"Có hai cách để sống trên đời: một là xem như không có phép lạ nào cả, hai là xem tất cả đều là phép lạ".
Albert Einstein
“Chính qua cuộc đấu tranh nhằm thống nhất một cách hợp lý cái đa dạng
mà đã đạt được những thành công lớn nhất, dù rằng chính ý đồ đó có thể
gây ra những nguy cơ lớn nhất để trở thành con mồi của ảo vọng”.
Albert Einstein
“Người nhìn thấy cái đa dạng mà không thấy cái đồng nhất thì cứ trôi lăn trong cõi chết”.
“Lực hút cũng như lực đẩy,
là thuộc tính cơ bản của vật chất.”
“Hấp dẫn cần phải được gây
ra bởi một tác nhân thường xuyên tác động theo một qui luật nào đó, nhưng tác
nhân này là vật chất hay phi vật chất thì tôi xin dành cho bạn đọc suy nghĩ.”
Niutơn
"Không xiềng xích hay thế lực bên ngoài nào có thể ép buộc tâm hồn của một người tin hay không tin."
"Tất cả vinh quang đều đến từ sự dám bắt đầu". Eugene F Ware
"Tất cả mọi người đều mơ; nhưng không như nhau. Những người mơ về đêm,
trong những ngóc ngách sâu kín lờ mờ của tâm trí, khi thức giấc vào ban
ngày mới nhận ra đó là ảo ảnh; nhưng những người mơ vào ban ngày mới là
đáng gờm, vì họ có thể thực hiện giấc mơ của mình với đôi mắt mở to, để
biến chúng thành hiện thực". T.E.Lawrence
"Ước mơ giống như những vì sao… ta có thể không bao giờ chạm tay vào
được, nhưng nếu đi theo chúng, chúng sẽ dẫn ta đến vận mệnh của mình". Samuel Johnson
"Tôi được ban cho sự nhận thức về định mệnh của chính mình. Tôi chưa bao
giờ tự hạ thấp bản thân. Tôi chưa bao giờ đánh giá mình theo tiêu chuẩn
của người khác. Tôi luôn trông đợi nhiều ở chính mình, và nếu tôi thất
bại, tôi thất bại chính mình". Sophia Loren
"Tự tin là điều kiện đầu tiên để làm được những việc lớn lao". Samuel Johnson
"Hãy mơ ước bất cứ điều gì bạn muốn mơ. Đó là vẻ đẹp của trí tuệ con
người. Hãy làm bất cứ điều gì bạn muốn làm. Đó là sức mạnh của ý chí con
người. Hãy tin tưởng vào bản thân để thử thách những giới hạn của mình.
Đó chính là lòng can đảm để thành công". Bernard Edmonds
"Không ai biết sau đó mọi chuyện sẽ xảy ra như thế nào nhưng
chúng ta vẫn đi về phía trước. Bởi vì chúng ta có lòng tin và
sự trung thực" Paulo Coelho
"Muốn hiểu Vũ Trụ này, phải hoang tưởng mãnh liệt. Muốn hoang tưởng mãnh liệt, phải có niềm tin". NTT
(Tiếp theo)
Theo dòng lịch
sử, dù thuyết Bo sớm bộc lộ ra những khiếm khuyết trầm trọng không sao khắc
phục thì nó vẫn là bước tiến nổi bật trong nhận thức vật lý về Vũ Trụ vi mô.
Thuyết ấy được nhiều người đánh giá là tiền đề cho sự ra đời của thuyết “cơ học
lượng tử” - một thuyết tổng quát, giải quyết được rốt ráo những vấn đề về cấu
trúc nguyên tử và hạt nhân mà thực nghiệm nêu ra.
Biểu thức mức
năng lượng của Bo cho thấy mức năng lượng của điện tử trong nguyên tử luôn mang
giá trị âm. Theo các nhà vật lý, điều đó có nghĩa là muốn đưa điện tử từ trạng
thái dừng “gần” hạt nhân hơn (có mức năng lượng thấp hơn) sang trạng thái dừng
“xa” hạt nhân hơn (có mức năng lượng cao hơn), phải “nạp thêm” năng lượng từ
môi trường bên ngoài vào cho nó. Khi n=1thì điện tử tồn tại ở
trạng thái mức năng lượng thấp nhất gọi là trạng thái cơ bản, và cũng được coi
như “ở gần” hạt nhân nhất. Dựa vào biểu thức của Bo, người ta tính ra được:
E1=-21,76.10-12erg
(1 erg = 1 )
r1=0,529.10-8cm
Các kết quả đó
được cho là phù hợp với thực nghiệm
Như vậy, khi n=2thì mức năng lượng
trạng thái của điện tử trong nguyên tử Hydrô là:
E2=-5,44.10-12erg,
và khoảng cách
của điện tử đến prôtôn (đóng vai trò hạt nhân của nguyên tử Hydrô) là:
r2=2,116.10-8cm
Từ đó có thể
thấy, muốn kích thích điện tử trong nguyên tử Hydrô từ trạng thái cơ bản lên
trạng thái n=2, phải cho nó nhận một lượng bức xạ điện từ từ môi trường bên
ngoài là:
E2-E1=[-5,44-(-21,76)].10-12=+16,32.10-12 erg
(Còn muốn giải
phóng điện tử khỏi nguyên tử Hydrô (hay còn gọi là ion hóa Hydrô), rõ ràng,
phải “nạp” cho nó một lượng bức xạ ít nhất cũng phải bằng 21,76.10-12erg)
Đến đây, với
cách giải quyết vấn đề mức năng lượng cũng như hành vi của điển tử trong nguyên
tử Hydrô như thế, quan niệm cơ bản về vật chất và vận động vật chất giữa Bo và
chúng ta đã bộc lộ ra những bất đồng sâu sắc.
Tuân theo qui
ước về số âm và số dương của toán học mà Bo cho rằng mức năng lượng Ephải luôn mang giá trị
âm và khi n=1thì đó là mức năng
lượng thấp nhất (vì mang giá trị âm nhỏ nhất!). Hơn nữa, biểu thức về mức năng
lượng điện tử trong nguyên tử Hydrô của Bo còn mặc nhiên thừa nhận rằng, dù
điện tử thay đổi mức năng lượng, nghĩa là thu hoặc phát bức xạ, cũng có nghĩa
là nhận vào hay cho đi một lượng vật chất nào đó, dẫn đến chuyển đổi trạng thái
dừng, thì khối lượng của nó vẫn không đổi. Nhưng làm sao có thể như thế được?
Như chúng ta đã trình bày thì khối lượng là một trong hai thành phần tích hợp
nên năng lượng. Nói cách khác là năng lượng không thể thoát ly khỏi khối lượng.
Khi điện tử thu hay phát bức xạ, nghĩa là nạp thêm hay bớt đi năng lượng, thì
đồng thời khối lượng của nó phải tăng lên hay giảm đi theo. Vậy thì phải hiểu
như thế nào về biểu thức của Bo khi nó phạm phải sai lầm to lớn vừa nêu (chúng
ta cho là như vậy!) mà vẫn giải đáp được nhiều hiện tượng về quang phổ Hydrô và
đưa ra được kết quả tính toán phù hợp với số liệu thực nghiệm?
Dù có trả lời
được suôn sẻ câu hỏi đó thì vẫn còn có mọt mắc mứu chết người nữa đòi hỏi phải
được giải quyết, nếu không, giả thuyết về sự nhỏ nhất tuyệt đối của hạt sẽ bị sụp đổ. Đó là
khi điện tử trong nguyên tử Hydrô nhận được một lượng bức xạ 16,32.10-12erg từ môi trường thì
nó chuyển đổi từ trạng thái n=1sang trạng thái n=2. Cần quan niệm như thế nào về lực lượng KG của bức xạ đó khi
so với lực lượng KG của một hạt được cho là nhỏ nhất
tuyệt đối trong Vũ Trụ (bằng 0,9216.10-8erg), nó “ít hơn” đến
khoảng 565 lần? Phải chăng hạt chưa phải là thực thể
nhỏ nhất tuyệt đối mà chỉ là hạt đơn vị nguyên tố hợp thành nên điện tử cũng
như các nuclêon? Muốn bảo lưu giả thuyết của mình thì không còn con đường nào
khác, chúng phải “gàn bướng” đến cùng biện giải cật lực đến kỳ được mới thôi!
Và… chúng ta đã có một hình dung không đến nỗi tệ hại lắm!
Trước hết, vì Không
Gian là tồn tại vốn dĩ và duy nhất, nên sự vận động và chuyển hóa của nó cũng
chỉ theo một cách duy nhất, hay có thể nói khác đi là tuân theo một nguyên lý
duy nhất, tối hậu. Mặt khác, do Không Gian tồn tại là duy nhất mà không thể có Hư
Vô (hư vô tuyệt đối), và để thể hiện được điều đó đến “chân tơ kẽ tóc”, Không
Gian phải vận động và chuyển hóa tự thân đến tận cùng khả năng, dẫn đến sự xuất
hiện ra trước quan sát vô vàn và phong phú vạn vật - hiện tượng sống động đến
bất tuyệt, vận động và biến hóa tuân theo đa dạng nguyên lý có tính đặc thù. Tuy
nhiên, truy cho đến cùng thì tất cả những nguyên lý có tính đặc thù ấy, dù
nhiều khi thấy khác nhau đến một trời một vực, vẫn có gốc xuất phát đầu tiên từ
nguyên lý duy nhất, tối hậu mà chúng ta từng tạm gọi là “nguyên lý Tự Nhiên”.
Chính vì điều đó chứ không phải là bất cứ điều gì khác mà bao trùm khắp Vũ Trụ
một thể hiện gọi là sự hao hao giống nhau giữa thực thể này với thực thể khác,
giữa vận động này với vận động khác, giữa hiện tượng này với hiện tượng khác.
Nói cách khác, tương tự là một đặc tính của tự nhiên, hay tương tự là một trong
những nguyên lý cơ bản của tồn tại.
Chúng ta cho
rằng, vì phải thỏa mãn nguyên lý tương tự mà giữa Vũ Trụ vi mô phi Ơclit và Vũ
Trụ vĩ mô Ơclit, dù “thấy” rất khác nhau về mặt cấu trúc thì chúng vẫn có những
nét tương tự nhau, và nếu thao tác chuyển đổi, dịch chỉnh một cách hợp lý thì
chúng “trông” rất giống nhau, thậm chí, chính là nhau. Nghĩa là trong một chừng
mực nhất định, nhiều khi có thể dùng mô hình toán học của một hiện tượng đã
được hiểu thấu đáo thuộc Vũ Trụ vĩ mô, với những qui ước, điều chỉnh thích hợp
để lý giải một hiện tượng có tính tương tự thuộc Vũ Trụ vi mô. Đó chính là cách
mà các nhà vật lý đi tiên phong trên lĩnh vực nghiên cứu lý thuyết về nguyên tử
hạt nhân, trong đó có Bo, và họ cũng đã gặt hái được những thành quả đáng kể.
Một cách tuyệt
đối, nguyên tử Hydrô không thể tự thân vận động nội tại được. Vận động đó dù có
mục đích nhằm thỏa mãn yêu cầu về chuyển hóa KG, nhằm duy trì sự tồn tại của
bản thân nguyên tử Hydrô, thì cũng phải trên cơ sở tương tác giữa Hydrô với môi
trường không gian chứa nó, cũng là kết quả của sự tương tác ấy.
Chúng ta đã đưa
ra thuật ngữ “trạng thái dừng chuẩn” để chỉ trạng thái vận động của điện tử khi
nguyên tử tuyệt đối định xứ trong môi trường không gian. Đó là trường hợp mang
tính lý tưởng, khi nguyên tử được cho là hoàn toàn bị cô lập với môi trường
chứa nó. Nhưng trong thực tại, không thể loại trừ được sự tương tác thường
xuyên giữa một thực thể với môi trường chứa nó vì đó chính là điều kiện cho tồn
tại của thực thể đó. Đối với nguyên tử Hydrô cũng vậy. Chịu ảnh hưởng của tương
tác này mà trạng thái dừng chuẩn bị biến dạng đi. Để chỉ trạng thái đã bị biến
dạng này, chúng ta cũng đã đưa ra thuật ngữ “trạng thái dừng biến tướng”. Nói
chung, khi tương tác giữa nguyên tử Hydrô với môi trường chứa nó là hài hòa,
đều đặn và có tính ổn định thì vận động nội tại của Hydrô mang tính điều hòa,
theo chu kỳ. Xét ở góc độ này thì vận động ấy được thấy như một sự xoáy KG, xét
ở góc độ kia thì như một hệ thống hành tinh nhỏ nhất và đơn giản nhất ở tầng
nấc qui mô nguyên tử.
Trong một chừng
mực nhất định, có thể coi hệ thống một điện tử - một prôtôn vận động tương tự
như hệ thống một hành tinh quay quanh một ngôi sao trong Vũ Trụ vĩ mô. Đối với
một hệ quan sát đặt tại trọng tâm hệ thống, nếu thấy quĩ đạo hành tinh là tròn
thì hành tinh đang vận động trong trạng thái dừng chuẩn, còn nếu thấy quĩ đạo
đó là elip thì hành tinh đang vận động trong trạng thái dừng biến tướng.
Tin vào sự
tương tự mà chúng ta đã đi đến nhận định: trong trạng thái dừng chuẩn vận tốc
tổng hợp của điện tử là một hằng số, không phụ thuộc vị trí. Trong một trạng
thái dừng, vì khối lượng của điện tử cũng không đổi, nên động năng toàn phần
của nó cũng là một đại lượng bất biến. Có thể biểu diễn:
Edc=mevc2= không đổi
Với:Edclà động năng toàn phần
của điện tử trong trạng thái dừng chuẩn
melà khối lượng của điện
tử
vclà vận tốc tổng hợp
của điện tử trong trạng thái dừng chuẩn.
Trong trạng
thái dừng biến tướng, vận tốc tổng hợp của điện tử ở những vị trí khác nhau là
khác nhau, Tương tự như quĩ đạo chuyển động elip của hành tinh quanh sao trong Vũ
Trụ vĩ mô, chúng ta cho rằng trong trạng thái dừng biến tướng, điện tử cũng có
một “vị trí” gần prôtôn nhất gọi là “cận nhân” và một vị trí xa prôtôn nhất gọi
là “viễn nhân”. Tại vị trí “cận nhân”, vận tốc tổng hợp của điện tử đạt giá trị
cực đại (vmax) và tại vị trí “viễn nhân”, vận tốc lan truyền quanh prôtôn
của điện từ trong trạng thái dừng biến tướng luôn biến đổi qua từng vị trí, từ
giá trị cực tiểu đến giá trị cực đại rồi từ giá trị cực đại về giá trị cực
tiểu. Quá trình biến đổi ấy là có tính tuần hoàn, theo chu kỳ: vận tốc thay đổi
tuần hoàn theo vị trí thì động năng toàn phần của điện tử cũng thay đổi theo vị
trí một cách chu kỳ dù khối lượng của nó không đổi. Trong Vũ Trụ thuộc tầng nấc
vi mô, tính gián đoạn của cấu trúc không gian trở nên nổi trội, dẫn đến tính
gián đoạn của chuyển hóa KG cũng trở nên rõ rệt. Nghĩa là quá trình chuyển biến
đông năng toàn phần của điện tử là quá trình liên tục tăng hoặc giảm từ một giá
trị xác định này sang một giá trị xác định khác một cách đột biến. Vì năng
lượng toàn phần của điện tử trong một trạng thái dừng là không đổi nên quá
trình tăng - giảm động năng toàn phần lặp đi lặp lại của nó phải được thấy
tương tự như một giao động điều hòa, và ở một góc độ nhất định, sự giao động về
lượng ấy nhận giá trị động năng toàn phần trung bình làm trung tâm chuyển hóa.
Trong Vũ Trụ vĩ
mô, luôn có thể qui đổi một quỹ đạo elip về quỹ đạo tròn và nhận quỹ đạo này
làm đại diện đặc trưng cho nó. Tương tự, mỗi trạng thái dừng biến tướng của
điện tử trong nguyên tử Hydrô cũng đều có thể được qui đổi về một trạng thái
dừng chuẩn và nhận trạng thái lý tưởng này làm đại diện đặc trưng. Chúng ta cho
rằng, giá trị động năng toàn phần trung bình của một trạng thái dừng biến tướng
đúng bằng giá trị động năng toàn phần của trạng thái dừng chuẩn đại diện cho
nó. Vì vậy, có thể viết biểu diễn:
VớiEdlà giá trị động năng
toàn phần trung bình của trạng thái dừng biến tướng.
Có lẽ, môi
trường không gian ở tầng nấc mà nguyên tử “trú ngụ” rất sôi động, luôn tồn tại
những hiệu ứng hút - đẩy và những hiện ứng này thường xuyên biến đổi cả về
cường độ lẫn phương chiều. Đi đôi với sự tồn tại đó là hằng hà sa số các bức xạ
điện từ lan truyền đan xen, chồng chéo nhau, tương tác nhau một cách ngẫu nhiên
và có vẻ hỗn loạn. Tuy nhiên, dù sự sôi động của môi trường không gian có tính
thường xuyên biến đổi và thăng giáng rõ rệt, thì khi sự biến đổi và thăng giáng
ấy được duy trì một cách ổn định, đều đặn, tương đối lâu dài ở mức độ tương đối
thấp nào đó, môi trường không gian ấy vẫn được cho là ở trạng thái bình thường,
có tính yên ả, dịu, ôn hòa. Trong điều kiện môi trường không gian bình ổn như
vậy, vận động nội tại của nguyên tử Hydrô cũng bình ổn, nghĩa là điện tử của nó
vận động trong một trạng thái dừng nhất định nào đó có mức năng lượng tương đối
thấp mà thôi (chứ không nhất thiết phải ở trạng thái cơ bản). Vì tương tác với
môi trường là điều kiện tồn tại của một thực thể, cho nên, dù nguyên tử Hydrô
đang ở trong tình trạng vận động bình ổn thì nó vẫn thu phát bức xạ. Chỉ có
điều sự thu phát ấy ở mức thấp, chưa đủ lượng làm thay đổi trạng thái dừng của
điện tử. Chúng ta cho rằng, bức xạ vào Hydrô theo hai cách. Cách thứ nhất là tự
do, “ngẫu nhiên” vào và ra khỏi Hydrô và hầu như không ảnh hưởng đến vận động
nội tại của Hydrô. Cách thứ hai là do Hydrô chủ động thu vào. Như vậy, khi nói
nguyên tử Hydrô thu - phát bức xạ thì sự thu - phát ấy là có tính chủ động, do
vận động nội tại của nó đòi hỏi. Nhưng hợp thành nội tại Hydrô chỉ gồm một điện
tử và một prôtôn. Do đó, thử hỏi, trong hai phần tử ấy, phần tử nào đóng vai
trò trung tâm thu phát bức xạ cho nguyên tử Hydrô? Chúng ta chọn prôtôn. Tương
tự như ngôi sao trong Vũ Trụ vĩ mô, prôtôn cũng xoáy quanh, nhưng còn xoáy
nhanh hơn ngôi sao rất nhiều lần, rất đáng kể so với vận tốc c. Sự xoáy ấy làm
cho prôtôn phải phát xạ ở vùng phát của nó một cách thường xuyên và theo định
kỳ. Một phần nhỏ lượng bức xạ khi prôtôn phát xạ phát tác ra môi trường không
gian chứa nguyên tử Hydrô ưu tiên theo những hướng không hiện diện đám mây điện
tử. Còn lại phần lớn lượng phát xạ hợp thành một đám mây (dây giả hạt) mêzôn
bay rất nhanh, trông như một vành đai quanh prôtôn và sau một khoảng thời gian
rất ngắn ngủi thì bị phễu thu của prôtôn hấp thụ trở lại (xem minh họa hình
thức ở hình 7/a). Bên cạnh đó hiệu ứng hút ở hai vùng phễu thu cũng làm cho prôtôn
hấp thụ bức xạ từ một trường không gian và lượng hấp thụ đó tăng lên mỗi khi prôtôn
phát xạ.
Mức độ “tĩnh
lặng” của môi trường không gian bên ngoài qui định định mức độ tương tác giữa
nó với Hydrô, qua đó mà qui định luôn mức độ thu - phát bức xạcủa prôtôn. Mức độ thu phát bức xạ prôtôn, đến
lượt nó, qui định điện tử phải vận động ở trạng thái dừng có mức năng lượng xác
định nào đó.
Trong thực tại,
số lượng các trạng thái dừng của điện tử của nguyên tử Hydrô (và nói chung là
của nguyên tử bất kỳ) không thể là vô hạn được. Như vậy, phải có trạng thái
dừng có mức năng lượng cực đại và trạng thái dừng có mức năng lượng cực tiểu.
Vì khối lượng međược cho là không đổi
dù điện tử ở bất cứ trạng thái dừng nào (nghĩa là điện tử trong nguyên tử Hydrô
(hầu như) không thu phát bức xạ, cho nên ở trạng thái dừng có mức năng lượng
(cũng chính là động năng toàn phần trung bình của điện tử) cực đại , điện tử phải có vận tốc tổng hợp trung bình cực đại .
Có thể biểu
diễn mức năng lượng của điện tử trong trạng thái dừng thứ n là:
(Bo cho rằng
thế năng tương tác culông phải là một đại lượng âm nên ông đã sử dụng dấu trừ ở
vế phải của biểu thức. Nhưng thực ra đó chỉ là qui ước. Trong thực tại, tổng
động năng toàn phần phải lớn hơn từng thành phần của nó nên chúng ta dùng dấu
cộng).
Với:vtnlà vận tốc chu vi của
điện tử trong trạng thái dừng thứ n
rnlà khoảng cách giữa
tâm điện tử và tâm prôtôn.
Trong một trạng
thái dừng, điện tử vận động ổn định và cân bằng (cân bằng động), nghĩa là ở một
góc độ nhất định, phải thấy các tác động lên điện tử đều bị triệt tiêu, hay có
thể viết:
Từ đó rút ra
được:
Xét riêng về
mặt điện, hạt của điện tử (đóng vai
trò là điện tích nguyên tố âm) và hạt của prôtôn (đóng vai
trò là điện tích nguyên tố dương) hút nhau, và nếu không tiến đến nhau được thì
ở trạng thái tự do, không bị “ràng buộc” bởi điện tử hay prôtôn, chúng phải
quay quanh một tâm chung với vận tốc đúng bằng cđể ra một lực cần bằng
với lực hút điện lên chúng. Lực đó bằng:
Với:
là khối lượng của hạt
Vì hạt bị ràng buộc bởi điện
tử và điện tử quay quanh. Prôtôn (chính xác là quanh trọng tâm của hệ điện
tử- prôtôn), do đó phải tồn tại:
Từ đó rút ra
biểu diễn:
Thay vế phải
của biểu diễn này cho rnở biểu diễn thì được:
Vậy:
Nếu viết biểu
diễn ấy trong trường hợp trạng thái dừng có mức năng lượng cực đại thì:
Như vậy trạng
thái dừng có Ecmaxchính là trạng thái cơ
bản của điện tử, và điện tử lúc này được coi là ở gần Prôtôn nhất.
Giả sử điện tử
trong nguyên tử Hydrô đang vận động ổn định ở trạng thái cơ bản thì mức độ hoạt
động của môi trường không gian chứa nguyên tử Hydrô tăng lên mạnh mẽ, dẫn đến
sự thu phát bức xạ của prôtôn cũng tăng lên đột biến. Khi prôtôn hấp thụ một
lượng bức xạ tăng đột biến thì khối lượng của nó cũng tăng đáng kể (mật độ năng
lượng trong nội tại prôtôn tăng cao). Theo nguyên lý ưu tiên lựa chọn hướng lan
truyền thì tình hình đó làm cho hiệu ứng đẩy điện tử ra xa prôtôn mạnh lên
trong khi lực hút điện không đổi. Đến một mức độ nào đó thì hiệu ứng đẩy, tùy
thuộc vào lực lượng bức xạ đột biến được prôtôn hấp thụ mà điện tử bị bứt khỏi
trạng thái cơ bản (hay trạng thái dừng nào đó có mức năng lượng tương đối cao)
sang trạng thái dừng có mức năng lượng thấp hơn, cách xa prôtôn hơn, thậm chí
thoát khỏi sự tương tác với prôtôn, gây ra hiệu ứng ion hóa Hydrô. Có thể chu
kỳ thu – phát bức xạ đột biến của prôtôn là khoảng chừng 10-8 s. Nghĩa là sau khi hấp thụ lượng bức xạ tăng đột biến 10-8 s, prôtôn sẽ phát xạ một lượng bức xạ xấp xỉ như thế trở lại
môi trường không gian làm cho khối lượng của nó lại giảm xuống và như vậy, hiệu
ứng đẩy điện tử ra xa prôtôn giảm theo trong khi lực hút điện tử hướng về prôtôn
không đổi. Để duy trì cân bằng vận động, điện tử từ trạng thái dừng có mức năng
lượng thấp, ở xa prôtôn, phải chuyển về trạng thái dừng có mức năng lượng cao
hơn, ở gần prôtôn hơn.
Với hình dung
như trên thì trong suốt quá trình vận động trong nguyên tử Hydrô, dù ổn định
hay không ổn định, điện tử đều không thu phát bức xạ (khối lượng mecủa nó không đổi). Chỉ
có prôtôn thu - phát bức xạ và chính sự phát bức xạ mạnh mẽ của nó khi môi
trường không gian thăng giáng đột biến kết hợp với hằng hà sa số bức xạ của các
prôtôn khác, đóng vai trò hạt nhân nguyên tử trong môi trường không gian hạn
định nào đó mới làm xuất hiện quang phổ đặc thù gán cho nguyên tử Hydrô.
Khi điện tử
chuyển sang trạng thái dừng có mức năng lượng thấp nhất là Ecminthì đó là trạng thái
dừng cuối cùng của nó. Vượt qua trạng thái dừng này theo chiều giảm mức năng
lượng hơn nữa, điện tử coi như được giải phóng khỏi nguyên tử Hydrô và nguyên
tử Hydrô lúc đó bị ion hóa. Nếu gọi trạng thái cơ bản là trạng thái dừng thứ
nhất của điện tử trong nội tại nguyên tử Hydrô thì trạng thái dừng có Ecminlà trạng thái dừng thứ
N. Nghĩa là trong nguyên tử Hydrô có N trạng
thái dừng.
Như vậy, muốn
giải phóng một điện tử đang ở trạng thái cơ bản ra khỏi nguyên tử Hydrô thì ít
ra cũng phải cần đến một “động năng” trái chiều (-Ecmax) để triệt tiêu mức năng lượng cực đại (+Ecmax) của nó. Động năng trái chiều đó có thể là do hiệu ứng hút
mạnh xuất hiện trong môi trường không gian chứa nguyên tử Hydrô, hoặc là do
hiệu ứng đẩy xuất hiện khi prôtôn hấp thụ bức xạ một cách đột biến gây ra.
Khi điện tử từ
trạng thái cơ bản vượt qua hàng loạt trạng thái dừng trung gian đến trạng thái
dừng N thì vì khối lượng mekhông đổi và cũng vì
đại lượng vc2tăng hay giảm có tính
gián đoạn mà vcmax2(bình phương vận tốc
tổng hợp chuẩn của trạng thái cơ bản) giảm xuống vcmin2(bình phương vận tốc
tổng hợp chuẩn của trạng thái N) tuân theo biểu diễn:
Và về mặt mức
năng lượng, có biểu diễn:
Một cách tổng
quát nếu điện tử từ trạng thái cơ bản chuyển sang trạng thái dừng thứ n nào đó
thì mức năng lượng của trạng thái đó là:
Suy ra từ biểu
diễn , có được:
Vì mức năng
lượng trong một trạng thái dừng là không đổi cho nên viết được:
Vậy:
Cần phải biện
luận (hay ngụy biện?!) để đưa biểu diễn trên về dạng mà Bo đã thiết lập được.
Trước hết, cố
nhớ lại, chúng ta đã có:
Tiếp tục biến
đổi biểu diễn:
Gọi 0,64.10-26là h(hằng số Planck) thì:
với h*được gọi là hằng số
Planck rút gọn, có trị số bằng 0,1024.10-26.
Như vậy lúc
này:
Muốn giống biểu
thức của Bo thì lượng trong dấu ngoặc đơn ở tử số của vế phải biểu diễn trên
phải bằng 1. Khi đó, khoảng cách tâm từ điện tử đến prôtôn là:
So với kết quả
mà vật lý học xác định được (rn=0,529.10-8 cm) thì kết quả trên
sai bét! Có thể nghĩ rằng vận tốc tiếp tuyến phải nhỏ hơn vận tốc tổng hợp, nên
ở đây thay cho clà một c'nào đó nhỏ hơn c. Biết đâu chừng:
c'=0,64c
Nếu thế:
Kết quả mức
năng lượng của chúng ta cũng sai so với kết quả mà vật lý học đã xác định (21,76.10-12erg), nó bằng:
Không sao! Có
thể kết quả đó là chính xác trong… Hoang Đường!
Gớt (J. W.
Goethe, 1749-1832), đại văn hào người Đức, từng nói: “Chân lý như hạt kim
cương, nó chiếu muôn mặt chứ không chỉ chiếu có một mặt”.
Johann Wolfgang von Goethe
Sinh
28 tháng 8, 1749
Frankfurt am Main, Thánh chế La Mã (Đức)
Mất
22 tháng 3, 1832 (82 tuổi)
Weimar, Lãnh địa Đại công tước Saxe-Weimar-Eisenach
Công việc
Nhà thơ, tiểu thuyết gia, nhà viết kịch, nhà triết học tự nhiên, nhà ngoại giao
Quốc gia
Đức
Giai đoạn sáng tác
Classical
Trào lưu
Sturm und Drang; Weimar Classicism
Tác phẩm nổi bật
e.g. Faust; The Sorrows of Young Werther; Wilhelm Meister's Apprenticeship; Elective Affinities
MIỀN TÂY HOANG DẠI Ước gì một lần về thuở ấy miến Tây Sống lầy lội những tháng ngày hoang dại Súng cặp kè hông, nhong nhong lưng ngựa Phóng khoáng thảo nguyên, đạn nổ ì đùng Ta sẽ về, rủ em gái theo cùng Đem tình yêu vào vòng đấu súng Và ngã xuống trong một lần anh dũng Để mai này định nghĩa lại...thằng khùng! Đã khùng rồi thì xá chi anh hùng Của một thời tìm vàng sôi động Người người xô bồ tìm giàu sang cuộc sống Để lại điêu tàn, bắn giết mênh mông! Ta ước thế nghe có rùng rợn không? Trần Hạnh Thu NHẠC HUYỀN THOẠI CAO BỒI VIỄN TÂY
(ĐC sưu tầm trên NET) Bản tin 113 online cập nhật ngày 2/5: Truy tố 254 bị can bị trong đại án sai phạm lĩnh vực đăng kiểm 🔴 TRỰC TIẾP: Thời sự quốc tế 3/5 | Nga tuyên bố khai hỏa Iskander, hủy diệt hai pháo HIMARS Ukraine Tin tức thời sự mới nhất hôm nay | Bản tin sáng ngày 5-3-2024 MỘT CÕI ĐI VỀ (Sáng Tác: Trịnh Công Sơn) - KHÁNH LY OFFICIAL Miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch Quốc hội đối với ông Vương Đình Huệ 9 giờ trước Khoảnh khắc tên lửa Nga công kích pháo HIMARS Ukraine 12 giờ trước Mong muốn Campuchia chia sẻ thông tin về Dự án kênh đào Funan Techo 10 giờ trước Gần 50 người chết trong vụ sập đường cao tốc ở Trung Quốc 10 giờ trước Lý do xuất khẩu của Trung Quốc sang Nga bất ngờ sụt giảm 8 giờ trước Ukraine nói Nga sản xuất tên lửa Zircon 'nhanh bất thường' 6 giờ trước Hàng chục nghìn người Gruzia tiến hành biểu tình lớn nhất từ trước tới nay 16 giờ trước Video 'rừng người' xem phương tiện chiến đấu bị Nga tịch thu ở chiến trường Ukraine 16 giờ trước U23 In...
I Only Want to Be with You - Dusty Springfield (Cover by Emily Linge) VẪN THẾ MÀ! Anh vẫn thế, trước sau vẫn thế mà Nhìn anh này, đừng nhìn phía trời xa Vẫn ngày ngày ra ngóng chờ trước của Đợi Nàng Thơ về tác hợp thi ca Tâm hồn anh có cửa đâu mà khóa Mà phải cùng em mở cánh cửa tâm hồn Anh tìm mãi nào thấy đâu ô cửa Toang hoác tứ bề, thông thống càn khôn* Còn trái tim anh vẫn êm đềm, yên ả Vẫn yêu quê hương, tổ quốc, con người Miền nhiệt đới khi thấy tim băng giá Chắc chắn là anh đã ngoẻo tự lâu rồi! Trần Hạnh Thu CT: * Trời đất
Nhận xét
Đăng nhận xét