Tiếc rằng bà không được hưởng niềm hạnh phúc đó lâu hơn.
Những năm cuối đời của Gien-ny Mác luôn bị bệnh tật dày vò. Bệnh ung thư đã hành hạ bà một cách dai dẳng. Bà không sống đến ngày thắng lợi của phong trào công nhân Đức, nhưng bà không chút nghi ngờ vào thắng lợi mai sau của nó. Bệnh tật của bà ngày một trầm trọng, nhưng toàn bộ tâm trí của bà vẫn hướng về các đồng chí mình đang đấu tranh gian khổ. Điều kỳ diệu là ngay những ngày cuối cùng trong cơn hấp hối, bà vẫn cố giữ thái độ tươi tỉnh để an ủi chồng con. “Cho đến khi chết - người con gái út kể lại - mẹ tôi vẫn vui vẻ để xua tan những nỗi lo lắng của chúng tôi”.
Ngày 2/12/1881, Gien-ny Mác vĩnh viễn ra đi. Những lời nói cuối cùng bà dành cho Mác. Bản thân ông lúc đó cũng đang ốm nặng, hết sức sửng sốt, bàng hoàng trước phút lâm chung của người bạn đời vô cùng thân thiết. Không đầy hai năm sau, ngày 14/3/1883, con người vĩ đại ấy cũng theo vợ đi vào cõi vĩnh hằng. Thi hài của Người được đặt cạnh Gien-ny - người bạn đường, người đồng chí, trước hết là người vợ thủy chung, niềm hạnh phúc lớn nhất của đời mình.
Hồ Mậu Đường

 



Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32