CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ 48
(ĐC sưu tầm trên NET)
Ngày 26.4, ta hình thành thế bao vây Sài Gòn từ 5 hướng: hướng Tây Bắc-Quân đoàn 3; hướng Bắc-Quân đoàn 1; hướng Đông Nam - Quân đoàn 2; hướng Đông - Quân đoàn 4; hướng Tây và Tây Nam - Đoàn 232 và Sư đoàn 8 (Quân khu 8).
Lúc 17 giờ, ngày 26.4, chiến dịch bắt đầu.
Từ ngày 26-28.4, ta đột phá tuyến phòng thủ vòng ngoài, đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng: Long Thành, Trảng Bom, Nhơn Trạch, thị xã Bà Rịa…; cắt đứt hoàn toàn đường 4 từ Sài Gòn đi các tỉnh miền Tây; chế áp, làm tê liệt các sân bay Biên Hoà, Tân Sơn Nhất.
Ngày 29.4 ta tiêu diệt các tập đoàn chủ yếu của địch ở vòng ngoài và vùng ven, đánh chiếm các căn cứ Nước Trong, Long Bình, Thành Tuy Hạ, Đồng Dù, thị xã Hậu Nghĩa…
Sáng ngày 30.4, tổng công kích vào nội thành Sài Gòn, nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu then chốt: sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu, Biệt khu Thủ Đô, Tổng nha Cảnh sát…; 11 giờ 30 phút chiếm dinh Độc Lập, bắt toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn, buộc tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
Cùng với đòn tiến công quân sự, nhân dân nội thành, ngoại thành Sài Gòn nổi dậy giành chính quyền ở 107 điểm.
Nắm vững thời cơ chiến lược, ngày 1.5, quân và dân Khu 8, Khu 9 tiến công và nổi dậy, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng còn lại của địch ở đồng bằng sông Cửu Long, giải phóng hoàn toàn miền Nam VN.
Kết quả: Ta tiêu diệt, làm tan rã khoảng 250.000 địch, gồm 7 sư đoàn bộ binh, 5 lữ đoàn dù, kỵ binh thiết giáp, pháo binh, 4 sư đoàn không quân…thu 500 khẩu pháo, trên 400 xe tăng, xe bọc thép, 800 máy bay, 600 tàu chiến, 3.000 xe quân sự, 270.000 khẩu súng các loại; giải phóng thành phố Sài Gòn-Gia Định và các tỉnh Tân An, Gò Công, Hậu Nghĩa, Tây Ninh, Bình Dương, Biên Hoà, Long Khánh, Bà Rịa.
Chiến dịch Hồ Chí Minh là một điển hình về hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, các binh chủng, quân chủng, sự kết hợp trên quy mô lớn giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng; đòn quyết chiến chiến lược táo bạo, kịp thời, chính xác, kết thúc chiến tranh (MH176-177)
Chiến dịch Đường 9-Nam Lào (30.1-23.3.1971)
VietnamDefence -
Chiến dịch phản công của QGPMN
VN phối hợp với lực lượng cách mạng Lào đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn
719 (30.1-23.3.1971) của QĐ Sài gòn được Mỹ yểm trợ hoả lực ở khu vực
đường 9-Nam Lào (trên địa bàn tỉnh Quảng Trị của VN và tỉnh Xavannakhẹt
của Lào), nhằm tiêu diệt một lực lượng lớn quân địch, bảo vệ vững chắc
tuyến vận chuyển chiến lược của ta, tạo điều kiện cho các chiến trường
khác đẩy mạnh tiến công địch.
Tham gia chiến dịch có:
5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324 và 2), 4 tiểu đoàn tăng thiết
giáp, 4 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn pháo phòng không, một số tiểu
đoàn đặc công và lực lượng tại chỗ của các mặt trận B4, B5, Đoàn 559.
|
Lực lượng địch có: 15 trung đoàn, lữ
đoàn bộ binh, dù, thuỷ quân lục chiến, 2 lữ đoàn thiết giáp (587 xe
tăng, xe bọc thép), 21 tiểu đoàn pháo binh, 1.000 máy bay các loại với
tổng số quân 55.000 (15.000 quân Mỹ); ngoài ra có 2 binh đoàn (GM30,
GM33) quân phái hữu Lào phối hợp tác chiến.
Chiến dịch diễn ra 3 đợt:
-
Đợt 1 (30.1-7.2), địch tiến hành nghi binh, điều động lực lượng, chuẩn bị tiến công. Ta triển khai thế trận chiến dịch, đánh nhỏ để tiêu hao, làm chậm bước tiến của địch.
-
Đợt 2 (8.2-11.3), địch tiến quân bằng 3 cánh, kết hợp với đổ bộ đường không đánh chiếm Bản Đông và một số điểm cao ở Nam, Bắc đường 9. Ta chặn đánh trên toàn khu vực, tập trung bẻ gẫy cánh quân phía Bắc đường 9, đập tan mọi cố gắng của địch tiến lên Sê Pôn, buộc địch phải co vào phòng ngự.
-
Đợt 3 (12-23.3), ta tiếp tục tiến công tiêu diệt địch ở phía nam đường 9, tập trung lực lượng vây ép Bản Đông. Bị uy hiếp tiêu hao lớn, địch bỏ xe, pháo, luồn rừng rút chạy; ta truy kích diệt thêm một số.
| |
Kết quả: Diệt 2 lữ đoàn, 1
trung đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh, 4 thiết đoàn xe tăng, thiết
giáp, đánh thiệt hại nặng một số lữ đoàn, trung đoàn khác, loại khỏi
chiến đấu hơn 21.000 địch (bắt 1.142), bắn rơi và phá huỷ 556 máy bay,
528 máy bay, 528 xe tăng, xe bọc thép, 112 khẩu pháo, cối, hơn 2.000
súng bộ binh….
Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, tác động mạnh đến cục diện chiến trường, giáng đòn nặng vào chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ; đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch VN (BĐMH173).
Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, tác động mạnh đến cục diện chiến trường, giáng đòn nặng vào chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ; đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch VN (BĐMH173).
-
Nguồn: TĐBKQS / Trung tâm TĐBKQS - BQP.-H.: QĐND, 2004.
Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh (20.1-15.7.1968)
VietnamDefence -
Chiến dịch tiến công của QGPMN
VN ở khu vực đường 9-Khe Sanh (tỉnh Quảng Trị), nhằm thu hút, giam chân,
tiêu diệt một bộ phận lực lượng quân Mỹ và QĐ Sài Gòn (chủ yếu là quân
Mỹ), phá vỡ một phần tuyến phòng ngự đường 9 của địch, phối hợp với cuộc
tiến công và nổi dậy của quân và dân ta trên toàn miền Nam VN.
Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh
|
Lực lượng ta gồm: các
sư đoàn bộ binh 304, 320, 324 và 325 (từ tháng 5, Sư đoàn 308 và Trung
đoàn 246 vào thay cho các sư đoàn 324 và 325 đi chiến trường khác),
Trung đoàn 270 (Vĩnh Linh) và 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Quảng
trị, 1 đoàn và 5 đại đội đặc công, 5 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn
pháo phòng không, 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn thông tin, 1 tiểu
đoàn trinh sát, 1 tiểu đoàn hoá học, 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn công
binh, 1 đại đội súng phun lửa, 6 tiểu đoàn vận tải và LLVT các huyện Gio
Linh, Cam Lộ, Hướng Hoá.
Lực lượng địch trên địa bàn: khoảng 45.000 quân (28.000 quân Mỹ), gồm 3 trung đoàn tăng cường thuộc Sư đoàn lính thuỷ đánh bộ 3 (từ tháng 4 có thêm Sư đoàn kỵ binh không vận 1) của Mỹ, 1 chiến đoàn dù, nhiều đơn vị biệt động quân và bảo an QĐ Sài Gòn; 9 tiểu đoàn pháo binh, 3 tiểu đoàn và 1 đại đội cơ giới, trong quá trình phòng ngự được sự chi viện mạnh của không quân, pháo binh ở phía sau.
Chiến dịch diễn ra 4 đợt:
Lực lượng địch trên địa bàn: khoảng 45.000 quân (28.000 quân Mỹ), gồm 3 trung đoàn tăng cường thuộc Sư đoàn lính thuỷ đánh bộ 3 (từ tháng 4 có thêm Sư đoàn kỵ binh không vận 1) của Mỹ, 1 chiến đoàn dù, nhiều đơn vị biệt động quân và bảo an QĐ Sài Gòn; 9 tiểu đoàn pháo binh, 3 tiểu đoàn và 1 đại đội cơ giới, trong quá trình phòng ngự được sự chi viện mạnh của không quân, pháo binh ở phía sau.
Chiến dịch diễn ra 4 đợt:
-
Đợt 1 (20.1-7.2), ta tiến công quận lỵ Hướng Hoá và cứ điểm Huội San (xem trận Huội San, 24.1.1968), diệt cứ điểm Làng Vây (xem trận Làng Vây, 6-7.2.1968), làm chủ đoạn đường 9 từ Cà Tu đến biên giới Việt -Lào.
-
Đợt 2 (10.2-31.3), phát triển lên vây lấn Tà Cơn suốt 50 ngày đêm, diệt nhiều địch; bao vây Cồn Tiên, đánh một số trận ở hướng Đông QL 1.
-
Đợt 3 (1-30.4), đánh địch ứng cứu, giải toả, giữ vững các khu vực làng Khoai, Cu Bốc, các điểm cao 689 và 622, triệt phá giao thông trên đường 9, nhưng bị địch chiếm lại một số trận địa ở phía nam và Tây Nam Tà Cơn.
-
Đợt 4 (8.5-15.7), khôi phục thế vây lấn Tà Cơn, đánh địch rút chạy khỏi Khe Sanh.
|
Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh
|
Kết quả: Loại khỏi chiến
đấu 11.900 địch, bắn rơi 197 máy bay, bắn chìm và cháy 80 tàu vận tải,
phá huỷ 78 xe quân sự (có 8 xe tăng), 46 khẩu pháo, cối; giải phóng
huyện Hướng Hoá với gần 10.000 dân, mở thông hành lang chiến lược
Bắc-Nam, tạo thuận lợi cho các chiến trường, trước hết là Thừa Thiên-Huế
thực hành thắng lợi cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân
(1968).
Hạn chế trong CDĐ9-KS là ta chưa tạo được thời cơ đánh những trận then chốt diệt từng tiểu đoàn quân Mỹ.
Hạn chế trong CDĐ9-KS là ta chưa tạo được thời cơ đánh những trận then chốt diệt từng tiểu đoàn quân Mỹ.
-
Nguồn: TĐBKQS / Trung tâm TĐBKQS - BQP.-H.: QĐND, 2004.
Chiến dịch Xuân Lộc (9-20.4.1975)
VietnamDefence -
Chiến dịch tiến công của QGPMN
VN vào thị xã Xuân Lộc, khu vực phòng thủ trọng yếu trong tuyến phòng
thủ cơ bản (Biên Hoà-Xuân Lộc-Bà Rịa-Vũng Tàu) của QĐ Sài Gòn, tạo thuận
lợi cho chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975).
Địch ở Xuân Lộc gồm: Sư
đoàn bộ binh 18 (Quân đoàn 3), 1 liên đoàn biệt động quân, 1 trung đoàn
thiết giáp, 9 tiểu đoàn bảo an; được chi viện hoả lực pháo binh, máy
bay; trong quá trình chiến đấu được tăng viện 1 lữ đoàn dù, Trung đoàn
bộ binh 8 (Sư đoàn 5), 1 liên đoàn biệt động quân, 1 trung đoàn thiết
giáp.
Lực lượng QGPMN VN gồm:
Quân đoàn 4 (thiếu Sư đoàn 9), Sư đoàn bộ binh 6 (Quân khu 7), 1 trung
đoàn tăng, thiết giáp, 1 trung đoàn pháo binh; cuối chiến dịch được tăng
cường Trung đoàn 95B (Sư đoàn bộ binh 325) và 1 đại đội xe tăng.
-
5 giờ 30 phút, ngày 9.4, chiến dịch mở màn, ta đồng loạt đột phá Xuân Lộc và tiểu khu Long Khánh nhưng không thành công. Ở ngã ba Dầu Giây, Sư đoàn 6 tập kích chiếm 5 chốt của địch và làm chủ một đoạn QL 1 (Hưng Nghĩa-đèo Mẹ Bồng Con).
-
Sáng ngày 10.4, ta tiếp tục đột phá Xuân Lộc, chiếm sân bay, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 43 (Sư đoàn 18), đánh Lữ đoàn dù 1 vừa đổ xuống Tân Phong.
Địch phải điều thêm 1 liên đoàn biệt động quân, Trung đoàn 8 (Sư đoàn bộ binh 5)… tăng viện cho Xuân Lộc. Ta thay đổi cách đánh: bao vây Xuân Lộc, đánh viện. -
Sáng ngày 15.4, Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95B tập kích diệt Trung đoàn 52 (Sư đoàn 18) ở ngã ba Dầu Giây; ngày 16, 17 phản kích đẩy lùi Trung đoàn thiết giáp 3 và Trung đoàn 8 từ phía Biên Hoà đến.
Trước nguy cơ bị tiêu diệt, ngày 18.4, Sư đoàn 18 rút chạy, ngày 20.4 địch ở Xuân Lộc rút chạy, ta truy kích bắt đại tá tỉnh trưởng tỉnh Long Khánh.
Kết quả: Ta đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 18, Lữ đoàn dù 1, loại khỏi chiến đấu Trung đoàn 52 (Sư đoàn 18), uy hiếp tuyến Biên Hoà-Hố Nai.
-
Nguồn: TĐBKQS / Trung tâm TĐBKQS - BQP.-H.: QĐND, 2004.
Chiến dịch Tây Nguyên (4.3-3.4.1975)
VietnamDefence -
Chiến dịch chiến lược tiến công
của Quân Giải phóng Mặt trận Tây Nguyên mở đầu cuộc tổng tiến công và
nổi dậy Xuân 1975 nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch,
giải phóng các tỉnh Nam Tây Nguyên (Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức), mở
rộng hành lanh nối liền Tây Nguyên với miền Đông Nam Bộ và đồng bằng Khu
5, thực hiện chia cắt chiến lược, tạo cục diện mới về chiến lược.
Lực lượng tham gia chiến dịch gồm:
5 sư đoàn (10, 320, 316, 3 và 968) và 4 trung đoàn bộ binh, 1 trung
đoàn và 2 tiểu đoàn đặc công, 2 trung đoàn pháo binh, 1 trung đoàn tăng
thiết giáp, 3 trung đoàn pháo phòng không… cùng LLVT địa phương các tỉnh
Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum.
Lực lượng địch thuộc Quân đoàn 2/Quân khu 2 và lực lượng tăng cường gồm: Sư đoàn bộ binh 23, 7 tiểu doàn biệt động quân, 36 tiểu đoàn bảo an, 1 lữ đoàn tăng thiết giáp, 230 khẩu pháo, 1 sư đoàn không quân…
Sau các hoạt động nghi binh, thu hút địch lên hướng Plây Cu, Kon Tum, từ ngày 4.3, chiến dịch chính thức bắt đầu bằng đợt tác chiến tạo thế: đánh cắt giao thông trên đường 19 và 21, chia cắt Tây Nguyên với đồng bằng ven biển; cắt đường 14, chia cắt bắc Tây Nguyên với nam Tây Nguyên; đánh chiếm các quận lỵ Thuần Mẫu, Đức Lập (xem trận Thuần Mẫn, 8.3.1975; trận Đức Lập, 9-10.3.1975), cô lập triệt để Buôn Ma Thuột.
Lực lượng địch thuộc Quân đoàn 2/Quân khu 2 và lực lượng tăng cường gồm: Sư đoàn bộ binh 23, 7 tiểu doàn biệt động quân, 36 tiểu đoàn bảo an, 1 lữ đoàn tăng thiết giáp, 230 khẩu pháo, 1 sư đoàn không quân…
Sau các hoạt động nghi binh, thu hút địch lên hướng Plây Cu, Kon Tum, từ ngày 4.3, chiến dịch chính thức bắt đầu bằng đợt tác chiến tạo thế: đánh cắt giao thông trên đường 19 và 21, chia cắt Tây Nguyên với đồng bằng ven biển; cắt đường 14, chia cắt bắc Tây Nguyên với nam Tây Nguyên; đánh chiếm các quận lỵ Thuần Mẫu, Đức Lập (xem trận Thuần Mẫn, 8.3.1975; trận Đức Lập, 9-10.3.1975), cô lập triệt để Buôn Ma Thuột.
| Tiến công giải phóng thị xã Buôn Mê Thuột, mở đầu chiến dịch Tây Nguyên |
-
Ngày 10.3 ta nổ súng tiến công thị xã Buôn Ma Thuột (xem trận Buôn Ma Thuột, 10-11.3.1975), đánh thắng trận then chốt 1 của chiến dịch; tiếp đó đập tan cuộc phản lích của Sư đoàn 23 địch trong trận Nông Trại-Chư Cúc (14-18.3.1975), thực hiện thắng lợi trận then chốt 2.
-
Bị thất bại và uy hiếp nặng nề, từ ngày 15.3, địch rút khỏi Kon Tum, Plây Cu, theo đường 7 về đông bằng ven biển.
Ta kịp thời truy kích, tiêu diệt gần hết quân địch rút chạy trong trận Cheo Reo (17-19.3.1975), trận Củng Sơn (24.3.1975)...
-
Phối hợp với hướng chính, ta tiến công giải phóng An Khê (12.3), Kon Tum, plây Cu (17.3), Kiến Đức (20.3), Gia Nghĩa (22.3).
Sau khi giải phóng Tây Nguyên (24.3), các LLVT của ta
tiếp tục phát triển xuống duyên hải Trung Bộ, phối hợp với các đơn vị
bạn giải phóng Bình khê, Phú Yên, Nha Trang, Cam Ranh.
Kết quả: Tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 2/Quân khu 2 QĐ Sài Gòn, loại khỏi chiến đấu hơn 28.000 địch, thu và phá huỷ 154 máy bay, 1.096 xe quân sự, 17.188 súng các loại; giải phóng 5 tỉnh kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức và một số tỉnh Trung Bộ.
Chiến dịch Tây Nguyên làm thay đổi cơ bản so sánh lực lượng và thế chiến lược giữa ta và địch, tạo bước ngoặt quyết định, đưa cuộc tiến công chiến lược của ta phát triển thành tổng tiến công trên toàn miền Nam VN (MH176-177).
Kết quả: Tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 2/Quân khu 2 QĐ Sài Gòn, loại khỏi chiến đấu hơn 28.000 địch, thu và phá huỷ 154 máy bay, 1.096 xe quân sự, 17.188 súng các loại; giải phóng 5 tỉnh kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức và một số tỉnh Trung Bộ.
Chiến dịch Tây Nguyên làm thay đổi cơ bản so sánh lực lượng và thế chiến lược giữa ta và địch, tạo bước ngoặt quyết định, đưa cuộc tiến công chiến lược của ta phát triển thành tổng tiến công trên toàn miền Nam VN (MH176-177).
-
Nguồn: TĐBKQS / Trung tâm TĐBKQS - BQP.-H.: QĐND, 2004.
Chiến dịch Hồ Chí Minh (26-30.4.1975)
VietnamDefence -
Chiến dịch quyết chiến chiến
lược của quân và dân VN trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975,
đánh vào đầu não và lực lượng quan trọng nhất của chính quyền và QĐ Sài
Gòn, giải phóng Sài Gòn-Gia Định, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến
chống Mỹ.
Xe tăng Quân Giải phóng
tiến vào Dinh Độc lập |
Tư lệnh chiến dịch: Văn Tiến Dũng;
Chính uỷ: Phạm Hùng.
Lực lượng tham gia chiến dịch có: 4 quân đoàn (1, 2, 3 và 4) cùng Đoàn 232 (tương đương quân đoàn); tổng số lực lượng gồm 15 sư đoàn, 1 lữ đoàn và 4 trung đoàn bộ binh, 20 lữ đoàn, trung đoàn và 8 tiểu đoàn pháo binh, 3 lữ đoàn, trung đoàn và 2 tiểu đoàn đặc công, 1 trung đoàn tên lửa, một bộ phận không quân, hải quân cùng LLVT địa phương và nhân dân trên địa bàn chiến dịch.
Lực lượng địch có: Quân đoàn 3 (gồm 4 sư đoàn bộ binh 22, 25, 5 và 18), sư đoàn thuỷ quân lục chiến, 2 lữ đoàn dù, 1 lữ đoàn kỵ binh thiết giáp, 3 liên đoàn biệt động quân, 19 tiểu đoàn pháo binh, 800 máy bay, 862 tàu hải quân cùng lực lượng bảo an, cảnh sát, phòng vệ dân sự…; tổ chức phòng thủ thành 3 tuyến: vòng ngoài (cách trung tâm Sài Gòn 30-50km), ven đô và nội đô.
Chính uỷ: Phạm Hùng.
Lực lượng tham gia chiến dịch có: 4 quân đoàn (1, 2, 3 và 4) cùng Đoàn 232 (tương đương quân đoàn); tổng số lực lượng gồm 15 sư đoàn, 1 lữ đoàn và 4 trung đoàn bộ binh, 20 lữ đoàn, trung đoàn và 8 tiểu đoàn pháo binh, 3 lữ đoàn, trung đoàn và 2 tiểu đoàn đặc công, 1 trung đoàn tên lửa, một bộ phận không quân, hải quân cùng LLVT địa phương và nhân dân trên địa bàn chiến dịch.
Lực lượng địch có: Quân đoàn 3 (gồm 4 sư đoàn bộ binh 22, 25, 5 và 18), sư đoàn thuỷ quân lục chiến, 2 lữ đoàn dù, 1 lữ đoàn kỵ binh thiết giáp, 3 liên đoàn biệt động quân, 19 tiểu đoàn pháo binh, 800 máy bay, 862 tàu hải quân cùng lực lượng bảo an, cảnh sát, phòng vệ dân sự…; tổ chức phòng thủ thành 3 tuyến: vòng ngoài (cách trung tâm Sài Gòn 30-50km), ven đô và nội đô.
|
Ngày 26.4, ta hình thành thế bao vây Sài Gòn từ 5 hướng: hướng Tây Bắc-Quân đoàn 3; hướng Bắc-Quân đoàn 1; hướng Đông Nam - Quân đoàn 2; hướng Đông - Quân đoàn 4; hướng Tây và Tây Nam - Đoàn 232 và Sư đoàn 8 (Quân khu 8).
Lúc 17 giờ, ngày 26.4, chiến dịch bắt đầu.
Từ ngày 26-28.4, ta đột phá tuyến phòng thủ vòng ngoài, đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng: Long Thành, Trảng Bom, Nhơn Trạch, thị xã Bà Rịa…; cắt đứt hoàn toàn đường 4 từ Sài Gòn đi các tỉnh miền Tây; chế áp, làm tê liệt các sân bay Biên Hoà, Tân Sơn Nhất.
|
Ngày 29.4 ta tiêu diệt các tập đoàn chủ yếu của địch ở vòng ngoài và vùng ven, đánh chiếm các căn cứ Nước Trong, Long Bình, Thành Tuy Hạ, Đồng Dù, thị xã Hậu Nghĩa…
|
Sáng ngày 30.4, tổng công kích vào nội thành Sài Gòn, nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu then chốt: sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu, Biệt khu Thủ Đô, Tổng nha Cảnh sát…; 11 giờ 30 phút chiếm dinh Độc Lập, bắt toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn, buộc tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
Cùng với đòn tiến công quân sự, nhân dân nội thành, ngoại thành Sài Gòn nổi dậy giành chính quyền ở 107 điểm.
|
| |
||
|
Nắm vững thời cơ chiến lược, ngày 1.5, quân và dân Khu 8, Khu 9 tiến công và nổi dậy, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng còn lại của địch ở đồng bằng sông Cửu Long, giải phóng hoàn toàn miền Nam VN.
Kết quả: Ta tiêu diệt, làm tan rã khoảng 250.000 địch, gồm 7 sư đoàn bộ binh, 5 lữ đoàn dù, kỵ binh thiết giáp, pháo binh, 4 sư đoàn không quân…thu 500 khẩu pháo, trên 400 xe tăng, xe bọc thép, 800 máy bay, 600 tàu chiến, 3.000 xe quân sự, 270.000 khẩu súng các loại; giải phóng thành phố Sài Gòn-Gia Định và các tỉnh Tân An, Gò Công, Hậu Nghĩa, Tây Ninh, Bình Dương, Biên Hoà, Long Khánh, Bà Rịa.
Chiến dịch Hồ Chí Minh là một điển hình về hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, các binh chủng, quân chủng, sự kết hợp trên quy mô lớn giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng; đòn quyết chiến chiến lược táo bạo, kịp thời, chính xác, kết thúc chiến tranh (MH176-177)
- Nguồn: TĐBKQS / Trung tâm TĐBKQS - BQP.-H.: QĐND, 2004.
CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH LỊCH SỬ
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân ta
đã tiêu diệt và làm tan rã hơn 40 vạn tên địch, tiêu diệt và làm tan rã
các quân đoàn 3 và quân đoàn 4 nguỵ gồm 10 sư đoàn bộ binh và lính nhảy
dù, lính thuỷ đánh bộ, 5 sư đoàn không quân, phần lớn lực lượng hải
quân, toàn bộ lực lượng xe tǎng, thiết giáp, pháo binh, thu toàn bộ kho
tàng, cơ sở thiết bị, phương tiện chiến tranh của địch ở Sài Gòn và 2
quân khu 3, 4 nguỵ.
Sau khi bị Quân Giải phóng tiêu diệt gọn 2 quân đoàn
và một phần quan trọng sinh lực địch ở Tây Nguyên, Trung Trung Bộ, Đông
Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, tập đoàn Nguyễn Vǎn Thiệu tay sai Mỹ ở
miền Nam đã dựa vào lực lượng lớn còn lại của chúng bao gồm 10 sư đoàn
bộ binh, lính nhảy dù, lính thuỷ đánh bộ (có 3 sư đoàn mới khôi phục
lại) 12 trung đoàn thiết giáp, 5 liên đoàn quân biệt động, 33 tiểu đoàn
pháo binh cùng với một lực lượng lớn không quân và hải quân cố thủ quân
khu 3 và quân khu 4 của chúng mà trung tâm là Sài Gòn-Gia Định. Chúng tổ
chức phòng ngự kiên cố từ Phan Rang đến Cần Thơ, trong đó tuyến phòng
ngự chủ yếu bao quanh Sài Gòn là Xuân Lộc, Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Củ
Chi, Đồng Dù, Hậu Nghĩa và Tân An.
Du kích miền Nam diệt địch,
thu xe bọc thép |
Nắm vững thời cơ chiến lược, Bộ chỉ huy các LLVTND
Giải phóng miền Nam Việt Nam hạ quyết tâm tập trung toàn bộ lực lượng,
mở cuộc tổng tiến công quy mô lớn, thực hiện trận quyết chiến chiến lược
nhằm đập tan lực lượng quân sự và bộ máy kìm kẹp còn lại của địch, giải
phóng thành phố Sài Gòn-Gia Định, giải phóng hoàn toàn miền Nam nước
ta.
Bước vào chiến dịch, từ ngày 9 đến 26-4-1975
-
Ở hướng Đông:
Ngày 9-4, quân và dân ta mở các đợt tiến công mãnh
liệt đánh vào tuyến phòng ngự của địch ở Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh.
Qua nhiều trận chiến đấu quyết liệt, đúng 1 giờ, ngày 21-4 quân và dân
ta đã chiếm và hoàn toàn làm chủ thị xã Xuân Lộc, tiêu diệt và làm tan
rã chiến đoàn số 52 nguỵ, 2 chi đoàn xe tǎng, 1 tiểu đoàn pháo binh, 13
đại đội bộ binh; đánh thiệt hại nặng sư đoàn bộ binh số 18 nguỵ, lữ đoàn
lính nhảy dù số 1, chiến đoàn đặc nhiệm số 315.
Tại Ninh Thuận, từ 14-4, Quân Giải phóng đã phối hợp
với lực lượng vũ trang địa phương tiến công vào tập đoàn phòng ngự của
địch ở Phan Rang. Đến 16-4, bộ binh và xe tǎng quân giải phóng đã thọc
sâu đánh thẳng vào sở chỉ huy tiền phương quân đoàn 3 và sân bay Thành
Sơn, thị xã Phan Rang và toàn tỉnh Ninh Thuận. Quân Giải phóng đã tiêu
diệt và làm tan rã sở chỉ huy tiền phương quân đoàn 3, sở chỉ huy sư
đoàn bộ binh số 2, sở chỉ huy sư đoàn không quân số 6, lữ đoàn lính
nhảy dù số 2, trung đoàn số 4 và số 5 thuộc sư đoàn bộ binh số 2 (vừa
khôi phục lại), liên đoàn quân biẹt động số 31, một chi đoàn thiết giáp,
sư đoàn không quân số 6, bắt Nguyễn Vĩnh Nghi, trung tướng chỉ huy
trưởng bộ chỉ huy tiền phương quân đoàn 3 và Phạm Ngọc Sang, chuẩn tướng
tư lệnh sư đoàn không quân nguỵ số 6 thu toàn bộ vũ khí và phương tiện
chiến tranh.
Từ 16 đến 25-4, trên đường tiến công, Quân giải phóng
đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang và đồng bào địa phương
tiến công và nổi dậy tiêu diệt làm tan rã nhiều địch giải phóng hoàn
toàn tỉnh Bình Thuận và thị xã Phan Thiết, tỉnh Bình Tuy và thị xã Hàm
Tân.
-
Ở hướng Tây-Nam:
Cùng thời gian đó Quân Giải phóng đã tiến công thị xã
Tân An, các chi khu quân sự, quận lỵ Thủ Thừa, Tân Trụ, Cần Đước, Bến
Lức, cắt đứt đường số 4, tạo thế bao vâ chia cắt chiến dịch.
Từ 17 giờ ngày 26-4 đến 1-5-1975, cuộc tiến công của
Quân giải phóng vào tuyến phòng thủ cuối cùng của địch đã diễn ra trên
các đường.
Cả nước hướng về miền Nam -
Thành đồng Tổ quốc |
Trong các ngày 26, 27 và 28-4 trên trục đường số 1.
Quân Giải phóng đã đánh chiếm yếu khu quân sự Trảng Bom, bao vây dịch ở
thị xã Biên Hoà. Một đơn vị quân giải phóng đã nhanh chóng thọc sâu đánh
chiếm và giữ cầu xa lộ Biên Hoà, cắt đứt giao thông địch. Ngày 27-4,
Quân Gải phóng đã đánh chiếm thị xã Bà Rịa.
Cùng thời gian đó quân giải phóng đã tiến hành đánh
trường sĩ quan thiết giáp nguỵ tại cǎn cứ Nước Trong, các cǎn cứ quân sự
của địch trong tỉnh Biên Hoà, sân bay Long Thành trên trục đường số 15,
từ đó phát triển về Nhơn Trạch, Cát Lái, đặt pháo lớn ở đây bắn phá
khống chế hoàn toàn sân bay Tân Sơn Nhất và nhiều mục tiêu quân sự khác
trong thành phố Sài Gòn.
Quân Giải phóng đã cắt nhiều đoạn trên trục đường số 4
và trục đường số 22, đồng thời bắn pháo lớn vào thị xã Tây Ninh, Gò Dầu
Hạ, 17 giờ 30 phút ngày 28-4 không quân giải phóng đã tấn công sân bay
Tân Sơn Nhất, phá huỷ nhiều máy bay địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại
nặng nề.
Cho đến ngày 28-4, tất cả các cánh quân lớn của Quân Giải phóng đã vây chặt quân địch tại Sài Gòn.
Đúng 0 giờ ngày 29-4-1975, các binh đoàn chủ lực Quân
Giải phóng tiến hành tổng công kích vào tuyến phòng thủ cuối cùng của
địch.
Cánh quân lớn nhất phía Đông Bắc của Quân Giải phóng
đã tấn công tiêu diệt tập đoàn phòng ngự Biên Hoà, tiêu diệt và làm tan
rã sở chỉ huy quân đoàn 3 nguỵ, sư đoàn bộ binh số 18, lực lượng lính
thuỷ đánh bộ, lính nhảy dù, lính thiết giáp nguỵ ở Long Bình, vượt cầu
xa lộ Biên Hoà, phát triển đánh thẳng về Sài Gòn.
Cánh quân lớn nhất phía Đông của Quân Giải phóng lần
lượt đập tan tuyến phòng ngự của các lực lượng lính thuỷ đánh bộ, lính
nhảy dù, lính thiết giáp nguỵ ở Long Bình, vượt cầu xa lộ Biên Hoà đánh
chiếm Thủ Đức, vượt cầu xa lộ Sài Gòn nhanh chóng đánh chiếm phủ tổng
thống nguỵ quyền. Đúng 9 giờ 30 phút, ngày 30-4-1975, một đơn vị bộ binh
và xe tǎng quân giải phóng đã chiếm phủ tổng thống nguỵ. Một mũi khác
của cánh quân này đã đánh chiếm chi khu quân sự, quận lỵ Nhơn Trạch và
khu kho Thành Tuy Hạ. Ngày 29-4, một mũi của Quân Giải phóng đã phát
triển về phía Nam đánh chiếm cảng Vũng Tàu.
Cánh quân lớn phía Tây Bắc của Quân Giải phóng đã
tiến đánh quân địch trên trục đường số 1. Các đơn vị bộ binh và xe tǎng
Quân giải phóng đã lần lượt đánh chiếm tập đoàn phòng ngự của địch ở cǎn
cứ Đồng Dù, Củ Chi, tiêu diệt và làm tan rã sư đoàn bộ binh nguỵ số 25.
Đồng thời một mũi của cánh quân này đã nhanh chóng thọc sâu vào đánh
chiếm Cầu Bông, Cầu Sáng, phát triển theo hướng Hóc Môn, đánh chiếm sân
bay Tân Sơn Nhất lúc 9 giờ, ngày 30-4-1975.
9 giờ 30 phút, ngày 29-4, cánh quân lớn phía Bắc của
Quân Giải phóng đã đánh chiếm cǎn cứ địch ở Phú Lợi, bao vây tiến công
địch ở Thủ Dầu Một, tiêu diệt và làm tan rã phần lớn sư đoàn nguỵ số 5.
Tiếp đó Quân Giải phóng tiếp tục tiến công Lai Khê, Bến Cát, buộc sư
đoàn nguỵ số 5 còn lại phải đầu hàng. Đồng thời, một đơn vị khác của
cánh quân này sau khi tiêu diệt địch ở Tân Uyên, đã đánh thắng về Lái
Thiêu: Ngày 30-4, đơn vị này đã tiêu diệt và làm tan rã quân địch ở Lái
Thiêu và thừa thắng đánh thẳng vào Sài Gòn, chiếm bộ tổng tham mưu nguỵ
vào hồi 8 giờ 30 phút, ngày 30-4.
Cánh quân lớn phía Tây và Tây Nam của Quân Giải phóng
đánh chiếm các khu vực Hậu Nghĩa, phát triển vào Đức Hoà và tiến đánh
biệt khu thủ đô, khu trung tâm truyền tin Phú Lâm, cǎn cứ quân sự địch ở
trường đua Phú Thọ các quận 6, 7, 8. Đồng thời các đơn vị khác của cánh
quân này đã đánh chiếm Tân An, Bến Lức và Thủ Thừa, tiêu diệt và làm
tan rã 2 trung đoàn của sư đoàn bộ binh số 22 nguỵ (vừa khôi phục lại),
liên đoàn biệt động quân số 6, cắt đứt đường số 4 ở nhiều đoạn, chia cắt
đồng bằng sông Cửu Long với Sài Gòn và cô Lập Sài Gòn.
Chỉ trong 4 ngày chiến đấu vô cùng anh dũng, các cánh
quân lớn của Quân Giải phóng đã đập tan hệ thống phòng ngự của địch
trên các hướng Đông, Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc, Tây và Tây Nam, đánh chiếm
những mục tiêu chủ yếu của địch trong thành phố Sài Gòn-Gia Định, buộc
quân địch phải đầu hàng không điều kiện.
Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, cờ cách mạng đã cắm trên phủ tổng thống nguỵ. Thành phố Sài Gòn mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã hoàn toàn giải phóng.
Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, cờ cách mạng đã cắm trên phủ tổng thống nguỵ. Thành phố Sài Gòn mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã hoàn toàn giải phóng.
Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân
và dân ta đã tiêu diệt và làm tan rã hơn 40 vạn tên địch, tiêu diệt và
làm tan rã quân đoàn 3 và quân đoàn 4 nguỵ gồm 10 sư đoàn bộ binh và
lính nhảy dù, lính thuỷ đánh bộ, 5 sư đoàn không quân, phần lớn lực
lượng hải quân, toàn bộ lực lượng xe tǎng, thiết giáp, pháo binh, thu
toàn bộ kho tàng, cơ sở thiết bị, phương tiện chiến tranh của địch ở Sài
Gòn và 2 quân khu 3,4 nguỵ.
Như vậy qua 55 ngày đêm tổng tiến công và nổi dậy
mạnh mẽ, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến dấu một triệu 10 vạn
quân địch (có gần 70 vạn quân chính quy), làm tan rã toàn bộ lực lượng
phòng vệ dân sự gồm hơn 1 triệu tên; tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn 4
quân đoàn nguỵ gồm 13 sư đoàn bộ binh, lính nhảy dù, lính thuỷ đánh bộ,
6 sư đoàn không quân 22 trung đoàn hải quân, toàn bộ lực lượng pháo
binh, thiết giáp, thu toàn bộ vũ khí, cơ sở thiết bị và phương tiện
chiến tranh của địch. Quân và dân ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ
lực lượng quân sự, xoá bỏ hoàn toàn bộ máy chiến tranh và bộ máy kìm kẹp
của địch, giải phóng hoàn toàn miền Nam nước ta.
-
Nguồn: QĐND 14-05-1975
Nhận xét
Đăng nhận xét