CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ 47
(ĐC sưu tầm trên NET)
Chiến dịch Plây Me (19.10-26.11.1965)
VietnamDefence -
Chiến dịch tiến công của LLVT
Mặt trận Tây Nguyên ở khu vực Đức Cơ-Bàu Cạn-Plây Me (tỉnh Gia Lai),
nhằm tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ, củng cố và mở rộng vùng giải phóng,
xây dựng lòng tin đánh Mỹ và thắng Mỹ trên chiến trường.
CHIẾN DỊCH PLÂY ME
(19.10-26.11.1965), chiến dịch tiến công của LLVT Mặt trận Tây Nguyên ở
khu vực Đức Cơ-Bàu Cạn-Plây Me (t. Gia Lai), nhằm tiêu diệt một bộ phận
quân Mỹ, củng cố và mở rộng vùng giải phóng, xây dựng lòng tin đánh Mỹ
và thắng Mỹ trên chiến trường.
Lực lượng ta có: 3 trung đoàn bộ binh (320, 33 và 66), 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm và LLVT địa phương.
Lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch có: Sư đoàn kỵ binh không vận 1 của Mỹ; 1 chiến đoàn dù, 1 chiến đoàn thiết giáp QĐ Sài gòn.
Thực hiện chủ trương “đánh diểm diệt viện”, đêm 19.10, ta diệt đồn Chư Ho, vây ép đồn Plây Me; 23.10 phục kích diệt Chiến đoàn thiết giáp 3 QĐ Sài gòn đến ứng cứu trên đường 21, buộc Sư đoàn kỵ binh không vận 1 Mỹ phải đưa 2 tiểu đoàn của Lữ đoàn 1 vào tham chiến (24.10). Ta tiếp tục chặn đánh QĐ Sài Gòn giải toả, đồng thời điều chỉnh đội hình sẵn sàng đánh quân Mỹ phản kích.
Trong các ngày 31.10-9.11 địch liên tiếp tiến hành các hoạt động thăm dò, tập kích vào hậu phương chiến dịch và một số khu vực trận địa ta, nhưng đều bị ta kịp thời chặn đánh, đẩy lui. Mỹ đưa Lữ đoàn kỵ binh không vận 3 vào chiến đấu, từ ngày 14.11 dùng chiến thuật “ nhảy cóc” đổ quân xuống khu vực núi Chư Pông định bất ngờ đánh vào sau lựng dội hình ta.
Dựa vào trận địa đã chuẩn bị sẵn, ta chặn đánh quyết liệt, dồn quân Mỹ về thung lũng Ia Đrăng, tiến công tiêu diệt gần hết một tiểu đoàn, hoàn thành thắng lợi trận then chốt chiến dịch (xem trận Ia Đrăng, 17.11.1965).
Kết quả: Loại khỏi chiến đấu gần 3.000 địch, phá huỷ 89 xe quân sự (có 42 xe tăng và xe bọc thép), bắn rơi 59 máy bay.
Là chiến dịch đánh Mỹ đầu tiên ở Tây Nguyên trong Kháng chiến chống Mỹ, khẳng định ta có khả năng mở chiến dịch tiến công tiêu diệt từng tiểu đoàn quân Mỹ bằng tác chiến vận động ở chiến trường rừng núi, góp phần làm thất bại chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ.
Lực lượng ta có: 3 trung đoàn bộ binh (320, 33 và 66), 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm và LLVT địa phương.
Lực lượng địch trên địa bàn chiến dịch có: Sư đoàn kỵ binh không vận 1 của Mỹ; 1 chiến đoàn dù, 1 chiến đoàn thiết giáp QĐ Sài gòn.
Thực hiện chủ trương “đánh diểm diệt viện”, đêm 19.10, ta diệt đồn Chư Ho, vây ép đồn Plây Me; 23.10 phục kích diệt Chiến đoàn thiết giáp 3 QĐ Sài gòn đến ứng cứu trên đường 21, buộc Sư đoàn kỵ binh không vận 1 Mỹ phải đưa 2 tiểu đoàn của Lữ đoàn 1 vào tham chiến (24.10). Ta tiếp tục chặn đánh QĐ Sài Gòn giải toả, đồng thời điều chỉnh đội hình sẵn sàng đánh quân Mỹ phản kích.
Trong các ngày 31.10-9.11 địch liên tiếp tiến hành các hoạt động thăm dò, tập kích vào hậu phương chiến dịch và một số khu vực trận địa ta, nhưng đều bị ta kịp thời chặn đánh, đẩy lui. Mỹ đưa Lữ đoàn kỵ binh không vận 3 vào chiến đấu, từ ngày 14.11 dùng chiến thuật “ nhảy cóc” đổ quân xuống khu vực núi Chư Pông định bất ngờ đánh vào sau lựng dội hình ta.
Dựa vào trận địa đã chuẩn bị sẵn, ta chặn đánh quyết liệt, dồn quân Mỹ về thung lũng Ia Đrăng, tiến công tiêu diệt gần hết một tiểu đoàn, hoàn thành thắng lợi trận then chốt chiến dịch (xem trận Ia Đrăng, 17.11.1965).
Kết quả: Loại khỏi chiến đấu gần 3.000 địch, phá huỷ 89 xe quân sự (có 42 xe tăng và xe bọc thép), bắn rơi 59 máy bay.
Là chiến dịch đánh Mỹ đầu tiên ở Tây Nguyên trong Kháng chiến chống Mỹ, khẳng định ta có khả năng mở chiến dịch tiến công tiêu diệt từng tiểu đoàn quân Mỹ bằng tác chiến vận động ở chiến trường rừng núi, góp phần làm thất bại chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ.
- Nguồn: TĐBKQS / Trung tâm TĐBKQS - BQP.-H.: QĐND, 2004.
Chiến dịch phòng ngự Quảng Trị (28.6.1972-31.1.1973)
VietnamDefence -
Chiến dịch phòng ngự của QGPMN
VN tại thị xã Quảng Trị và vùng ven, đánh trả cuộc phản công của QĐ Sài
Gòn được không quân và hải quân Mỹ yểm trợ, bảo vệ vùng giải phóng Quảng
Trị, phục vụ yêu cầu của đấu tranh chính tri-ngoại giao tại hội nghị
Paris (1968-1973).
CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ QUẢNG TRỊ (28.6.1972-31.1.1973) (còn gọi là đợt tác chiến phòng ngự Quảng Trị.),
chiến dịch phòng ngự của QGPMN VN tại thị xã Quảng Trị và vùng ven,
đánh trả cuộc phản công của QĐ Sài Gòn được không quân và hải quân Mỹ
yểm trợ, bảo vệ vùng giải phóng Quảng Trị, phục vụ yêu cầu của đấu tranh
chính tri-ngoại giao tại hội nghị Paris (1968-1973).
Lực lượng địch gồm: 3 sư đoàn (dù, bộ binh, thuỷ quân lục chiến), 1 liên đoàn biệt động quân, 1 lữ đoàn và 1 thiết đoàn thiết giáp, 1 sư đoàn không quân, 4 tiểu đoàn pháo binh và lực lượng Vùng 1 hải quân QĐ Sài Gòn cùng hàng trăm lượt máy bay B-52/ngày và hàng trăm khẩu pháo trên các chiến hạm của Mỹ đánh phá liên tục.
Lực lượng ta gồm: 5 sư đoàn bộ binh (304, 308, 312, 320B và 325) và 1 trung đoàn độc lập, 5 tiểu đoàn đặc công, 1 trung đoàn tăng thiết giáp, 3 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn pháo phòng không, 1 trung đoàn tên lửa phòng không, 2 trung đoàn công binh và 5 tiểu đoàn bộ đội địa phương.
Lực lượng địch gồm: 3 sư đoàn (dù, bộ binh, thuỷ quân lục chiến), 1 liên đoàn biệt động quân, 1 lữ đoàn và 1 thiết đoàn thiết giáp, 1 sư đoàn không quân, 4 tiểu đoàn pháo binh và lực lượng Vùng 1 hải quân QĐ Sài Gòn cùng hàng trăm lượt máy bay B-52/ngày và hàng trăm khẩu pháo trên các chiến hạm của Mỹ đánh phá liên tục.
Lực lượng ta gồm: 5 sư đoàn bộ binh (304, 308, 312, 320B và 325) và 1 trung đoàn độc lập, 5 tiểu đoàn đặc công, 1 trung đoàn tăng thiết giáp, 3 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn pháo phòng không, 1 trung đoàn tên lửa phòng không, 2 trung đoàn công binh và 5 tiểu đoàn bộ đội địa phương.
Chiến dịch diễn ra 3 đợt:
-
Đợt 1 (28.6-16.9.1972): QĐ Sài Gòn dùng 2 sư đoàn tổng dự bị chiến lược (dù, thuỷ quân lục chiến) và lực lượng pháo binh, xe tăng, thiết giáp, thiết giáp, dưới sự yểm trợ hoả lực của không quân, hải quân Mỹ, từ 2 hướng tiến công thị xã và thành cổ Quảng Trị; bộ đội ta kiên cường bám trụ, giữ vững thành cổ suốt 81 ngày đêm, 16.9 rút ra bắc sông Thạch Hãn.
-
Đợt 2 (17.9.1972-25.1.1973): địch liên tiếp mở các cuộc tiến công về hướng Đông Hà-Ái Tử hòng chiếm lại các vị trí đã mất; ta tổ chức phòng ngự khu vực, chặn đúng các cuộc tiến công của địch ở nam, bắc sông Thạch Hãn.
-
Đợt 3 (26-31.1.1973): địch thực hiện kế hoạch “ tràn ngập lãnh thổ” trước khi hiệp định Pari 1973 về Việt Nam có hiệu lực, bí mật bất ngờ đánh chiếm Cửa Việt; ta tập trung lực lượng tiến hành phản đột kích tiêu diệt hoàn toàn quân địch lấn chiếm (xem trận Cửa Việt, 31.1.1973), kết thúc chiến dịch.
Trong chiến dịch phòng ngự Quảng Trị, lúc đầu ta
chuyển vào phòng ngự trong thế bị động, lúng túng, nên có khó khăn, tổn
thất; sau đó củng cố được thế trận, từng bước đẩy lùi các mũi tiến công
của địch, giành thắng lợi.
Kết quả: Loại khỏi chiến đấu hơn 29.000 địch (bắt 226), diệt 1 lữ đoàn và 12 đại đội; phá huỷ 345 xe tăng, thiết giáp (thu 13 xe), 273 khẩu pháo, bắn rơi 169 máy bay, bắn chìm 9 tàu chiến, thu gần 1.000 súng các loại, giữ vững khu vực giải phóng phía bắc sông Thạch Hãn.
Nguồn: TĐBKQS / Trung tâm TĐBKQS - BQP.-H.: QĐND, 2004Kết quả: Loại khỏi chiến đấu hơn 29.000 địch (bắt 226), diệt 1 lữ đoàn và 12 đại đội; phá huỷ 345 xe tăng, thiết giáp (thu 13 xe), 273 khẩu pháo, bắn rơi 169 máy bay, bắn chìm 9 tàu chiến, thu gần 1.000 súng các loại, giữ vững khu vực giải phóng phía bắc sông Thạch Hãn.
Chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Junction City (22.2-15.4.1967)
VietnamDefence -
Chiến dịch phản công của QGPMN
VN đánh trả cuộc hành quân quy mô lớn của quân Mỹ và QĐ Sài Gòn vào
Chiến khu Dương Minh Châu, nhằm bảo vệ căn cứ, làm thất bại biện pháp “
tìm diệt” trong chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền nam VN.
Lực lượng ta: Sư đoàn bộ binh 9,
Trung đoàn bộ binh 16, 1 tiểu đoàn cối 120mm, 3 tiểu đoàn súng máy phòng
không 12,7mm, 9 đại đội bảo vệ cơ quan, 13 đại đội đại phương và 4.000
du kích.
Lực lượng địch: 31 tiểu đoàn bộ binh thuộc các
sư đoàn 1, 25, 4, 9 và các lữ đoàn 196, 173 của Mỹ, 1 lữ đoàn thuỷ quân
lục chiến, 1 liên đoàn biệt động quân QĐ Sài Gòn; 1 trung đoàn và 8
tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh (tổng số khoảng
45.000 quân) với sự yểm trợ của 17 phi đoàn không quân các loại.
Chiến dịch diễn ra 2 đợt:
- Đợt 1 (22.2-15.3), địch từ hướng Tây đánh sang, từ hướng Nam đánh lên, hình thành thế bao vây, đánh thọc vào căn cứ. Ta sử dụng LLVT tại chỗ chặn đánh, diệt địch ở Sê Lô, Rùm Đuôn, Ang Khắc, Sóc Ki…, đồng thời đưa lực lượng cơ động đánh vào bên sườn và sau lưng địch ở Trảng A Lấn, suối ông Hùng…
Bị thiệt hại nặng, từ 1.3, địch phải dừng lại, đóng chốt dọc đường 22, đường 4. Ta bám đánh, tập kết địch ở Trảng Chiên, Cà Tum, Ang Khắc, Rùm Đuôn, Tà Xia, Bàu Cỏ, Đồng Pan…
-
Đợt 2 (18.3-15.4), địch chuyển hướng tiến công sang hướng Đông Bắc, Tây Nam. Ta chặn đánh, tiến công địch ở Đồng Rùm (x. trận Đồng Rùm, 21.3.1967), bàu Tri Giết, trảng Ba Vũng, sóc Con Trăng… Không đạt mục tiêu đề ra lại bị tổn thất lớn, từ 4 đến 15.4, địch rút lui từng bước, chấm dứt cuộc hành quân.
Kết quả loại khỏi chiến đấu hơn 14.000 địch,
phá huỷ 992 xe quân sự, 112 khẩu pháo, bắn rơi và phá huỷ 160 máy bay;
bảo vệ vững chắc căn cứ, cơ quan đầu não cuộc phản công chiến lược lần
II và cả cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam VN. (MH166).
- Nguồn: TĐBKQS / Trung tâm TĐBKQS - BQP.-H.: QĐND, 2004.
Nhận xét
Đăng nhận xét