Dai Chung la su suy ngam cua toi ve cuoc doi, xa hoi, nhan sinh
TT&HĐ V - 46/e
Nhận đường liên kết
Facebook
X
Pinterest
Email
Ứng dụng khác
-
Sao chổi Ngôi sao lang thang, băng giá Phim khoa học khám phá vũ trụ thuyết minh YouTube
Sao chổi là một thiên thể bay ngoài không gian, nó gần như một tiểu hành
tinh, nhưng không được cấu tạo từ đất đá mà chủ yếu là từ băng. Sở dĩ
chúng có tên là sao chổi vì thường có hình thù kỳ dị, đầu nhọn, đuôi to
giống một chiếc chổi quét nhà. Các nhà khoa học đã mô tả nó giống như
“một quả bóng tuyết bẩn” vì nó chứa carbonic, metan, nước đóng băng lẫn
với bụi và các khoáng chất.
PHẦN V: THỐNG NHẤT
"Khoa học là một sức mạnh trí tuệ lớn nhất, nó dốc hết sức vào việc phá vỡ xiềng xích thần bí đang cầm cố chúng ta." Gorky
"Mỗi một thành tựu lớn của nhà khoa học chính là xuất phát từ những ảo tưởng táo bạo". JohnDewey
"Chân lý chỉ có một, nó không nằm trong tôn giáo, mà nằm trong khoa học." Leonardo da Vinci
"Có hai cách để sống trên đời: một là xem như không có phép lạ nào cả, hai là xem tất cả đều là phép lạ".
Albert Einstein
“Chính qua cuộc đấu tranh nhằm thống nhất một cách hợp lý cái đa dạng
mà đã đạt được những thành công lớn nhất, dù rằng chính ý đồ đó có thể
gây ra những nguy cơ lớn nhất để trở thành con mồi của ảo vọng”.
Albert Einstein
“Người nhìn thấy cái đa dạng mà không thấy cái đồng nhất thì cứ trôi lăn trong cõi chết”.
“Lực hút cũng như lực đẩy,
là thuộc tính cơ bản của vật chất.”
“Hấp dẫn cần phải được gây
ra bởi một tác nhân thường xuyên tác động theo một qui luật nào đó, nhưng tác
nhân này là vật chất hay phi vật chất thì tôi xin dành cho bạn đọc suy nghĩ.”
Niutơn
"Không xiềng xích hay thế lực bên ngoài nào có thể ép buộc tâm hồn của một người tin hay không tin."
"Tất cả vinh quang đều đến từ sự dám bắt đầu". Eugene F Ware
"Tất cả mọi người đều mơ; nhưng không như nhau. Những người mơ về đêm,
trong những ngóc ngách sâu kín lờ mờ của tâm trí, khi thức giấc vào ban
ngày mới nhận ra đó là ảo ảnh; nhưng những người mơ vào ban ngày mới là
đáng gờm, vì họ có thể thực hiện giấc mơ của mình với đôi mắt mở to, để
biến chúng thành hiện thực". T.E.Lawrence
"Ước mơ giống như những vì sao… ta có thể không bao giờ chạm tay vào
được, nhưng nếu đi theo chúng, chúng sẽ dẫn ta đến vận mệnh của mình". Samuel Johnson
"Tôi được ban cho sự nhận thức về định mệnh của chính mình. Tôi chưa bao
giờ tự hạ thấp bản thân. Tôi chưa bao giờ đánh giá mình theo tiêu chuẩn
của người khác. Tôi luôn trông đợi nhiều ở chính mình, và nếu tôi thất
bại, tôi thất bại chính mình". Sophia Loren
"Tự tin là điều kiện đầu tiên để làm được những việc lớn lao". Samuel Johnson
"Hãy mơ ước bất cứ điều gì bạn muốn mơ. Đó là vẻ đẹp của trí tuệ con
người. Hãy làm bất cứ điều gì bạn muốn làm. Đó là sức mạnh của ý chí con
người. Hãy tin tưởng vào bản thân để thử thách những giới hạn của mình.
Đó chính là lòng can đảm để thành công". Bernard Edmonds
"Không ai biết sau đó mọi chuyện sẽ xảy ra như thế nào nhưng
chúng ta vẫn đi về phía trước. Bởi vì chúng ta có lòng tin và
sự trung thực" Paulo Coelho
"Muốn hiểu Vũ Trụ này, phải hoang tưởng mãnh liệt. Muốn hoang tưởng mãnh liệt, phải có niềm tin". NTT
(Tiếp theo)
Bản chất của lực hấp dẫn theo quan niệm
của chúng ta xét cho cùng lại chỉ là lực đẩy; là sự tổng hợp tương tác thể hiện
ra trong Vũ Trụ vĩ mô của số đông các thực thể trong Vũ Trụ vi mô. Vì càng vào
sâu Vũ Trụ vi mô, kích thước các thực thể trong đó càng nhỏ, nghĩa là số lượng
các hàm chứa trong nội tại
chúng càng ít, nên hiệu ứng hấp dẫn càng trở nên mờ nhạt. Đến một độ sâu vi mô
nào đó thì coi như hiệu ứng hấp dẫn không còn nữa. Trong Vũ Trụ vi mô, quyết
định đến sự vận động và chuyển hóa KG là những tương tác hút đẩy có tính thế mà
xét đến cùng thì đều là tương tác lực.
Nếu xét ở góc độ tạo nên áp lực (còn gọi
là áp suất thì trong Vũ Trụ thực tại, không thể có lực nào lớn hơn lực , cho nên chúng ta gọi nó là lực cực đại tuyệt đối. Tuy
nhiên, nó lại đại diện cho một động lượng (hay xung lực) rất nhỏ, nhỏ nhất Vũ
Trụ. Chúng ta có thể qui ước giá trị đó là đơn vị nhỏ nhất tuyệt đối của động
lượng (hay xung lực).
Giả sử rằng ở đáy cùng của Vũ Trụ vi mô,
vẫn còn thể hiện ra lực hấp dẫn và lực hấp dẫn giữa hai hạt KG và có thể biểu diễn được
là:
thì chúng ta có thể thấy, so với lực cảm
ứng kích thích KG , giá trị đó nhỏ hơn đúng 1028lần. Vì hằng số gcũng lớn hơn hằng số G là 1028nên chúng ta có thể
coi về mặt thực chất, chúng chỉ là một. Quan niệm như vậy để thấy rằng Gkhông phải là hằng số
vì độ lớn của nó tăng dần theo hướng từ vĩ mô xuống vi mô của Vũ Trụ thực tại
và đạt giá trị cực đại là 6,75.1020ở đáy cùng Vũ Trụ vi
mô. Nếu thế, phải chăng vì tính tương phản nghịch đảo của Vũ Trụ mà ở tầng trần
cao nhất của Vũ Trụ vĩ mô, nó có giá trị cực tiểu là 6,75.10-20? Lúc diện kiến Tạo Hóa, vì câu hỏi này chưa phát sinh nên
rất tiếc là không hỏi được!
***
Trường hấp dẫn đã không tồn tại thì
trường điện từ có tồn tại thực sự như vật lý học đã khẳng định không? Đối với
chúng ta, đây là một câu hỏi cực khó vì chúng ta hơi bị mù mịt về điện. Nhưng
cũng cứ cố lần mò được đến đâu hay đến đó. Biết đâu chừng… “Hay không bằng hên”
mà!
Chúng ta đã tưởng tượng ra được sự tồn
tại của các hạt và cho rằng đó là
những thực thể nhỏ nhất mang điện tích nguyên tố của Vũ Trụ. Vậy, công việc đầu tiên cần phải thực
hiện là đi xác định giá trị cụ thể lượng điện tích mà chúng hàm chứa.
Trước đây, chúng ta đã từng nhiều lần
“lải nhải” và bây giờ lại lặp lại rằng, Tự Nhiên Tồn Tại là… Tồn Tại một cách Tự Nhiên, vốn dĩ là thế,
hồn nhiên như thế đồng thời cũng buộc phải như thế chứ không thể khác. Đặc tính
cơ bản nhất của Tồn Tại, có tính quyết định đến “số phận” của nó, là "có" đến tận
“chân tơ kẽ tóc”, cái gì cũng "có" và cũng có nghĩa là không được xuất hiện “cái không
có tuyệt đối” bên cạnh Tồn Tại. Nói cách khác, Tồn Tại là thực, là tuyệt đối, là
bao trùm, Hư Vô là ảo, là tương đối và thuộc về Tồn Tại. Cũng vì lẽ đó mà có
thể nói: Tự Nhiên Tồn Tại là tuyệt đối đầy đủ và chính vì thế mà nó gồm cả
thiếu thốn đủ thứ cũng như dư thừa đủ thứ.
Trước bất cứ
một quan sát và tư duy có tính đặc thù nào, Tự Nhiên Tồn Tại đều thể hiện ra
đồng thời hai mặt cơ bản của nó là Không Gian và Thời gian, là Thực Tại và Vận Động. Nếu Không Gian là
lực lượng của Tồn Tại thì Vận Động là hành vi Tự Nhiên của nó. Đến lượng Không
Gian lại phân định tương đối và thành hai thể là môi trường không gian và thực
thể KG. Như vậy Không Gian Vận Động là thể hiện của Tự Nhiên Tồn Tại trước quan
sát, và đồng thời cũng chính là Tự Nhiên Tồn Tại.
Nếu cho rằng Không
Gian là thực thể của Tồn Tại thì Vận Động là phương thức Tự Nhiên nhằm đảm bảo
tuyệt đối Tồn Tại. Giữ vai trò như vậy thì Vận Động cũng có tính tuyệt đối,
nghĩa là khắp nơi vận động, không ngừng vận động, vận động đến “chân tơ kẽ
tóc”, đủ kiểu vận động, vận động phong phú về nhịp điệu và đầy đủ về mức độ.
Tính tuyệt đối ấy của Vận Động Không Gian phải được “phơi bày” ra hết đến cùng
cực, trước quan sát và tư duy nhận thức (dù có thể quan sát và tư duy nhận thức
chưa đạt đến trình độ để “thấy” hết được), vì nếu không như thế sẽ có Hư Vô
“bên cạnh” Tồn Tại. Điều hết sức phi lý! Không bao giờ và không một ai có thể thấy được, cảm được, nghĩ được "chút xíu gì" về Hư Vô! Mặt khác Tự Nhiên cũng phải tạo ra cho quan sát, tư duy và
nhận thực cái khả năng phân biệt được các loại, các dạng, các nhịp điệu, các
mức độ vận động để so sánh, đánh giá chúng. Một trong những “phương tiện” cơ
bản nhất và Tự Nhiên “ban tặng” cho quan sát, tư duy và nhận thức để có khả
năng phân biệt và đánh giá vận động chính là độ dài lâu mà thước đo nó được chúng
ta gọi là Thời Gian. Vậy, Thời Gian là biểu hiện về độ dài lâu - một thuộc tính
của Vận Động Không Gian. Vì thế mà Thời Gian không thể là cái gì đó độc lập, ở
bên ngoài Không Gian được. Cũng chính vì thế mà Vận Động Không Gian là vĩnh
cửu, Tự Nhiên Tồn Tại là vô thủy vô chung! Vũ Trụ thực ra chỉ gồm và cũng chính
là Không Gian Vận Động hay Tự Nhiên Tồn Tại. Vũ Trụ đã không thể có bắt đầu mà
cũng không thể có kết thúc trong Thời Gian, thì cái gọi là Big Bang "của vật lý học" cũng không
hề có thực, hoặc nếu có thực thì nó chỉ hiện diện trong thế giới ảo huyền vật lý học
mà thôi.
Không Gian vốn
dĩ phân định tương đối thành hai lực lượng (nhiều khả năng là không bằng nhau)
là môi trường không gian và thực thể KG. Đơn vị nhỏ nhất tuyệt đối của môi
trường không gian là , đơn vị nhỏ nhất tuyệt đối của thực thể KG là . Hai đơn vị ấy bằng nhau về lực lượng, kích thước, chỉ khác
nhau về trạng thái nội tại và có thể chuyển hóa thành nhau theo phương thức gọi
là cảm ứng kích thích không gian.
Một hạt độc lập không thể
“đứng yên” một chỗ mà phải lan truyền trong môi trường không gian với vận tốc
cực đại tuyệt đối C. Khi ở đâu đó tương đối gần nó xuất hiện một hạt khác, trái dấu hoặc
đồng dấu với nó, thì hai hạt đó xử sự đối với nhau như thế nào? Trước đây,
chúng ta đã cho rằng trong trường hợp trái dấu, chúng hút nhau, và trong trường
hợp đồng dấu, chúng đẩy nhau. Nhưng thực chất có phải như vậy không?
Để may ra có
thể trả lời được câu hỏi đó, trước hết, chúng ta phải trả lời câu hỏi: bản chất
của thứ gì đó gọi là “điện” đó, là thứ gì?
Chúng ta đã
mường tượng vận động nội tại của một hạt KG thông thường () là sự chuyển hóa trạng thái lần lượt qua 4 trạng thái rồi
cứ thế lặp đi lặp lại một cách chu kỳ tương tự như một giao động điều hòa. Vận
động nội tại này được quyết định bởi sự chi phối của 4 vận động nội tại của 4
hạt KG quanh nó, tiếp xúc với nó và đồng thời cũng tạo “vỏ bọc” làm nên nó.
Vì hạt luôn cố định tuyệt đối trong mạng khối không gian và chỉ vận
động nội tại một cách chu kỳ và điều hòa thôi nên còn có thể nói nội tại hạt KG giao động điều hòa với
4 trạng thái năng lượng của nó. Bốn trạng thái đó, xét ở góc độ này là không
phân biệt được, xét ở góc độ khác là phải phân biệt được, và vì nội tại hạt tồn tại như một điểm
cố định tuyệt đối nhưng giao động, cho nên dẫn đến hình dung về một sự xoáy
không gian như thế nào đó. Có lẽ sự xoáy không gian này phải là sự xoáy tổng
hợp của hai sự xoáy thành phần. Tương tự như hiện tượng cảm ứng (tự cảm) trong
điện học, sự xoáy này tăng lên về cường độ xoáy thì gây cảm ứng cho sự xoáy kia
chống lại sự tăng ấy và ngược lại. Nghĩa là dưới sự chi phối của môi trường,
hai sự xoáy không gian có mối quan hệ “sống còn” và là tiền đề tồn tại của nhau
ấy tương tác nhau, chuyển hóa nhau và hợp thành một xoáy không gian thống nhất
có tính điều hòa.
Khi tác động
của môi trường không gian đến hạt trở nên bất thường thì
sự xoáy không gian của nội tại nó cũng trở nên bất thường và sự xoáy điều hòa
bị kích hoạt lên thành xoáy cưỡng bức. Chúng ta cho rằng, xoáy cưỡng bức là
xoáy mà hai thành phần xoáy của nó hoạt động thuận chiều nhau, cộng hưởng nhau
làm cho vận động nội tại của hạt KG đạt đến trạng thái tột độ, và lúc này hạt đã chuyển biến thành
hạt .
Trạng thái tột
độ của hạt gây nguy cơ “nhãn
tiền” làm nổ tung nó nếu nó không lập tức khắc phục được trạng thái ấy. Nếu hạt nổ tung thì một lỗ
hổng Hư Vô sẽ xuất hiện và chúng ta đành… chấm dứt câu chuyện ở đây! May quá, Tự
Nhiên Tồn Tại không bao giờ “chơi trò” phi tự nhiên như thế nên đã khắc phục
trạng thái tột độ của hạt bằng cách “ra lệnh”
cho nó ngay tức khắc “trao cái vương miện kích thích tột độ” của nó cho một trong 4 hạt KG
tiếp giáp quanh nó để trở về “làm thường dân” . Tuy nhiên, khi một trong 4 hạt KG vừa nói bỗng dưng “được”
đội vương miện kích thích tột độ thì trạng thái của nó (có lẽ vì vui sướng quá?) cũng được
kích thích lên tột độ. “Vui chưa tày gang” rồi cũng phải nhanh chóng trao cái
vương miện đó cho hạt khác nữa. Cứ thể,
trước “người trần mắt thịt”, hạt xuất hiện đầu tiên dù
đã “ngủm củ tỏi” từ lâu, vẫn được thấy như còn sống, “tung tăng cưỡi ngựa xem
hoa” trong Vũ Trụ với tốc độ “nhởn nhơ” và đều đặn bằng… C.
Như đã quan
niệm, nguyên lý phân định của Tự
Nhiên làm cho hạt KG phải có hai
trạng thái tột độ tương phản nhau mà chúng ta qui ước gọi là trạng thái tột độ
dương (+) và trạng thái tột độ âm (–) để phân biệt. Vậy thì hai hạt và khác nhau ở chỗ nào?
Nếu dựa vào hình dạng, kích thước, lực lượng thì chắc chắn tuyệt đối không phân
biệt được. Hay là chúng khác nhau về màu sắc như đã nói? Thực ra màu sắc chỉ là
qui ước của chúng ta thôi. Chỉ một bộ phận sinh vật mới cảm nhận được theo màu
sắc thôi và hơn nữa, ở tầng nấc vĩ mô nào đó, làm gì có ánh sáng! Thế là cuối
cùng, khả dĩ nhất, chỉ có thể phân biệt được hai hạt trái dấu nhau theo
chiều xoáy nội tại của chúng. Cần nhớ rằng các hạt không bao giờ đứng yên
mà luôn luôn lan truyền với vận tốc cực đại c. Vì clà vận tốc cực đại
tuyệt đối nên hướng xoáy nội tại của mọi hạt phải vuông góc với
hướng lan truyền của chúng, và có thể dựa vào hướng tiến của chúng mà phân biệt
được chiều xoáy thuận hay nghịch. Nếu hạt có chiều xoáy thuận
được gọi là mang điện dương thì có chiều xoáy nghịch
được gọi là mang điện âm. Để không mâu thuẫn thì vì động năng của hạt , “nhìn” ở góc độ khác cũng là nội năng và đúng bằng năng
lượng toàn phần của nó nên phải quan niệm rằng nếu thật có chuyển động thì
không thấy sự xoáy nội tại của nó và ngược lại.
Khi hai hạt trái dấu nhau tiếp xúc
nhau, chúng sẽ chuyển hóa nhau để trở thành hai hạt . Có thể thấy sự tương tác đó như là một sự trao đổi một phần
kích thích trái chiều cho nhau. Trong trường hợp hai hạt trái dấu nhau tiến về
phía nhau với cùng vận tốc cthì coi như so với
nhau, chúng tiến đến nhau với tốc độ 2cvà như thế tưởng chừng
như lực tương tác của hạt này lên hạt kia phải lớn hơn trong trường hợp một
trong hai hạt là . Nhưng có lẽ không phải vậy vì tương tác - được thấy như sự trao
đổi kích thích hoàn toàn, còn tương tác - được thấy như sự trao
đổi kích thích một phần, và như thế, lực tương tác của hai trường hợp ấy có thể
là bằng nhau, cùng bằng , thậm chí còn có khả năng lực của trường hợp sau nhỏ hơn của
trường hợp trước.
Thực nghiệm
điện học đã chỉ ra, chắc chắn là có hiện tượng tự nhiên hạt vật mang điện trái
dấu thì tiến về phía nhau, hai vật mang điện đồng dấu thì tiến ra xa nhau. Đối
với hai hạt , tình hình có lẽ cũng như vậy. Nhưng thử hỏi, hai vật mang
điện có tự thân chúng nỗ lực hút hay đẩy nhau không? Có thể coi môi trường
không gian không phải là vật chất mà chỉ là “bệ đỡ”, tạo khả năng cho vật chất
(tức các thực thể KG) vận động và tương tác lẫn nhau thì theo quan niệm “tác
dụng gần” và hơn nữa, theo quan niệm truyền tương tác của chúng ta, điều đó
không thể xảy ra được! Nếu chúng hút hay đẩy nhau thật thì ít nhất cũng phải có
một cái gì đó từ môi trường ảnh hưởng tới chúng, kích thích chúng có hành vi
như vậy và quá trình đó không phải ngẫu nhiên, tình cờ, mà phải theo qui luật.
Nhất là đối với các hạt lại càng không thể
hình dung được chúng tự thân hút hay đẩy nhau từ xa. Thứ nhất là vì chúng luôn
“chuyển động” với vận tốc đều và cực đại cnên không thể hút hay
đẩy nhau để làm tăng vận tốc đó lên nữa. Thứ hai là chẳng có cái gì khác làm
trung gian để truyền tương tác lực của chúng. Thứ ba là khi các hạt luôn chuyển động trong
Vũ Trụ với vận tốc cực đại crồi thì coi như trạng
thái tột độ đe dọa đến sự bùng nổ hạt KG đã được giải quyết, và do đó chúng
chẳng còn nỗi bức xúc nào thôi thúc để mà phải nỗ lực tìm đến nhau hoặc lánh xa
nhau cả.
Vậy thì vì sao?
Chỉ còn một cách giải quyết vấn đề duy nhất là bám vào nguyên lý ưu tiên lựa
chọn hướng lan truyền năng lượng trong Vũ Trụ vi mô mà chúng ta đã phát hiện ra
(hay bịa ra?). Theo nguyên lý đó, năng lượng luôn có xu thế phát tán từ miền có
mức năng lượng cao hơn đến miền có mức năng lượng thấp hơn, và ưu tiên hướng
đến nơi có mức năng lượng thấp nhất. Có thể hình dung hai miền có mức năng
lượng cao thấp khác nhau đã làm cho vùng môi trường không gian giữa chúng đóng
vai trò như một vùng dốc từ miền có mức năng lượng cao “xuôi về” miền có mức
năng lượng thấp, mà độ dốc của vùng đó là do mức độ chênh lệch năng lượng giữa
hai miền qui định. Cũng có thể coi vùng dốc đó là một trường lực thế ảo. Nếu ở
trong trường đó xuất hiện một hạt thì hạt này sẽ chuyển
biến thành sóng và lan truyền tự do theo chiều dốc xuống khi vận tốc đạt đến
cực đại có thể.
Tương tự như
nguyên lý ấy hoặc coi như được rút ra từ nguyên lý ấy, về mặt điện, cũng có
nguyên lý ưu tiên lựa chọn hướng lan truyền điện tích. Có thể phát biểu nguyên
lý đó như sau: điện tích luôn có xu thế được phát tán từ miền có mức điện lượng
trái dấu thấp hơn đến miền có mức điện lượng cao hơn, và hướng ưu tiên là đến
nơi có mức điện lượng trái dấu cao nhất. Như vậy, theo nguyên lý này, đối với
hai miền chênh lệch điện tích trái dấu, nếu hướng đến một miền là hướng phát
tán của điện tích dương thì mặc nhiên, hướng đến miền còn lại là hướng phát tán
của điện tích âm, nghĩa là giữa hai miền đó xuất hiện một hiệu ứng trao đổi
điện tích cho nhau và như vậy vùng môi trường không gian giữa hai miền đó phải
đóng vai trò cùng một lúc có hai chiều dốc ngược nhau. Cũng có thể coi vùng
không gian đó tồn tại ảo một trường điện thế. Một miền dốc với hai hướng tác động ưu tiên cho hai loại hạt điện tích: hướng "lên dốc" và hướng "xuống dốc!
Chúng ta cho
rằng nhờ có nguyên lý nêu trên mà hai hạt ở xa nhau mới có khả
năng tiến đến nhau hoặc tiến ra xa nhau được thôi. Khi hai hạt và ở cách nhau một khoảng
tương đối xa nào đó thì giữa chúng là hai con đường thẳng ảo “dốc xuống” từ hạt
này đến hạt kia và ngược lại làm chúng tiến về phía nhau. Vì hai con đường ảo
đó có độ dốc bằng nhau nên chúng cắt nhau tại điểm giữa khoảng cách của hai
hạt trái dấu, và đó cũng
là nơi mà chúng có thể gặp nhau. Tại sao lại chỉ là có thể mà không chắc chắn?
Tại vì chúng ta đã từng lý giải rằng nếu số lượng các hạt “tạo nên” con đường
dẫn hai hạt trái dấu cùng đến gặp
nhau là chẵn thì chúng mới gặp nhau để tương tác nhaubiến thành hai hạt được, còn nếu lẻ thì
chúng không thể tiếp xúc với nhau vì cùng bị chặn lại bởi cùng một hạt và do đó chúng hợp
thành một hệ xoáy không gian gọi là hạt (trung hòa về điện).
Có thể từ suy
lý mà đi đến nhận định: tương tác chuyển hóa - có tính cứng, đàn hồi,
còn chuyển hóa hủy cặp - có tính mềm, không đàn
hồi, do đó lực phát sinh trong tương táchủy cặp (gọi là lực tĩnh điện) cực đại, ký hiệu là ) rất có thể phải nhỏ hơn lực . Nhưng nhỏ hơn là bao nhiêu và có cách nào tính ra lực ấy
không? Có!
Khi hai hạt trái dấu tiến đến nhau
và cách nhau một hạt thì vì không thể có
khả năng tiếp xúc để “yêu thương” nhau được mà cũng không thể cứ “đứng ì ra đó”
được, nên lập tức chúng phải chọn cách: hạt này tiến xuống dốc “quanh co” đến
phía “sau lưng” hạt kia và đồng thời hạt kia cũng tiến xuống dốc “quanh co”
tương tự đến lưng hạt này, tạo ra một cuộc “theo đuổi” có lẽ là điên cuồng nhất
Vũ Trụ mà cũng vô vọng nhất Vũ Trụ.
Sự xoáy không gian
của nội tại hạt là tổng hợp của sự
xoáy nội tại của hai hạt trái dấu và sự quay
quanh nhau của hai hạt ấy. Khó mà hình dung được sự xoáy không gian ấy trong
thực tại ở tầng đáy cùng của Vũ Trụ vi mô, nhưng chúng ta tin rằng về mặt
nguyên lý, nếu đặt hạt trong không gian Ơclit
(Không gian của Vũ Trụ vĩ mô), thì mô hình của nó phải tương tự như minh họa ở
hình 5.
Hình
5: Mô hình hạt
Khi hạt chuyển động theo đường
thẳng (trong không gian Ơclit) thì trục xoáy của nội tại nó trùng với trục của
véc tơ vận tốc c. Nhưng khi nó chuyển động tròn quanh tâm O (xem hình 5), thì
vì vẫn phải đảm bảo lan truyền kịp thời để giải quyết “bài toán” trạng thái tột
độ nên vận tốc chu vi của nó vẫn phải bằng c. Muốn vậy, sự xoáy nội tại của hạt phải chuyển hóa sao
cho không có phần tử nào trong nội tại nó được chuyển động lớn hơn mà cũng
không được nhỏ hơn vận tốc c, nghĩa là trục xoáy của nó không còn trùng với trục của véc
tơ vận tốc cnữa mà phải lệch đi.
Lúc này có thể sự xoáy nội tại của hạt được thấy như là tổng
hợp của hai thành phần xoáy không gian, một xoáy có trục trùng với trục của véc
tơ vận tốc c, một xoáy có trục đi qua tâm hạt và vuông góc với trục
của véc tơ vận tốc c. Xoáy “mới” xuất hiện này có tác dụng chống lại “nguy cơ”
gây tăng, giảm vận tốc truyền trong nội tại hạt . Trên hình 5, chúng ta thấy hai hạt có vẻ như lăn chứ
không trượt trên bề mặt hạt .
Hai hạt trái dấu trên hình 5
quay quanh tâm O được là nhờ hiệu ứng điện thế xuất hiện “ràng buộc” chúng với
nhau, do chính chúng “hợp tác” tạo thành tuân theo nguyên lý ưu tiên lan truyền
điện tích, và cũng vì không thể tiếp xúc với nhau được, mà cũng không thể đứng
yên một chỗ được. Khi quay như thế, coi như mỗi hạt đều bị “ràng buộc” một
lực hướng tâm bởi tâm O, đồng thời cũng chịu một lực ly tâm cân bằng với lực
đó. Lực hướng tâm này chính là lực điện femà chúng ta đang tìm
cách xác định giá trị cụ thể của nó.
Trước hết,
chúng ta biết rằng, biểu thức tính gia tốc hướng tâm theo truyền thống là:
với: d1là đường kính biểu
kiến của hạt
r1là bán kính của nó
t1là thời gian chu kỳ
xoáy (còn gọi là thời gian riêng) của
Theo hình vẽ 5
thì:
d1=2do
với dolà đường kính của hạt và cũng là của hạt
Vì năng lượng
toàn phần của một thực thể KG chỉ tùy thuộc vào khối lượng của nó mà không phụ
thuộc vào tỷ số giữa đường kính (gọi là riêng) và thời gian riêng của nó, nên
có thể suy ra được:
t1=2to
Vậy lúc này:
Với gia tốc
này, và bằng cách nào đó triệt tiêu vận tốc chu vi ccủa hạt mà không làm ảnh hưởng
đến bất cứ yếu tố nào khác, thì hạt sẽ chuyển động tịnh
tiến theo hướng kính vế phía tâm O và khi O+ trùng với O thì đạt vận
tốc cực đại c'nào đó. Vì thời gian
đi hết quãng đường phải là t1/4hay to/2nên:
Đó là điều lạ
lùng vì không thể có c'>cđược? Thực ra c'chỉ là một giá trị ảo,
không thực, tương tự như vận tốc trong sự lan truyền
sóng ánh sáng, có thể lớn hơn vận tốc truyền sáng c. Trên hình 5, có thể thấy hình chiếu của quãng đường tròn (một
phần tư đường tròn tâm O) mà hạt đi được, trên đường
thẳng xuyên tâm 3 hạt KG là đoạn . Trên đoạn thẳng này, hình chiếu về sự chuyển động của hạt theo cung là
một chuyểnđộng nhanh dần, tăng vận tốc
từ đứng yên và đạt đến vận tốc cực đại ctại tâm O. Hình chiếu
chuyển động đó là một phản ánh phiến diện về một thực tại, cụ thể là về sự
chuyển hóa phương chiều vận tốc ctừ hướng thẳng đứng
sang hướng ngang, và chỉ ra tốc độ của sự chuyển hóa ấy là:
Để khi O+
trùng với O, tức là sau t1/4thời gian, có được:
Trước đây, chúng
ta đã từng nêu ra biểu thức gia tốc này và ngộ nhận cho rằng đó là cách viết
đúng. Bây giờ, chúng ta mới biết biểu diễn như thế là chưa chính xác. Dễ thấy,
khi xét tại thời điểm t1/8(hay to/4, vị trí A’ trên hình 5), vì góc lập giữa véc tơ vận tốc cvà véc tơ vận tốc
thành phần ngang c2của nó là , nên giá trị thực của c2là:
Trong khi tính
theo công thức nêu trên, sẽ cho ra kết quả:
Sự chênh lệch
về kết quả đó, không thể phủ nhận được: biểu diễn toán học về gia tốc a'ở trên có khiếm khuyết
trầm trọng. Cần thấy rằng, quá trình ảo tăng vận tốc từ giá trị 0 đến giá trị ctrên đoạn không phải đều đặn đơn
thuần như chúng ta đã tưởng. Do chuyển động thực của hạt là quay quanh tâm O
nên trong suốt quá trình ảo do phải chịu ảnh hưởng bởi sự biến đổi góc (cụ thể ở đây là giảm
dần giá trị từ đến 0) mà nhịp điệu
tăng vận tốc có khác đi. Như vậy, biểu thức tính a'phải được bổ sung thêm
“một chút” để có dạng như sau:
với: là vận tốc góc của quay quanh tâm O1 trên
đường tròn có đường kính d1.
là giá trị góc tại thời điểm t(ký hiệu )
Nếu viết biểu
thức đó theo do, tothì:
với
Rõ ràng là áp
dụng biểu thức trên để tính giá trị c2tại thời điểm hay , sẽ có được kết quả đúng với thực tế:
Khi đã biết các
thông số vật lý cần thiết về quá trình chuyển động biến đổi ảo của hạt trên đoạn rồi thì chúng ta cũng
có thể viết ra biểu diễn toán học về mối quan hệ xung lực – động lượng của hạt trong quá trình ấy như
sau:
Như chúng ta đã quan niệm thì chỉ khi một
vật tương tác với vật khác, lực của nó mới xuất hiện và triển khai tác dụng. Vì
vậy, trong trường hợp này, vế trái của biểu diễn trên không phải là một xung lực
thực sự, mà chỉ được coi là một xung lực ảo, hay một tiềm xung lực theo hướng
ngang, ẩn tàng trong nội tại hạt và thể hiện ra ngoài,
trước quan sát, bằng một động lượng theo hướng ngang của hạt tại thời điểm t’khi nó chuyển động
thực trên quĩ đạo tròn có tâm là O, có đường kính là d1(trong khoảng cung
tròn , vì biểu diễn toán học trên chỉ đúng trong
khoảng thôi, ngoài khoảng này
phải điều chỉnh lại mới phù hợp). Điều đó cho thấy tiềm xung lực F1..to, trong hiện thực, không hướng đến tâm O’ mà chỉ có hướng đến
vuông góc với đoạn . Sự hướng đó thực ra cũng chỉ là ảo và được chọn một cách
“tùy hứng”, hoàn toàn chủ quan của chủ thể quan sát trước khi tiến hành khảo
sát.
Từ biểu diễn ấy
có thể viết được:
Và thấy: F1.không bao giờ có thể
lớn hơn được , vì giá trị cực đại của t'trong trường hợp thiết
lập biểu diễn toán học này chỉ cho phép bằng , và chỉ khi đó mới tồn tại .
Sự phản ánh của
quá trình ảo về sự chuyển hóa vận tốc, hay động lượng của hạt “dẫn đến” sự chuyển
hóa về tiền xung lực trong nội tại nó mà chúng ta vừa khảo sát có mang ý nghĩa
đặc biệt nào không?
MIỀN TÂY HOANG DẠI Ước gì một lần về thuở ấy miến Tây Sống lầy lội những tháng ngày hoang dại Súng cặp kè hông, nhong nhong lưng ngựa Phóng khoáng thảo nguyên, đạn nổ ì đùng Ta sẽ về, rủ em gái theo cùng Đem tình yêu vào vòng đấu súng Và ngã xuống trong một lần anh dũng Để mai này định nghĩa lại...thằng khùng! Đã khùng rồi thì xá chi anh hùng Của một thời tìm vàng sôi động Người người xô bồ tìm giàu sang cuộc sống Để lại điêu tàn, bắn giết mênh mông! Ta ước thế nghe có rùng rợn không? Trần Hạnh Thu NHẠC HUYỀN THOẠI CAO BỒI VIỄN TÂY
(ĐC sưu tầm trên NET) Bản tin 113 online cập nhật ngày 2/5: Truy tố 254 bị can bị trong đại án sai phạm lĩnh vực đăng kiểm 🔴 TRỰC TIẾP: Thời sự quốc tế 3/5 | Nga tuyên bố khai hỏa Iskander, hủy diệt hai pháo HIMARS Ukraine Tin tức thời sự mới nhất hôm nay | Bản tin sáng ngày 5-3-2024 MỘT CÕI ĐI VỀ (Sáng Tác: Trịnh Công Sơn) - KHÁNH LY OFFICIAL Miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch Quốc hội đối với ông Vương Đình Huệ 9 giờ trước Khoảnh khắc tên lửa Nga công kích pháo HIMARS Ukraine 12 giờ trước Mong muốn Campuchia chia sẻ thông tin về Dự án kênh đào Funan Techo 10 giờ trước Gần 50 người chết trong vụ sập đường cao tốc ở Trung Quốc 10 giờ trước Lý do xuất khẩu của Trung Quốc sang Nga bất ngờ sụt giảm 8 giờ trước Ukraine nói Nga sản xuất tên lửa Zircon 'nhanh bất thường' 6 giờ trước Hàng chục nghìn người Gruzia tiến hành biểu tình lớn nhất từ trước tới nay 16 giờ trước Video 'rừng người' xem phương tiện chiến đấu bị Nga tịch thu ở chiến trường Ukraine 16 giờ trước U23 In...
I Only Want to Be with You - Dusty Springfield (Cover by Emily Linge) VẪN THẾ MÀ! Anh vẫn thế, trước sau vẫn thế mà Nhìn anh này, đừng nhìn phía trời xa Vẫn ngày ngày ra ngóng chờ trước của Đợi Nàng Thơ về tác hợp thi ca Tâm hồn anh có cửa đâu mà khóa Mà phải cùng em mở cánh cửa tâm hồn Anh tìm mãi nào thấy đâu ô cửa Toang hoác tứ bề, thông thống càn khôn* Còn trái tim anh vẫn êm đềm, yên ả Vẫn yêu quê hương, tổ quốc, con người Miền nhiệt đới khi thấy tim băng giá Chắc chắn là anh đã ngoẻo tự lâu rồi! Trần Hạnh Thu CT: * Trời đất
Nhận xét
Đăng nhận xét