TT&HĐ V - 45/b
Sự Thật Về Tâm Linh - Hướng Dẫn Về Thiền Định
"Khoa học là một sức mạnh trí tuệ lớn nhất, nó dốc hết sức vào việc phá vỡ xiềng xích thần bí đang cầm cố chúng ta."
Gorky
Gorky
"Cái khó hiểu nhất chính là hiểu được thế giới"
"Có hai cách để sống trên đời: một là xem như không có phép lạ nào cả, hai là xem tất cả đều là phép lạ".
Albert Einstein
“Chính qua cuộc đấu tranh nhằm thống nhất một cách hợp lý cái đa dạng
mà đã đạt được những thành công lớn nhất, dù rằng chính ý đồ đó có thể
gây ra những nguy cơ lớn nhất để trở thành con mồi của ảo vọng”.
Albert Einstein
“Người nhìn thấy cái đa dạng mà không thấy cái đồng nhất thì cứ trôi lăn trong cõi chết”.
CHƯƠNG VI (XXXXV): THỰC CHỨNG
“Tinh thần thời đại cũng có thể là một sự thực khách quan như bất cứ sự thực nào trong khoa học tự nhiên (…).
Do đó, hai quá trình, quá trình khoa học và quá trình nghệ thuật, không phải là rất khác nhau. Cả khoa học và nghệ thuật trong suốt nhiều thế kỷ đã tạo nên ngôn ngữ con người mà nhờ đó chúng ta có thể nói về những phần rất xa xôi của thực tại…”.
Do đó, hai quá trình, quá trình khoa học và quá trình nghệ thuật, không phải là rất khác nhau. Cả khoa học và nghệ thuật trong suốt nhiều thế kỷ đã tạo nên ngôn ngữ con người mà nhờ đó chúng ta có thể nói về những phần rất xa xôi của thực tại…”.
"Nếu bạn sinh ra trong nghèo khó, đó không phải là lỗi của bạn. Nhưng nếu bạn chết trong nghèo khó, thì đó là lỗi của bạn…".
"Cơ hội làm điều ác đến một trăm lần một ngày, và cơ hội làm điều thiện chỉ đến một lần trong một năm".
(Tiếp theo)
Trong
tương tác, khi vật lý siêu vi mô đã trở thành một bộ phận cốt yếu,
không thể thiếu được của vật lý học, thì cấu trúc, những qui luật vận
động của trường cảm ứng kích thích không gian nói trên, cũng như sự
tương tác giữa môi trường ấy với sinh linh, gây ảnh hưởng như thế nào
đến suy nghĩ và hành động của sinh linh, sẽ trở nên hoàn toàn sáng tỏ và
đồng thời cũng là nội dung chủ yếu của khoa học tâm linh. Đến lúc đó,
dựa vào lý thuyết “Dự đoán sinh mệnh”, trên cơ sở những tài liệu lưu trữ
về sự chu chuyển theo thời gian trong vận động của trường cảm ứng kích
thích không gian trên Trái Đất, cũng như những tài liệu thu thập được về
mặt tâm linh của một đứa trẻ nào đó và thân bằng quyến thuộc cả đã
khuất lẫn còn sống của nó chẳng hạn (như: ngày tháng năm sinh, sinh
quán, những đặc thù nổi trội trong hoạt động của não bộ…), người ta có
thể rút ra những kết luận xác xuất về tương lai của cuộc đời đứa trẻ đó.
Như vậy, sẽ đến một thời đại mà mỗi một con người, trước khi bước vào
đời, đều “lận lưng” được một hồ sơ “dự đoán sinh mệnh” tương đối chi
tiết của mình, có mức độ chính xác cao hơn nhiều so với bói mệnh chiêm
tinh hay tử vi ngày nay, để từ đó mà có hướng tích cực điều chỉnh cải
tạo linh hồn mình làm giảm thiểu những xui rủi, bất trắc trong cuộc đời
mình, từ đó mà nâng cao được chất lượng cuộc sống. Chúng ta còn tin vào
thời đại đó, một trong vài cách thức điều chỉnh, cải tạo linh hồn đạt
hiệu quả cao, đó là một tổng hợp thực hành tu tập, được rút tỉa ra từ
những tinh túy của yoga và khí công, đưa vào nghiên cứu đến tường tận
rồi chỉnh lý, phát triển nâng cao hơn nữa và cuối cùng đúc kết lại thành
bài bản dưới tên gọi (tạm lấy tên cũ!): “Khí công thiền pháp”…
Chẳng
có bất cứ một điềm báo nào, chỉ “đùng một cái”, sau 15 năm không hề mảy
may ngó ngàng gì tới nữa, chúng ta lại đột ngột nổi cơn mê mẩn thơ ca
và sự mê mẩn ấy vẫn còn nguyên vẹn cho đến lúc này. Vì không thể tìm ra
được một nguyên nhân khả dĩ nào làm xảy ra sự kiện “quay ngoắt” lại với
thơ ca đầy bất ngờ ấy, chúng tà đành phải “đổ vấy” cho sự tác động tâm
linh.
Xưa
kia, chớm bước vào tuổi thanh niên, vì yêu thương mà chúng ta đã chủ
động đến ve vãn nàng Thơ. Tình yêu thời trai trẻ, khi đã bốc lên rồi
thì bao giờ cũng hừng hực. Cái hừng hực ấy, cộng với sự bồng bột pha
lẫn ngại ngùng xấu hổ đã làm cho sự ve vãn của chúng ta trở nên bộp
chộp, vụng về và do đó mà cũng ngớ ngẩn, khờ khạo. Ve vãn kiểu gì mà cứ
chạy vòng quanh, cứ lấp ló, thập thò ở cách xa lắc, khoa chân múa tay
phô diễn những cử chỉ, điệu bộ không giống ai, gây ngạc nhiên, vui vẻ
là nhiều chứ tình thì chẳng thổ lộ được bao nhiêu? Cho nên nàng Thơ
chẳng hiểu được đó là sự ve vãn tỏ tình, do đó mà cũng chẳng mảy may
động lòng, cứ giương cặp mắt xanh biếc thơ ca và rợp mát mộng mơ nhìn
chúng ta quay cuồng rồi cười lên khanh khách, thích thú vì tưởng rằng
người trai đang hồn nhiên vui nhộn và rõ ràng là có năng khiếu diễn…
hề.
Nàng
Thơ không có nét đẹp lộng lẫy của cao sang, đài các, cũng không có cái
nét đẹp tinh khôi, tươi thắm của thôn xóm, đồng quê. Nói chung, hình hài
dáng vóc nàng trước những cặp mắt trần tục và cả những cặp mắt chuyên
chấm thi hoa hậu. trông… thường thôi, chẳng có chút gì gọi là sắc sảo.
Ấy vậy mà đối với những anh chàng đa sầu đa cảm, nàng lại có một sức hút
đến mê hồn.
Lúc
đầu thoạt ngắm nhìn, chúng ta cũng thấy Thơ chẳng có gì đáng được gọi
là hấp dẫn, thậm chí còn hơi xấu nữa là đằng khác. Tuy nhiên dần dà, cảm
nhận của chúng ta về Thơ thay đổi lúc nào không biết. Trong Thơ tiềm ẩn
một điều gì đó rất lạ, ngày một quyến rũ chúng ta, làm cho lòng chúng
ta xao động mỗi khi thấy Thơ, gây ra nỗi buồn nhớ trong thời gian xa
Thơ. Rồi có một lần chúng ta nhìn trộm sau lưng Thơ, đang chăm chú đến
mái tóc dài mượt mà mới gội để xõa ra, dài đến ngang lưng thì Thơ đột
nhiên quay ngoắt lại. Không kịp phản ứng và cũng để tỏ ra một trang nam
nhi không thèm ngó trộm, chúng ta giương mắt nhìn thẳng vào mắt nàng.
Thế là lần đầu tiên hai người nhìn nhau không chớp. Khoảng thời gian
nhìn nhau đó không lâu, chắc chỉ chục giây mà sao lúc đó cứ như chìm đắm
trong hàng thế kỷ. Sau khi bừng tỉnh, chúng ta nhoẻn cười gượng gạo,
nói lảng một cách lãng nhách: “Tóc Thơ… nhiều quá!”, Thơ cụp hàng mi
cong mướt rồi từ từ quay về lại phía trước, nét mặt bình thản, không hề
có một chút biểu cảm gì. Còn chúng ta thì bị hớp hồn từ đó bởi ánh mắt
trong veo, sâu lắng, miên man và thoáng buồn ấy. Cũng từ đó, chúng ta cố
ve vãn Thơ và vì không dám thổ lộ bằng lời nên cứ tìm cách lảng vảng,
lượn vòng quanh Thơ, làm đủ trò hòng bày tỏ tình yêu thầm kín của mình.
Hiệu
quả đạt được sau một thời gian dài “hùng hục” ve vãn kiểu “trẻ người
non dạ” ấy là chúng ta thành kẻ mất hồn thực sự, còn nàng Thơ thì vẫn:
“trơ như đá, vững như đồng”, vẫn ngồi thản nhiên nhìn chúng ta dở đủ mọi
trò ngớ ngẩn bằng đôi mắt ánh lên niềm vui trên cái nét thoáng buồn cố
hữu, miệng nhoẻn cười, lâu lâu lại bật lên thành tiếng khanh khách.
Một
vở kịch dù có hay đến mấy mà cứ xem đi xem lại hoài thì rồi cũng chán.
Có lẽ vì thế mà cuối cùng nàng Thơ không còn để ý đến những “sô diễn”
của chúng ta nữa. Đau đớn nhất là Thơ còn thì thầm với một người bạn và
lọt đến tai chúng ta: “Tính khí gì mà bốc đồng còn hơn con nít! Hình như
nó bị tưng tửng thì phải…”.
Câu
nói ấy của Thơ đã như một mũi dao nhọn hoắt xuyên thấu khối tình si một
chiều và do đó mà “công cuộc” ve vãn nhằm cố tỏ tình nhưng hầu như chỉ
có tác dụng “mua vui” của chúng ta cũng kết thúc một cách… chưng hửng.
Tuy nhiên, chính câu nói: “… bớt múa may loạn xạ, hô hoán ồn ào đi!” của
thằng bạn mới làm cho tinh thần của chúng ta suy sụp hẳn, tình yêu say
đắm nàng Thơ của chúng ta thực sự chết tốt, hết cả mơ mòng, hết cả vấn
vương, hết luôn cả niềm hứng khởi trước thơ, ca, nhạc, họa…
Sự
giận hờn nổi lên cuồn cuộn bởi lòng kiêu hãnh bị thương tổn đã nhanh
chóng dập tắt ngúm ngọn lửa tình đang cháy rừng rực. Ngay cả cái ánh mắt
lung linh, diệu vợi từng một lần soi rọi (tưởng lâu hàng thế kỷ) đến
tận cùng sâu thẳm nỗi nhớ niềm thương trong tâm khảm chúng ta và đọng
lại ở đó, phát ra những sắc màu óng ánh tưởng chừng như không thể hủy
hoại được, cũng không còn lấy một chút le lói nào. Đối với kẻ đa sầu, đa
cảm thì phải chăng đó là điều kỳ diệu?
Khi
tình yêu cuồng si, da diết đến sướt mướt nàng Thơ của chúng ta đã hoàn
toàn tan biến, ráo hoảnh thì cũng là lúc chúng ta bước vào đời.
Hình
như những kẻ đa sầu, đa cảm đều có sẵn lòng nhún nhường, lượng thứ. Do
đó, trong cái xã hội mà tình yêu thương đồng loại đã ít nhiều bị nguội
lạnh đi bởi mức độ thèm khát kim tiền đã bị kích hoạt lên và bắt đầu
thái quá (thể hiện ra như: nạn tham quan lại nhũng đã trở nên phổ biến,
sách nhiễu mãi lộ hầu như công khai, xảy ra khắp nơi, ngay cả trong hai
ngành nghề được cho là cao đẹp nhất là chữa bệnh cứu người (ngành y) và
truyền thụ văn hóa, văn minh (ngành giáo dục) và lượng kim tiền chiếm
hữu được đã đóng vai trò như một thước đo quan trọng bậc nhất về danh
giá con người, những kẻ đa sầu đa cảm cũng thường phải chịu lép vế,
thiệt thòi trên con đường hoạn lộ mưu cầu công danh và nhất là phải trải
qua nhiều dằn vặt, buồn đau.
Sau
15 năm dấn thân trong trường đời, bôn ba đi tìm hạnh phúc và nỗ lực bon
chen cố kiếm chút công danh, chúng ta trở thành một người đàn ông, mà
nếu xét về mặt hạnh phúc thì có được một “gánh nặng” gồm người vợ hiền
và hai đứa con gái nhỏ xinh, còn nếu xét về mặt công danh thì là “thủ
lĩnh” của một gia đình “nghèo mạt rệp”. Theo đánh giá thông thường trong
xã hội kim tiền thì đó là một thất bại hoàn toàn.
Tuy
nhiên, chúng ta không cho là như vậy. Dù rằng, về công danh, đúng là
chúng ta hoàn toàn chẳng sơ múi được gì, về mặt lợi lộc vật chất cũng
chẳng kiếm được chút “cơm cháo” nào gọi là để dành “tích cốc phòng cơ”,
thậm chí còn không đủ độ nhật, luôn “thiếu trước hụt sau”, và về lợi ích
tinh thần thì đã phải chịu biết bao nhiêu những dằn vặt, muộn phiền,
đắng cay, u uất, trong đời sống và công việc. Những đổ vỡ, thương tổn,
khổ tâm đến đau đớn trong niềm tin và kỳ vọng vào mình, vào người và vào
xã hội trong suốt 15 năm “bâng khuâng đi tìm lẽ yêu đời” ấy, và cũng
chính nhờ thế, nghĩa là nhờ được quan chiêm đủ mọi tình cảnh hỉ, nộ, ái,
ố xảy ra trong trường đời, nhờ bản thân được trải nghiệm và thấm thía
sự bần hàn, túng quẫn nhiều khi đến cùng cực trong quá trình nỗ lực tìm
hướng lập thân giữa một xã hội đang trong tình trạng hoang mang và cũng
đầy cạm bẫy, chông gai, mà chúng ta đã có được một tinh thần bình tĩnh
hơn, sáng suốt hơn, kiên định hơn, lạc quan hơn, đồng thời tâm hồn chúng
ta cũng đồng cảm hơn, rộng lượng hơn, cao thượng hơn, nhân hậu hơn, và
điều đặc biệt là chúng ta đã rút ra được một kết luận tối quan trọng:
chúng ta quá ư là vô phước, vô duyên với công danh, có cách nghĩ, cách
hành động và nhiều quan niệm lạc lõng, hoàn toàn không thích hợp với lối
sống chốn quan trường.
Chính
cái kết luận ấy đã “dìu dắt” chúng ta đi đến quyết định có tính “cách
mạnh”. Và “cuộc cách mạng” chỉ xảy ra và kết thúc trong đúng có 3 ngày,
dẫn đến không phải thành công hay thất bại gì, mà là sự “quay ngoắt” đột
ngột theo hướng khác của một cuộc đời. Chúng ta còn nhớ ngày đầu tiên
là ngày chủ nhật. Sáng hôm đó, vợ chồng đang ngồi nói chuyện với nhau về
“cơm, áo, gạo, tiền”, bàn bạc và hoạch định lại cách chi tiêu tiền
lương sao cho hợp lí, có thể tích cóp được chút đỉnh phòng khi có chuyện
phải cần đến. Đang bàn tính, vợ buột miệng có ý than thở: “Ông mà là
đảng viên (Đảng Cộng sản Việt Nam, thời đó phải là đảng viên, thậm chí
không cần bằng cấp chuyên môn, mới được làm thủ trưởng đơn vị như:
trưởng phòng, giám đốc… trong các cơ quan do nhà nước quản lý, và hầu
như chỉ tồn tại loại cơ quan này vì hình thức tư bản tư nhân vẫn còn bị
cấm chỉ. Có lẽ vì vậy mà tính “vì dân” trong phấn đấu vào Đảng sau này
không còn nữa mà chỉ còn vì tư lợi, quyền lực, nghĩa là từ đó mục đích vào Đảng đã
bị chủ nghĩa cơ hội thao túng. Đây phải chăng là một sai lầm trong công
tác xây dựng Đảng với quan niệm sai lầm về chuyên chính vô sản?! Đây phải chăng là câu trả lời xác đáng nhất là vì sao mà bè lũ tham nhũng hiện nay toàn là đảng viên của đảng Cộng sản?!) thì đã
lên trưởng phòng, tăng thêm được chút lương cũng đỡ. Cái thằng đó mới
về làm chưa đầy một năm mà đã được kết nạp Đảng, giờ là trưởng phòng, lẹ
thiệt! Chắc ông bị “đì” rồi còn gì!...”. Câu nói “phang ngang” của vợ
có lẽ chỉ vô tình chứ không có ý trách cứ, chê bai, bóng gió gì. Ấy vậy
mà nó làm cho chúng ta nhức nhối rồi nổi điên tiết: “Bà thì biết cái
quái gì! Chú ruột nó là vụ trưởng…”. Gầm gừ đến đó thì chúng ta chững
lại, quay sang nhìn hai đứa con gái đang chụm đầu say sưa với trò chơi
sắp hình, chìm vào im lặng. Không, lúc đó chúng ta không hề giận vợ,
cũng không phải tự ái, mà buồn cho thân phận mình, thương vợ con mình có
một người chồng, người cha bất lực, chẳng làm nên trò trống gì và cảm
thấy tức thở vì sự trào dâng uất ức bấy lâu đã cố ghìm nén trong lòng.
Uất ức ấy nảy sinh, oái oăm thay, là từ sự thấu hiểu được vì đâu mà nên
nỗi! Chao ôi, tình đời!
Cái
quyết định đổi đời đã như một tiếng sét ngang tai, rất đanh và rền
vang: “Nghỉ việc! Rời bỏ ngay cái “chính trường” mà suốt 15 năm đem hết
năng lực ra phấn đấu một cách chính trực vẫn không có được một chỗ
đứng khả dĩ ổn định để có thể hướng tới một tương lai sáng sủa hơn.
Chúng ta đã "ngộ" ra: đó là một xã hội mang nhiều hoang mang mà nếu là
xã hội xã hội chủ nghĩa thì dứt khoát không theo nghĩa như chúng ta
nghĩ khi còn ngồi trên ghế nhà trường Dứt khoát phải ra đi! Dứt khoát
phải quay về với dân dã, đời thường, vì đó mới chính là nơi chốn, là nơi
chúng ta thuộc về nó, cái nơi từ lâu mở rộng vòng tay đón mà trước đây
vì mù quáng, chúng ta đã không nhận ra! Và phải gấp lên mới được!”.
Với
quyết định đó, chúng ta nhoẻn cười, nói chậm rãi và mạch lạc cho vợ
nghe: “Em à, chắc phải tìm cách khác, chứ sống như thế này bấp bênh lắm!
Mai, tôi xin nghỉ việc cơ quan ra ngoài kiếm việc khác làm!”. Vợ chúng
ta là một người phụ nữ ít lời, lành tính, chiều chồng và “biết tỏng”
chúng ta khi đã “quyết” điều gì rồi thì như dao chém cột, nên vẫn ngồi
im thin thít, chỉ có đôi mắt là giương lên tròn xoe nhìn chúng ta không
chớp, có vẻ thảng thốt, âu lo.
Thế
là đơn xin nghỉ việc được thảo xong ngay chiều chủ nhật và đến sáng thứ
hai thì đã “có mặt” trước mũi ông trưởng phòng tổ chức của cơ quan, nơi
chúng ta đang làm việc. Ông này cũng tròn xoe mắt nhìn chúng ta: “Có
chuyện gì thế? Sao lại nghỉ?...”. Chúng ta đáp lại nhỏ nhẻ, có phần rụt
rè: “Dạ, thưa anh! Nghỉ việc nơi này, kể cũng rất tiếc! Nhưng đành phải
vậy, vì hoàn cảnh gia đình em…”. Ông trưởng phòng tổ chức cắt ngang:
“Thôi được rồi!... Mà nghĩ kỹ rồi phải không?... Để tôi trình giám đốc
đã… Chiều mai, khoảng 2 giờ cậu ghé lại đây…”.
Tin
chúng ta xin nghỉ việc lan ra rất nhanh trong cơ quan. Bạn bè của chúng
ta thực sự lo lắng vì thời buổi đó viên chức lao động gián tiếp, ngồi
bàn giấy, bỏ nhà nước ra ngoài rất khó kiếm sống. Những kẻ không ưa
chúng ta thì xầm xì: “Nghỉ việc rồi thì có bốc cứt mà ăn. Rồi cũng phải
xin vào làm lại thôi!”. Còn vài kẻ ganh ghét chúng ta thì nói toẹt: “Ngữ
đó mà làm được gì! Kệ đi,khuyên can làm gì, cho nó chết!”.
Chiều
thứ ba, đúng hẹn, chúng ta ghé. Ông trưởng phòng đi đâu mất. Cô nhân
viên nói, ông có dặn nếu chúng ta tới thì bảo đợi một chút. “Một chút”
của ông trưởng phòng tổ chức là một tiếng rưỡi! Thời đó, không cần biết
đến thuyết tương đối hẹp của Anhxtanh, người dân Việt Nam ai mà không
biết thời gian co giãn được như sợi dây cao su, thậm chí là còn co giãn
“thoải mái” hơn thời gian của Anhxtanh nữa, co giãn vô tội vô vạ!
Chúng ta cũng quá biết rồi nên bình tâm rít thuốc chờ đợi, chẳng sốt
ruột gì. Đúng 3 giờ rưỡi thì ông về (cũng may(!), ông ta mà đi “suốt”
luôn thì cũng phải chịu chứ làm gì được?). Mặt ông đỏ gay (chắc là đã
“ực” cả lít bia “đối chứng” ở quán bên kia đường chứ không ít!). Có lẽ
vì men bia mà ông trở nên ồn ào, vồn vã: “Cái cậu này lạ đời, đang ở
trong “biên chế” ngon lành, người ta phải… (chắc định nói hai tiếng
“tốn tiền” nhưng kịp “hượm” lại?!) khó khăn lắm mới xin vào được, ấy
thế mà đùng đùng xin nghỉ!... Thời buổi khó khăn này, dân trí thức,
nghề ngỗng không biết, ra ngoài lấy gì mà ăn, rõ là dại dột!... Tôi trả
lại đơn cho cậu nhé?...”. Chúng ta chưa kịp mở miệng thì ông nói tiếp
luôn: “Nói thế thôi chứ cậu có muốn nghỉ cũng không nghỉ được đâu! Tôi
đã trình giám đốc, ông ấy nói cơ quan vẫn đang cần cậu nên không giải
quyết, nếu cậu nghỉ ngang, sẽ không nhận được bất cứ chu cấp, trợ cấp
nào theo chế độ và cũng không được nhận lại hồ sơ, lý lịch cá nhân của
cậu. Giám đốc còn dặn tôi rằng, cơ quan đồng ý cho cậu nghỉ một tuần ăn
lương để tĩnh trí lại rồi tiếp tục đi làm. Ưu ái cậu đến thế còn
gì!... Thôi nhé, về xả hơi, hú hí với bà xã đi!... Thứ ba tuần sau có
mặt, nhớ đấy!...”. Ông bắt tay chúng ta chào tạm biệt rất chặt, biểu lộ
sự chân tình và mãn nguyện vì (chắc là theo ông nghĩ) đã kịp thời chặn
đứng được một “cú tự tử” lãng nhách…
Phải
nói rằng, ông trưởng phòng tổ chức là một người tốt, được nhiều người
trong cơ quan yêu mến, kính trọng. Ông có lối sống ngay thẳng, khoáng
đạt, có cách nói rổn rảng. tuồn tuột, có vẻ tỉnh bơ nhưng nếu ai biết,
sẽ thấy trong đó chứa chất tính chân thực ân tình thường thấy ở người
"chân đất". Nghe nói ông đã từng là tiểu đoàn trưởng bộ binh Quân Giải
Phóng, có mặt trong hầu hết những trận đánh lẫy lừng ở địa bàn
Nam Bộ thời Chống Mỹ, cứu nước, bị thương trong chiến dịch giải phóng
tỉnh Phước Long. Sau ngày Thống nhất đất nước, ông xuất ngũ và được điều
về làm trưởng phòng tổ chức của cơ quan này.
Khi
chào ra về, chúng ta đã thầm cảm ơn lòng tốt của ông trưởng phòng tổ
chức và chỉ thế thôi chứ tin chắc sẽ chẳng bao giờ còn quay lại cái cơ
quan ấy nữa. Ông trưởng phòng tổ chức lúc đó, đâu thể ngờ được rằng, tờ
đơn xin nghỉ việc của chúng ta không phải là “thành quả” của một cơn bốc
đồng thiếu suy nghĩ, mà là của cái kết luận quan trọng, rút ra được sau
15 năm “ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh”, đang nung nấu tức tưởi tâm
can thì bị câu nói “phang ngang” như một định mệnh của người vợ kích
động, gây bùng nổ.
Ngày
đầu tiên thoát ra hẳn cái vòng quay đơn điệu, tẻ nhạt đến nhàm chán:
“sáng vác ô đi, tối vác về”, cũng như “đào ngũ” khỏi lực lượng “biên
chế” của nhà nước, chúng ta tưởng sẽ thoải mái, vui vẻ lắm, nhưng không
phải. Khi con đã đi nhà trẻ, vợ đi làm thì căn phòng trở nên vắng lặng.
Sự vắng lặng ấy lúc đầu cũng làm cho tâm trạng của chúng ta thấy nhẹ
nhõm, thảnh thơi thật, nhưng dần dần (những lúc rảnh rỗi ngồi không, hay
chờ đợi con, người ta thường có cảm giác như thời gian trôi chậm chạp
hẳn!), xuất hiện xen lẫn cả sự trống trải, hơi hụt hẫng, hơi tiêng tiếc,
loáng thoáng buồn và loáng thoáng âu lo. Có lẽ ai tự nhiên “đùng đùng”
bỏ công việc nói chung là ổn định với đồng lương ở mức trung bình của
thời ấy, trong khi hoàn cảnh kinh tế gia đình thật sự eo hẹp, khó khăn,
cũng đều có cái tâm trạng “tạp pí lù” (thập cẩm, đủ thứ hằm bà lằng) như
thế cả.
Chúng
ta cũng dự định nghỉ ở nhà một tuần, theo đúng “hoạch định” kiểu gia ơn
(và cũng có thể là mua chuộc) của ông giám đốc cơ quan mà chúng ta vừa
rời bỏ, rồi sau đó mới bắt đầu “vào đời lần thứ hai” đi tìm việc làm ở
các cơ sở tư nhân nhỏ, lẻ (được che đậy bằng những nhãn mác mang danh sở
hữu tập thể như “tổ hợp”, “hợp tác xã”…). Để tránh né đi cái tâm trạng
“thảng thảng, thốt thốt” ấy, chúng ta lôi hết đống giấy tờ, sách vở có
thể chất đầy một tủ quần áo cỡ bự, đã thu thập, tích lũy, giữ gìn được
trong suốt gần chục năm trời ra, thu dọn, loại bỏ bớt, sắp xếp lại cho
gọn. Cứ nghĩ chỉ cần một ngày thong thả là xong công việc, ai dè phải
kéo lê thê đến ba ngày.
Không
phải tốn thời gian nhiều như thế là vì khối lượng công việc “đồ sộ” mà
vì công việc cứ bị gián đoạn. Dỡ cái đống “ấp lủng” giấy tờ sách vở sau
bao nhiêu năm không ngó ngàng tới đó ra thì kỷ niệm đồng thời cũng trỗi
dậy, những năm tháng dĩ vãng ùn ùn lũ lượt hiện về, làm cho chúng ta
phải ngừng tay, ngồi thừ ra đó như mất hồn đến một hồi mới sực tỉnh lại
được để tiếp tục công việc.
Dù
có chậm chạp thì công việc cũng đến hồi hoàn tất. Khi chúng ta đang gom
cái phần giấy tờ, sách vở bị thải loại để buộc gọn lại cho “vợ bán ve
chai” thì vô tình thấy một tờ giấy khổ A4 gấp làm đôi, đã ố vàng. Tò mò
vì sợ quăng đi thứ cần lưu giữ lại nên chúng ta nhặt nó lên và mở ra
xem. Thật là hết sức bất ngờ! Té ra đó chính là bài thơ cuối cùng, “hay
nhất” mà chúng ta đã viết xưa kia, vào cuối thời hoa niên và từ lâu rồi,
những tưởng đã vĩnh viễn thất lạc.
Nhặt
lại được bài thơ ấy chỉ là sự tầm thường vô tình, nhưng nhặt được trong
cái bối cảnh chuẩn bị tinh thần để “bước vào đời lần thứ hai” với một
tâm trạng không chút hồ hởi mà cũng không chút bi lụy, thì lại là sự bất
thường, hữu ý và hơn nữa, có hơi hướng tâm linh. Sau này, có lần chúng
ta đã nghĩ như vậy và hơn nữa, còn cho rằng đó chính là thời điểm nàng
Thơ đã thì thầm trong tiềm thức của chúng ta thông qua thần giao cách
cảm: “Ngày xưa em cũng biết tình anh đối với em tha thiết lắm. Nhưng vì
anh còn trẻ người non dạ quá mà em không thể theo “nâng khăn sửa túi”
cho anh được vì sớm muộn gì cuộc tình nông nổi ấy, nếu có thành ra thì
cũng sớm đổ vỡ mà thôi. Bây giờ, khi anh đã “thấm thía” cuộc đời đến độ
“chín muồi” thì anh lại… có vợ mất rồi nên em cũng không thể về với anh
được. Hôm nay em hiện ra dưới dạng bài thơ “hay nhất” mà anh viết hồi đó
để khuyên anh quay lại với thơ ca và lúc này là lúc khởi đầu hợp ý
nhất. Dù không thể trực tiếp “mớm lời” thì bằng cách gián tiếp, em sẽ cố
gắng trợ giúp. Hãy quay lại “quấn quít” với thơ ca anh nhé! Rồi anh sẽ
thấy thơ ca chính là đôi cánh diệu kỳ giúp cho tâm hồn con người bay
ngày một cao, một xa, đến khắp góc bể chân trời trong thế giới mộng
tưởng và khi đó tâm hồn mới có cơ may đạt đến sự toàn ngộ về thế thái,
sự toàn thiện toàn mỹ về nhân tình!...”
Thời
gian đã làm cho nét mực nhạt nhòa, nhưng vẫn còn đọc được. Lúc đó,
chúng ta đã đọc đi đọc lại bài thơ đến cả chục lần với siết bao bồi hồi,
xúc động. Một thời gian sau, chúng ta chép nó lại vào một cuốn sổ mới,
có thay đổi lại vài từ cho bớt “nổ” và thuộc làu làu cho đến tận bây
giờ. Đây này:
TUYÊN NGÔN
Sống có nghĩa như ngọn đèn thao thức
Trăn trở đời mình cố tỏ canh thâu
Sống có nghĩa biết cười vào số phận
Đêm tối càng đen càng lấp lánh vì sao.
Sống có nghĩa biết từ trong bùn đất
Tha thiết vươn lên, bát ngát tình yêu
Sống có nghĩa là giao hòa nảy nở
Gieo hạt giống vàng, chín rộ mùa sau.
Sống có nghĩa khi trở về cõi chết
Hiến lại cho đời một chút phù sa
Để những mầm sau lên tràn trề sinh lực
Cho Trần Gian này mãi tươi thắm lá, hoa…
Có
lẽ phần chủ yếu làm cho chúng ta xúc động mạnh là nội dung bài thơ. Bài
thơ được sáng tác ra từ 15 năm trước hình như không phải dành cho cuộc
“vào đời lần thứ nhất” mà như một điềm báo trước về sự xuất hiện cuộc
“vào đời lần thứ hai”. Điều bất ngờ nhất là bài thơ đó sau khi được sinh
ra, chưa một lần cất tiếng rành rọt thì nhanh chóng bị ruồng bỏ và biệt
tăm trong quên lãng, lại đột nhiên xuất hiện, cất tiếng dõng dạc, ngân
nga và vang vọng vào thời khắc rất cần sự an ủi, động viên tinh thần
trước cuộc xông pha không thể quay lui, có tính “quyết tử” để “quyết
sinh” và đồng thời cũng là để tự tôn trước người đời, bảo toàn phẩm giá.
Sự
xuất hiện cực kỳ đúng lúc của bài thơ “hay nhất” tưởng đã thất lạc làm
rúng động cõi lòng chúng ta và trong chốc lát, chúng ta đã thấu tỏ đến
chân xác cái tuyệt vời mà thơ ca hàm chứa. Thế là tình yêu thơ ca lại
trỗi dậy dào dạt trong tâm can.
Chúng ta quay về với thơ ca như vậy đó!
(Còn tiếp)
---------------------------------------------------------------
---------------------------------------------------------------
Nhận xét
Đăng nhận xét