TT&HĐ V - 45/m
Con người đã di chuyển được 1% tốc độ ánh sáng chưa? | Khoa học vũ trụ - Khoa học và Khám phá
"Khoa học là một sức mạnh trí tuệ lớn nhất, nó dốc hết sức vào việc phá vỡ xiềng xích thần bí đang cầm cố chúng ta."
Gorky
Gorky
"Cái khó hiểu nhất chính là hiểu được thế giới"
"Có hai cách để sống trên đời: một là xem như không có phép lạ nào cả, hai là xem tất cả đều là phép lạ".
Albert Einstein
“Chính qua cuộc đấu tranh nhằm thống nhất một cách hợp lý cái đa dạng
mà đã đạt được những thành công lớn nhất, dù rằng chính ý đồ đó có thể
gây ra những nguy cơ lớn nhất để trở thành con mồi của ảo vọng”.
Albert Einstein
“Người nhìn thấy cái đa dạng mà không thấy cái đồng nhất thì cứ trôi lăn trong cõi chết”.
CHƯƠNG VI (XXXXV): THỰC CHỨNG
“Tinh thần thời đại cũng có thể là một sự thực khách quan như bất cứ sự thực nào trong khoa học tự nhiên (…).
Do đó, hai quá trình, quá trình khoa học và quá trình nghệ thuật, không phải là rất khác nhau. Cả khoa học và nghệ thuật trong suốt nhiều thế kỷ đã tạo nên ngôn ngữ con người mà nhờ đó chúng ta có thể nói về những phần rất xa xôi của thực tại…”.
Do đó, hai quá trình, quá trình khoa học và quá trình nghệ thuật, không phải là rất khác nhau. Cả khoa học và nghệ thuật trong suốt nhiều thế kỷ đã tạo nên ngôn ngữ con người mà nhờ đó chúng ta có thể nói về những phần rất xa xôi của thực tại…”.
"Nếu bạn sinh ra trong nghèo khó, đó không phải là lỗi của bạn. Nhưng nếu bạn chết trong nghèo khó, thì đó là lỗi của bạn…".
"Cơ hội làm điều ác đến một trăm lần một ngày, và cơ hội làm điều thiện chỉ đến một lần trong một năm".
(Tiếp theo)
Trong
trường hợp ống kính T đầy nước nhưng không nghiêng (trường hợp ở hình
8/a) thì tia sáng đi vào bình không bị khúc xạ nhưng giảm vận tốc do mức
năng lượng của nước lớn hơn của chân không với chỉ số tượng trưng là v (có thí nghiệm vận tốc). Nếu thời gian truyền của tia sáng từ O đến F trong chân không là t và trong nước là t' và tương ứng với những thời gian ấy là những quãng đường x, x' thì trung thành với các biểu thức
và
, trường hợp
, sẽ có:
Vì chúng ta coi như đứng ở O nhưng ngoài môi trường nước để quan sát hiện tượng nên có thể tiếp tục biểu diễn được thế này:
Đó là điều cực kỳ phi lý!
Đến lúc này chúng ta mới thấy được “gót chân Asin” trong biểu thức
,
và các biểu thức có liên quan còn lại dễ gây ngộ nhận chết người đến mức nào!
Rất rõ ràng: khi qui đổi khoảng cách x' ra
theo đơn vị đo độ dài của quan sát ở môi trường chân không (tọa độ góc
O) thì đó chính khoảng cách gộp của quãng đường mà tia sáng đi được
trong hệ chuyển động O’ sau khoảng thời gian t' và quãng đường mà O’ đi được cũng sau khoảng thời gian ấy với vận tốc v. Do đó để xác định quãng đường thực đi của tia sáng thì phải viết lại hệ số
thành:
hoặc phải lấy giá trị tuyệt đối của
khi
mang giá trị âm.
Như vậy trong trường hợp cụ thể ở đây, cách viết đúng phải là:
Từ đây, vì ống kính chuyển động, nên có thể lập luận tương tự như đối với ống kính không có nước để có biểu diễn:
Nếu
để ý rằng ống kính chuyển động thì khối nước trong nó cũng chuyển động
và có thể “kéo” tia sáng theo hướng chuyển động của nó. Như vậy, biểu
diễn ấy chưa chắc đã đúng và hơn nữa chưa được hiểu thấu đáo.
Thực
nghiệm chỉ ra rằng đúng là có hiện tượng kéo theo của nước đối với tia
sáng đi từ O. Do bị kéo theo mà nó không đến được điểm F1’ mà đến điểm F2 với FF2 ngắn hơn FF1’. Nghĩa là nếu trong ống kính T không có nước với góc tinh sai là
thì khi có nước góc tinh sai trong môi trường ấy được thấy là
.
Với tưởng tượng tia sáng không xuất phát từ S mà từ S1, qua O đến F2
thì có thể nghĩ đến sự tương tự giữa hiện tượng này với hiện tượng khúc
xạ. Có thể gọi nó là hiện tượng “khúc xạ ảo”. Nguyên nhân sâu xa nhất
gây ra hiện tượng khúc xạ ảo chính là sự chiết quang đồng thời thực sự
chuyển động với vận tốc v theo phương ngang của khối nước trong ống kính T chứ không có sự tác động nào của ête ở đây cả.
Chúng ta cho rằng trong môi trường nước, khi vận tốc truyền sáng giảm xuống ngang v thì coi như vận tốc chuyển động ngang v của hệ O’ so với O được cho là đứng yên, (thực ra là -v vì ngược chiều chuyển động của Trái Đất), giảm xuống còn v' theo qui luật tương tự như tia sáng được phát ra từ O’ khi O’ trùng với O.
Đặt: v'=v.k
với k là hệ số nhỏ hơn 0
Có thể biểu diễn hai vận tốc là:
Với x', x là hai khoảng cách không gian và tv’, tv là hai khoảng cách thời gian. Mối quan hệ của chúng tuân theo các biểu thức
và
với
, nghĩa là:
Chú ý rằng ở đây, tv là thời gian xác định được một cách chắc chắn (đo được) ở hệ O. Do đó phải qui tv’ sang theo đơn vị đo thời gian của hệ O để có thể viết mối quan hệ giữa hai vận tốc v, v' như sau:
Vậy, phải có:
Bỏ qua đại lượng nhỏ cỡ 10-6 là
và nhớ rằng
thì:
Vì các góc
và
' rất nhỏ nên có thể suy ra:
Khi làm nghiêng ống kính T đi một góc
nào đó sao cho tia sáng từ O rọi đúng điểm F, vì lúc đó đồng thời tia sáng cũng bị khúc xạ lệch đi một góc
(xem hình 8/b), nên:
Vì trên minh họa ở hình 8, góc tới tạo ra sự khúc xạ của tia sáng là góc
và góc đó cũng chính bằng
. Nếu gọi góc khúc xạ là
thì:
Suy ra:
hay: 
Và hiển nhiên:
Vậy:
Tự Nhiên Tồn Tại giản dị nên cũng tuyệt đẹp như thế đấy!
Từ
đây, dễ dàng làm xuất hiện trở lại hệ số kéo theo một phần ête. Trong
giả thuyết của Frênen. Nếu gọi vận tốc kéo theo của nước đối với tia
sáng là w thì:
Hệ số kéo theo
được
Frênen đưa ra khi giải thích kết quả một thí nghiệm do Aragô tiến hành.
Hơn 30 năm sau, tức năm 1851, Fizô thực hiện một thí nghiệm nổi tiếng
nhằm xác định vận tốc truyền sáng trong chất lỏng chuyển động và qua đó
cũng xác nhận tính đúng đắn của giả thuyết ấy của Frênen. Sau đây chúng
ta sẽ trình bày lại thí nghiệm này.
Thí nghiệm Fizô được bố trí như hình 9.
Hình 9: Sơ đồ thí nghiệm Fizô
Từ
nguồn sáng S, chùm sáng đơn sắc tới bản bán mạ M (tại điểm A), phân
thành hai tia đi ngược chiều nhau. Một tia vào truyền dọc trong ống O2, qua lăng kính K rồi truyền dọc trong ống O1,
đến gương G thì phản xạ về A. Tia thứ hai đi theo hướng ngược lại, cũng
về A. Hai tia sáng gặp nhau sẽ cho hình giao thoa. Vì hiệu quang trình
của hai tia sáng bằng O nên quan sát Q sẽ thấy vân giao thoa với ánh
sáng trắng.
Hai ống O1 và O2
thông nhau và chứa đầy nước. Khi nước đứng yên thì hệ vân giao thoa giữ
nguyên vị trí như khi không có nước. Khi nước chảy trong hai ống đó
theo chiều mũi tên với vận tốc U thì một tia sáng truyền cùng chiều, một
tia sáng truyền ngược chiều chảy của nước. Quan sát Q thấy hệ vân giao
thoa dịch chuyển. Nếu ête hoàn toàn đứng yên, tức là không bị nước kéo
theo thì hệ vân phải giữ nguyên như khi nước không chảy. Kết quả thí
nghiệm chứng tỏ ête đã bị kéo theo.
Fizô
cho rằng nếu ête bị kéo theo hoàn toàn thì tốc độ truyền của hai tia
sáng trong trường hợp nước chảy phải tuân theo phép tổng hợp vận tốc
Galilê. Gọi vận tốc truyền sáng trong nước đứng yên là V thì vận tốc tia
sáng truyền cùng chiều nước chảy là V + u và của tia sáng truyền ngược
chiều nước chảy là V – u. Gọi độ dài của mỗi ống là l thì thời gian truyền của hai tia sáng ấy khác nhau một lượng là:
Như vậy quãng quán tính chênh lệch của hai tia sáng là
. Do đó, khoảng dịch
của hệ vân giao thoa phải bằng:
Với
là bước sóng ánh sáng
Biết chiết xuất của nước là
, nên
, và vì thế:
Vì n2.v2<2
nên có thể bỏ qua để:
Trong thí nghiệm Fizô, l=1,5m ,
, và
. Kết quả tính toán thời đó cho ra kết quả
. Tuy nhiên thực tế thí nghiệm lại thu được
,
nhỏ hơn kết quả tính toán đến chừng 2 lần. Điều đó chứng tỏ ête không
bị nước kéo theo hoàn toàn mà chỉ một phần. Áp dụng hệ số kéo theo của
Fênen, nghĩa là thay v bằng v.x thì kết quả thí nghiệm coi như thỏa mãn kết quả tính toán.
Ngày
nay, người ta biết chắc rằng ête, một chất có những tính chất như thời
bấy giờ quan niệm, là không tồn tại. Ấy vậy mà dựa vào ête, Frênen vẫn
dẫn dắt ra được hệ số x và
việc ứng dụng hệ số ấy đã tỏ ra hữu hiệu trong việc giải quyết ít nhất
là ba thí nghiệm có liên quan đến ánh sáng. Để thấy điều lạ kỳ này tại
sao lại có thể xảy ra được, chúng ta hãy xem lại quá trình suy đoán, lập
luận của Frênen.
Trước
tiên, Frênen cho rằng ête không chuyển động theo vật thể mà thấm qua
nó. Trên cơ sở phán đoán đó, ông tiếp tục cho rằng, khi vật thể chuyển
động, lượng ête thấm trong vật thể tăng lên. Điều đó dẫn đến mật độ khối
lượng của ête trong vật thể lớn hơn mật độ khối lượng
của ête trong chân không và sự tăng lên ấy thỏa mãn chính xác hệ thức:
Giả
sử rằng vật thể đó là một khối hình trụ và nó chuyển động theo đường
thẳng dọc trục của nó. Có thể tưởng tượng được rằng đáng lẽ vật thể phải
chuyển động với vận tốc v so
với ête, thì do mật độ khối lượng (hay khối lượng riêng) của ête trong
vật tăng lên mà nó chỉ có thể chuyển động với vận tốc là v'>v, sao cho:
Nghĩa là:
Chính vì thế mà tia sáng truyền trong ống theo chiều chảy của nước với vận tốc là V-v', nhưng đối với máy đo bên ngoài ống (trong môi trường chân không!) thì vận tốc đó được thấy bằng:
Còn đối với tia nước truyền trong ống ngược chiều chảy của nước thì có vận tốc bằng:
Xuất
phát từ một quan niệm sai lầm về thực tại mà vẫn dẫn ra được điều chí
lý thì kể cũng thú vị thật. Trong khoa học không thiếu gì những trường
hợp như thế. Có thể thấy rằng, trong giả thuyết của Frênen, nếu loại bỏ
cái “vỏ bọc” ête đi thì sẽ thấy sự phán đoán của Frênen cũng phần nào
hợp lý vì đã nêu ra được sự phụ thuộc của giá trị vận tốc vào khối lượng
riêng, tức là vào mức năng lượng của môi trường so với của chân không.
Sau này, trên cơ sở phép cộng vận tốc trong thuyết tương đối hẹp của Anhxtanh, người ta cũng đi đến được hai biểu thức tính V1 và V2 giống như của Frênen.
Theo thuyết tương đối hẹp thì:
Vì lượng
rất nhỏ so với 1 nên có thể viết:
Bỏ qua lượng rất nhỏ
, ta có kết quả cuối cùng trùng với kết quả đã suy ra được của Frênen:
Nghĩ
thoáng qua thì có thể cho rằng việc dẫn dắt này là một trong nhiều bằng
chứng củng cố niềm tin vào sự đúng đắn của thuyết tương đối hẹp. Thế
nhưng, nếu nghĩ kỹ thì hóa ra sự dẫn dắt này lại có tác dụng ngược lại
vì tỏ ra khiên cưỡng trong quá trình biến đổi biểu diễn. Trong trường
hợp u lớn đáng kể thì việc suy ra hệ số x từ phép tổng hợp vận tốc mà
thuyết tương đối nêu ra sẽ mất hiệu lực. Cho nên, phải chăng ở đây đã
phơi bày ý này: do quan niệm vẫn còn chưa đúng về Tự Nhiên Tồn Tại, vẫn
sai lầm về không gian, thời gian và mối quan hệ của chúng mà các biểu
thức toán học của thuyết tương đối hẹp mới chỉ đạt đến được những kết
quả “rất” gần đúng chứ chưa phải là đích thực?
Vậy
thì liệu từ những biểu thức vẫn trong thời kỳ im hơi lặng tiếng (nghĩa
là chưa ai biết tiếng mà mới chỉ nổi tiếng đối với hai gã Hiện Thực và
Hoang Tưởng thôi!), liệu chúng ta có giải thích được sự sai lệch giữa
kết quả tính toán lý thuyết và kết quả rút ra từ thực tiễn trong thí
nghiệm Fizô không?
Để
trả lời câu hỏi đó thì như thường lệ, phải xắn tay áo lên “chiến đấu
đến cùng”! Hơn nữa, vì đã lỡ mạo muội phê phán bậc tiền bối mà tên tuổi
vẫn còn đang lẫy lừng trong giới vật lý, nên không có quyền được “hy
sinh anh dũng” mà phải dành thắng lợi để chứng tỏ những gã nhà quê dù
nói năng thô kệch thì cũng có lý hơn một chút xíu. Ở đây, nói có lý hơn
không có ý huyênh hoang tự cho mình tài giỏi hơn tiền bối mà chỉ có ý là
thấy được cái mà tiền bối đã không thấy, hay nói đúng hơn là thấy khác
cái mà tiền bối đã thấy và quan niệm. Được như vậy là vì chúng ta là hậu
thế của tiền bối - một hậu thế cuồng si đi theo tiền bối, học hỏi tiền
bối rồi bỗng chốc trở thành điên rồ, hoang tưởng, bỏ hết mọi công việc
đồng áng để lêu têu ở những nơi mà nhiều người tỉnh táo đã tường tận đến
chán chường. Niutơn đã đúng khi ông nói đại ý rằng ông hơn người không
phải vì tài giỏi mà vì được đứng trên vai những người khổng lồ. Câu nói
tỏ ý khiêm tốn đó của Niutơn, dù đúng thì cũng chưa thật chí lý, vì rằng
không phải ai đứng trên vai những người khổng lồ cũng làm được như ông.
Chúng ta cho rằng trong số những người được đứng trên vai những bậc
tiền bối vĩ đại, chỉ có một số rất ít người biết và dám suy nghĩ khác
thường để giải quyết những bế tắc khoa học to lớn của đương thời một
cách khác thường. Và trong số họ chỉ có một hai người may mắn khám phá
ra được chân lý. Có lẽ, muốn thấy được cái mà đương thời không thấy
trong thực tại khách quan thi trước hết, ít ra cũng phải có tâm hồn như
Lương Khải Siêu: nể phục thiên tài đồng thời cũng coi thường thiên tài, có lối nhìn sự vật và tư duy “không giống ai” tương tự như nhà thơ
Bùi Giáng của Việt Nam chăng?
Nhắc
đến Bùi Giáng, chúng ta không thể không đọc lại vài lời thơ đối với
chúng ta là thật hay, nghe cứ tưng tửng, giỡn chơi, như buông ra một
cách “trời ơi đất hỡi”, suông đuột chỉ để cho có vần, mà ngẫm kỹ lại
thấy thâm thúy, sâu lắng lạ lùng:
“Trong linh hồn một bông hoa
Hình như có cõi người ta đàng hoàng
Ở trong một phút lang thang
Có hồn dâu biển đa đoan cơ Trời”
“Trần gian trên đất dưới trời
Một lời là một không lời nói ra”
Rồi tôi cũng phải xa tôi
Đời tài hoa cũng xa trôi ven trời”
“Bỏ quên mái tóc trên đầu
Bỏ quên túi áo đằng sau túi quần”
“Một là một hóa ra ba
Hai là hai một thiết tha muôn lần”
“Em vui như thể thiên thần
Em buồn như thể vô ngần em vui”
“Sớm đào tối mận lân la
Trước còn đất sét sau ra đá vàng”
“O Thêm, O Mạnh, O Cừ
Trẫm bây giờ vẫn tuyệt trù yêu O
Biết rằng O cũng tròn vo
Mà tôi I cứ thẳng ro một đường”
“Gặp người tôi tưởng người điên
Gặp tôi người tưởng tôi điên như người”
Trong
giới nhạc sĩ Việt Nam từ trước tới nay, người có cách biểu đạt ý tưởng
của mình bằng từ ngữ gần gũi nhất với cách của Bùi Giáng có lẽ là nhạc
sĩ Trịnh Công Sơn. Nếu thơ của Bùi Giáng ngây ngô, tinh nghịch một cách
uyên bác thì ca khúc của Trịnh Công Sơn ngơ ngác, hiền lành một cách kỳ
tài.
Thôi! Chúng ta tiếp tục… lao động.
Cái nguyên nhân làm cho vận tốc truyền sáng trong nước tĩnh V chuyển biến thành V1 hoặc V2 chính là vận tốc nước chảy ra. Có thể coi
là
chỉ số đặc trưng cho sự kéo theo hoặc cản trở (đồng thời cũng có thể
đặc trưng cho sự tăng giảm mức năng lượng) của môi trường theo một
phương chiều nào đó đối với sự vận động của một thực thể trong môi
trường đó, trước một quan sát ở ngoài môi trường được cho là đứng yên.
Nếu áp dụng biểu thức
và ở đây
thì có ngay:
Biểu
diễn đó lạ hoắc, khác xa với biểu diễn của Frênen và nếu đem áp dụng nó
để tính khoảng xê dịch của hệ vân giao thoa thì trật lất so với kết quả
thí nghiệm.
Hay lại lập luận giống như khi tìm cách xác định vận tốc u trong thí nghiệm của Evi để có được:
? Cũng… trật lất!
Vậy thì phải chăng biểu thức
của chúng ta vẫn chưa đúng và hơn nữa tương tự như Frênen, chúng ta đã
dựa trên một quan niệm sai lầm và may mắn dẫn ra được kết quả chuyển
đổi, giá trị vận tốc đúng đắn trong việc xác định vận tốc kéo theo của
nước ở thí nghiệm Êri?
Chúng ta đã rà soát lại một cách kỹ lưỡng và nhiều lần từng bước dẫn đến biểu thức
mà vẫn chưa thấy bất cứ một sai sót nào. Do đó, chúng ta vẫn tin tưởng vào sự chí lý của biểu thức tổng hợp vận tốc
.
Tuy nhiên, có điều lạ lùng là có nhiều trường hợp giải quyết vấn đề một
cách suông sẻ nhờ áp dụng nó, nhưng cũng có những trường hợp dùng nó sẽ
dẫn đến kết quả tính toán không phù hợp với thực tế thí nghiệm. Như
vậy, rất có thể biểu thức
chưa mang tính tổng quát.
Từ
suy nghĩ trên, chúng ta quay lại nghiền ngẫm những bước đi suy lý của
mình trong khi bàn luận về thí nghiệm Eri và… bật té ngửa! Thì ra, chúng
ta đã “gộp” hai hiện tượng có bản chất khác nhau làm một. Hai hiện
tượng đó, chúng ta gọi là hệ chuyển động và môi trường chuyển động (cần
hiểu chuyển động ở đây là chuyển động tương đối so với hệ quan sát được
cho là đứng yên!
(Còn tiếp)
--------------------------------------------------------------------
(Còn tiếp)
--------------------------------------------------------------------
Nhận xét
Đăng nhận xét