ĐỊA LINH NHÂN KIỆT 48

(ĐC sưu tầm tên NET)

Trần Quang Khải (1241 - 1294)

VietnamDefence - "(Trần) Quang Khải lúc thì làm tướng võ, khi thì làm tướng văn, giúp cho đế nghiệp của nhà Trần, uy danh sánh ngang với (Trần) Quốc Tuấn” - Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chính biên, quyển 8, tờ 22)
"(Trần) Quang Khải lúc thì làm tướng võ, khi thì làm tướng văn, giúp cho đế nghiệp của nhà Trần, uy danh sánh ngang với (Trần) Quốc Tuấn. Khi mất, (Trần Quang Khải ) hưởng thọ 54 tuổi. Ông có để lại cho đời tập thơ Lạc đạo. Con ông là Văn Túc vương (Trần) Đạo Tái cũng có tiếng là người văn hay. Cháu ông là Uy Túc hầu (Trần) Văn Bích, làm quan được phong tới hàm Thái bảo. Chắt của ông là Chương Túc hầu (Trần) Nguyên Đán cũng có danh vọng rất lừng lẫy. Xem thế cũng đủ biết phúc đức của dòng Trần Quang Khải sâu rộng và bền bỉ dường nào. Trước sau họ đều gắn bó với cơ nghiệp của nhà Trần”
Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chính biên, quyển 8, tờ 22)
Trần Quang Khải là con của vua Trần Thái Tông và Hoàng hậu Thuận Thiên. Con trưởng của Trần Thái Tông là Trần Quốc Khang (Cũng do Hoàng hậu Thuận Thiên sinh hạ. nhưng thân sinh là Trần Liễu, anh ruột của vua Trần Thái Tông. Trần Quốc Khang được phong tước Tĩnh vương), kế đến là Trần Hoảng (tức vua Trần Thánh Tông: 1258 - 1278). Ông là Hoàng tử thứ ba. Sau ông là các vị hoàng tử khác như Trần Nhật Vĩnh, Trần Ích Tắc...
Trần Quang Khải chào đời vào tháng 10 năm Tân Sửu (1241), được phong là Chiêu Minh Đại Vương vào tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258). Tháng 3 năm Tân Dậu (1261) ông được phong hàm Thái uý và đến tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1282) thì được phong hàm Thái sư, chức Thượng tướng quân.
Khi còn tuổi ấu thơ, Trần Quang Khải đã có lần lâm bệnh nặng, tưởng đã không cứu nổi. Về lần lâm bệnh nặng này của ông, sử cũ chép rằng:
“(Trần) Quang Khải lúc mới sinh, phát chứng bệnh lên cơn kinh giật, suýt nữa thì không qua khỏi. (Vua Trần) Thái Tông (thấy thế), liền lấy áo của Thượng Hoàng (Đây chỉ Trần Thừa, người được tôn làm Thượng Hoàng, mặc dù trước đó chưa từng làm vua) và thanh gươm báu truyền quốc đem đến để bên cạnh rồi nói:
- Nếu sống thì sẽ ban cho những thứ này.
(Nhưng) đến khi ông sống lại, (vua Trần) Thái Tông lại nói rằng:
- Gươm báu truyền quốc thì không thể trao bừa được, chỉ có thể ban cho tấm áo của Thượng Hoàng mà thôi” (Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, quyển 6, tờ 1-b). 
Lớn lên, Trần Quang Khải là người có chí lớn, ham học hỏi, là bậc văn tài nổi tiếng, ông sử dụng thông thạo tiếng nói của không ít đồng bào các dân tộc ít người. Vua cha rất yêu quý ông đã đành, ngay cả bậc lừng danh văn võ như Trần Quốc Tuấn cũng rất nể trọng ông. Sử cũ có chép một câu chuyện rất cảm động về ông và Trần Quốc Tuấn như sau:
“(Trần) Quang Khải là người có học thức, hiểu được tiếng nói của giống phiên thuộc (chỉ tiếng của đồng bào các dân tộc ít người trên đất nước ta - NKT). Trước kia, có lần (vua Trần) Thánh Tông đem quân đi đánh giặc, (Trần) Quang Khải theo hầu cận, ngôi Tể tướng phải bỏ trống. Đúng lúc đó thì có sứ giả của phương Bắc đến, (Thượng Hoàng Trần) Thái Tông liền cho gọi Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn tới và nói:
- Thượng Tướng đi theo hầu vắng, trẫm định lấy khanh làm Tư đồ để tiếp sứ phương Bắc.
(Hưng Đạo Vương Trần) Quốc Tuấn trả lời:
- Việc tiếp sứ giả, thần không dám chối từ, còn như việc phong thần làm Tư đồ thì thần không dám vâng theo chiếu lệnh. Huống chi, nay Quan Gia (tức vua Trần - NKT) đang đi đánh giặc xa (Đây là lần xuất chinh đi đánh dẹp những cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc ít người ở Nẫm Bà La (vùng Quảng Bình ngày nay), (Trần) Quang Khải đang bận theo hầu mà bệ hạ lại tự ý phong chức (cho thần), thì như thế, tình nghĩa trên dưới (Về thế thứ họ hàng, Trần Quang Khải tuy ở vai em con nhà chú của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, song, Trần Quang Khải lại là con của vua Trần Thái Tông và em của vua Trần Thánh Tông) sợ là chưa được ổn, Quan Gia và (Trần) Quang Khải sẽ không được vui. Chi bằng hãy đợi đến khi xa giá trở về, lúc đó, nếu thần có xin vâng mệnh cũng chưa muộn” (Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, quyển 5, tờ 1-b và tờ 2-a).
Thời Trần, quân Nguyên-Mông ba lần sang xâm lược nước ta. Lần thứ nhất (1258) diễn ra khi Trần Quang Khải mới 17 tuổi, cho nên, ông chưa có cống hiến gì đáng kể. Nhưng, liên tục trong cả hai lần sau (1285 và 1288), Trần Quang Khải đã lập được rất nhiều chiến công xuất sắc, góp phần to lớn vào thắng lợi vẻ vang chung của nước nhà.
Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, nhiệm vụ đầu tiên mà Trần Quang Khải được đích thân vua Trần trao phó là đi tăng viện cho các cánh quân ở vùng Thanh Hóa và Nghệ An ngày nay. Bấy giờ, quân Nguyên tiến vào nước ta bằng hai hướng khác nhau. Hướng thứ nhất từ Bắc đánh xuống, gồm tất cả 50 vạn quân do chính chủ tướng của giặc là Thoát Hoan trực tiếp chỉ huy. Hướng thứ hai gồm gần 10 vạn quân, từ đất Chiêm Thành đánh lên, do tướng Toa Đô cầm đầu. Kế hoạch ban đầu của nhà Trần là quyết không để cho giặc có thể hội quân với nhau. Để thực hiện kế hoạch này, nhà Trần đã sai Trần Quốc Khang (Con của Trần Liễu nhưng danh nghĩa lại là con của vua Trần Thái Tông, do Hoàng hậu Thuận Thiên sinh hạ) và con của Trần Quốc Khang là Trần Kiện, đem quân trấn giữ vùng Nghệ An và Thanh Hóa, tổ chức đánh trả kịch liệt để cản phá lực lượng của Toa Đô. Ngày 28 tháng giêng năm Ất Dậu (nhằm ngày 5/3/1285), tướng Trần Nhật Duật (Em ruột của Trần Quang Khải) lại được cử vào để tăng viện. Nhưng khi Trần Nhật Duật chưa vào đến nơi thì Trần Kiện đã đi đầu hàng quân Nguyên. Trần Quốc Khang vốn là người không có tài cầm quân, vì thế, giặc dễ dàng tập trung lực lượng đánh vào Trần Nhật Duật. Tình hình chiến trường phía Nam vì thế mà trở nên rất khó khăn và phức tạp. Đó chính là lý do khiến vua Trần sai Trần Quang Khải đem quân đi tăng viện cho Trần Nhật Duật. Sự có mặt của Trần Quang Khải đã khiến cho đạo quân của Toa Đô bối rối và sa lầy. Chúng buộc phải đóng lại ở vùng Thanh Hóa và Nghệ An ngày nay.
Tháng 4 năm Ất Dậu (1285), nhà Trần tổ chức phản công. Một loạt các chiến dịch lớn được tổ chức. Trần Nhật Duật và Trần Quang Khải được lệnh bí mật vượt qua vùng tạm chiếm để tiến ra Bắc. Chiến dịch Hàm Tử (tháng 4 năm Ất Dậu) do Trần Nhật Duật chỉ huy và người giữ vai trò hợp đồng tác chiến một cách rất tích cực, linh hoạt và đầy hiệu quả là Trần Quang Khải. Toàn bộ lực lượng quân Nguyên đóng giữ ở Hàm Tử nhanh chóng bị đánh cho tan tành
Cũng ngay trong tháng 4 năm Ất Dậu (1285), Trần Quang Khải đã có vinh dự được cử làm tướng tổng chỉ huy chiến dịch Chương Dương và Thăng Long. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, lực lượng cửa Trần Quang Khải đã đẩy lùi quân Nguyên ra khỏi hai vị trí trọng yếu này. Nguy cơ bị đại bại thảm hại của quân Nguyên đã bộc lộ rõ rệt. Cộng với các chiến dịch khác như Tây Kết (lần thứ nhất và lần thứ hai), ta đã hoàn toàn quét sạch quân nguyên ra khỏi bờ cõi. Ngày 6 tháng 6 lăm Ất Dậu (1285), Thượng Hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông. cùng đại quân nhà Trần trở về kinh đô Thăng Long để tổ chức ăn mừng đại thắng. Trần Quang Khải đã cảm khái mà viết rằng:
         “Đoạt sáo Chương Dương độ
                                           Cầm Hồ Hàm Tử Quan.
                                           Thái Bình tu trí lực
                                           Vạn cổ thử giang san”

                                           (Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, quyển 5, tờ 50-a).
       Nghĩa là:
                                           Cướp giáo giặc ở bến đò Chương Dương,
                                           Bắt giặc Hồ (tức giặc Nguyên-NKT) ở cửa Hàm Tử.
                                           Thời thái bình nên gắng đem hết trí tuệ và sức lực (để xây dựng),
                                           Muôn đời (còn mãi) sông núi này.
 

Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba (1288), Trần Quang Khải được bố trí theo hầu cận bên cạnh vua Trần Nhân Tông và Thượng Hoàng Trần Thánh Tông. Ông vừa lo bảo vệ Nhà vua và Thượng Hoàng, vừa sẵn sàng tham gia trận mạc dưới quyền chỉ huy trực tiếp của vua Trần Nhân Tông và Thượng Hoàng Trần Thánh Tông. Trong trận quyết chiến chiến lược lịch sử tại Bạch Đằng (9/4/1288), cùng với hàng loạt các tướng lĩnh xuất sắc khác, Trần Quang Khải đã góp phần to lớn vào việc đập tan toàn bộ đạo quân hùng hậu và thiện chiến của nhà Nguyên do tướng Ô Mã Nhi cầm đầu.
Sau chiến trắng Bạch Đằng, Trần Quang Khải tiếp tục tận tụy phò tá nhà Trần. Ông nổi tiếng là người có tài giúp vua trị nước, thanh liêm và ngay thẳng.
Ngày 3 tháng 7 năm Giáp Ngọ (1294), Thượng Tướng Thái Sư, Chiêu Minh Đại Vương Trần Quang Khải qua đời vì bệnh, hưởng thọ 53 tuổi. Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái đã trang trọng dành cho Trần Quang Khải những lời ca ngợi thật cảm động:
“Rợ Nguyên quen thói tham tàn,
Quân năm mươi vạn những toan tung hoành.
Vua sai Hưng Đạo Tổng binh,
Với Trần Quang Khải các dinh tiến vào.
Chương Dương một trận phong đào,
Kìa ai cướp giáo ra vào có công.
Hàm Quan một trận ruổi giong,
Kìa ai bắt giặc uy phong còn truyền.
Giặc Nguyên còn muốn báo đền,
Mượn đường hộ tống binh thuyền lại sang.
Bạch Đằng một cõi chiến tràng,
Xương bày trắng đất, máu màng đỏ sông”

(Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái. Đại Nam quốc sử diễn ca)

Nguồn: Danh tướng Việt Nam - Tập 1 / Nguyễn Khắc Thuần.-H.: Giáo dục, 1996.

Phạm Tu (476 - 545)

VietnamDefence - Phạm Tu là một trong những bậc hào kiệt đầu tiên đã nhiệt liệt hướng ứng và có mặt bên cạnh Lý Bôn, trực tiếp tham gia vào quá trình chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ của chính quyền nhà Lương. Là công thần khai quốc thời tiền Lý, ông có công giúp Lý Nam Đế đánh đuổi quân xâm lược nhà Lương, thành lập nên nước Vạn Xuân.
Phạm Tu sinh ngày 10 tháng 3 năm Bính Thìn (tức 19.04.476) tại Trang Quang Liệt, nay là xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Song thân của Ngài là Phạm Thiều và Lý Thị Trạch, vốn là những người đức độ có tiếng trong vùng. (Theo tác giả Nguyễn Khắc Thuần, dẫn ghi chép của thần tích đền Thanh Liệt thì Phạm Tu sinh năm 481, mất năm 545, hưởng thọ 64 tuổi). Ngài là danh nhân họ Phạm xuất hiện sớm nhất trong lịch sử: Bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” có hai chỗ viết về Ngài; bộ “Biên niên Lịch sử cổ trung đại” có ba lần nhắc đến tên Ngài … Dòng họ Phạm Việt Nam thờ Ngài là Thượng Thủy tổ Họ Phạm Việt Nam.
Phạm Tu (476 - 545) - Tiền Lý triều Tả tướng,
Trưởng Ban võ của nhà nước Vạn Xuân
Thượng thủy tổ họ Phạm Việt Nam
(Tranh thờ tại Đình Ngoại xã Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.
Tô lại năm 1932)
Từ nhỏ Ngài đã là một trang thiếu niên tư chất thông minh, khôi ngô tuấn tú, học giỏi, chăm đọc sách, học giỏi, hay đọc sách binh pháp, đàn hát hay… Lớn lên, ông có vóc dáng rất khỏe, lại năng luyện võ nghệ, là một đô vật nổi tiếng trong vùng, thường được gọi là Đô Tu, rồi đã thật sự trở thành một hào kiệt có uy tín lớn trong vùng.

Sinh ra giữa thời “hơn 1000 năm Bắc thuộc” (179 TCN-905) nên hầu như suốt cuộc đời, Ngài sống ẩn dật, nung nấu chí cứu nước, chờ thời cơ. Ngài lấy biệt hiệu là Cảm Ứng cư sĩ , từng khuyên dân “cửu niên tam  tích”(1) – “cửu niên” với nghĩa là lâu dài, nhiều năm tích trữu ba thứ là: Lương thực, quần áo, vũ khí … để luôn sẵn sàng, khi thời cơ đến thì vùng lên giành lại non sông.

Năm 541, được tin Lý Bí phất cờ khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Lương, mặc dù lúc này đã bước sang tuổi 66, nhưng Ngài vẫn tích cực hưởng cuộc khởi nghĩa của Lý Bí (còn gọi là Lý Bôn). Ngài đã chủ động  tập hợp trai tráng trong vùng, lập thành một đội quân mạnh, gia nhập quân khởi nghĩa, đánh chiếm thành Long Biên (vùng Bắc Ninh ngày nay) thủ phủ của chính quyền đô hộ. Phạm Tu là người có tài năng quân sự bẩm sinh và khi đến tụ nghĩa dưới ngọn cờ cứu nước của Lý Bôn, tài năng quân sự bẩm sinh đó của Phạm Tu đã có cơ hội để phát huy một cách nhanh chóng và mạnh mẽ. Cùng với Triệu Túc và Tinh Thiều, ông trở thành 1 trong 3 võ tướng trong bộ tham mưu trong cuộc nổi dậy của Lý Bí. Ông là nanh vuốt của Lý Bôn, là vị tướng cầm quân rất xuất sắc.


Tài năng quân sự của Phạm Tu thể hiện tập trung nhất qua mấy trận đánh lớn sau đây: Quân khởi nghĩa đánh đâu thắng đó, thứ sử Tiêu Tư phải bỏ chạy về nước, nghĩa quân chiếm đóng thành Long Biên.
  • Năm 542: Cùng với Lý Bôn và một số tướng lĩnh khác, trực tiếp tham gia chỉ huy cuộc tấn công vào sào huyệt của quân đô hộ nhà Lương trên đất nước ta, khiến cho toàn bộ chính quyền của giặc do Thứ sử Giao Châu là Lâm Vũ hầu Tiêu Tư cầm đầu, phải hốt hoảng tháo chạy.
  • Tháng 1 năm 543: Cùng với Lý Bôn trực tiếp chỉ huy cuộc tấn công bất ngờ và rất dũng mãnh vào sâu trong lãnh thổ của giặc, đập tan hoàn toàn lực lượng quân đội của nhà Lương đang tập trung ở Hợp Phố. Đây chính là đội quân đang chuẩn bị đi đàn áp Lý Bôn do Thứ sử Giao Châu là Tôn Quýnh và Thứ sử Tân Châu là Lư Tử Hùng cầm đầu. Trật tự ở khu vực biên giới phía Bắc nhanh chóng được khẳng định. Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng do bị đại bại thảm hại ngay khi chưa kịp xuất quân nên đã bị cả triều đình nhà Lương hết sức tức giận, khép vào tội buộc phải chết.  
  • Tháng 5 năm 543: Khi quân Lâm Ấp ở phía Nam nước ta, lợi dụng tình thế tràn sang cướp bóc, Lý Bí đã cử Phạm Tu làm Tổng chỉ huy đem quân vào Cửu Đức đánh dẹp, trừng trị đích đáng hành vi quấy phá của quân Champa, khiến cho tình hình biên giới phía Nam được yên ổn. Mùa hè năm 543 Người đã chỉ huy đánh tan địch ngay ở Cửu Đức (vùng Hà Tĩnh ngày nay). Trong chiến cuộc này, dưới trướng của Phạm Tu có cả tướng quân Phục Man, người làng Giá (Yên Sở, Đan Phượng Hà Tây) - sau được thờ làm Thành hoàng làng ở đấy. Chiến thắng trở về, Ngài càng được khẳng định là vị tướng tài giỏi nhất trong nghĩa quân và cũng là người cao tuổi nhất(2)
Nhờ những cống hiến xuất sắc nói trên. tháng giêng năm Giáp Tý (544), khi Lý Bôn lên ngôi Hoàng Đế (Lý Nam Đế), thành lập nhà nước Vạn Xuân Phạm Tu được phong làm Đại tướng (Tả tướng), đứng đầu Ban Võ và các võ quan của triều đình. 

Tháng 6  năm 545, nhà Lương huy động binh lực của cả 5 châu xung quanh nước ta là: Việt - La - An - Ái - Định Châu sang đàn áp Giao châu do hai tướng thiện chiến là Dương Phiêu và Trần Bá Tiên chỉ huy theo đường biển tiến sang. Phạm Tu đã giúp Lý Nam Đế huy động tới 3 vạn quân ra chống cự (trong khi toàn dân ở Giao Châu lúc bấy giờ chỉ có hơn 70 vạn nhân khẩu cả trẻ già, trai gái). Lý Nam Đế chống cự ở Chu Diên (vùng duyên hải Thái Bình, Nam Định) không nổi, phải lui về củng cố thành trì ở cửa sông Tô Lịch. Quân Lương đuổi tới tấn công. Trong cuộc đọ sức quyết liệt với quân Lương do tướng Trần Bá Tiên cầm đầu, ngày 20 tháng 7 năm Ất Sửu (tức 13/8/545), Phạm Tu đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến giữ thành Tống Bình - một công trình quân sự mới được cấp tốc xây dựng bên cửa sông  Tô Lịch (phía sau chợ Đồng Xuân Hà Nội ngày nay) để chặn đại quân địch lại cho Lý Nam Đế và Triệu Quang Phục bảo toàn lực lượng, tạm rút lên trung du rồi vòng về vùng đầm lầy Dạ Trạch xây dựng căn cứ địa chiến đấu lâu dài, nhằm đi đến thắng lợi cuối cùng. Triều đình nhà Tiền Lý đã giữ vững nền độc lập của nhà nước Vạn Xuân được thêm gần 6 năm nữa (545 - 602).

Phạm Tu hy sinh là tổn thất nặng nề, khiến sức đề kháng của triều đình Lý Nam Đế suy giảm rất nhanh. Sau khi lão tướng Phạm Tu hy sinh, Nhà vua vô cùng thương tiếc, đã cho Thái giám về tận quê hương truy phong tước Long Biên hầu (vì chính Ngài có công đầu trong hạ thành Long Biên, thủ phủ của địch); ban tên thụy là Đô Hồ, sắc cho quê hương là Thanh mộc ấp, được miễn sưu sai tạp dịch, để thờ Ngài làm “bản cảnh thành hoàng”  lưu truyền mãi mãi, nhiều nơi trong xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì đã lập miếu thờ. Trong gia phả họ tộc còn ghi lại ông có hai người con là Phạm Tĩnh và Phạm Hiển sau này cũng phò vua giúp nước, chiêu binh chống quân đô hộ nhà Tùy. Các đời sau: Đinh, Lê, Lý, Trần, rồi Hậu Lê, Lê Trung Hưng, Tây Sơn và Nguyễn đều có sắc phong là Thượng đẳng Thần: Đô Hồ Đại Thần hay Đô Hồ Đại Vương. Hiện nay ở Đình làng Thanh Liệt còn lưu giữ được 10 sắc phong từ thời Cảnh Hưng nhà Lê, qua Cảnh Thịnh, Tây Sơn đến Khải Định nhà Nguyễn.
 
 
Đền thờ Phạm Tu (476-545). Đình Ngoại, xã Thanh Liệt thờ Đô Hồ đại vương - Long Biên hầu;
Trưởng Ban võ Nhà nước Vạn Xuân Thượng thuỷ tổ Họ Phạm Việt Nam

    Nguồn: 1 - Danh tướng Việt Nam - Tập 4 / Nguyễn Khắc Thuần.-H.: Giáo dục, 2005.
    2 - Đô tướng Phạm Tu: Công thần khai quốc thời tiền Lý - http://www.baobinhduong.org.vn/

    Triệu Túc và Tinh Thiều

    VietnamDefence - Sát cánh với Lý Bôn trong cuộc chiến đấu ngoan cường và gian khổ nhằm đánh đuổi quân Lương ra khỏi bờ cõi còn có khá nhiều tướng lĩnh xuất sắc, trong đó, nổi bật hơn cả là Triệu Quang Phục (tức Triệu Việt Vương), Triệu Túc, Phạm Tu và Tinh Thiều.
    1. Triệu Túc
    TIỂU DẪN:
     Sát cánh với Lý Bôn trong cuộc chiến đấu ngoan cường và gian khổ nhằm đánh đuổi quân Lương ra khỏi bờ cõi còn có khá nhiều tướng lĩnh xuất sắc, trong đó, nổi bật hơn cả là Triệu Quang Phục (tức Triệu Việt Vương), Triệu Túc, Phạm Tu và một số nhân vật giàu tài năng khác. Tuy chưa thật đầy đủ nhưng dẫu sao thì cuộc đời và sự nghiệp của Triệu Quang Phục cũng đã được thư tịch cổ ghi chép khá nhiều, số nhân vật còn lại đều nói chung là không có được cơ may đó. Tuy nhiên, khảo sát linh hồn của một số sự kiện và hiện tượng toát lên từ những dòng ghi chép rất ngắn ngủi và hiếm hoi của sử cũ, chúng ta cũng có thể bước đầu phác thảo vài nét về tiểu truyện của ba nhân vật quan trọng là Triệu Túc, Phạm Tu và Tinh Thiều.
    Triệu Túc là một trong những vị tù trưởng nổi tiếng của huyện Chu Diên (Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ, quyển 4, tờ 15 a). Các thư tịch cổ khác như Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng chép tương tự), gia thế có ảnh hưởng khá mạnh ở vùng đất này. Khi Lý Bôn chiêu tập hào kiệt bốn phương để chuẩn bị dựng cờ khởi nghĩa chống ách đô hộ của nhà Lương thì Triệu Túc là một trong những người đầu tiên hồ hởi đến tham gia. Cùng có mặt bên cạnh Lý Bôn đồng thời với Triệu Túc còn có anh trai ông là Triệu Quang Thành và con trai ông là Triệu Quang Phục. Là người giàu nghĩa khí, lại vốn xuất thân là tù trưởng nên Triệu Túc được Lý Bôn rất coi trọng và ngay từ đầu, Triệu Túc đã thực sự là chỗ dựa rất tin cậy của Lý Bôn.
    Bấy giờ, Thái thú của nhà Lương ở Giao Châu là Lâm Vũ hầu Tiêu Tư do từng nghe tiếng nên cũng có phần nể sợ Triệu Túc, bởi vậy ngay khi vừa nhận được tin Triệu Túc theo về với Lý Bôn thì Tiêu Tư đã thực sự hất hoảng. Sau vài trận giáp chiến, vì tự thấy khó bề chống cự nổi, Tiêu Tư đã tìm đường chạy trốn về Trung Quốc.
    Trong những trận đọ sức đầu tiên với quân nhà Lương, Triệu Túc đã có những đóng góp rất to lớn, được Lý Bôn trân trọng ghi nhận và đánh giá rất cao. Tháng giêng năm Giáp Tý (544), khi Lý Bôn lên ngôi Hoàng Đế và xưng là Lý Nam Đế thì Triệu Túc được phong làm Thái phó tức là người có phẩm hàm lớn nhất trong triều đình lúc bấy giờ. Triệu Túc chính là một trong những trụ cột quan trọng nhất của nhà nước Vạn Xuân.

    Tháng 6 năm Ất Sửu (545), nhà Lương sai Dương Phiêu cùng các tướng Trần Bá Tiên và Tiêu Bột đem đại quân sang đàn áp Lý Nam Đế. Các trận ác chiến giữa đôi bên đã diễn ra tại thành Tô Lịch rồi sau đó là ở thành Gia Ninh. Và trong những trận đọ sức quyết liệt đầu tiên này, Lý Nam Đế đã phải chịu hai tổn thất rất lớn, đó là cả Triệu Túc lẫn Phạm Tu đều anh dũng hy sinh.
    Nghĩa quân mới nhóm họp, lực lượng không đông, trang thiết bị thiếu thốn, kinh nghiệm chưa nhiều, trong lúc đó thì kẻ thù vừa hung hãn và thiện chiến lại vừa rất hùng mạnh, cho nên, tổn thất của nghĩa binh Lý Nam Đế bởi sự ra đi của Triệu Túc và Phạm Tu là không có gì bù đắp nổi. Trần Bá Tiên biết rất rõ điều đó nên đã triệt để tận dụng cơ hội thuận lợi này để thừa thắng mà đánh tới tấp khiến cho Lý Nam Đế không thể nào chống đỡ nổi. Trận ác chiến diễn ra tại khu vực hồ Điển Triệt cũng có thể coi là cố gắng cuối cùng, cũng là cố gắng cao nhất của ông.
    Sau thất bại của cuộc giao tranh ở hồ Điển Triệt, Lý Nam Đế đã trao binh quyền cho con trai Triệu Túc là Triệu Quang Phục. Với gia đình Triệu Túc thì trường hợp này quả đúng là “hổ phụ sinh hổ tử”. Hiện chưa rõ Triệu Túc sinh vào năm nào nên cũng chưa rõ là khi mất, Triệu Túc được hưởng thọ bao nhiêu tuổi.
    2. Tinh Thiều
    Tinh Thiều là người cùng quê với Lý Bôn. Ngay từ lúc tuổi còn rất trẻ, Tinh Thiều đã nổi tiếng là người võ nghệ cao cường và văn hay chữ tốt nên được người đương thời không ngớt lời khen tụng. Theo ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư (Ngoại kỷ, quyển 4, tờ 15-a) thì chính Tinh Thiều cũng tự thấy mình có tài nên đã không quản đường xa dặm dài, lặn lội sang tận kinh đô của nhà Lương là Kiến Khang (nay thuộc thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc) xin dự thi để mong được bồ nhiệm làm quan.

    Đến Kiến Khang, ông đã chứng tỏ được tài năng thực sự của mình, nhưng quan Lại bộ Thượng thư của nhà Lương là Sài Tốn cho rằng, họ Tinh trước đó chưa từng có ai hiển đạt, tức là không thuộc vào hàng sĩ tộc, nên chỉ bổ cho Tinh Thiều chức gác cổng ở cửa Quảng Dương. Vì quá nhục nhã và uất hận, Tinh Thiều lập tức bỏ về và quyết chí tìm cách trả thù quân Lương. Tinh Thiều hồi hương đúng vào lúc Lý Bôn cũng vì quá bất mãn với chế độ sĩ tộc của chính quyền đô hộ nhà Lương mà từ bổ chức Giám quân ở châu Cửu Đức để trở về quê chiêu tập hào kiệt và nhân dân vùng dậy. Tinh Thiếu đã có mặt bên cạnh Lý Bôn ngay trong buổi dầu trứng nước của quá trình chuẩn bị này và ông đã trở thành một trong những chỗ dựa quan trọng nhất của Lý Bôn.

    Trong bộ máy chỉ huy của cuộc khởi nghĩa do Lý Bôn phát động và lãnh đạo, Tinh Thiều lãnh trách nhiệm soạn thảo mọi văn kiện và giấy tờ. Nhờ có văn võ song toàn lại lập được nhiều công lao trong cuộc chiến đấu đánh đuổi quân đô hộ nhà Lương, cho nên vào năm 544, khi Lý Bôn lên ngôi Hoàng Đế và xưng là Lý Nam Đế, Tinh Thiều được phong làm Thái sư, đứng đầu tất cả các văn quan của triều đình. Năm 545, trong cuộc chiến đấu ngoan cường chống lực lượng đi đàn áp của nhà Lương. Tinh Thiếu đã anh dũng hy sinh. Do chưa rõ năm sinh nên cũng chưa rõ khi mất, Tinh Thiều được hưởng thọ bao nhiêu tuổi.

    Nguồn: Danh tướng Việt Nam - Tập 4 / Nguyễn Khắc Thuần.-H.: Giáo dục, 2005.

    Nhận xét

    Bài đăng phổ biến từ blog này

    NHÂN TÍNH 37

    BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

    ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32