BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 3

(ĐC sưu tầm trên NET)

 

Sơ giản phả hệ nhà Trần

Để bạn đọc tiện theo dõi các nhân vật trong truyện, tác giả tạm sắp xếp một giản yếu tới tối giản về phả hệ nhà Trần.
Song có một điều lộn xộn cần nói, đó là việc hôn nhân của họ Trần. Vì muốn giữ gìn sự trường tồn của dòng họ, nhà Trần nghiêm cấm con trai, con gái kết hôn với người ngoại tộc. Cho nên, bạn đọc sẽ thấy anh em con chú bác ruột lấy nhau như cặp Trần Thủ Độ (Thái sư) lấy Trần Thị Dung (Linh từ quốc mẫu)
Cô cháu ruột lấy nhau như cặp Thiên Thành công chúa (em ruột Trần Liễu, Trần Cảnh) lấy Trần Quốc Tuấn (con Trần Liễu).
Chị em con chú con bác trực hệ lấy nhau: Khâm từ, Tuyên từ (con gái Trần Hưng Đạo) lấy Trần Nhân tông (con trai Trần Thánh tông). Vân vân và v.v…
Tuy nhiên, việc cấm kết hôn với người ngoại tộc chỉ có hiệu lực trong một hai triều đại đầu của nhà Trần, tới các triều sau, việc đó nhạt dần đi.
Và chưa nghe có vụ nào làm nghiêm (tức trị tội) đối với các cuộc hôn nhân dị tộc. Ngay Trần Minh tông cũng lấy hai người cô ruột của Hồ Quý Ly về làm phi.
Dẫu sao, đây cũng là một cuộc đại loạn luân mà lịch sử từng biết đến và không có gì có thể biện minh được.
Trong phả hệ này, tôi sẽ không thống kê đầy đủ mỗi đời vua sinh được mấy hoàng tử, mấy công chúa, mà chỉ đề cập tới những người nổi tiếng trong lịch sử và là nhân vật của tiểu thuyết. Ví như Trần Thái tông riêng con trai sinh được 6 người. Trong phả hệ này tôi chỉ kể có 5. Các vị khác cũng vậy.
Và sau rốt, phả hệ tối giản này dùng cho cả 4 tập: Bão táp cung đình; Thăng Long nổi giận; Huyền Trân công chúa; Vương triều sụp đổ.
Coi như ta chấp nhận gia hệ nhà Trần bắt đầu từ cụ Trần Hấp.
TRẦN HẤP sinh TRẦN LÝ.
TRẦN LÝ sinh TRẦN THỪA.
TRẦN THỪA sinh TRẦN LIỄU và TRẦN CẢNH
Do sự tế vi của thời thế khi nhà Trần làm cuộc đảo chính, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, nên Trần Cảnh là em lên ngôi vua, còn Trần Liễu lúc ấy đã trưởng thành mà không được tức vị, từ đó nảy sinh mâu thuẫn khá sâu sắc trong hai dòng trưởng và thứ âm ỉ lâu dài.
Chi trưởng:
TRẦN LIỄU sinh:
- TRẦN QUỐC TRUNG còn gọi là TRẦN TUNG có pháp danh TUỆ TRUNG THƯỢNG SỸ.
- TRẦN QUỐC TUẤN tức HƯNG ĐẠO VƯƠNG.
- TRẦN VŨ THÀNH tức VƯƠNG DOÃN. Trần Quốc Tuấn sau làm Quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân sự, tương đương với chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng tư lệnh quân đội ngày nay. Trần Quốc Tuấn sinh được bốn người con trai, đồng thời là bốn danh tướng:
- Hưng Vũ vương TRẦN QUỐC NGHIỄN.
- Hưng Trí vương TRẦN QUỐC HIẾN.
- Hưng Hiếu vương TRẦN QUỐC UẤT.
- Hưng Nhượng vương TRẦN QUỐC TẢNG.
Trong lịch sử đã có một giai đoạn khá dài nhầm lẫn, coi Trần Quốc Tảng là Tuệ Trung Thượng sỹ. Sự thật Thượng sỹ là bác ruột của Quốc Tảng.
Chi thứ:
TRẦN CẢNH lên ngôi vua miếu hiệu là Trần Thái tông.
TRẦN CẢNH (Trần Thái tông) sinh:
- TRẦN QUỐC KHANG. (Bà Thuận Thiên là vợ thứ của Trần Liễu, khi đã có chửa Quốc Khang được hai tháng, Trần Thủ Độ và Trần Thị Dung ép Trần Cảnh (Thái tôn) phải cướp lấy. Do vậy khi Quốc Khang lớn lên không được truyền ngôi).
- TRẦN HOẢNG (Trần Thánh tông).
- TRẦN QUANG KHẢI.
- TRẦN ÍCH TẮC.
- TRẦN NHẬT DUẬT.
Các con của Trần Thái tông đều là những bậc danh tướng văn võ toàn tài, sử sách không ngớt lời ca ngợi, trừ Trần Ích Tắc trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ II (1285 - 1286) đem cả nhà đi đầu hàng quân xâm lược, sau chúng đưa về Yên Kinh rồi chết già ở đó.
Trần Thái tông còn có nàng công chúa út nổi tiếng trong lịch sử là AN TƯ.
TRẦN HOẢNG (Trần Thánh tông) sinh:
- TRẦN KHẨM (Trần Nhân tông).
- TRẦN NHÂN TÔNG sinh:
- TRẦN THUYÊN (Trần Anh tông).
Trần Nhân tông còn có người con gái út là công chúa HUYỀN TRÂN, gả cho vua Champa, mà sính lễ gồm cả hai châu: Ô, Lý (miền đất Trị - Thiên ngày nay).
TRẦN ANH TÔNG sinh
- TRẦN MẠNH (Trần Minh tông có 11 người con trai).
TRẦN MINH TÔNG sinh:
- TRẦN VƯỢNG (Trần Hiến tông).
- TRẦN HẠO (Trần Dụ tông).
- TRẦN PHỦ (Trần Nghệ tông).
- TRẦN KÍNH (Trần Duệ tông).
Trần Minh tông còn có người con nữa là CUNG TÚC ĐẠI VƯƠNG NGUYÊN DỤC, lấy vợ là đào hát chèo đã có mang sẵn. Nguyên người này là vợ của người phường hát chèo Dương Khương. Sau đẻ ra Nhật Lễ. Khi Dụ tông mất, bà thái hậu phò Nhật Lễ lên ngôi. Chưa được một năm thì những người trong tôn thất nổi lên như Trần Phủ, Trần Kính, Trần Nguyên Đán (Nguyên Đán là cháu trực hệ bốn đời của Trần Quang Khải) và công chúa Thiên Ninh (con Trần Minh tông) diệt Nhật Lễ, lấy lại ngôi vua.
Trần Kính (Trần Duệ tông) còn có người con là Trần Hiện. Duệ tông chết trận tại thành Chà Bàn (Champa). Trần Nghệ tông cho cháu là Trần Hiện lên ngôi vua.
Sau vì có ý bài xích Hồ Quý Ly, nên Quý Ly xúi Nghệ tông phế truất rồi buộc phải thắt cổ tự tử.
Trần Nghệ tông có người con là Ngự Câu vương Húc theo chú là Trần Duệ tông sang đánh Champa, bị Chế Bồng Nga bắt làm con tin. Một người nữa là thiếu úy (Thiếu úy: thuộc hàng tam công (Thiếu úy - thiếu sư - thiếu bảo) - ba chức quan trong đầu triều.) Trang Định vương Ngạc bị Hồ Quý Ly giết. Và sau rốt người con út là Trần Ngung (con rể của Hồ Quý Ly). Sau khi phế truất Trần Hiện, Ngung được đặt lên ngôi vua, hiệu là Trần Thuận tông.
Hồ Quý Ly ép Trần Thuận tông đi tu rồi bức tử. Đem con của Thuận tông là hoàng tử Án 3 tuổi lên ngôi vua, hiệu là Trần Thiếu đế. Hơn một năm sau (1400), Hồ Quý Ly phế Án (cháu ngoại), tự lập mình lên ngôi vua. Vậy là nhà Trần diệt, nhà Hồ lên. 
Kết quả hình ảnh cho tượng trần quốc toản

Chuyện tình éo le của gia tộc Trần Quốc Tuấn

Trần Quốc Tuấn 'cả gan' lấy nàng công chúa đã hứa gả cho người khác. Còn con trai ông lại bị Trần Khánh Dư lén lút qua lại với vợ.

Bên cạnh những thành tựu rực rỡ về quân sự, văn hóa, xã hội, nhà Trần (1226 - 1400) còn được biết đến với nhiều câu chuyện tình duyên trắc trở trong hoàng tộc. Trần Quốc Tuấn là con trai của An Sinh Vương Trần Liễu, cháu gọi vua Trần Thái Tông bằng chú. Người phụ nữ đầu tiên ông yêu là công chúa Thiên Thành, em gái của vua Trần Thái Tông. Như vậy, Trần Quốc Tuấn có quan hệ huyết thống gần gũi với người mình yêu.
Tuy nhiên, chuyện họ hàng yêu nhau ở nhà Trần không phải là lạ, vì từ lịch sử lập quốc nhà Trần đã có quy định, để tránh ngôi vua truyền ra ngoài, chỉ có người trong tộc mới được lấy nhau.
Tình thế oái oăm của Trần Quốc Tuấn là ở chỗ, khi ông đang yêu say đắm công chúa Thiên Thành, thì vào mùa xuân năm 1251, Trần Thái Tông lại dự định gả cô cho Trung Thành Vương – con trai của Nhân đạo Vương.
Dù chưa chính thức cưới hỏi, vua đã nhận sính lễ và tổ chức ngày hội lớn kéo dài trong vòng 7 ngày. Cả vua quan và bên nhà trai đều không biết rằng công chúa Thiên Thành đã dành tình cảm sâu nặng cho con trai của An Sinh Vương Trần Liễu.
Đau khổ không nguôi, Trần Quốc Tuấn quyết định mạo hiểm để lấy được người mình yêu. Vào giữa đêm, nhân lúc mọi người đang mải mê xem hội, ông đã liều lĩnh leo tường phía sau phủ đệ của Nhân Đạo Vương, vốn được canh gác cẩn mật, để đột nhập vào trong phủ và tìm đến phòng công chúa.
Công chúa đang u sầu thì thấy Trần Quốc Tuấn xuất hiện, đã vui mừng khôn xiết. Không ngại gì nguy hiểm, đôi trai gái trẻ quyết tâm đến với nhau...
Hiểu rằng Nhân Đạo vương sẽ không tha tội chết nếu mình bị phát hiện, Quốc Tuấn sai thị nữ của công chúa Thiên Thành đi cầu cứu Công chúa Thụy Bà – là chị ruột của công chúa Thiên Thành và vua Trần Thái Tông; đồng thời là mẹ nuôi của Trần Quốc Tuấn.
Nghe tin cháu lâm vào tình trạng như thế, bà vội vàng chạy vào cung, cấp báo với nhà vua. Vua Trần Thái Tông liền sai người đến phủ đệ Nhân Đại Vương ngay trong đêm, đưa Trần Quốc Tuấn về cung an toàn.
Sau khi nghe Trần Quốc Tuấn trình hết mọi chuyện, Thụy Bà tìm cách cho ông kết duyên cùng Thiên Thành. Sáng hôm sau, bà vào cung dâng lên nhà vua mười mâm vàng và năn nỉ: "Vì vội vàng quá nên không sắm được lễ vật, xin nhà vua nhận cho".
Vua bất đắc dĩ phải gả công chúa Thiên Thành cho Quốc Tuấn; đồng thời cắt 2.000 khoản ruộng để hoàn lại sính vật và tạ lỗi với Trung Thành Vương. Cùng ngày hôm đó, công chúa Thiên Thành trở thành vợ Trần Quốc Tuấn…
Mối tình Trần Khánh Dư - Quỳnh Trân
Trần Khánh Dư là viên tướng trẻ nổi danh trong triều Trần. Năm 1257, khi quân Nguyên xâm lược Đại Việt lần thứ nhất, ông đã lập công lớn khi đánh bại một cánh quân của giặc. Sau cuộc chiến ông được phong làm Phiêu kỵ Đại tướng quân, đồng thời được vua Trần Thánh Tông nhận làm con nuôi, được tự do ra vào nơi cung cấm.
Tại đây, ông đã gặp Trần Quỳnh Trân - con gái vua, chị ruột của vua Trần Nhân Tông sau này. Quỳnh Trân là một cô gái xinh đẹp và hiền dịu, rất được vua cha yêu quý. Không biết từ lúc nào đôi trai tài gái sắc Khánh Dư - Quỳnh Trân đã phải lòng và yêu nhau say đắm.
Song sự đời thật trớ trêu. Con trai của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn là Hưng Vũ vương Nghiễn cũng si mê Quỳnh Trân. Hưng Đạo vương đã hỏi xin cưới Quỳnh Trân cho Hưng Vũ vương, và vua Trần không thể từ chối một người như Trần Hưng Đạo nên hứa gả. Không thể trái lệnh cha, Quỳnh Trân trở thành vợ Hưng Vũ vương.
Nhưng không thể dứt tình, Khánh Dư và Quỳnh Trân vẫn lén lút gặp nhau. Rồi chuyện vỡ lở khiến thiên hạ đồn gần xa. Cha con Hưng Đạo vương vô cùng tức giận. Lúc này vua Nhân Tông đã lên nối ngôi cha, vừa sợ phật ý Hưng Đạo vương, vừa thương chị gái, tiếc tiếc tài, nên cho người vờ đánh chết Khánh Dư rồi đẩy ông về quê. Từ một viên tướng, Trần Khánh Dư trở thành một anh bán than. Còn Quỳnh Trân bị trả về sống tại cung riêng.
Năm 1282, quân Nguyên lăm le xâm lược Đại Việt lần thứ hai. Trước tình thế khó khăn, Khánh Dư lại được mời về Thăng Long và phong làm Phó Đô tướng quân quản lãnh một cánh quân mạnh chuẩn bị chặn giặc. Khánh Dư và Quỳnh Trân lại có cơ hội gặp nhau. Do tình cũ còn sâu nặng, họ lại quấn quýt không rời. Để chấm dứt mối quan hệ không chính danh này, vua Trần Nhân Tông buộc lòng phải lệnh cho Quỳnh Trân xuất gia ở một vùng quê hẻo lánh.
Năm 1285, để tìm cách hoãn binh, triều đình nhà Trần dự định cử người sang gặp Thoát Hoan để cầu hòa. Ngoài các lễ vật quý giá , công chúa Quỳnh Trân được chọn để dâng cho Thoát Hoan để cầu thân. Quỳnh Trân được đón về triều, song trước sự phản đối kiên quyết của bà, vua đành để bà trở về chốn tu hành. Từ đó Quỳnh Trân một lòng quy Phật. Mối tình với Khánh Dư bà mãi mãi chôn chặt trong lòng cho tới tận cuối đời...
Theo Kiến Thức

Hé lộ “nhà tiên tri” giúp vua Trần đánh bại quân Nguyên


(Kiến Thức) - Nhờ có tài gieo quẻ, dự đoán “trúng phóc” kết quả được thua của nhà Trần trong những lần “chạm trán” quân Nguyên, Phùng Sĩ Chu và Trần Thì Kiến được đấng quân vương vô cùng mến phục mà bổ dụng làm quan.

Nhà Trần ngoài việc lấy nhân tài thông qua thi cử, dòng họ Đông A còn có tục ấm cử, cha truyền con nối làm quan lớn nhỏ tùy theo năng lực, hoặc lấy những người có công chống giặc, những người được tiến cử vì có thực tài. Bên cạnh những cách thông thường ấy, có nhiều trường hợp lấy vì mộng mỵ mà ứng với việc thực, lấy vì quý yêu, và có cả trường hợp lấy vì có tài...gieo quẻ, dự đoán như thần. Tất nhiên, những trường hợp sau không nhiều. Ở đây, chúng ta ghi nhận được vua Trần có hai lần trao chức cho những người bói giỏi.

Bói thắng giặc, tiếc chi chức quan

Thời nhà Trần trị vì 1225 - 1400, quân Mông - Nguyên ba lần xâm phạm bờ cõi Đại Việt nhưng đều đại bại trước sức mạnh, hào khí Đông A. Năm Mậu Ngọ (1258), quân Mông Cổ đại bại lần thứ nhất. Năm Ất Dậu (1285), khi vó ngựa quân Mông Nguyên một lần nữa sang giày xéo non sông Đại Việt, định biến nước ta thành xứ nội thuộc, nhà Trần dù lúc này “anh em hòa mục, vua tôi gắng sức”, tiềm lực cũng mạnh, lại có kinh nghiệm chiến thắng trước đó, nhưng vua Trần Nhân Tông vốn là người cảm tính, cũng tin ở cái thuyết “chi thiên mệnh” (chẳng thế mà vua sau này đi tu làm Trúc Lâm đạo sĩ nơi non Yên) nên bèn cậy nhờ yếu tố tâm linh. Để thực hiện việc đó, nhân có Phùng Sĩ Chu thông hiểu tướng số, vua bèn sai ông bói xem cuộc kháng chiến lần này được mất, mạnh yếu thế nào. 

Lệnh vua là lệnh của trời, lại là việc quốc gia đại sự, Phùng Sĩ Chu vâng lệnh vua gieo quẻ. Quẻ bói gieo xong, sau một hồi suy nghĩ nhẩm nghiệm, quan họ Phùng mới đoán rằng:

- Bẩm bệ hạ, cứ như quẻ bói mà thần gieo được, lần chống giặc này thế nào quân ta cũng đại thắng.

Được lời như cởi tấm lòng, vua Nhân Tông mừng lắm, bảo:

- Nếu đúng như lời ngươi đoán, trẫm sẽ có trọng thưởng.

Sau quả nhiên giặc Nguyên bị đánh đuổi, chiến thuyền nhà vua sau bao ngày lưu lạc đã ca khúc khải hoàn về lại kinh đô Thăng Long. Bấy giờ khi định công ban thưởng, đến lượt Phùng Sĩ Chu, vua Nhân Tông cười nói:

- Thiên tử không nói đùa. Lời hứa khi xưa giờ ta có dịp thực hiện cho khanh.

Do đó, năm Kỷ Sửu, Trùng Hưng năm thứ 5 (1289), vua Nhân Tông phong Phùng Sĩ Chu làm Hành khiển. Đây là một ưu ái bởi thường Hành khiển là do những trung quan, tức hoạn quan đảm nhiệm.

Theo Gia phả và Thần vị Phùng Sĩ Chu tại đền thờ họ Phùng ở xóm 1, xã Nam Cường, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An hiện nay thì Phùng Sĩ Chu, hiệu Tốn Trai tiên sinh, quê ở Cổ Liễu, thuộc Trà Hương (không rõ địa danh), là người trung hiếu, có tài về mặt văn học. Do có thực tài nên ông được vua Trần yêu quý mà gả cho công chúa, sinh ra nam tử tên huý là Quang Lộc, trở thành hậu duệ tuấn tú cho dòng họ Phùng ở cả nước và xứ Nghệ sau này.

Tượng vua Trần Nhân Tông trong đền thờ Trần Nhân Tông tại Huế (Nguồn: http://www.giacngo.vn)
Tượng vua Trần Nhân Tông trong đền thờ Trần Nhân Tông tại Huế. Nguồn: Giacngo.vn.

Gieo quẻ Chấn – Hoán, điềm giặc tan


Trần Thì Kiến (1260 – 1330) người làng Cự Sa, huyện Đông Triều, phủ Tân Hưng (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh), từng là môn khách của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, khi làm An phủ sứ Thiên Trường ông nổi danh là một ông quan liêm khiết, từng móc họng trả cỗ của kẻ đút lót để khỏi mất thanh danh. Bên cạnh đó, Trần Thì Kiến cũng từng dự đoán “trúng phóc” kết quả được thua của kháng chiến chống Nguyên lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288).

Trước đây, quân Nguyên lăm le bờ cõi nước ta, định đánh Đại Việt lần thứ hai, chúng hết đòi vua Trần vào chầu, rồi đưa chú của vua là hoàng tôn Trần Di Ái về nước (1282), lại lấy kế mượn đường diệt Quắc đòi đi qua Đại Việt đánh Chiêm Thành (1283), bắt ta chuẩn bị lương thảo, quân đội (1284). Vua Nhân Tông biết chiến tranh là không tránh khỏi, đã sai Phùng Sĩ Chu đoán định cơ mưu. Để cho chắc chắn, một dịp khác, vua lại sai Thì Kiến bói xem sao. Ông gieo quẻ, được quẻ Dự biến sang quẻ Chấn. Trần Thì Kiến mới theo quẻ mà rằng:

- Thưa bệ hạ, mùa hạ sang năm quân Nguyên tất phải thua.

Mùa hạ năm Ất Dậu (1285) nhằm tháng Tư âm lịch, những chiến thắng oanh liệt của quân dân nhà Trần “Đoạt giáo Chương Dương độ. Cầm Hồ Hàm Tử quan”... làm cho quân Nguyên đại bại phải chạy dài về Bắc, quả đúng như lời tiên đoán của ông.

Quân Nguyên do thua hai lần trước đó, căm tức vì nước Đại Việt nhỏ như cái đấu mà không hạ được, nên bỏ cả việc đánh Nhật Bản, xua quân sang đánh nước ta lần thứ ba. Vốn trước được quẻ tốt từ viên quan liêm Thì Kiến, vua Nhân Tông lại sai ông trổ tài thêm lần nữa. Mệnh vua nào dám trái, ông gieo được quẻ Quan biến sang quẻ Hoán, mới đoán rằng:

- Thưa bệ hạ, quẻ gieo được là quẻ Hoán, chữ Hoán nghĩa là tan, đây là điềm báo trước giặc Nguyên sẽ tan chạy trong nay mai.

Dù ban đầu quân Nguyên đánh nước ta như “tằm ăn rỗi”, nhưng với kế “thanh dã” như đã dùng ở hai lần trước, quân dân nhà Trần lần lượt làm nên những trận Vạn Kiếp, Cao Lạng, Bạch Đằng giang... làm cho lũ giặc cướp nước kinh hồn bạt vía. Đến tháng 3 năm Mậu Tý (1288), đất nước sạch bóng quân thù.
Quẻ bói năm xưa đã thành hiện thực. Vua vui lắm, tấm tắc khen tài của Thì Kiến, đến năm Nhâm Thìn (1292) niên hiệu Trùng Hưng năm thứ tám, bệ hạ cho đặc cách bổ dụng Trần Thì Kiến làm An phủ lộ Yên Khang, xem như tưởng thưởng cho công của ông (Lộ Yên Khang: Xưa là Yên Ninh; nhà Lê đổi là phủ Yên Khang; nay đổi là Yên Khánh thuộc tỉnh Ninh Bình).

Lời bói của hai vị quan Phùng Sĩ Chu và Trần Thì Kiến đều có điểm chung là khẳng định chiến thắng của quân dân nhà Trần trước vó ngựa quân Nguyên. Người xưa tin việc tốt xấu ở quẻ bói là điều dễ hiểu. Nhưng cũng phải thấy rằng hai ông gieo quẻ là một việc, nhưng cũng là những người tài nên hiểu được thế và lực của đất nước mới có đủ niềm tin để khẳng định chắc như đinh đóng cột như thế. Vả chăng, nếu đoán là thắng, mà không may nước Việt đại bại dưới tay nhà Nguyên, thì lúc đó vua tôi cũng đâu còn được yên thân, toàn mạng thì lo gì bị vua trách phạt, nên cứ bói thắng là hơn. Tất nhiên, nếu có điều đó thì cũng không phải là ý của hai vị tôi trung này.

Điểm danh bốn vị đại quý tộc “ô nhục” của nhà Trần  


Trong cuộc chiến chống Nguyên Mông, trong giới quý tộc nhà Trần đã xuất hiện những gương mặt hèn nhát, phản bội...
 

Là triều đại hưng thịnh bậc nhất trong lịch sử Việt Nam, nhà Trần đã để lại cho dân tộc ta hào khí Đông A bất diệt với những vị tướng tài và ba lần chiến thắng oanh liệt trước quân xâm lược Nguyên Mông - đế chế hùng mạnh nhất thế giới thời bấy giờ.
Nhưng thời đại nào cũng có người tốt, kẻ xấu và nhà Trần cũng không phải ngoại lệ. Trong cuộc chiến chống Nguyên Mông, trong giới quý tộc nhà Trần đã xuất hiện những gương mặt hèn nhát, phản bội mà tiếng nhục còn lưu lại đến ngày nay.
 
Trần Di Ái quên quốc thể vì tham quyền

Trong thời kỳ trị vì của vua Trần Nhân Tông (1279-1293), nước Đại Việt đã trải qua nhiều thách thức to lớn về chủ quyền.

Khi vua Nhân Tông mới vừa lên ngôi, vua Nguyên là Hốt Tất Liệt đã sai người đưa thư trách cứ ông vì tự lập ngôi và đòi phải sang nhà Nguyên chầu thiên tử.

Do không được chấp nhận, đến năm 1282, vua Nguyên lại sai sứ sang yêu sách: “Nếu vua nước Nam không sang chầu được thì phải đưa vàng ngọc sang thay và phải nộp hiền sĩ, thầy âm dương bói toán, thợ khéo mỗi hạng hai người”.


Một lần nữa, vua Trần Nhân Tông không đồng ý và sai người chú của mình là Trần Di Ái (em trai vua Trần Thái Tông) sang thay cho mình. Vua Nguyên Hốt Tất Liệt không bằng lòng, liền lập Trần Di Ái làm An Nam Quốc Vương và sai 1.000 quân hộ tống về nước, hòng áp đạt quyền cai trị lên Đại Việt.


Bản thân Trần Di Ái cũng muốn muợn sức người Mông Cổ để giành ngôi, nếu không thành thì vẫn có thể biện hộ bằng chuyện bị vua Nguyên cưỡng ép.

Tuy nhiên, vừa đến vùng biên ải thì đội quân hộ tống Trần Di Ái bị quân nhà Trần đánh tan tác. Trần Di Ái bị bắt, nhưng được vua Trần tha tội chết, chỉ bị bắt làm lính hầu ở phủ Thiên Trường, sống trong sự hổ thẹn đến hết đời.
 
Khát vọng ngông cuồng của Trần Ích Tắc

Theo sử sách, Trần Ích Tắc - con thứ của Thượng hoàng Trần Thái Tông - là một người học vấn uyên thâm, thông hiểu lịch sử, nghệ thuật và văn chương. Có trí tuệ hơn người và đầy tham vọng quyền lực, đến 15 tuổi, Ích Tắc đã có ý tranh đoạt ngôi vua với anh cả.

Để thực hiện mục đích này, Trần Ích Tắc đã từng gửi thư riêng cho nhà Nguyên thông qua cho khách buôn ở Vân Đồn, xin quân Nguyên Nam tiến để lập mình làm vương.

Triều đình nhà Trần không hề hay biết dã tâm của Tắc. Khi quân Nguyên sang xâm lược Đại Việt năm 1285, Trần Ích Tắc lĩnh ấn Đại tướng, chỉ huy chống giặc miền Đà Giang.

Thời cơ đã đến, Ích Tắc vội vã đem cả gia đình đầu hàng giặc và được đưa về phương Bắc. Vua Hốt Tất Liệt của nhà Nguyên phong Tắc làm An Nam Quốc vương và chờ ngày đưa trở về nước.

Nhưng dự định này không bao giờ thành hiện thực vì thất bại của quân Nguyên. Trần Ích Tắc ở lại Ngạc Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc), làm quan triều Nguyên và được đối đãi rất hậu. Mùa hè năm 1329, Trần Ích Tắc chết trên đất khách quê người.

Vì sự phản bội của mình, Trần Ích Tắc bị nhà Trần loại khỏi tông thất, cho đổi tên thành Ả Trần - với ý khinh bỉ nhân vật này hèn nhát như đàn bà.
 
Trần Kiện dâng hàng vạn quân cho giặc

Trần Kiện là con của Tĩnh Quốc Vương Trần Quốc Khang, được phong làm Chương Hiến Hầu, được mô tả là người có tướng mạo khôi ngô, văn võ song toàn.

Với tài năng của mình, Trần Kiện được triều đình tin tưởng cho thay cha lĩnh chức Tịnh Hải quân Tiết Độ Sứ, kết hôn với con gái của Thái Sư Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải, sinh con và được phong tước Mặc Hầu. Trên đường quan lộ, Trần Kiện là người có tính khiêm nhường, nho nhã, độ lượng, được lòng dân.

Năm 1284, do hiềm khích trong triều đình, Trần Kiện về làng Nhân Mục ẩn cư. Cùng năm, Thoát Hoan dẫn quân xâm lược Đại Việt và đánh bại quân nhà Trần, trong lúc Toa Đô dẫn binh từ Chiêm Thành đánh tập hậu. Triều đình lâm vào thế bí, mời Trần Kiện về cầm quân chống Toa Đô.

Trớ trêu thay, do sợ hãi sức mạnh của quân Nguyên và không tán đồng sách lược của nhà Trần, Trần Kiện đã đem hàng vạn quân cùng binh khí đầu hàng và cộng tác đắc lực với kẻ xâm lược. Thoát Hoan khen ngợi sự hàng phục của Kiện và ban thưởng rất hậu.

Sau khi quân Nguyên bị phản công và đại bại tại chiến trường Đại Việt, Trần Kiện theo giặc rút về phương Bắc, nhưng đến ải Chi Lăng thì quân nhà Trần do Nguyễn Địa Lô chỉ huy phục kích và bắn chết.
 
Trần Văn Lộng phản phúc, đánh phá quê nhà

Trần Văn Lộng là con của Nhân Thành Hầu Trần Duyệt, cháu nội của Thái sư Trần Thủ Độ. Là người có tính điềm tĩnh, Lộng được vua Trần tin cậy, phong làm đại tướng cầm quân phòng thủ vùng sông Tam Đái.

Năm 1284, đại quân của Thoát Hoan tràn vào Đại Việt và đánh phá dữ dội. Cầm cự được một năm, phần vì bị dụ dỗ, phần vì sợ hãi, Trần Văn Lộng đem toàn bộ gia quyến đầu hàng quân Nguyên.

Nhà Nguyên lập tức phong chức tước, tiền của, đồng thời cấp ngựa và vũ khí cho Trần Văn Lộng. Kẻ phản phúc này đã theo chân quân Nguyên tấn công Đại Việt và lập được một số chiến tích. Khi quân Nguyên bị đánh đuổi, Lộng chạy theo đám tàn quân xâm lược.

Từ đó đến lúc chết, Trần Văn Lộng được triều Nguyên trọng dụng và ban cho rất nhiều bổng lộc. Thi hài của nhân vật này được chôn ở hồ Mã Gia đất Hán Dương, Trung Quốc và được con cháu thờ phụng.
Hoàng Phương
Được đăng bởi Tễu vào lúc 14:51
nguồn:http://xuandienhannom.blogspot.com/2013/12/iem-danh-4-ten-o-nhuc-nhat.html

Mặc định Phiêu kỵ đại tướng quân : Trần Khánh Dư

“Trần Khánh Dư người huyện Chí Linh, Hải Dương, con trai của Thượng tướng quân Trần Phó Duyệt. Ông được phong tước Nhân Huệ Vương.
Lúc giặc Nguyên vào cướp phá lần đầu ông thường bất ngờ cho quân đánh úp nên được vua Trần Thánh Tông nhận làm con nuôi. Sau ông đánh quân Man quấy nhiễu vùng núi, đại thắng nên vua ban chức Phiêu kỵ tướng quân. Vua yêu mến phong chức đến mấy lần, phong tước Thượng Vị hầu, mặc áo tía. Ông được làm con nuôi vua (Thiên tử nghĩa nam) được ra vào cung điện như các hoàng tử khác. Ông được ban yến tiệc trong cung, nên được gặp gỡ Thiên Thụy công chúa con vua Trần Thánh Tông là bậc giai nhân đẹp tuyệt vời của nhà Trần. Nhiều vương tôn công tử muốn được xe duyên cùng công chúa nhưng Trần Quốc Nghiễn (Hưng Vũ Vương) con trai Trần Hưng Đạo đã được làm phò mã nhà vua”.
Người xưa thường kiêng kỵ việc thông gia kép nhưng Vua Trần Thánh Tông đã gả Trịnh quận chúa con Trần Hưng Đạo cho con trai mình là Trần Nhân Tông. Vua lại gả con gái mình cho con trai của Trần Hưng Đạo để tình thông gia thân lại càng thân. Nào ngờ nàng công chúa diễm lệ Thiên Thụy đã làm vợ Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn rồi mà vẫn đem lòng yêu dấu ông anh nuôi của mình là Trần Khánh Dư. Thế là vụ án bi thảm xảy ra: Vua cha phần vì giận con nuôi và con gái làm ô nhục gia đình, phần vì mất lòng Trần Hưng Đạo, nên Trần Thánh Tông đã cách hết chức con nuôi, tịch thu hết tài sản và trừng phạt Trần Khánh Dư bên cạnh Hồ Tây. Giữa thanh thiên bạch nhật dân chúng được biết pháp luật nghiêm minh của nhà Trần như thế nào. Vua tuyên án tử hình Trần Khánh Dư, sai quân lính dùng roi đánh kẻ phạm tội đến chết.
Nhưng ngoài thì là lý trong là tình- vua Trần Thánh Tông bí mật dặn người lính giả vờ giơ roi thật cao, đánh thật nhẹ, đợi đêm khuya cho kẻ phạm tội trốn đi. Trời tối, dân chúng xem xử tội đã về hết. Trần Khánh Dư lủi thủi trốn về Chí Linh trong hoàn cảnh tài sản đã bị tịch thu hết sạch. Ông đành làm nghề bán củi sống qua ngày. Chúng ta cùng đọc bài thơ “Bán than” của ông, và sẽ thấy rõ rằng “máu thì chảy từ huyết quản còn nước lạnh thì chảy từ dòng suối”. Tấm lòng của Trần Khánh Dư trong bài thơ chân thành đến cảm động:

”Một gánh kiền khôn quẩy xuống ngàn.
Hỏi rằng “Chi đó” Gửi rằng “Than”
Ít nhiều miễn được đồng tiền tốt.
Hơn thiệt nào bao gốc củi tàn!
Ở với lửa hương cho vẹn kiếp…
Thử xem đá sắt có bền gan.
Nghĩ mình lem luốc toan nghề khác.
Nhưng sợ trời kia lắm kẻ hàn”.
Trần Khánh Dư không cho rằng mình đau khổ là do kiếp trước vụng đường tu như suy nghĩ của một số quý tộc đời Lý, Trần sùng đạo Phật. Ông giải thích theo Kinh dịch: “Con người sinh ra ở đời trong cõi Kiền- Khôn (Trời Đất). Đầy trong khoảng trời đất là vạn vật, tiếp tới quẻ Truân (gian nan). Ông cho rằng đã đứng trong trời đất là phải chịu truân chuyên…Hai câu: “Ở với lửa hương cho vẹn kiếp/ Thử xem đá sắt có bền gan”- có phải chăng là tâm tình kín đáo ông gửi cho Thiên Thụy đấy chăng.
Ông cũng tự biết mình bị lem luốc rồi, ông làm nghề than nhọ nhem như tấm thân đã bị danh dự hoen ố. Dầu thân bại, danh liệt ông vẫn dũng cảm chịu điều tiếng tiếp tục sống ở đời, lo cuộc sống cho mình và cho bao người khác. Tiết đông lạnh lẽo dân chúng rét mướt chắc cũng cần than củi sưởi ấm nhân tình. Cũng như ông có tài đánh trận thì chắc là đất nước cũng có khi cần ông đến cứu dân. Tình yêu cuộc sống đã đốt lên trong lòng ông chút hy vọng. Ngọn lửa can trường đó được chính Trần Hưng Đạo thổi bùng lên.

Một ngày tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1282), Khánh Dư chở thuyền qua bến Bình Than, nhà vua trông thấy, trỏ vào thuyền bảo quan thị thần rằng: "Người kia có phải là Nhân Huệ vương không". Rồi lập tức sai người chở thuyền nhỏ đuổi theo. Người quân hiệu gọi: "Ông lái kia, vua sai đòi nhà ngươi". Khánh Dư nói: "Ông già là người buôn bán, có việc gì mà gọi đến". Quân hiệu về tâu thực như thế. Vua nói: "Đúng là Nhân Huệ vương rồi, nếu là người thường tất không dám nói thế". Vua lại sai đi gọi. Khánh Dư đến nơi, mặc áo ngắn, đội nón lá. Vua nói: "Nam nhi cực khổ đến thế là cùng". Vua xuống chiếu tha tội, ban cho áo ngự, vị thứ ngồi dưới các vương, trên các công hầu, cùng bàn việc đánh giặc. Ông có nhiều kế hay, đúng ý vua. Nhà vua cho phục chức cũ, lại phong làm Phó tướng quân.
Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ ba (1288), ông làm Phó tướng giữ Vân Đồn. Khi cánh quân thủy của bọn Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp đến Vân Đồn, ông đem quân chặn đánh, không cản được giặc. Thượng hoàng nghe tin, sai bắt về kinh xử tội. Ông bảo với sứ rằng "lấy quân luật mà xử, tôi xin chịu tội, nhưng xin hoãn vài ngày để tôi lập công chuộc tội, rồi sẽ chịu búa rìu cũng chưa muộn". Theo dự đoán của ông, quả nhiên mấy ngày sau, Trương Văn Hổ dẫn hơn 100 thuyền chở lương kéo đến. Ông đánh bắt sống được nhiều tù binh và lương thực khí giới không kể xiết. Quân Nguyên nghe tin mất hết lương thực, chỉ lo việc rút về, không còn chí chiến đấu nữa.
Trong số những quý tộc nhà Trần, Trần Khánh Dư là người không chỉ giỏi võ nghệ, lắm mưu lược, lập công lớn về quân sự mà ông còn có đầu óc thực tiễn, biết kinh doanh thương mại. Suốt thời gian bị bãi chức, ông về đất cũ của cha mình ở Chí Linh, làm nghề buôn than để sống. Tác giả các bộ sử cũ với quan điểm kinh tế truyền thống của phong kiến là trọng nghề gốc (nông nghiệp), khinh nghề ngọn (buôn bán) nên coi việc ông buôn than, bán nón là nghề "hèn mọn". Nhưng thực ra, ở thời Trần chưa hề có chính sách trọng nông ức thương, chưa hề có việc bao vây cấm đoán ngoại thương. Chính Trần Khánh Dư là người sớm thấy nguồn lợi lớn trong việc buôn bán.
Ông là vị tướng giỏi và cũng là người biết làm kinh tế. Khi là dân thường cũng như lúc làm tướng, ông đều tham gia hoạt động kinh doanh lưu thông hàng hóa. Đấy là điểm tiến bộ ở ông, một biểu hiện mới trong tầng lớp quan liêu vốn chỉ quen sống bám vào đặc quyền đặc lợi của mình, khinh thường lao động sản xuất và kinh doanh buôn bán.
Trần Hưng Đạo mời ông bán than viết cho mình lời tựa trên đầu cuốn “Vạn kiếp bí truyền thư”, là cuốn sách sưu tập về binh pháp có vẽ bát quái cửu cung. Lời tựa Trần Khánh Dư viết đầu cuốn sách dạy về phép đánh trận của Trần Hưng Đạo thật là tuyệt diệu: “Người giỏi cầm quân thì không cần bày trận. Người giỏi bày trận thì không cần phải đánh. Người giỏi đánh thì không thua. Người giỏi, thua thì không chết”.
Sưu tầm nguồn : Internet


 BÍ ẨN VỀ CUỘC ĐỜI TRẦN QUỐC TOẢN

Trần Quốc Toản, vị anh hùng trẻ tuổi mà chúng ta được học trong các bài học lịch sử khi còn nhỏ, là một tấm gương sáng cho bao thế hệ trẻ Việt Nam suốt hơn 700 năm qua. Tuy nhiên có nhiều điều về vị anh hùng trẻ tuổi này mà chúng ta chưa biết, nhất là về cái chết của ông. Có phải ông đã mất năm 1285 trong cuộc kháng chiến chông quân Mông - Nguyên lần thứ hai như sử sách đã ghi? Vì sao ông lập được nhiều chiến công nhưng không được phong tước vương mà chỉ được phong tước hầu?

Bài học lịch sử thuở nào:

Chúng ta đã từng được học về Trần Quốc Toản trong các bài học lịch sử ở bậc Tiểu học như sau: Năm 1282 vua Trần Nhân Tông tổ chức hội nghị Bình Than họp mặt các vương hầu để bàn cách chống giặc Mông-Nguyên. Được tin, Hoài Văn hầu1 Trần Quốc Toản cùng với Hoài Nhân vương Kiện cưỡi ngựa đến Bình Than tham dự. Nhưng đội quân thánh dực của vua Trần Nhân Tông ngăn lại không cho vào vì Quốc Toản còn nhỏ, chưa đủ tuổi bàn việc nước.
Quốc Toản tức lắm, tay cầm trái cam bóp nát đi lúc nào không biết.

Sau đó chàng về tập hợp người thân và gia nhân của mình, mua vũ khí sắm chiến thuyền và luyện tập võ nghệ chờ ngày đánh giặc. Chàng cho may một lá cờ thêu sáu chữ vàng "Phá cường địch báo hoàng ân", nghĩa là "Phá giặc mạnh báo ơn vua" để làm cờ hiệu riêng cho đội quân mình. Đội quân của chàng đã giúp tướng Trần Nhật Duật2 đánh lui quân giặc trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai và chàng cũng đã tử trận trong trận chiến
này.

Cuộc đời Trần Quốc Toản:

Theo như kết quả những nghiên cứu gần đây, Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản là con của Vũ Uy vương Trần Nhật Duy3 và vương phi Trần Ý Ninh4 . Trần Nhật Duy là con trai vua Trần Thái Tông nên Trần Quốc Toản là cháu nội của vua Trần Thái Tông, vị vua Trần đầu tiên của nước ta.

Khi quân Mông Cổ xâm chiếm Đại Việt lần thứ nhất (1257-1258), Trần Nhật Duy đang làm Tổng trấn biên giới phía Bắc. Sau chiến thắng quân Mông Cổ lần thứ nhất năm 1258, vua Trần Thánh Tông5 cử Trần Nhật Duy và vợ là Trần Ý Ninh cùng một số tướng lãnh sang giúp nhà Tống, vì nghĩ rằng nếu Mông Cổ tiêu diệt nhà Tống thì quân Mông Cổ sẽ kéo quân sang đánh Đại Việt lần nữa.

Trần Quốc Toản được mẹ sinh ra ở đất Tống vào năm 1267. Ông có nhiều bạn bè là con cháu trong hoàng tộc nhà Tống. Năm 1279, sau khi nhà Tống bị nhà Nguyên tiêu diệt hoàn toàn, một số người Tống kéo sang Đại Việt lánh nạn và giúp nhà Trần đánh giặc Mông - Nguyên. Một đội quân do hoàng tử Tống tên là Triệu Trung cầm đầu chiến đấu dưới sự chỉ huy của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật. Em của hoàng tử Triệu Trung là công chúa Triêu Ngọc Hoa cùng chiến đấu trong đội quân này. Trần Quốc Toản cũng cầm đầu một đội quân khác chiến đấu dưới sự chỉ huy của tướng Trần Nhật Duật. Sau đó Trần Quốc Toản và Triệu Ngọc Hoa cảm mến, yêu thương nhau và hai người thành vợ chồng.

Vì lấy vợ Tống, cho nên mặc dù trung nghĩa và lập được nhiều chiến công nhưng Trần Quốc Toản chỉ được phong tước hầu (Hoài Văn hầu) chứ không được phong tước vương6

.
Nghi vấn về cái chết của Trần Quốc Toản năm 1285

Về cái chết của ông, theo chính sử Việt Nam ghi lại thì ông mất năm 1285 nhưng không nói rõ ông mất ở đâu, trong trận nào7. Riêng các quyển sử của nhà Nguyên viết rằng ông chết trong trận đánh ở sông Như Nguyệt8. Nhưng theo gia phả của hậu duệ Trần Ích Tắc (chú Trần Quốc Toản) để lại thì Trần Quốc Toản cùng vợ trở về Trung Quốc khởi binh khôi phục triều Tống9. Riêng gia phả của hậu duệ Trần Quốc Toản mang tên "Viêm phương Trần tộc Lưu phả" và mộ chí ở Trung Quốc10 vừa tìm thấy được có nói về người vợ Tống của ông là vị công chúa cuối đời Tống tên Triệu Ngọc Hoa. Trong gia phả và mộ chí này có nói rằng Trần Quốc Toản sống rất thọ và mất ở Tống chứ không phải chết trong trận đánh với quân Nguyên năm 1285 như chúng ta đã biết.

Cali ngày 25-07-08
Đinh Ngọc Thu

Ghi chú:

(1) Hoài Văn hầu: Hoài Văn là tước hiệu, hầu là tước hầu. Dưới thời nhà Trần, những người thuộc bà con dòng họ của vua thường được phong tước vương và hầu. Tước vương chính là tước công, tước cao nhất trong 5 tước quan đại thần mà triều đình ngày xưa đặt ra: công, hầu, bá, tử, nam.

(2) Trần Nhật Duật: là con của vua Trần Thái Tông với một người vợ thứ của vua. Trần Nhật Duật có tước là Chiêu Văn vương

(3) Trần Nhật Duy: có tước hiệu là Vũ Uy vương. Ông là con trai lớn tuổi nhất của vua Trần Thái Tông nhưng vì ông là con của một bà vợ thứ của vua nên không phải là con trưởng.
Dưới thời vua Lý Thái Tổ, có một người anh của vua cũng được phong tước Vũ Uy vương.

(4) Trần Ý Ninh: Theo GS Trần Đại Sĩ thì bà là em gái của Trần Tử Đức. Hai người là con của ông Trần Hiến và bà Lê Thị Đạt. Khi Trần Thủ Độ ép Trần Liễu nhường vợ của mình là công chúa Thuận Thiên cho vua Trần Thái Tông - Trần Cảnh, Trần Liễu nổi loạn đem quân tấn công triều đình. Trần Hiến chỉ huy binh lính của Trần Liễu tấn công phủ của Thái sư Trần Thủ Độ. Sau khi Trần Liễu đầu hàng, toàn bộ binh lính dưới quyền của ông bị sát hại trong đó có vợ chồng Trần Hiến.

(5) Trần Thánh Tông: là vua thứ hai dưới thời nhà Trần. Trên thực tế ông không phải là con trai lớn hay con trưởng của vua Trần Thái Tông nhưng ông là con trai đầu của vua Trần Thái Tông với bà hoàng hậu Thuận Thiên nên được nối nghiệp cha. Con lớn tuổi nhất của vua Trần Thái Tông là Trần Nhật Duy nhưng vì ông là con của bà vợ thứ nên không phải là con trưởng. Về danh nghĩa, con trưởng của vua là Trần Quốc Khang nhưng thật ra Trần Quốc Khang là con ruột của Trần Liễu với bà hoàng hậu Thuận Thiên nên không được nối ngôi.

(6) Theo GS Trần Đại Sĩ: “Hoài Văn trung nghĩa, đại công nhi bất vương do thú ư ngoại nhân": Hoài Văn hầu mặc dù trung nghĩa và lập được đại công, nhưng không được phong  tước vương vì lấy vợ nước ngoài.

(7) Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên viết dựa theo quyển Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu và Đại Việt Sử Ký Tục Biên của Phan Phu Tiên nói về đoạn cuối cuộc đời của Trần Quốc Toản như sau: “Sau này, khi đối trận với giặc, tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không dám đối địch. Đến khi mất, vua rất thương tiếc, thân làm văn tế”.

(8) Theo An Nam truyện của Nguyên sử có ghi: "Quan quân đến sông Như Nguyệt, thì Nhật Huyên sai Hoài Văn hầu đến đánh... Theo Kinh Thế Đại Điển Tự Lục trong Nguyên sử có viết :"...Đến sông Như Nguyệt, Nhật Huyên sai Hoài Văn Hầu đến đuổi thì bị giết".

(9) Gia phả này do GS Trần Đại Sĩ tìm đọc của hậu duệ Trần Ích Tắc hiện còn sống bên Trung Quốc.

(10) Hai tài liệu này do cô Vũ Khánh Ngọc, du học sinh tại tỉnh Phước Kiến, Trung Quốc tìm giúp GS Trần Đại Sĩ. 1) Năm trang gia phả mang tên Viêm phương Trần tộc Lưu phả của hậu duệ Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản. 2) Ảnh chụp mộ chí nội dung nói về một vị công chúa cuối đời Tống kết hôn với Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản.

3 người đẹp “đổi thân xác lấy đại cục” nhà Trần

 

Vốn là những công chúa, ái phi được sống trong nhung lụa của triều đình, họ đã hi sinh tất cả vì lợi ích của dân tộc…

(Kienthuc.net.vn) - Vốn là những công chúa, ái phi được sống trong nhung lụa của triều đình, họ đã hi sinh tất cả vì lợi ích của dân tộc…

Sự hi sinh bị lãng quên của công chúa An Tư

Đầu năm 1285, quân Nguyên đã đánh tới Gia Lâm, vây hãm thành Thăng Long của nhà Trần. Chiến sự diễn ra rất bất lợi. Tướng Trần Bình Trọng đã hy sinh ở bờ sông Thiên Mạc, cùng lúc nhiều tôn thất nhà Trần như Trần Kiện, Trần Lộng, kể cả hoàng thân Trần Ích Tắc đều qui hàng.

Quan đại thần Đỗ Khắc Chung được sai đi sứ để làm chậm tốc độ tiến quân của Nguyên, nhưng không có kết quả. Trong lúc đó, nhà Trần rất cần có thời gian hòa hoãn để củng cố lại lực lượng. Không còn lựa chọn nào khác, Thượng hoàng Trần Thánh Tông đã phải dùng đến kế mỹ nhân.

Công chúa An Tư, em gái của Trần Thánh Tông đã được triều đình dâng cho tướng Thoát Hoan của nhà Nguyên như một cử chỉ nhượng bộ, để quân Thoát Hoan chùng tay trong một thời gian.

Khi đã sốc lại được tinh thần, quân Trần bắt đầu phản công. Quân Nguyên bị đánh cho đại bại, đến mức Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để được toàn mạng khi chạy về phương Bắc.

Trớ trêu thay, sau chiến thắng lẫy lừng của nhà Trần, sử sách hầu như chỉ nhắc đến công chúa An Tư trong vài dòng ngắn ngủi. Không rõ số phận công chúa ra sao, đã chết cùng đám tàn quân Thoát Hoan hay được đưa về Trung Quốc.

Theo cuốn An Nam chí lược của sử gia thời Trần lưu vong ở Trung Quốc là Lê Tắc, Thoát Hoan có lấy một người con gái nhà Trần và sinh được hai con. Nhưng chưa thể khẳng định người đó có phải là công chúa An Tư hay không.

Dù không được sử sách chú ý, nhưng các thế hệ sau này vẫn dành cho công chúa An Tư một sự kính trọng sâu sắc vì sự hi sinh thầm lặng của bà trong chiến thắng của nhà Trần.

Vào thập niên 1943, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã viết một cuốn tiểu thuyết lịch sử về công chúa An Tư. Trong cuốn tiểu thuyết, do nặng lòng với đất nước, công chúa đã tự sát ở sông Cái khi bị đưa về phương Bắc sau thất bại của Thoát Hoan.

Huyền Trân công chúa đổi thân lấy đất Chiêm Thành

Công chúa Huyền Trân sinh năm 1287, là con gái của vua Trần Nhân Tông và em gái vua Trần Anh Tông.

Vào năm 1293, vua Trần Nhân Tông thoái vị, trở thành Thái thượng hoàng và lên tu ở núi Yên Tử. Năm 1301, ông nhận lời mời du ngoạn Chiêm Thành, được vua Chiêm là Chế Mân tiếp đãi nồng hậu và ở lại trong cung điện Chiêm Thành gần 9 tháng.

Trước khi về nước, Trần Nhân Tông đã hứa gả Huyền Trân cho Chế Mân. Khi đó ông vua Chiêm Thành đã có chính thất là hoàng hậu Tapasi, người Java.

Năm 1306, vua Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý (Nam Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế ngày nay) cho nhà Trần làm của hồi môn để lấy Huyền Trân. Vua Trần Anh Tông đã đồng ý gả công chúa.

Về Chiêm Thành, Huyền Trân được phong làm hoàng hậu Paramecvari. Một năm sau, bà sinh cho Chế Mân một hoàng tử, đặt tên là Chế Đa Đa. Ít lâu sau Chế Mân băng hà, nhà Chiêm sai sứ sang Đại Việt báo tang.

Theo tục lệ Chiêm Thành, khi vua chết hoàng hậu phải lên dàn hỏa thiêu để chết theo. Vua Trần Anh Tông biết điều này bèn sai sai Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang rồi tìm cách cứu Huyền Trân. Trần Khắc Chung đãbày kế thành công và cứu được Huyền Trân, đưa công chúa về Đại Việt bằng đường biển.

Theo một số nguồn sử liệu, cuộc hành trình về nước của công chúa Huyền Trân đã kéo dài tới một năm, và bà đã tư thông với Trần Khắc Chung trong khoảng thời gian đó. Thực hư của điều này ra sao mãi mãi là một ẩn số trong lịch sử Việt Nam.

Huyền Trân mất vào năm 1340. Các triều đại sau này đều sắc phong bà là thần hộ quốc. Vua triều Nguyễn ban chiếu đền ơn công chúa trong việc giữ nước giúp dân, có nhiều linh ứng, tôn bà làm "Trai Tĩnh Trung Đẳng Thần"

Cung phi Nguyễn Thị Bích Châu dâng mình cho thần biển

Nguyễn Thị Bích Châu là con gái cưng của một cận thần dưới triều Trần, từ thời niên thiếu đã nổi tiếng xinh đẹp, lại thông tuệ, giỏi văn chương, âm nhạc. Năm 16 tuổi (khoảng 1372) bà vào cung, được vua Trần Duệ Tông rất đỗi thương yêu, phong là ái phi.

Năm 1376, Đại Việt liên tục bị quân Chiêm Thành gây hấn. Vua Duệ Tông nổi giận ngự giá thân chinh đi dẹp giặc. Bích Châu thấy bất an, khuyên can vua không được, đành xin đi theo hộ giá.

Khi đoàn thuyền chiến vừa đến cửa biển Kỳ Hoa (Kỳ Anh, Nghệ Tĩnh) trời bỗng nổi bão lớn. Đoàn thuyền chiến va vào nhau, nhiều cái bị đứt dây, dạt vào đá vỡ toang, quân lính chết vô số… Vua Duệ Tông nhất quyết đợi bão tan sẽ tiến binh tiếp.

Bích Châu rất lo lắng. Bà chợt nhớ về truyền thuyết thần biển đòi mỹ nữ và nghĩ đến việc liều mình để giúp đất nước. Bà liền xin vua được hiến thân cho thần biển để thần phù hộ nhà vua chiến thắng.

Vua còn sững sờ thì Bích Châu đã quay ra truyền lệnh sửa soạn lễ vật cúng thần biển. Mặc những lời can ngăn, bà vẫn một mực xin thực hiện ý nguyện của mình. Vua quan đành nén đau thương chấp thuận.

Sau khi tiến hành các nghi lễ và từ biệt nhà vua, Bích Châu ngồi vào chiếc thuyền nhỏ nhắn có cắm đại hoàng kỳ. Không lâu sau khi được thả xuống biển, chiếc thuyền lập tức bị sóng dữ nhấn chìm…

Sau hài khi bão ngớt và đoàn chiến thuyền của vua Trần Duệ Tông đã đi khá xa, thi hài Bích Châu mới nổi trên mặt biển và trôi dần vào bờ. Bà được dân làng rước đi an táng tại làng Kỳ Hoa. Đến nay, ngôi làng này vẫn thờ thần phi Bích Châu.
Hoàng Phương

Kết quả hình ảnh cho tượng trần quốc toản Kết quả hình ảnh cho tượng trần quốc toản

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32