AN CHI GIẢI ĐÁP 6
(ĐC sưu tầm trên NET)
Chữ Cồ trong quốc hiệu Đại Cồ Việt
07:00 | 17/01/2013
(Petrotimes) - Bạn đọc: Xin ông cho biết tại sao nước ta có thời kỳ đặt tên là Đại Cồ Việt và chữ Cồ có ý nghĩa gì? (Huỳnh Phương Ngọc).
Học giả An Chi: Chúng tôi đã năm lần nói về chữ “cồ” trong quốc hiệu “Đại Cồ Việt”. Lần đầu tiên là trên Kiến thức Ngày nay
số 353 (1-6-2000), chúng tôi đã trả lời ngắn gọn rằng, ở đây, “cồ”
không phải là một chữ Nôm nhưng vẫn còn cho rằng nó là âm xưa của chữ
Hán 巨, mà âm Hán Việt hiện đại là “cự”, có nghĩa là to, lớn. Lần thứ hai
là trên Kiến thức Ngày nay số 599 (1-4-2007), chúng tôi đã nhận xét về ý kiến của Kỳ Quảng Mưu 祁广谋 trong bài “Đại Cồ Việt quốc danh thích”, đăng trên Đông Nam Á tung hoành 东南並纵橫 năm 2000 (tr.35-38), cho rằng cồ 瞿
là một chữ Hán, có nghĩa gốc là: 1. dáng nhìn sợ hãi; 2. kinh ngạc, lo
sợ. Cách giảng trịch thượng, ngu xuẩn này hẳn làm hài lòng bọn bá quyền,
bành trướng. Sau khi bác bỏ ý kiến của họ Kỳ, chúng tôi đã chứng minh
rằng “cồ” là hình thức nói tắt của Cồ Đàm Ma, họ của Đức Phật Thích Ca, phiên âm từ tiếng Sanskrit Gautama.
Vậy Đại Cồ Việt là nước Việt vĩ đại theo đạo Phật. Nhưng có một tác giả
là Nguyễn Anh Huy đã chính thức bác chúng tôi và “thách” chúng tôi phải
trả lời. Chúng tôi đã trả lời chi tiết trên Đương thời số 4-2009. Đó là lần thứ ba. Lần thứ tư là trên Đương thời số 8-2009, chúng tôi đã bác ý kiến của tác giả Huỳnh Dõng cho rằng cồ 瞿 là một chữ Hán, có nghĩa là “núi non lởm chởm, hiểm trở, bao quanh bởi sông nước cuộn trào”. Lần thứ năm là trên An ninh Thế giới
số 918 (16-12-2009), chúng tôi đã nhận xét và phản bác ý kiến của tác
giả Tạ Chí Đại Trường cho rằng “quốc hiệu Đại Cồ Việt chẳng văn hoa tí
nào”.
Lần này là lần thứ sáu. Vừa mới đây, chúng tôi có nhận được từ chuyên
gia Hán Nôm trẻ Nguyễn Tuấn Cường đường liên kết trên Facebook để đọc
bài “Về quốc hiệu đời nhà Đinh” của GS Nguyễn Tài Cẩn (www.ngonnguhoc.org/,
ngày 31-5-2009). Trước khi trình bày rõ quan điểm của mình để trả lời
bạn, chúng tôi xin mạn phép phân tích kỹ điểm quan trọng nhất mà chúng
tôi không thể đồng ý với giáo sư.
Điểm quan trọng đầu tiên mà chúng tôi hoàn toàn không đồng ý với GS
Nguyễn Tài Cẩn là ở chỗ, ông cho rằng Cồ Việt là “nước Việt hùng mạnh có
thứ vũ khí gọi là cồ” (Giả thuyết I). Ngay từ đầu giả thuyết, GS Cẩn đã
khẳng định một cách võ đoán rằng “giả thuyết này, nhìn chung, khá quen
thuộc”. Nhưng rõ ràng là nó mới được tung ra, cho nên gần cuối đoạn thì
chính ông Cẩn đã phải nói rõ rằng đây là một cách hiểu thứ ba do Nguyễn
Anh Huy mới đề xuất thêm. Thế là ông đã bất nhất ngay từ đầu. Ông Cẩn đề
nghị dành ưu tiên cho cách hiểu “mới mẻ này” vì ba lý do, mà lý do đầu
tiên là: “Nó hợp với thời đại: theo Nam Hải dị nhân, Đinh Bộ Lĩnh có gươm, vậy thời đại nỏ thần đã chuyển sang thời đại gươm giáo.”
Đó là lý do đầu tiên của GS Nguyễn Tài Cẩn. Nó bộc lộ sự ngây thơ của
một người già dặn. Ông cho rằng cách hiểu thứ ba do Nguyễn Anh Huy đề
xuất thêm mới hợp với thời đại vì lý do: Đinh Bộ Lĩnh có gươm nên “thời
đại nỏ thần đã chuyển sang thời đại gươm giáo”. Xin thưa rằng, trong Nam Hải dị nhân
thì Phan Kế Bính cũng chỉ chép theo truyền thuyết, mà cứ vào truyền
thuyết, vận dụng theo “lý thuyết Nguyễn Tài Cẩn” thì Đinh Tiên Hoàng
cũng đã bị Thánh Gióng bỏ xa từ hàng ngàn năm trước với roi sắt, ngựa
sắt và áo giáp sắt rồi. Cho nên, nếu nói về “thời đại” thì Đinh Tiên
Hoàng đã đi thụt lùi, chứ “chuyển thời đại” thế nào được! Huống chi,
liên quan đền đời tư của Vua Đinh từ tấm bé cho đến khi lên ngôi hoàng
đế, người ta được biết rất nhiều chuyện nhưng, tiếc thay, chẳng có ai
từng nghe nói một lần, một lời, đến cái thứ giáo gọi là “cồ”, làm nên
quốc hiệu Đại Cồ Việt của ông vua này cả. Giáo, mác, cung, tên, đao,
thương, việt, thuẫn, mâu... nói chung, thanh long đao của Quan Công, bát
xà mâu của Trương Phi... nói riêng, người ta đều có thể từng nghe nói
đến; thậm chí, thanh gươm Damoclès tít bên Tây cũng có người Việt biết
đến, riêng cái cây “cồ” làm nên quốc hiệu Đại Cồ Việt thì chẳng ai mảy
may nghe nói tới, cho đến khi ông Nguyễn Anh Huy moi nó ra từ từ điển.
Nói cho công bằng, không phải trước ông, chẳng ai biết đến cái nghĩa “vũ
khí” của chữ cồ 瞿; chỉ là người ta thấy nó không xài được ở đây mà thôi.
Tóm lại, với chúng tôi, mặc dù có cả sự tăng cường về lý luận của GS
Nguyễn Tài Cẩn, thuyết “cồ = vũ khí” của tác giả Nguyễn Anh Huy vẫn
không thể dùng được. Tại những nguồn thư tịch đã nói, chúng tôi đã phân
tích và chứng minh rằng Đại Cồ Việt là một kiểu đặt tên toàn Hán, mà Cồ Việt là một danh ngữ có cấu trúc cú pháp giống như Âu Việt, Lạc Việt, Dương Việt, Điền Việt, Mân Việt, v.v… trong đó Cồ, Âu, Lạc, Dương, Điền, Mân là định ngữ của Việt. Cồ là hình thức nói tắt lần thứ hai của Cồ Đàm Ma, mà hình thức nói tắt lần đầu là Cồ Đàm, họ của Đức Phật Thích Ca, phiên âm từ tiếng Sanskrit Gautama. Vậy Cồ Việt
là “nước Việt lấy đạo Phật làm quốc giáo”. Và Đại Cồ Việt là “nước Việt
vĩ đại lấy đạo Phật làm quốc giáo”. Quốc hiệu này cho thấy sự sáng suốt
của Vua Đinh từ đối nội đến đối ngoại. Về đối nội, sử gia Đào Duy Anh
cho biết:
“Đinh Bộ Lĩnh chỉ có thể dựa vào tập đoàn phong kiến tôn giáo là thành
phần xã hội có uy tín nhất trong xã hội bấy giờ để duy trì trật tự và kỷ
cương. Nhưng trong hai tôn giáo, Phật và Đạo, đều thịnh hành trong dân
gian, thì Phật giáo có tổ chức và qui củ vững vàng hơn, có kinh điển và
lễ nghi nghiêm trang hơn, chứ Đạo giáo thì chỉ là một mớ phương thuật và
mê tín. Về tổ chức cũng như về tinh thần, Phật giáo là yếu tố thống
nhất đắc lực nhất thời bấy giờ. Bởi thế Đinh Tiên Hoàng mới lấy Phật
giáo làm quốc giáo, định phẩm cấp tăng nhân để giao cho họ lãnh đạo
Phật giáo trong toàn quốc (AC nhấn mạnh). Khuông Việt đại sư tham
gia triều chính như một vị tể tướng. Các chùa (tự viện) của Nhà nước do
các tăng quan trụ trì đều được cấp ruộng làm tự điền. Các tự viện có
những đại điền trang không kém gì đại điền trang của bọn vương công đại
thần”. (Lịch sử Việt Nam, q. thượng, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1958, tr.175).
Chủ trương của Đinh Tiên Hoàng về đối nội như thế thật là cực kỳ sáng
suốt. Về đối ngoại, ông cũng tinh tế không kém. Ta nên nhớ rằng, đồng
thời với nước Đại Cồ Việt thì, nằm dọc theo bờ biển phía nam Trung Quốc
thời Ngũ đại Thập quốc (bên Tàu), là nước Nam Hán, tồn tại từ 917 đến
971. Trong năm đầu tiên, Nam Hán được đặt tên là Đại Việt. Đến năm 968,
khi quốc hiệu Đại Cồ Việt ra đời thì Nam Hán đã tồn tại được 49 năm còn
tên cũ của nó là Đại Việt thì đã bị bỏ từ 48 năm rồi. Nhưng Đinh Tiên
Hoàng là một vị vua nhìn xa trông rộng. Ông đâu có quên chuyện quân Nam
Hán sang xâm lược nước ta hồi 937 (mà bị Ngô Quyền đánh cho tơi bời trên
sông Bạch Đằng). Dã tâm xâm lược của chúng có bao giờ nguội tan. Cho
nên, nếu Đinh Tiên Hoàng đặt tên nước là “Đại Việt” thì chẳng hoá ra ông
mời chúng sang “đòi lại đất cũ của Nam Hán” hay sao? Sự gian manh của
bọn này thì ta còn lạ gì (nhất là nếu ta liên hệ tới tình hình biển Đông
hiện nay)! Vì thế nên phải có một định ngữ trước từ Việt của ta để phân biệt với “Việt” cũ của Nam Hán. Đó là chữ Cồ,
họ của Đức Phật Thích Ca. Vậy Cồ Việt là nước lấy đạo Phật làm quốc
giáo. Đây cũng là một sự thật lịch sử. Đến 1054, khi Lý Thánh Tông đổi
Đại Cồ Việt thành Đại Việt thì Nam Hán, tức Đại Việt cũ bên Tàu, đã bị
tiêu diệt được 83 năm. Cái nguy cơ làm cho Đinh Tiên Hoàng phải dè
chừng, từ lâu đã không còn nữa. Cái thế của nước ta đã khác. Ta nên nhớ
rằng năm 1075, Lý Thường Kiệt còn đem quân sang đánh Tống nữa kia mà.
Huống chi, tuy đạo Phật vẫn được tôn sùng nhưng bây giờ Nho giáo đã bắt
rễ khá sâu trong xã hội Việt Nam, nhất là từ khi Lý Thái Tổ dời đô ra
Thăng Long (1010). Chữ Cồ đã xong nhiệm vụ từ đối nội (trong
nước, Nho giáo bắt đầu thịnh) đến đối ngoại (không còn sợ họa “đòi đất”
vì hai chữ “Đại Việt”).
Hai năm sau khi chúng tôi đưa ra ý kiến trên Kiến thức Ngày nay
số 599, ý kiến này đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của chuyên gia Hán
Nôm trẻ Trần Trọng Dương trong một bài viết rất chặt chẽ và đầy ắp cứ
liệu, nhan đề “Khảo về «Đại Cồ Việt» (Nước Việt - nước Phật giáo)”, đăng
trên Tạp chí Hán Nôm, số 2(93) – 2009 (tr.53-75).
Chúng tôi tin tưởng vững chắc rằng đây là một cái hướng thực sự đúng đắn
cho những ai muốn đi tìm ý nghĩa đích thực của quốc hiệu Đại Cồ Việt.
Thế là chữ Cồ trong Đại Cồ Việt đã hoàn thành sứ mệnh
của nó một cách vẻ vang. Nó đã có mặt trong quốc hiệu 86 năm
(968-1054), từ Đinh Tiên Hoàng đến Lý Thánh Tông, với tư cách là một yếu
tố biểu hiện thể chế tôn giáo của nước nhà: nước Việt lấy Phật giáo làm quốc giáo.
A.C
Tại sao lại là "thiên thu"?
09:47 | 06/03/2013
(Petrotimes) - Bạn đọc: Xin ông cho biết các nghĩa của
cụm từ thiên thu và tại sao chỉ nói thiên thu mà không nói "thiên
xuân", "thiên hạ", "thiên đông"? (Diệu Huyền)
Học giả An Chi: Hai tiếng thiên thu có các nghĩa sau đây:
1. Ngàn năm, ngàn thu, chỉ thời gian trường cửu.
Bài thơ “Hàn thực” của Lư Tượng, nhắc đến Giới Tử Thôi, có hai câu:
Bài thơ “Hàn thực” của Lư Tượng, nhắc đến Giới Tử Thôi, có hai câu:
Tứ hải đồng hàn thực,
Thiên thu vị nhất nhân.
(Mọi người đều ăn nguội
Ngàn năm vì một người).
Thiên thu vị nhất nhân.
(Mọi người đều ăn nguội
Ngàn năm vì một người).
Bài “Thục Tiên sinh miếu” của Lưu Vũ Tích có hai câu:
Thiên hạ anh hùng khí,
Thiên thu thượng lẫm nhiên.
(Khí anh hùng thiên hạ
Ngàn năm vẫn còn oai).
Thiên thu thượng lẫm nhiên.
(Khí anh hùng thiên hạ
Ngàn năm vẫn còn oai).
Nhắc lại chuyện xảy ra ở đèo Mã Ngôi (Mã Ngôi pha), Đường Minh Hoàng
phải hy sinh Dương Quý Phi, bài “Khai nguyên tức sự” của Từ Dần có hai
câu:
Vị tất nga mi năng phá quốc,
Thiên thu hưu hận Mã Ngôi pha.
(Há lẽ mày ngài làm hại nước,
Ngàn năm nguôi hận Mã Ngôi pha).
Thiên thu hưu hận Mã Ngôi pha.
(Há lẽ mày ngài làm hại nước,
Ngàn năm nguôi hận Mã Ngôi pha).
2. Uyển ngữ để chỉ sự qua đời của người được tôn kính.
Bài “Thù Lạc Thiên kiến ký” của Lưu Vũ Tích có hai câu:
Bài “Thù Lạc Thiên kiến ký” của Lưu Vũ Tích có hai câu:
Hoa ốc tọa lai năng kỷ nhật,
Dạ đài quy khứ tiện thiên thu.
(Nhà sang sống chẳng được bao ngày
Suối vàng về ở đến ngàn thu).
Dạ đài quy khứ tiện thiên thu.
(Nhà sang sống chẳng được bao ngày
Suối vàng về ở đến ngàn thu).
Bài thứ hai trong ba bài “Nguyên Tướng công vãn từ (tam đạo)” của Bạch Cư Dị có hai câu:
Thương thương lộ thảo Hàm Dương lũng,
Thử thị thiên thu đệ nhất sầu.
(Mộ Hàm Dương xanh cỏ ngậm sương
Ấy sầu đau đến tận ngàn thu).
Thử thị thiên thu đệ nhất sầu.
(Mộ Hàm Dương xanh cỏ ngậm sương
Ấy sầu đau đến tận ngàn thu).
3. Chỉ tiết thiên thu (“thiên thu tiết”), tức lễ sinh nhật của hoàng đế.
Bài “Tân Dương môn” của Trịnh Ngu có hai câu:
Bài “Tân Dương môn” của Trịnh Ngu có hai câu:
Thiên thu ngự tiết tại bát nguyệt,
Hội đồng vạn quốc triều Hoa Di.
(Sinh nhật Đức Vua trong tháng tám
Vạn quốc đều chầu về Hoa Di).
Hội đồng vạn quốc triều Hoa Di.
(Sinh nhật Đức Vua trong tháng tám
Vạn quốc đều chầu về Hoa Di).
4. Lời kính trọng ngày xưa để chỉ sự sống lâu.
Bài “Lâu tiền” của Vương Kiến có hai câu:
Bài “Lâu tiền” của Vương Kiến có hai câu:
Thiên Bảo niên tiền Cần Chính lâu,
Mỗi niên tam nhật tác thiên thâu (thu).
(Lầu Cần Chính trước đời Thiên Bảo
Mỗi năm ba ngày mừng thọ vua).
Mỗi niên tam nhật tác thiên thâu (thu).
(Lầu Cần Chính trước đời Thiên Bảo
Mỗi năm ba ngày mừng thọ vua).
Các quyển từ điển quen thuộc không thấy quyển nào giải thích tại sao
lại nói thiên thu để chỉ ý “lâu dài”, “trường cửu” mà không nói “thiên
xuân”, “thiên hạ”, “thiên đông”. Tìm trên mạng thì thấy những câu trả
lời cho vấn đề này rất hiếm, mà sau đây là câu được đánh giá hay nhất:
“Thu thiên diệp tử lạc liễu, đại biểu nhất niên đích luân hồi, sở dĩ
thuyết thiên thu” (Mùa thu lá cây đã rụng, biểu hiện sự tuần hoàn của
một năm, cho nên nói thiên thu (là vì thế)). Không thấy lời phản biện
nào đối với cách giải thích này nhưng riêng chúng tôi thì vẫn còn băn
khoăn.
Trung Quốc có đủ bốn mùa. Mùa đông có tuyết, rồi tuyết đóng băng; mùa
xuân băng tan, cỏ cây đâm chồi nẩy lộc, v.v…, không biểu hiện sự tuần
hoàn của một năm hay sao? Thôi thì trước mắt xin hãy ghi nhận lời giải
đáp “hay nhất” trên đây nhưng vẫn cứ mạo muội nghĩ thêm như sau.
Trong một năm ở bên Tàu ngày xưa, mùa thu là mùa mà các hoạt động xã
hội nói chung, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp dần dần đi đến chỗ kết
thúc rồi ngưng hẳn trong mùa đông giá lạnh. Xin hãy đọc đoạn nói về sinh
hoạt trong năm của nông dân Trung Quốc trong Lịch sử thế giới cổ đại,
t.1, của Chiêm Tế (Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1971):
“Kinh Thi có miêu tả cụ thể tình hình sinh hoạt của nông dân thôn xã
trong suốt một năm. Đầu năm, nông dân phải tham gia săn bắn lúc khí trời
còn rét buốt. Săn được cáo phải mang da cáo nộp cho quý tộc, săn được
lợn rừng phải mang con to đến nộp cho quý tộc. Tiếp đó là đào băng và
tích băng. Nông dân phải vào nơi thâm sơn cùng cốc để đào băng, bởi vì ở
nơi đó băng đóng rắn chắc hơn. Tảng băng đào được mang về phải giữ làm
sao đến mùa hè vẫn còn để quý tộc dùng. Bấy giờ, vụ cày mùa xuân bắt
đầu, nông dân phải sửa chữa nông cụ trước rồi mới xuống đồng cày ruộng.
Phụ nữ và trẻ em mang cơm ra đồng cho người nhà.
Khi trời ấm áp, phụ nữ phải lo việc hái dâu nuôi tằm. Sau vụ thu hoạch
về, nông dân đi hái các thứ hoa quả và đậu. Đến mùa dế kêu (mùa thu –
AC), đàn ông bận gặt vụ thu, làm sân đập lúa, cắt lúa, nộp một phần thóc
cho quý tộc, lại còn phải đi hái rau và kiếm củi, cắt cói đan chiếu
chuẩn bị qua vụ đông. Phụ nữ dệt vải, dệt gai, nhuộm, may quần áo, đem
những quần áo đẹp nhất nộp cho quý tộc. Trên sân đập lúa đã thu dọn
xong, nông dân phải đi sửa chữa cung điện cho quý tộc, sau rồi mới đi
cắt cỏ tranh về lợp nhà mình. Cuối năm, rượu ngâm đã chín, nông dân giết
dê, mang rượu, thịt đến nhà quý tộc mừng thọ” (tr.281-282).
Vô hình trung, mùa thu là mùa “kết thúc” của năm. Chúng tôi thiển nghĩ
như trên trong khi chờ đợi các bậc thức giả đưa ra lời giải thích xác
đáng hơn.
A.C
Nhận xét
Đăng nhận xét