"Có hai cách để sống trên đời: một là xem như không có phép lạ nào cả, hai là xem tất cả đều là phép lạ".
Albert Einstein
“Chính qua cuộc đấu tranh nhằm thống nhất một cách hợp lý cái đa dạng
mà đã đạt được những thành công lớn nhất, dù rằng chính ý đồ đó có thể
gây ra những nguy cơ lớn nhất để trở thành con mồi của ảo vọng”.
Albert Einstein
“Người nhìn thấy cái đa dạng mà không thấy cái đồng nhất thì cứ trôi lăn trong cõi chết”.
“Lực hút cũng như lực đẩy,
là thuộc tính cơ bản của vật chất.”
“Hấp dẫn cần phải được gây
ra bởi một tác nhân thường xuyên tác động theo một qui luật nào đó, nhưng tác
nhân này là vật chất hay phi vật chất thì tôi xin dành cho bạn đọc suy nghĩ.”
Niutơn
"Không xiềng xích hay thế lực bên ngoài nào có thể ép buộc tâm hồn của một người tin hay không tin."
"Tất cả vinh quang đều đến từ sự dám bắt đầu". Eugene F Ware
"Tất cả mọi người đều mơ; nhưng không như nhau. Những người mơ về đêm,
trong những ngóc ngách sâu kín lờ mờ của tâm trí, khi thức giấc vào ban
ngày mới nhận ra đó là ảo ảnh; nhưng những người mơ vào ban ngày mới là
đáng gờm, vì họ có thể thực hiện giấc mơ của mình với đôi mắt mở to, để
biến chúng thành hiện thực". T.E.Lawrence
"Ước mơ giống như những vì sao… ta có thể không bao giờ chạm tay vào
được, nhưng nếu đi theo chúng, chúng sẽ dẫn ta đến vận mệnh của mình". Samuel Johnson
"Tôi được ban cho sự nhận thức về định mệnh của chính mình. Tôi chưa bao
giờ tự hạ thấp bản thân. Tôi chưa bao giờ đánh giá mình theo tiêu chuẩn
của người khác. Tôi luôn trông đợi nhiều ở chính mình, và nếu tôi thất
bại, tôi thất bại chính mình". Sophia Loren
"Tự tin là điều kiện đầu tiên để làm được những việc lớn lao". Samuel Johnson
"Hãy mơ ước bất cứ điều gì bạn muốn mơ. Đó là vẻ đẹp của trí tuệ con
người. Hãy làm bất cứ điều gì bạn muốn làm. Đó là sức mạnh của ý chí con
người. Hãy tin tưởng vào bản thân để thử thách những giới hạn của mình.
Đó chính là lòng can đảm để thành công". Bernard Edmonds
"Không ai biết sau đó mọi chuyện sẽ xảy ra như thế nào nhưng
chúng ta vẫn đi về phía trước. Bởi vì chúng ta có lòng tin và
sự trung thực" Paulo Coelho
"Muốn hiểu Vũ TRụ này, phải hoang tưởng mãnh liệt. Muốn hoang tưởng mãnh liệt, phải có niềm tin". NTT
(Tiếp theo) Đã gọi là hành tinh của sao thì quay quanh
sao và có nguyên nhân từ quá trình hình thành, chiều quay của hành tinh cũng
(thường là) cùng chiều với chiều xoay của sao. Khi hành tinh quay ổn định quanh
sao thì có nghĩa rằng nó đã tạo ra một lực ly tâm với lực kéo về phía sao.
Nhưng do sự “ràng buộc” giữa sao và hành tinh bởi hiệu ứng hấp dẫn nên ở tâm
sao cũng phải xuất hiện một lực cân bằng với lực kéo sao về phía hành tinh.
Tình hình ấy làm cho sao và hành tinh hợp thành một hệ cân bằng cơ học, xoay ổn
định nhận điểm O làm tâm. Tâm này cách O1 một khoảng là x(và x=O1O=O2O’). Gọi khối lượng của sao là m1, của hành tinh là m2; biết khoảng cách giữa O1 và O2 là r, thì có thể biểu diễn toán học về mối quan hệ cân bằng (hay
bình đẳng) của hệ thống, đó là:
m1x=m2(r-x)
Từ đó rút ra được:
Gọi vận tốc chu vi của hành tinh là vthì:
với Tlà chu kỳ quay của
hành tinh
Như vậy, gia tốc hướng tâm của hành tinh
là:
Từ đó mà xác định được lực hướng tâm:
Tương tự, chúng ta cũng xác định được lực
hướng tâm tác động lên trọng tâm của sao. Trước hết, gia tốc hướng tâm tại đó
phải là:
Do đó, lực hướng tâm của sao là:
Rõ ràng, hai lực hướng tâm ấy bằng nhau
về độ lớn, trùng phương nhưng ngược chiều. Có thể chọn ký hiệu chung cho hai
lực ấy là Fh, và gọi là lực hấp dẫn của vật này lên vật kia do hiệu ứng
hấp dẫn giữa chúng gây ra.
Đến đây, nhiệm vụ quan trọng nhất của
chúng ta là phải đưa công thức tính lực hấp dẫn về dưới dạng mà Niutơn đã xác
định. Muốn thế, trước tiên, chúng ta thực hiện một biến đổi nhỏ như sau:
Từ lâu, trên cơ sở các số liệu đo đạc
thiên văn, Keple đã nêu ra ba định luật quan trọng về chuyển động của các hành
tinh xung quanh Mặt Trời, trong đó có định luật thứ ba mà sau này biểu thức
toán học chính xác của nó được xác định nhờ lời giải “bài toán hai vật”. Biểu
thức đó là:
với: Tlà chu kỳ quay của
hành tinh m2
alà bán kính trục lớn khi
quĩ đạo chuyển động của hành tinh là hình elíp
Glà hằng số hấp dẫn
Trong trường hợp quĩ đạo hành tinh là
đường tròn thì ađóng vai trò là bán kính
của nó. Ở đây a=r.
Biến đổi biểu thức trên một chút thì viết
được:
Và công thức tính lực hấp dẫn của chúng
ta rõ ràng là đã đưa được về dạng mà Niutơn đã trình bày:
Trong vật lý học, hằng số hấp dẫn Vũ Trụ
có giá trị là:
Giá trị đó có hẳn chính xác và áp dụng
đúng ở khắp nơi trong toàn Vũ Trụ, kể cả trong thế giới vĩ mô lẫn thế giới vi
mô không? Rất có thể là… không!
Chúng ta trả lời phủ định như thế vì ít
ra, hiện tượng được minh họa ở hình 4/b có khả năng xảy ra làm ảnh hưởng đến
lực hấp dẫn giữa sao và hành tinh của nó. Đó là hiện tượng các tia phát xạ của
sao do bị kéo theo bởi sự xoáy của nó mà có hướng truyền đi lệch với hướng kính
một góc nào đó. Tình hình đó gây nhiễu loạn hiệu ứng hấp dẫn giữa sao và hành
tinh. Lúc đó, tâm hành tinh không tiến về phía sao theo đúng hướng xuyên tâm
sao nữa mà lệch theo hướng (xem hình 4/b). Hơn
nữa, vì véctơ lực “kéo” hành tinh không đi qua tâm hành tinh nên lực kéo còn có
tác dụng làm xoay hành tinh quanh tâm nó nữa. Đối với sao, tình hình cũng xảy
ra tương tự như vậy. Vì thế mà lực hấp dẫn giữa chúng giảm xuống so với trường
hợp giả tưởng là sao không xoáy. Nghĩa là nếu biết chính xác các thông số về
khối lượng, lực hút khoảng cách của hai vật tương tác hấp dẫn nhau thì giá trị
hằng số Gđược tính ra trong
trường hợp hai vật đó là Mặt Trời và Trái Đất so với giá trị Gđược tính ra trong
trường hợp hai vật đó là Mặt Trăng và Trái Đất phải nhỏ hơn.
Chắc rằng áp lực của “dòng” ánh sáng đến
Trái Đất cũng làm giảm lực hấp dẫn nhưng có thể là không đáng kể.
***
Như vậy với quan niệm tương tác phát xạ của hai vật với nhau
làm xuất hiện hiệu ứng hấp dẫn tiến về phía nhau mà chúng ta đã trình bày ở
trên thì không hề có trường hấp dẫn nào tồn tại trong Vũ Trụ. Một thiên thể trong Vũ Trụ, khi có một vật xuất hiện trong vùng
phát xạ của nó (nghĩa là đồng thời thiên thể cũng xuất hiện trong
vùng phát xạ của vật), thì giữa
chúng lập tức xuất hiện một hiệu ứng hấp dẫn làm chúng có xu thế tiến về phía
nhau. Thế thôi chứ ở những hướng trong vùng phát xạ của thiên thể không xuất
hiện bất cứ vật nào hoặc có nhưng ở quá xa, thiên thể không thể hiện bất cứ
điều gì về hấp dẫn cả.
Theo công thức lực hấp dẫn thì cường độ
lực hấp dẫn tỷ lệ thuận với tích khối lượng của hai vật tương tác hấp dẫn và tỷ
lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng. Khi nói cường độ lực hấp dẫn
tùy thuộc vào độ lớn của hai khối lượng tham gia tương tác hấp dẫn thì cũng có
thể hiểu rằng nó tùy thuộc vào số lượng các hạt trong nội tại hai vật có khối lượng ấy. Bởi vì truy xét cho
đến cùng và theo quan niệm của chúng ta, nếu một vật có khối lượng m, thì có
thể viết:
Với n
là số lượng các hạt có trong vật
là khối lượng của hạt
Thực ra, đầu tiên và trực tiếp, cường độ
lực hấp dẫn tùy thuộc vào năng suất phát xạ của hai vật tương tác
hấp dẫn (lúc này không chú ý đến khoảng cách giữa chúng): năng suất phát xạ càng cao thì cường độ
hấp dẫn càng lớn và ngược lại. Nhưng năng xuất phát xạ là do mức độ vận động và tương tác KG trong nội tại vật qui
định. Đến lượt mức độ vận động và tương tác KG trong nội tại vật lại tùy thuộc
vào mật độ KG của nội tại vật, mà xét cho đến cùng là mật độ trong vật. Mật độ trong nội tại vật càng
cao thì mức độ vận động của nội tại vật càng tăng, làm hạn chế hơn khả năng
chuyển hóa KG một cách kịp thời gây ra đòi hỏi giải quyết sự hạn chế ấy càng
bức bách, do đó và cũng chỉ còn một cách là vật phải tăng cường phát xạ vào môi trường không
gian. Như vậy, một cách gián tiếp, cường độ lực hấp dẫn cũng tùy thuộc vào khối
lượng của hai vật tương tác hấp dẫn nhau.
Tuy nhiên, vẫn không chú ý đến khoảng
cách hai vật, cường độ tương tác hấp dẫn, ngoài tùy thuộc khối lượng ra, còn
tùy thuộc vào yếu tố nào nữa không?
Để
trả lời câu hỏi đó, chúng ta xét một ngôi sao có bán kính rs, có lượng trước “một đợt” phát
xạ của nó là nvà lượng phát xạ là n'. Giả sử rằng ncũng là tổng số đơn vị
hợp thành thể tích Vvà n'là tổng số đơn vị hợp
thành lớp diện tích bề mặt Scủa sao coi như sao
phát xạ ở khắp bề mặt, nghĩa là không có hiện tượng đồng thời hấp thụ - không có hai vùng
phễu), thì chúng ta có được biểu diễn.
Suy ra:
Có thể bỏ số 3 đi để coi như đã chú ý đến
sự đồng thời hấp thụ của sao và vì chỉ xét
ở mức độ định tính nên cũng không cần thiết. Chúng ta viết lại:
Hay:
Gọi mlà khối lượng của sao
trước một đợt phát xạ và m'là khối lượng của sao
phát tán vào môi trường không gian của đợt phát xạ, thì:
Do đó:
Vì cường độ lực hấp dẫn bị quy định bởi
năng suất bức xạ mà năng suất bức xạ lại tùy thuộc vào mật độ KG trong nội tại
sao cho nên suy ra, nó không những tùy thuộc vào khối lượng mà còn vào thể tích
của sao. Từ đây mà thấy rõ ràng rằng, cường độ lực hấp dẫn tỷ lệ thuận với khối
lượng và tỷ lệ nghịch với thể tích của hai vật tương tác hấp dẫn nhau.
Thậm chí, chúng ta còn cho rằng, cường độ
lực hấp dẫn còn tùy thuộc vào hình dáng của vật và tùy vào “tư thế” của hai vật
gây ra mức độ “che chắn” phát xạ của nhau như thế nào, nhiều hơn hay ít đi. Tuy
nhiên, có thể những ảnh hưởng về kích thước, hình dáng vật đối với lực hấp dẫn
đi liền với những yếu tố ảnh hưởng có tính trừ khử nên trong thực tế khảo sát
rất khó phát hiện hoặc không thể phát hiện được.
Bình thường, chỉ có kích thước rslà không đổi, nghĩa là
có thể viết:
Và gọi k là hằng số phát xạ của sao.
Trong trường hợp không có sự đồng thời
hấp thụ của sao thì do phát xạ
liên tục mà số lượng hạt của nó giảm dần theo
thời gian. Như vậy nếu viết mối quan hệ dưới dạng vi phân và theo thời gian, chúng ta sẽ có được
biểu thức:
-dn=kn(t).dt
Tích phân hai vế sẽ được:
n(t)=noe-kt
Với elà số ơle, nolà số lượng hạt của sao tại thời điểm t=0, n(t)là số lượng hạt của sao còn lại sau
khoảng thời gian phát xạ.
Biểu thức này diễn tả quá trình suy giảm
số lượng theo hàm mà không chỉ của riêng sao mà có tính phổ quát đối với mọi
thực thể phát xạ nhưng không đồng thời hấp thụ.
Quy luật giảm số lượng hạt như thế cũng là biểu
diễn năng suất phát xạ của sao giảm dần theo thời gian nếu không được bổ sung bằng con đường hấp
thụ. Và nếu thế cường độ tương tác hấp dẫn giữa sao và hành tinh cũng yếu dần
theo thời gian.
Có thể viết biểu thức vừa nêu ra theo
khối lượng:
m(t)=moe-kt
Nếu biểu thức ấy áp dụng cho Mặt Trời thì
có thể nghĩ rằng theo quan niệm vật lý học, từ lúc hình thành cho đến tận ngày
nay Mặt Trời luôn tổn hao khối lượng mà không hề được bù đắp thêm khối lượng,
do đó năng lực hấp dẫn của nó phải giảm dần theo thời gian và đang tiếp tục
giảm. Nếu có thế, chắc rằng trong quá khứ xa xôi, Thái Dương Hệ không rộng lớn
như bây giờ. Lúc đó chắc Trái Đất ở rất gần Mặt Trời. Có lẽ chỉ vào khoảng 4,5
tỉ năm cách nay, nó mới rời xa được Mặt Trời, ở khoảng cách mà môi trường của
nó có điều kiện biến đổi theo hướng dịu đi, thuận lợi cho sự xuất hiện sự sống.
Hơn nữa, so với vị trí lúc ấy, Trái Đất ngày nay phải ở cách một khoảng đủ xa
để các nhà khoa học có thể phát hiện được qua nghiên cứu khảo cổ, ít ra là về
mặt khí hậu. Nhưng họ đã phát hiện được điều gì để có thể nghĩ rằng đã từng xảy
ra hiện tượng đó chưa?
Chúng ta tin là chưa hề! Vậy thì phải cho
rằng trong suốt quá trình tồn tại của Mặt Trời, nó phát bức xạ thì đồng thời
cũng hấp thụ bức xạ qua hai phễu thu của nó. Hai quá trình thu phát đó là tương
đối cân bằng nhau để năng suất phát xạ của Mặt Trời, dù cũng có những dao động
tăng giảm nhưng chỉ có tính cục bộ, thoáng qua, mà về mặt tổng thể thì ổn định
lâu dài theo thời gian. Nếu có hiện tượng giảm dần năng suất phát xạ của Mặt
Trời theo thời gian thì quá trình đó phải xảy ra hết sức chậm chạp và phải do
một nguyên nhân khác, có nguồn gốc từ bên ngoài gây ra làm ảnh hưởng đến mức độ
hấp thụ của nó.
Cũng trên cơ sở quan niệm về vạn vật hấp
dẫn vừa trình bày, có thể giải quyết được vài thắc mắc mà chúng ta đã từng nêu
ra. Trước hết, vì bức xạ điện từ là tác nhân làm xuất hiện hiệu ứng hấp dẫn nên
cũng không thể tương tác với hiệu ứng ấy. Nếu nói như vậy chưa sáng tỏ thì
chúng ta nói thêm: vì không có trường hấp dẫn nào cả nên cũng không hề có hiện
tượng truyền tương tác hấp dẫn trong môi trường không gian, và do đó làm sao
bức xạ điện từ, trong đó có ánh sáng, lại bị tác động bởi ảo tưởng được? Vì ánh
sáng không bị tác động bởi hiệu ứng hấp dẫn nên khi một vật tiến về một thiên thể
do hiệu ứng ấy gây ra sẽ không vượt được vận tốc cực đại Cvì khi đạt đến vận tốc
ấy thì coi như nó không còn nội tại nữa mà đã phân rã hoàn toàn thành một
“khối” rời rạc các và theo nguyên lý ưu
tiên lan truyền KG thì “khối” ấy có thể cũng không tồn tại. Đến một lúc nào đó
trong quá trình tiến về thiên thể, vật sẽ bị mất dần liên kết nội tại và phân
rã thành những phần tử nhỏ hơn để rồi phân rã tiếp cho đến khi các phần tử là
các bức xạ điện từ và vì không còn động lực tiến về thiên thể nữa nên nhanh
chóng “bốc hơi” hoặc tham gia vào lực lượng bức xạ của thiên thể.
Hiệu ứng hấp dẫn giữa hai vật là do sự
chênh lệch phát xạ của hai vật gây ra và nếu xét kỹ thì hai vật tiến về phía
nhau là do lực đẩy chứ không phải do lực hút. Tuy nhiên, vẫn sử dụng tốt công
thức lực hấp dẫn do Niutơn thiết lập, nhưng với điều kiện hai vật ở ngoài nhau.
Khi vật này ở trong vật kia thì hiệu ứng hấp dẫn giữa chúng không còn nữa và
phải tìm một lý giải khác cho hiện tượng trọng tâm hai vật bị tác dụng lực gây
ép về phía nhau.
Bây giờ chúng ta nói đến khoảng cách rgiữa hai vật có hiệu
ứng hấp dẫn nhau. Rõ ràng là hai vật càng ở gần nhau, nghĩa là rcàng nhỏ, thì lực hấp
dẫn càng lớn và ngược lại, càng ở xa nhau, nghĩa là rcàng lớn, thì lực hấp
dẫn càng nhỏ. Điều thực sự không thể hình dung được là hai vật ở cách xa nhau
vô hạn vẫn gây hiệu ứng hấp dẫn đối với nhau.
Theo quan niệm về vạn vật hấp dẫn của
chúng ta thì cường độ hiệu ứng giữa hai vật không những tùy thuộc vào khối
lượng của hai vật hấp dẫn nhau mà còn phụ thuộc vào góc khối che nhau của chúng
nữa. Chúng càng xa nhau thì góc khối che nhau của chúng càng nhỏ, do đó mà miền
không ưu tiên phát xạ của chúng càng nhỏ theo dẫn đến hiệu ứng hấp dẫn càng
yếu.
Trên hình 4/a, có thể tưởng tượng miền
không gian của hai góc khối cắt nhau tạo thành một mặt tròn diện tích ecó tâm là O'. Giả sử mặt đó chắn được bức xạ thì không một phát xạ nào của sao và
của hành tinh truyền được đến nhau. Xét ở góc độ khác thì mặt eđược coi như mặt cuả
sao và hành tinh đồng thời gây ảnh hưởng không ưu tiên đến phát xạ của nhau về
phía đó.
Vì chỉ gây ảnh hưởng không ưu tiên phát
xạ thôi nên vẫn có một lượng nhất định từ sao qua
mặt etruyền về phía hành
tinh và đồng thời vẫn có một lượng nhất định đi qua mặt etruyền về phía sao,
nghĩa là coi như mặt ecó hai giá trị thông
lượng và tổng giá trị tuyệt đối hai thông lượng ấy được cho là thông lượng của
mặt e.
Giả sử rằng, cố định mặt evà di dời cùng lúc sao
và hành tinh ra vô tận dọc theo đường thẳng xuyên tâm của chúng. Muốn bảo toàn
mối quan hệ hấp dẫn có sẵn từ trước của sao và hành tinh thì di dời hành tinh
ra xa mặt ebao nhiêu, cũng phải
di dời sao ra xa mặt ebấy nhiêu một cách
tương ứng, nghĩa là góc khối của sao và hành tinh vẫn cắt nhau tại vị trí mặt evà mặt ekhông thay đổi diện
tích. Có thể gọi hiện tượng này là sự bất biến diện tích e.
Hai vật tương tác hấp dẫn càng ở xa nhau
thì vùng góc khối không ưu tiên phát xạ của cả hai vật càng nhỏ đi. Sự nhỏ đi
đó làm cho lượng phát xạ qua mặt ecủa hai vật giảm xuống
trong khi ebất biến . Tình hình
đó làm cho giá trị thông lượng qua mặt egiảm theo, khiến mức
độ gây ảnh hưởng không ưu tiên về phía nó cũng giảm.
Hiện tượng nói trên dẫn đên ý niệm: đối
với hai thực thể cách xa nhau trong Vũ Trụ, tùy thuộc vào cường độ phát xạ cũng như khả năng che chắn
nhau của chúng mà giá trị thông lượng qua mặt egiữa chúng trở nên nhỏ
bé đến nỗi mặt ehoàn toàn không còn
gây cản trở cho sự phát xạ của hai thực thể về phía nó nữa. Lúc đó, chúng ta
nói hai thực thể đó không hề mảy may có tương tác hấp dẫn. Vậy, có thể đi đến
kết luận: khoảng cách tương tác hấp dẫn giữa hai vật là hữu hạn.
Cường độ của hiệu ứng hấp dẫn chủ yếu tùy
thuộc vào khối lượng của hai thực thể tạo ra hiệu ứng ấy đối với nhau. Càng sâu
trong Vũ
Trụ vi mô, các thực thể càng
có khối lượng nhỏ bé. Như vậy, nếu so sánh trên cùng một khoảng cách, có thể
nói rằng hiệu ứng hấp dẫn giảm dần theo chiều từ Vũ Trụ vĩ mô hướng về Vũ Trụ
vi mô. Hơn nữa, vì sự hàm chứa trong mỗi thực thể
ngày càng ít đi theo hướng nói trên nên tương tác hấp dẫn ngày càng thể hiện
tính gián đoạn. Như vậy, đến một tầng nấc vi mô nào đó của Vũ Trụ, cái gọi là tương tác hấp dẫn sẽ không
còn nữa và thay vào đó là một tương tác khác.
Ở đáy cùng của Vũ Trụ vi mô, như chúng ta quan niệm, tương tác
giữa hạt và là tương tác cảm ứng
kích thích KG. Vì, cũng theo chúng ta quan niệm, tương tác ấy là nguồn gốc, là
dạng nguyên thủy của mọi tương tác, cho nên phải suy ra từ đó được hằng số hấp
dẫn G.
Khi có một hạt cảm ứng kích thích một
hạt , chúng ta nói rằng hai hạt KG ấy tương tác cảm ứng kích
thích nhau. Vì hai hạt ấy được thấy như cùng tác động làm cho nhau di dời vị
trí nên có thể coi tương tác của chúng là tương tác lực. Trong hình dung có thể
thấy khi hạt nỗ lực kéo hạt “về” vị trí của nó và
đồng thời “đến” chiếm chỗ hạt , thì cùng lúc hạt cũng nỗ lực hành động
như vậy đối với hạt . Trong Vũ Trụ
vĩ mô, chúng ta cho rằng hai vật hình khối cầu bằng nhau, tương tác hấp dẫn
nhau mạnh nhất khi tâm của chúng nằm ngay trên bề mặt của nhau, nghĩa là khoảng
cách tâm của chúng đúng bằng bán kính của chúng, vì có khả năng lúc đó, tác động
phản lực của sự phát xạ là mạnh nhất. Trong trường hợp hai hạt KG và tương tác cảm ứng kích
thích có lẽ cũng phải như vậy. Nếu gọi khối lượng của chúng là mo, đường kính của chúng là dothì lực cảm ứng kích
thích của mỗi hạt đối với nhau là:
Với ggọi là hằng số cảm ứng
kích thích
Trước đây, chúng ta đã có biểu thức:
Với clà vận tốc cực đại của
Vũ Trụ
tolà đơn vị thời gian
nhỏ nhất tuyệt đối
Sau khi tương tác, hạt chuyển biến thành hạt và có một động lượng
là:
Vì tương tác xảy ra trong “khoảng” thời
gian tonên nếu qui đổi động
lượng đó ra lực mà hạt KG bị tác động trong tương tác thì cường độ của lực đó
bằng , nghĩa là:
Như vậy, sẽ có:
Suy ra:
Thay các ký hiệu bằng các giá trị số mà
trước đây chúng ta đã xác định được vào biểu thức thì:
Với quan niệm: nền tảng của tương tác hấp
dẫn thấy được ở Vũ Trụ vĩ mô chính là tương tác cảm ứng kích thích KG, lực hấp
dẫn chính là tổng lực cảm ứng kích thích KG nào đó, chúng ta cho rằng có thể
thay thế gbằng Gtrong biểu thức tính . Mặt khác, có thể giá trị Gmà vật lý học đã xác
định, do bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nhiễu loạn khách quan và chủ quan, nên
dù là phù hợp với ứng dụng thực tiễn thì cũng chưa thật chính xác về mặt lý
thuyết. Nếu loại bỏ được những yếu tố ảnh hưởng gây nhiễu loạn đi thì giá trị
chính xác (hay có thể nói là lý tưởng), chắc bằng:
Vậy, có thể viết biểu thức tính lực như sau:
Nghĩa là:
g=G.1028
Còn một cách nữa xác định được giá trị
hằng số g.
Từ biểu diễn cơ bản , chúng ta có được:
Và rút ra:
Thay vào biểu thức * * thì được:
Nhân tử số và mẫu số của vế phải cho 4:
Kể ra cũng vui thật! Đúng là hấp dẫn
thật!
Chưa phải đã hết! Vấn đề rút ra được sau đây
cũng vui và hấp dẫn không kém.
MIỀN TÂY HOANG DẠI Ước gì một lần về thuở ấy miến Tây Sống lầy lội những tháng ngày hoang dại Súng cặp kè hông, nhong nhong lưng ngựa Phóng khoáng thảo nguyên, đạn nổ ì đùng Ta sẽ về, rủ em gái theo cùng Đem tình yêu vào vòng đấu súng Và ngã xuống trong một lần anh dũng Để mai này định nghĩa lại...thằng khùng! Đã khùng rồi thì xá chi anh hùng Của một thời tìm vàng sôi động Người người xô bồ tìm giàu sang cuộc sống Để lại điêu tàn, bắn giết mênh mông! Ta ước thế nghe có rùng rợn không? Trần Hạnh Thu NHẠC HUYỀN THOẠI CAO BỒI VIỄN TÂY
(ĐC sưu tầm trên NET) Bản tin 113 online cập nhật ngày 2/5: Truy tố 254 bị can bị trong đại án sai phạm lĩnh vực đăng kiểm 🔴 TRỰC TIẾP: Thời sự quốc tế 3/5 | Nga tuyên bố khai hỏa Iskander, hủy diệt hai pháo HIMARS Ukraine Tin tức thời sự mới nhất hôm nay | Bản tin sáng ngày 5-3-2024 MỘT CÕI ĐI VỀ (Sáng Tác: Trịnh Công Sơn) - KHÁNH LY OFFICIAL Miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch Quốc hội đối với ông Vương Đình Huệ 9 giờ trước Khoảnh khắc tên lửa Nga công kích pháo HIMARS Ukraine 12 giờ trước Mong muốn Campuchia chia sẻ thông tin về Dự án kênh đào Funan Techo 10 giờ trước Gần 50 người chết trong vụ sập đường cao tốc ở Trung Quốc 10 giờ trước Lý do xuất khẩu của Trung Quốc sang Nga bất ngờ sụt giảm 8 giờ trước Ukraine nói Nga sản xuất tên lửa Zircon 'nhanh bất thường' 6 giờ trước Hàng chục nghìn người Gruzia tiến hành biểu tình lớn nhất từ trước tới nay 16 giờ trước Video 'rừng người' xem phương tiện chiến đấu bị Nga tịch thu ở chiến trường Ukraine 16 giờ trước U23 In...
I Only Want to Be with You - Dusty Springfield (Cover by Emily Linge) VẪN THẾ MÀ! Anh vẫn thế, trước sau vẫn thế mà Nhìn anh này, đừng nhìn phía trời xa Vẫn ngày ngày ra ngóng chờ trước của Đợi Nàng Thơ về tác hợp thi ca Tâm hồn anh có cửa đâu mà khóa Mà phải cùng em mở cánh cửa tâm hồn Anh tìm mãi nào thấy đâu ô cửa Toang hoác tứ bề, thông thống càn khôn* Còn trái tim anh vẫn êm đềm, yên ả Vẫn yêu quê hương, tổ quốc, con người Miền nhiệt đới khi thấy tim băng giá Chắc chắn là anh đã ngoẻo tự lâu rồi! Trần Hạnh Thu CT: * Trời đất
Nhận xét
Đăng nhận xét