ĐỊA LINH NHÂN KIỆT 47
(ĐC sưu tầm tên NET)
Suốt 11 năm du học ở nước ngoài, ông đã âm thầm nghiên cứu kỹ thuật,
công nghệ và hệ thống tổ chức chế tạo vũ khí, để rồi trở về nước góp
phần đắc lực vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.
Với chiến công ấy ông đã được phong quân hàm cấp tướng và danh hiệu Anh hùng lao động, Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô. Ông là GS, viện sĩ Trần Đại Nghĩa.
Hơn chục năm âm thầm nghiên cứu vũ khí
Sinh ngày 13/9/1913, trong một gia đình giáo viên nghèo ở thị xã Vĩnh Long. Cha mất sớm, mới 7 tuổi đã phải xa gia đình đi trọ học. Ngay từ những năm học tiểu học, rồi trung học, Phạm Quang Lễ (tên khai sinh của GS Trần Đại Nghĩa) luôn luôn là một học sinh xuất sắc, giỏi toàn diện, nhất là môn toán.
Do chịu ảnh hưởng sâu sắc của các phong trào yêu nước, chống thực dân Pháp của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, rồi phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh, ngay từ thuở thiếu thời, anh đã tâm niệm rằng, nước mình phải tự chế tạo được nhiều loại vũ khí, cả những vũ khí hiện đại, mới có thể quét sạch bọn xâm lược. Một hôm tình cờ anh gặp nhà báo Việt kiều yêu nước Vương Quang Ngươu từ Pháp về. Qua vài lần trò chuyện, thấy chàng thanh niên này giàu lòng yêu nước, kiến thức uyên thâm, lại lễ phép, trung thực, chín chắn, khiêm nhường, ông Ngươu rất quí mến.
Biết anh có nguyện vọng sang Pháp du học, nhưng nhà nghèo, ông Ngươu đã vận động Hội Ái hữu Trường Chasseloup Laubat ở Pháp cấp cho anh một năm học bổng. Điều này làm cho Phạm Quang Lễ vừa mừng vừa lo. Mừng vì sắp có cơ hội thực hiện ước mơ, nhưng lo vì sợ nghỉ việc, kinh tế gia đình hụt hẫng, thiếu người phụng dưỡng mẹ già. Nhưng rồi được mẹ và chị động viên khuyến khích, ngày 5/9/1935 anh đã lên đường sang Pháp.
Sau năm học dự bị, anh thi đỗ xuất sắc vào Trường Đại học Cầu đường Paris và được học bổng toàn phần của Nhà nước Pháp. Cũng trong năm 1936, lần đầu tiên anh biết đến tên tuổi Nguyễn Ái Quốc. Càng đọc những bài báo của Người, ý thức dân tộc, tình cảm yêu nước trong anh càng thêm nồng nàn, động cơ học tập và mục tiêu của đời anh càng trở nên rõ ràng. Ngoài giờ lên lớp ở trường cầu đường, anh còn theo học ở Trường Cao đẳng Kỹ thuật Paris và khoa toán Trường Đại học Sorbonne.
Cùng một lúc theo học 3 trường, nhưng kết quả môn nào cũng rất chắc.
Kinh nghiệm cho thấy, chỉ giỏi lý thuyết thì chưa đủ, phải có thực tế…
Bởi vậy không bao giờ anh bỏ các giờ trắc-thực nghiệm ở trường, thực tập ở xí nghiệp, nhà máy. Năm 1940, Phạm Quang Lễ đã nhận gần như cùng một lúc ba bằng: Kỹ sư cầu đường, Kỹ sư điện và Cử nhân toán. Sau đó anh còn học tiếp và nhận thêm ba bằng nữa: Kỹ sư hàng không, Mỏ địa chất và Chế tạo máy.
Trong thời gian ở Pháp, Phạm Quang Lễ rất hay lui tới Viện Bảo tàng vũ khí, xem xét kỹ lưỡng tất cả các loại vũ khí từ thô sơ đến hiện đại. Anh học gì và đọc sách nào cũng đều liên quan tới thời cuộc và kỹ thuật chế tạo vũ khí, tổ chức và quản lý ngành công nghiệp quốc phòng.
Thường xuyên tới thư viện đọc sách, gây được cảm tình với người thủ thư, anh càng có điều kiện "lén" nghiên cứu những tài liệu liên quan tới vũ khí, điều mà chính quyền Pháp nghiêm cấm đối với dân tộc thuộc địa. Cảm phục chàng sinh viên Việt Nam cần cù, chăm chỉ và trung thực, người thủ thư nhiều khi còn "phá lệ" cho anh được mang sách về nhà đọc.
Suốt 11 năm âm thầm nghiên cứu, anh đã ghi chép hơn 30 nghìn trang tài liệu về vũ khí.
Bác Hồ chắp cánh thực hiện ước mơ
Ngày 5/12/1946 trở thành bước ngoặt trong cuộc đời người trí thức trẻ vừa từ Pháp được theo chân Bác về nước. Bác nói: "Kháng chiến sắp đến nơi rồi, hôm nay Bác gọi chú đến để trao cho nhiệm vụ làm Cục trưởng Cục quân giới. Chú lo vũ khí cho bộ đội diệt giặc. Việc của chú là việc đại nghĩa, vì thế kể từ nay, Bác đặt tên cho chú là Trần Đại Nghĩa".
Người giải thích một cách rất dí dỏm "Một là họ Trần không có họ với Bác, đấy là họ của Trần Hưng Đạo. Hai là, Đại Nghĩa là nghĩa lớn để chú nhớ đến nhiệm vụ của mình với nhân dân, với đất nước". Bác còn nói thêm: "Dùng bí danh này để giữ bí mật cho chú và để bảo vệ gia đình, bà con chú còn ở trong Nam".
40 ngày trên chiến hạm Dumont d'Urville lênh đênh trên biển trở về quê hương, anh và nhóm trí thức cùng về đã được Bác giảng giải những điều cơ bản và sâu sắc nhất về lịch sử Việt Nam và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Anh cảm thấy không còn gì sung sướng và hạnh phúc hơn khi được chính Bác Hồ giao cho nhiệm vụ lo sản xuất vũ khí để đánh giặc, điều mà anh đã mơ ước từ thủa niên thiếu và âm thầm chuẩn bị suốt 11 năm du học.
Về nước, mặc dù hoàn cảnh vô cùng khó khăn và hầu như bắt đầu từ số không, thế nhưng chỉ sau gần 3 tháng, cuối tháng 2/1947, các chiến sĩ quân giới dưới sự chỉ đạo của Trần Đại Nghĩa đã sản xuất thành công súng bazôka với sức mạnh xuyên thủng 75 cm tường thành gạch xây, tương đương với sức nổ của đạn bazôka do Mỹ chế tạo.
Ngày 5/3/1947, tại Sơn Lộ, Quốc Oai (Hà Đông), đạn bazôka vừa xuất xưởng đã bắn cháy 2 xe tăng của quân Pháp, làm cho kẻ thù bất ngờ, sửng sốt, khiếp vía, còn quân dân ta thì vô cùng phấn khởi. Trong chiến dịch Thu Đông năm 1947, súng bazôka còn bắn chìm cả tàu chiến Pháp ngược dòng sông Lô lên Việt Bắc. Trong lịch sử chiến tranh bazôka xuất hiện lần đầu tiên trên thể giới vào năm 1943. Đối với một đất nước vừa thoát khỏi ách thuộc địa, nửa phong kiến đã chế tạo thành công loại vũ khí hiện đại này, quả là một huyền thoại!
Đánh địch cố thủ trong lô cốt bê tông cốt thép, bộ đội ta phải cho nổ bộc phá cỡ lớn, hoặc mìn lõm cỡ lớn. Cách đánh đó nguy hiểm cho xung kích, bộ đội phải ém sát đối phương. Ông nghĩ đến việc chế tạo một loại súng nhẹ, có thể vận chuyển dễ dàng trên đôi vai bộ đội, nhưng lại có sức công phá ngang như một cỗ đại bác sáu tấn thép - Đấy là súng không giật SKZ, loại vũ khí hiện đại, mới xuất hiện lần đầu trong trận quân Mỹ đổ bộ lên đảo Okinawa (Nhật Bản) cuối chiến tranh thế giới thứ hai.
Trần Đại Nghĩa cùng với những cộng sự gần gũi như Nguyễn Minh Tiếp, Hoàng Đình Phu, Bùi Minh Tiêu, Phạm Đồng Điện, Nguyễn Văn Hường… đã phải lặp lại quá trình sáng chế SKZ, hoàn toàn độc lập với người Mỹ. Cuối cùng, ông và các cộng sự đã chế tạo thành công.
SKZ Việt Nam xuất trận lần đầu trong trận Phố Lu, đánh phá tan tành các lô cốt địch có tường bê tông cốt thép dày hơn 1 mét. Năm 1950 chiến trường Nam Trung bộ nhận được 10 khẩu SKZ và 150 quả đạn từ Việt Bắc chuyển vào. Trong một đêm, với loại súng không giật này ta đã nhổ 5 đồn giặc. Quá hốt hoảng, địch tháo chạy thục mạng khỏi hàng trăm đồn bốt khác. Có SKZ rồi, ông tiếp tục nghiên cứu và chế tạo đạn bay. Và ông cũng đã sáng chế thành công loại tên lửa nặng 30 kg có thể đánh phá các mục tiêu ở cách xa 4 km.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Trần Đại Nghĩa đã góp phần to lớn trong việc tìm biện pháp chống nhiễu của máy bay B-52 và nâng cấp độ bay cao của tên lửa SAM-2 để tổ chức phòng không hiệu quả nhất. Ông cũng có công rất lớn trong việc tìm biện pháp phá hệ thống thủy lôi của địch và chế tạo những trang thiết bị đặc biệt cho Bộ đội Đặc công.
Ông đã vĩnh biệt chúng ta vào chiều ngày 9/8/1997, song những thành quả mà ông để lại thực sự là những tài sản vô cùng to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ta.
Nguồn: Gia Huy / CAND, Tết 2011.
Quanh tôi là không khí im mát và tĩnh lặng trong ngôi nhà tưởng niệm đại
tướng Lê Trọng Tấn. Ngôi nhà khá khang trang giữa làng Yên Nghĩa quê
hương đại tướng là công sức của làng của dòng họ và đơn vị chung tay
xúm vào.
Gian chính giữa là nghiêm ngắn nơi thờ cúng đại tướng với bức tượng đồng bán thân đúc khéo toát lên vẻ uy dũng nhưng hồn hậu kèm đôi câu đối Đại tướng huân danh hương đăng nguyện duy trì chững chạc/Tượng đồng truy tặng Lê môn tưởng ký ức công lao (Huân nghiệp tướng tài khói hương luôn bền nối. Tượng đồng đặt trước cửa họ Lê luôn ghi nhớ công lao).
Gian bên cạnh cùng phối thờ là những bài vị nghiêm ngắn mà coi kỹ tôi lấy làm lạ và càng ngạc nhiên hơn khi đọc hai hàng câu đối Quang Thuận Lê triều thử địa dịch truyền tam tiến sĩ/ Cung tần Trịnh phủ my kiều đặc biệt nhất Dương phi.
Nhà tưởng niệm đại tướng mà lại phối thờ những tam tiến sĩ những Phủ Trịnh với Dương phi là sao? Câu đối trên có thể tạm hiểu Quang Thuận triều Lê mãi lưu danh ba ngài tiến sĩ/ Phủ Trịnh ngời rạng vẻ mỹ miều của bà Chúa họ Dương.
Sau này, khi hỏi lại tôi mới hay, chả biết phong thủy lẫn thế đất làng Yên Nghĩa huyện Hoài Đức nay là Hà Tây vượng lẫn đắc địa ra sao mà bà Chúa Dương Thị Ngọc Hoan vợ chúa Trịnh Sâm, quê mãi huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh, phủ chúa ở Thăng Long thiếu chi dinh thự mà lại lập hẳn cả một hành cung đồ sộ ở đây?
Khi sống bà đã làm nhiều việc ân đức cho làng cho vùng tỷ như để lại 30 mẫu ruộng để nuôi lính tráng phục dịch lẫn người nghèo (tên gọi ruộng bà Chúa nay vẫn còn) nên khi mất, làng lập đền thờ khói hương mãi đến giờ! (Có thể hành cung của bà chúa được đặt ở đây là do một nhánh lớn của chúa Trịnh Căn trước bà hơn một trăm năm đã sinh cơ nghiệp ở làng này? Mà hậu duệ là cụ Trịnh Doanh, người đang dẫn tôi thăm nhà tưởng niệm. Nhà cụ Doanh nói riêng cũng như Yên Nghĩa nói chung là nơi nuôi giấu che chở cơ quan Xứ ủy Bắc Kỳ và các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt… trong suốt một thời gian dài).
Ba ông tiến sĩ của làng Yên Nghĩa là Nguyễn Tông, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa thi Quý Mùi (1463). Con ông là Nguyễn Vũ, đỗ nhị giáp tiến sĩ khoa thi Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh thống (1499) rồi đến cháu ông là Nguyễn Thước, đỗ Hội nguyên đệ tam giáp tiến sĩ khoa Đinh Mùi (1547). Một nhà mà ba ông cháu cha con cùng đỗ tiến sĩ có lẽ cũng hơi bị hiếm.
Đất này lại là một mảnh của vương triều phong kiến có niên đại lâu nhất lịch sử Việt Nam văng đến tận đây nên có lý khi rước những nhân vật có tên trong sử làng sử nước ấy cùng phối thờ với đại tướng?
Nhưng cũng còn một cái lý nữa là cụ Doanh có nêu ra một tồn nghi là có nhiều ý kiến khẳng định Đại tướng Lê Trọng Tấn viễn tổ chính là chúa Trịnh Căn (?) Bằng cớ là ba anh em ruột của đại tướng Lê Trọng Tấn là Lê Mạnh Hồ (cả), Lê Trọng Tấn (tức Tố, thứ hai) và Trịnh Quý Đông (út).
Cụ Đồ Lăng thân sinh còn cẩn trọng cho ba anh em mang tên lót là những từ chỉ thứ tự thời tiết của một mùa. Mạnh là đầu mùa. Trọng là giữa và Quý là cuối! Điều đặc biệt là người em thứ ba này lại mang họ Trịnh nên chả phải là ngẫu nhiên khi có việc phối thờ này?
Cụ Doanh còn trích hẳn một tư liệu trong cuốn Họ Trịnh và Thăng Long (NXB Văn hoá Dân tộc, 2000) của hai nhà nghiên cứu Bỉnh Di và Trịnh Quang Vũ ở trang 111 đã khẳng định đại tướng là hậu duệ của dòng chúa Trịnh Căn.
Nếu đúng như cụ Doanh nói thì có lẽ cái việc tìm lẫn khẳng định đích thực họ cho đại tướng Lê Trọng Tấn xin kính chuyển các nhà nghiên cứu xem xét giải quyết?
Xin trở lại câu chuyện của cụ Doanh kể rằng cơ quan Xứ ủy hồi ấy đóng tại nhà cụ có một người nữ cán bộ trẻ đẹp năng nổ xông xáo gan dạ tên là Bích Vân còn có tên nữa là Hoàng Ngân (sau này một đội nữ du kích anh hùng của vùng đồng bằng Bắc Bộ đã mang tên người nữ cán bộ gan dạ ấy và đã từng lập nhiều chiến công xuất sắc).
Chị Bích Vân từ lâu đã có cảm tình với đồng chí Hoàng Văn Thụ. Bài thơ mà anh Hoàng Văn Thụ tặng chị Bích Vân rồi chị Bích Vân thuộc lòng sau đây chính là do thân mẫu cụ Doanh kể lại vì đã trực tiếp chứng kiến tình cảm ấy cũng như nhiều lần Bích Vân nằm ổ rơm cùng cụ, chuyện trò tỉ tê như hai mẹ con!
Hai trái tim mình đã kết tinh/ Chỉ vì nghĩa vụ phải làm thinh/ Mối thù đế quốc to em nhỉ/ Cướp cả giang san cả ái tình. Tấm gương hy sinh tiết liệt của người Cộng sản Hoàng Văn Thụ ở trường bắn Tương Mai năm 1944 đã cắt đứt mối lương duyên hồi ấy hẳn còn manh nha của đôi trai tài gái sắc này?
Cũng nói thêm, thân mẫu cụ Doanh là Nguyễn Thị Tụy, người được Hoàng Văn Thụ trực tiếp kết nạp vào Đảng năm 1940. Xin trở lại với anh lính khố đỏ Lê Trọng Tấn (tức Tố) của thôn Nghĩa Lộ của làng Yên Nghĩa này.
Thời gian tham gia lính khố đỏ, Lê Trọng Tấn đã đóng đến chức đội nên dân làng Yên Nghĩa thường gọi là Đội Tố. Nắm chắc đội Tố là con một nhà Nho thanh bần của làng vì bị bắt ép vào lính nên tổ chức Đảng đặt ra nhiệm vụ giáo giục cảm hoá Đội Tố…
Thời gian ấy, đơn vị của Đội Tố đang đồn trú gần sân bay Tông (Sơn Tây) nên cũng gần làng Yên Nghĩa. Chị Bích Vân tức Hoàng Ngân khi đó đang phụ trách công tác phụ vận kiêm binh vận của Xứ ủy Bắc Kỳ và một số nhân mối khác được giao nhiệm vụ cảm hoá giáo dục Đội Tố…
Chắc công việc ấy phải khá vất vả công phu lẫn khéo léo thì sau này chúng ta mới được đọc những dòng sau trong lý lịch trích ngang của đại tướng Lê Trọng Tấn: “…đồng chí được giác ngộ cách mạng đầu năm 1944 và tham gia Việt Minh.
Trong thời kỳ này đồng chí về quê nhà Yên Nghĩa tham gia các hoạt động cách mạng ở địa phương. Đến tháng 8 năm 1945 đồng chí được cử làm ủy viên quân sự trong ủy ban khởi nghĩa Hà Đông. Cuối năm này đồng chí được kết nạp vào ĐCS Đông Dương… "
Chao ôi, tôi thầm nghĩ, nếu không có sự giác ngộ cảm hóa ngày ấy, nếu không có cách mạng, nếu không có quân đội cách mạng cùng con mắt xanh của Anh Văn ngày ấy thì khó mà có những vị thế như Đại đoàn trưởng một đại đoàn chủ lực lúc 34 tuổi.
Năm 1954, chỉ huy đại đoàn 312 tiêu diệt cứ điểm Him Lam mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm 1958 là đại tá, hiệu trưởng trường sĩ quan lục quân. Năm 1961 là thiếu tướng Tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam. Năm 1964 với bí danh Ba Long là Phó tư lệnh LLVTGPMNVN. Năm 1972 là tư lệnh chiến dịch Bình Trị Thiên.
Trong chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng mùa Xuân 1975 là Phó tư lệnh chiến dịch kiêm tư lệnh các cánh quân phía Đông. Năm 1980 là Thượng tướng và Tổng tham mưu trưởng QĐNDVN hàm đại tướng năm 1984. Cái chết đột ngột mà như người xưa nói là bất đắc kỳ tử (chết mà chưa đến cái chết ấy) khiến huân nghiệp của vị đại tướng quê ở làng Yên Nghĩa này đã vĩnh viễn dừng lại ngày mồng 5 tháng 12 năm 1986!
…Tại một góc nhà lưu niệm, tôi dừng lại lâu hơn trước một bức ảnh đen trắng cỡ 18x24cm có nhiều khoảng đã mờ và loang lổ… Rọi cả đèn ngó kỹ mới rõ hình đại tướng mặc thường phục, quần xắn cao, đi dép cao su đúc, loại dép râu phổ biến của quân giải phóng. Đại tướng đầu ngẩng cao ánh mắt như nhìn vào một phía xa… Bên cạnh đại tướng là khoảng gì đó như những luống rau.
Rìa bức ảnh là một dòng ngay ngắn Ba Long, Phó R. Bên những dòng chữ vắn tắt Bức ảnh này Mỹ Ngụy chụp để nhận dạng tướng Lê Trọng Tấn thời gian hoạt động ở chiến trường miền Nam… Mỹ Ngụy chụp? Mà lại nhận dạng là thế nào?
Chừng như thấy vẻ phân vân băn khoăn của khách tham quan, cụ Doanh giọng hồ hởi cho tôi hay, người nhặt được tấm ảnh này nhà cũng gần đây… Và người đàn ông tóc húi ngắn vẻ rắn rỏi, chủ căn nhà mái bằng xây cất cũng đã lâu thoáng vẻ ngạc nhiên khi thấy đám khách không mời mà đến này! Nhưng khi cụ Doanh vừa ngỏ lời anh đã à, à vẻ rất niềm nở.
…Khoảng đêm 26 rạng ngày 27 gì đó của tháng 3 năm 1975, đơn vị đặc công của Lê Văn Viêm, tên ông chủ nhà, thuộc tiểu đoàn 403, sư đoàn 305 tập kích vào căn cứ sân bay và cảng Chu Lai.
Trận đánh diễn ra mau chóng và thắng lợi. Đơn vị của Viêm sau khi làm chủ chiến trường trong lúc thu dọn chiến lợi phẩm, Viêm đã tìm thấy trên bàn làm việc của viên chỉ huy căn cứ có một cuốn album khá dày…
Tò mò Viêm giở coi thì trang đầu có một dòng chữ viết khá đậm đại ý: Những nhân vật cỡ bự của Cộng quân. Nhớ coi kỹ để nhận người… Trong cuốn album ấy anh Viêm thấy nhiều ảnh lắm. Cái mờ cái rõ. Có nhiều cái chụp đã lâu.
Nhờ có những dòng ghi bên cạnh mà Viêm biết được nhiều người như Trịnh Đình Thảo, Trần Độ, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Thị Định v.v… Là người cùng làng với Tướng Lê Trọng Tấn (nhà ông Viêm cách nhà Tướng Lê Trọng Tấn khoảng gần 100 mét. Trước khi vào bộ đội năm 1971, hồi nhỏ có mấy lần Viêm gặp Tướng Tấn về làng có bận rẽ qua nhà Viêm chơi) mà Viêm nhận ra ngay bức ảnh này.
Viêm lột tấm ảnh ra cất vào ba lô. Tiếc cuốn album sau này không biết lạc đâu mất nhưng may tấm ảnh vẫn còn. Năm 1978, một lần về quê, Tướng Lê Trọng Tấn rẽ qua nhà Viêm chơi. Anh Viêm đưa tấm ảnh này ra…
Tướng Tấn nhíu mãi cặp mày mà vẫn không nhớ ra tấm hình này ông chụp vào hoàn cảnh nào? Ai chụp? Không hiểu sao tấm ảnh này lại rơi vào tay địch nhỉ? Anh Viêm còn nhớ Tướng Tấn nói vui có khi địch nó chụp được mình cũng nên ?! Và sau đó Tướng Tấn có xin lại tấm ảnh ấy!
Rời nhà anh Viêm, chúng tôi rẽ vào một ngôi nhà ngói năm gian thâm thấp. Nếp nhà cụ đồ Lăng, thân sinh đại tướng ngày trước lợp rạ nay đã được lợp ngói. Nghe nói hồi một đơn vị cũ của đại tướng xin làm con đường vào làng nhưng đại tướng không đồng ý.
Anh em đành tặng đại tướng mái ngói này vậy! Vâng, chú Tấn nhà tôi sinh ở ngôi nhà này đấy ạ… Chất giọng niềm nở của bà Căn, con gái của ông Lê Mạnh Hồ người con trai cả của cụ Đồ như làm ấm thêm căn nhà cổ. ấm áp như hương khói bốn mùa không dứt trong ngôi nhà mà vị tướng tài của nước Nam ta đã cất tiếng khóc chào đời!
Nguồn:
Đầu năm 1947, anh là người có công lớn trong việc khôi phục phong trào
sau khi mặt trận Huế bị vỡ. Ngày 25/3/1947, tức 40 ngày sau khi quân ta
rút khỏi Huế, với cương vị là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy
Thừa Thiên, anh triệu tập một cuộc họp đặc biệt, địa điểm họp không phải
ở chiến khu mà là ở ngay làng Nam Dương (huyện Phong Điền) - một làng ở
ngay sát nách địch, chỉ cách Huế 20 cây số.
Sau đó Tỉnh ủy Thừa Thiên đã ra nghị quyết nhấn mạnh tư tưởng chỉ đạo:
"Phải nhanh chóng chuyển sang tiến công địch. Kiên quyết luồn trở lại
vùng đồng bằng đang bị địch chiếm đóng, bám đất, bám dân, phát động
phong trào chiến tranh du kích, phá tan chính sách bình định của địch".
Từ đó phong trào kháng chiến ở vùng sau lưng địch của Bình Trị Thiên đã
vượt qua được những khó khăn hiểm nghèo, từng bước tiến lên giành những
thắng lợi.
Giữa năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp bước sang một giai đoạn mới,
quân đội ta phát triển nhanh chóng và ngày càng lớn mạnh. Trong bối cảnh
đó, Nguyễn Chí Thanh được Đảng giao cho một trọng trách mới. Anh được
điều động vào quân đội và được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục
Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Về Đảng anh được cử giữ chức Phó
bí thư Quân ủy Trung ương.
Trung tướng Đoàn Chương, nguyên thư ký riêng cho anh Thanh nhiều năm, kể
lại: Theo chế độ, chính sách, với cương vị cao là Ủy viên Bộ Chính trị,
Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, gia đình anh được cơ quan trang bị thêm
tủ, giường và một số đồ dùng khác. Nhưng anh bảo đem phân phối cho những
anh em khác còn thiếu thốn.
Trung tướng Đoàn Chương còn nói về chị Cúc, vợ anh bằng những lời lẽ tốt đẹp: "Là vợ một cán bộ lãnh đạo cao cấp, nhưng tuyệt nhiên chị không bao giờ cậy thế chồng để lên mặt "bà chủ" với anh em phục vụ. Điều đó một phần do bản chất đôn hậu của chị, một phần quan trọng là do thái độ của anh Thanh. Anh chúa ghét những thói ấy".
Kỷ niệm về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh
Phút giây cảm động nhất trong đời Nguyễn Chí Thanh có lẽ là phút chia tay Bác Hồ buổi chiều hôm đó. Bác tiễn anh ra tận giàn nho và đứng lại hồi lâu với anh ở đó. Bác dặn anh phải giữ gìn sức khỏe; Bác hỏi thăm các cháu của anh sơ tán về Mỹ Đức (Hà Tây) có gì khó khăn không; về tình hình công tác của chị Cúc vợ anh...
Một mẫu mực sáng ngời về đạo đức cách mạng
Nguồn:
1 - Vị đại tướng được Bác Hồ đặt tên / Phùng Thế Tài // ANTG, 09.02.2009.
2 - Kỷ niệm về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh / Phùng Thế Tài // ANTG, 11.02.2009.
Trần Đại Nghĩa - Người đặt nền móng công nghiệp quốc phòng Việt Nam
VietnamDefence -
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam
có một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, quyết tâm và nghị lực phi
thường vượt qua khó khăn, gian khổ hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được
giao.
GS VS Trần Đại Nghĩa
và người bạn đời tại nhà riêng |
Với chiến công ấy ông đã được phong quân hàm cấp tướng và danh hiệu Anh hùng lao động, Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô. Ông là GS, viện sĩ Trần Đại Nghĩa.
Hơn chục năm âm thầm nghiên cứu vũ khí
Sinh ngày 13/9/1913, trong một gia đình giáo viên nghèo ở thị xã Vĩnh Long. Cha mất sớm, mới 7 tuổi đã phải xa gia đình đi trọ học. Ngay từ những năm học tiểu học, rồi trung học, Phạm Quang Lễ (tên khai sinh của GS Trần Đại Nghĩa) luôn luôn là một học sinh xuất sắc, giỏi toàn diện, nhất là môn toán.
Do chịu ảnh hưởng sâu sắc của các phong trào yêu nước, chống thực dân Pháp của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, rồi phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh, ngay từ thuở thiếu thời, anh đã tâm niệm rằng, nước mình phải tự chế tạo được nhiều loại vũ khí, cả những vũ khí hiện đại, mới có thể quét sạch bọn xâm lược. Một hôm tình cờ anh gặp nhà báo Việt kiều yêu nước Vương Quang Ngươu từ Pháp về. Qua vài lần trò chuyện, thấy chàng thanh niên này giàu lòng yêu nước, kiến thức uyên thâm, lại lễ phép, trung thực, chín chắn, khiêm nhường, ông Ngươu rất quí mến.
Biết anh có nguyện vọng sang Pháp du học, nhưng nhà nghèo, ông Ngươu đã vận động Hội Ái hữu Trường Chasseloup Laubat ở Pháp cấp cho anh một năm học bổng. Điều này làm cho Phạm Quang Lễ vừa mừng vừa lo. Mừng vì sắp có cơ hội thực hiện ước mơ, nhưng lo vì sợ nghỉ việc, kinh tế gia đình hụt hẫng, thiếu người phụng dưỡng mẹ già. Nhưng rồi được mẹ và chị động viên khuyến khích, ngày 5/9/1935 anh đã lên đường sang Pháp.
Sau năm học dự bị, anh thi đỗ xuất sắc vào Trường Đại học Cầu đường Paris và được học bổng toàn phần của Nhà nước Pháp. Cũng trong năm 1936, lần đầu tiên anh biết đến tên tuổi Nguyễn Ái Quốc. Càng đọc những bài báo của Người, ý thức dân tộc, tình cảm yêu nước trong anh càng thêm nồng nàn, động cơ học tập và mục tiêu của đời anh càng trở nên rõ ràng. Ngoài giờ lên lớp ở trường cầu đường, anh còn theo học ở Trường Cao đẳng Kỹ thuật Paris và khoa toán Trường Đại học Sorbonne.
Trần Đại Nghĩa (người đeo kính) đang giới thiệu vũ khí mới
với Đại tướng Võ Nguyên Giáp |
Bởi vậy không bao giờ anh bỏ các giờ trắc-thực nghiệm ở trường, thực tập ở xí nghiệp, nhà máy. Năm 1940, Phạm Quang Lễ đã nhận gần như cùng một lúc ba bằng: Kỹ sư cầu đường, Kỹ sư điện và Cử nhân toán. Sau đó anh còn học tiếp và nhận thêm ba bằng nữa: Kỹ sư hàng không, Mỏ địa chất và Chế tạo máy.
Trong thời gian ở Pháp, Phạm Quang Lễ rất hay lui tới Viện Bảo tàng vũ khí, xem xét kỹ lưỡng tất cả các loại vũ khí từ thô sơ đến hiện đại. Anh học gì và đọc sách nào cũng đều liên quan tới thời cuộc và kỹ thuật chế tạo vũ khí, tổ chức và quản lý ngành công nghiệp quốc phòng.
Thường xuyên tới thư viện đọc sách, gây được cảm tình với người thủ thư, anh càng có điều kiện "lén" nghiên cứu những tài liệu liên quan tới vũ khí, điều mà chính quyền Pháp nghiêm cấm đối với dân tộc thuộc địa. Cảm phục chàng sinh viên Việt Nam cần cù, chăm chỉ và trung thực, người thủ thư nhiều khi còn "phá lệ" cho anh được mang sách về nhà đọc.
Suốt 11 năm âm thầm nghiên cứu, anh đã ghi chép hơn 30 nghìn trang tài liệu về vũ khí.
Bác Hồ chắp cánh thực hiện ước mơ
Ngày 5/12/1946 trở thành bước ngoặt trong cuộc đời người trí thức trẻ vừa từ Pháp được theo chân Bác về nước. Bác nói: "Kháng chiến sắp đến nơi rồi, hôm nay Bác gọi chú đến để trao cho nhiệm vụ làm Cục trưởng Cục quân giới. Chú lo vũ khí cho bộ đội diệt giặc. Việc của chú là việc đại nghĩa, vì thế kể từ nay, Bác đặt tên cho chú là Trần Đại Nghĩa".
Người giải thích một cách rất dí dỏm "Một là họ Trần không có họ với Bác, đấy là họ của Trần Hưng Đạo. Hai là, Đại Nghĩa là nghĩa lớn để chú nhớ đến nhiệm vụ của mình với nhân dân, với đất nước". Bác còn nói thêm: "Dùng bí danh này để giữ bí mật cho chú và để bảo vệ gia đình, bà con chú còn ở trong Nam".
40 ngày trên chiến hạm Dumont d'Urville lênh đênh trên biển trở về quê hương, anh và nhóm trí thức cùng về đã được Bác giảng giải những điều cơ bản và sâu sắc nhất về lịch sử Việt Nam và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Anh cảm thấy không còn gì sung sướng và hạnh phúc hơn khi được chính Bác Hồ giao cho nhiệm vụ lo sản xuất vũ khí để đánh giặc, điều mà anh đã mơ ước từ thủa niên thiếu và âm thầm chuẩn bị suốt 11 năm du học.
Về nước, mặc dù hoàn cảnh vô cùng khó khăn và hầu như bắt đầu từ số không, thế nhưng chỉ sau gần 3 tháng, cuối tháng 2/1947, các chiến sĩ quân giới dưới sự chỉ đạo của Trần Đại Nghĩa đã sản xuất thành công súng bazôka với sức mạnh xuyên thủng 75 cm tường thành gạch xây, tương đương với sức nổ của đạn bazôka do Mỹ chế tạo.
Ngày 5/3/1947, tại Sơn Lộ, Quốc Oai (Hà Đông), đạn bazôka vừa xuất xưởng đã bắn cháy 2 xe tăng của quân Pháp, làm cho kẻ thù bất ngờ, sửng sốt, khiếp vía, còn quân dân ta thì vô cùng phấn khởi. Trong chiến dịch Thu Đông năm 1947, súng bazôka còn bắn chìm cả tàu chiến Pháp ngược dòng sông Lô lên Việt Bắc. Trong lịch sử chiến tranh bazôka xuất hiện lần đầu tiên trên thể giới vào năm 1943. Đối với một đất nước vừa thoát khỏi ách thuộc địa, nửa phong kiến đã chế tạo thành công loại vũ khí hiện đại này, quả là một huyền thoại!
Đánh địch cố thủ trong lô cốt bê tông cốt thép, bộ đội ta phải cho nổ bộc phá cỡ lớn, hoặc mìn lõm cỡ lớn. Cách đánh đó nguy hiểm cho xung kích, bộ đội phải ém sát đối phương. Ông nghĩ đến việc chế tạo một loại súng nhẹ, có thể vận chuyển dễ dàng trên đôi vai bộ đội, nhưng lại có sức công phá ngang như một cỗ đại bác sáu tấn thép - Đấy là súng không giật SKZ, loại vũ khí hiện đại, mới xuất hiện lần đầu trong trận quân Mỹ đổ bộ lên đảo Okinawa (Nhật Bản) cuối chiến tranh thế giới thứ hai.
Trần Đại Nghĩa cùng với những cộng sự gần gũi như Nguyễn Minh Tiếp, Hoàng Đình Phu, Bùi Minh Tiêu, Phạm Đồng Điện, Nguyễn Văn Hường… đã phải lặp lại quá trình sáng chế SKZ, hoàn toàn độc lập với người Mỹ. Cuối cùng, ông và các cộng sự đã chế tạo thành công.
SKZ Việt Nam xuất trận lần đầu trong trận Phố Lu, đánh phá tan tành các lô cốt địch có tường bê tông cốt thép dày hơn 1 mét. Năm 1950 chiến trường Nam Trung bộ nhận được 10 khẩu SKZ và 150 quả đạn từ Việt Bắc chuyển vào. Trong một đêm, với loại súng không giật này ta đã nhổ 5 đồn giặc. Quá hốt hoảng, địch tháo chạy thục mạng khỏi hàng trăm đồn bốt khác. Có SKZ rồi, ông tiếp tục nghiên cứu và chế tạo đạn bay. Và ông cũng đã sáng chế thành công loại tên lửa nặng 30 kg có thể đánh phá các mục tiêu ở cách xa 4 km.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Trần Đại Nghĩa đã góp phần to lớn trong việc tìm biện pháp chống nhiễu của máy bay B-52 và nâng cấp độ bay cao của tên lửa SAM-2 để tổ chức phòng không hiệu quả nhất. Ông cũng có công rất lớn trong việc tìm biện pháp phá hệ thống thủy lôi của địch và chế tạo những trang thiết bị đặc biệt cho Bộ đội Đặc công.
Ông đã vĩnh biệt chúng ta vào chiều ngày 9/8/1997, song những thành quả mà ông để lại thực sự là những tài sản vô cùng to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ta.
Nguồn: Gia Huy / CAND, Tết 2011.
Đại tướng Lê Trọng Tấn - Những ngày đầu cách mạng
VietnamDefence -
Nhà nghỉ cán bộ lão thành cách
mạng Đại Lải sương chiều bàng bạc trải trên cánh rừng thưa, thoảng mùi
hương thơm dìu dịu của các loài hoa nở cánh khi chiều về. Những giọt mưa
ngâu chảy rì rầm hòa cùng tiếng kể chuyện đều đều của cụ Phí Văn Bái
(tức Phan Kỳ Đức)...
Đại tướng Lê Trọng Tấn (1914-1986)
|
Giữa năm 1942, tôi đến một cơ sở cách mạng ở làng
Lương Yên. Đang nói chuyện thì một quân nhân trong bộ đồ nhà binh Pháp ở
phía cổng đi vào. Tôi lánh sang buồng bên cạnh nói chuyện với các em
đang học. Khi người ấy về, chủ nhà cho biết đó là Lê Trọng Tố. Tôi ngờ
ngợ đã gặp anh này từ trước ở đâu đó. Sau mới nhớ, anh Tố là một cầu thủ
đá bóng giỏi của đội Eclair (Tia chớp) ở vị trí tiền vệ. Anh đá rất hay
với những pha lấy bóng rất kỹ thuật, tài cản bóng và khéo léo dắt bóng
vào khu vực ít đối phương để đồng đội tung hoành dễ dàng trước khung
thành đội bạn.
Anh Trần Ất, một người bạn dạy chữ Quốc ngữ buổi tối
với tôi từ năm 1938 ở chùa Hộ Quốc làng Thanh Nhàn cho biết: Anh Lê
Trọng Tố là con cụ Đồ Lê, người đã từng tham gia phong trào Đông Kinh
Nghĩa Thục. Khi phong trào bị đàn áp, cụ về làng Thanh Nhàn mở lớp dạy
chữ Nho, anh Trần Ất là trưởng tràng (lớp trưởng).
Năm 1926, cụ Đồ Lê và Nhượng Tống đã tổ chức lễ truy
điệu cụ Phan Chu Trinh mới tạ thế, tại đền Hai Bà Trưng làng Đồng Nhân.
Năm sau nổi lên sự kiện bài thơ “Chiêu hồn nước” của Phạm Tất Đắc. Cứ
cuối mỗi buổi học, cụ Đồ Lê lại dạy cho học trò của mình học thuộc lòng
10 câu thơ trong bài.
Sau khi biết anh Lê Trọng Tố là con một gia đình yêu
nước, tôi nhờ gia đình cơ sở cách mạng đưa báo Cứu Quốc và báo Cờ giải
phóng cho anh. Anh Tố rất vui và mong được nhận báo luôn. Mùa đông năm
1943, đồng chí Lưu Đức Hiểu (tức Lưu Quyên), trước là Bí thư Thành ủy Hà
Nội, vượt ngục Sơn La về Hà Nội biết chuyện này đã bảo tôi giao việc
thử thách anh Tố, nếu kết quả tốt thì kết nạp vào tổ chức Mặt trận. Đầu
tiên anh Lê Trọng Tố mua hai tín phiếu của Việt Minh...
Theo chỉ thị của đồng chí Lê Quang Đạo - Bí thư Ban
Cán sự Hà Nội - tôi và đồng chí Nguyễn Trí Uẩn chuẩn bị ra một tờ báo:
tờ Khởi nghĩa. Qua người em trai của anh Lê Trọng Tố là Lê Quý Giả (sau
Cách mạng tháng Tám 1945 đổi tên là Trịnh Quý Đông, làm Bí thư Tỉnh ủy
Đảng Dân chủ tỉnh Hưng Yên, Đại biểu Quốc hội khóa I) - một thanh niên
Cứu quốc trong tổ do anh Nguyễn Trí Uẩn phụ trách - vận động anh Tố nhận
để cơ sở in bí mật tại nhà anh ở phía ngoài đê sông Hồng giữa những
hàng cây um tùm kín đáo, xung quanh toàn người lao động đi làm suốt
ngày. Không chỉ riêng anh mà cả chị vợ là Nguyễn Thị Mùi (tức Nguyễn Thị
Minh Sơn) nhận lời và người em trai chị cùng tham gia, về sau là Thượng
tướng Lê Ngọc Hiền. Anh chị còn nuôi hai người làm việc trong nhà in và
bảo vệ chu đáo. Bây giờ nhắc lại thấy đơn giản, nhưng lúc ấy, dưới
quyền thực dân Pháp, đó là công việc nguy hiểm vô cùng. Nếu không phải
gia đình có nhiệt tình với cách mạng thì anh em hoạt động gặp rất nhiều
khó khăn.
Việc thử thách đã có kết quả tốt, tôi và ông Nguyễn
Trí Uẩn báo cáo lên ông Lê Quang Đạo - Bí thư, và ông Vũ Quý - Ủy viên
Ban Cán sự Đảng Hà Nội (Khi ông Lê Quang Đạo đi công tác xuống Hải
Phòng, ông Vũ Quý làm Quyền Bí thư). Hai ông Lê Quang Đạo và Vũ Quý
quyết định đồng ý kết nạp Lê Trọng Tố vào Mặt trận Việt Minh...
Anh Nguyễn Thế Cát là người gặp anh Tố nói chuyện
trực tiếp về Mặt trận. Vì anh Lê Trọng Tố là quân nhân nên đi đâu cũng
thu hút sự chú ý của mọi người. Tôi và anh Nguyễn Trí Uẩn suy nghĩ
nhiều, cuối cùng đi đến thống nhất: mời anh Tố đến nhà hát cô đầu ở phố
Khâm Thiên, tuyên bố công nhận Lê Trọng Tố gia nhập Mặt trận Việt Minh.
Sau đó đề nghị đồng chí Vũ Quý chuyển anh Tố vào hoạt động trong tổ chức
Binh sĩ Cứu quốc.
Sau Cách mạng tháng Tám, mỗi người được Đảng phân
công công tác một nơi khác nhau. Tôi được cử làm Phó chủ tịch Ủy ban
Hành chính tỉnh Ninh Bình, rồi được điều động lên Cục Địch vận – Tổng
cục Chính trị. Ông Lê Trọng Tố đổi tên thành Lê Trọng Tấn tham gia quân
đội, làm Trung đoàn trưởng E209 (Sông Lô), rồi Tư lệnh Đại đoàn 312.
Đầu những năm 60, một hôm tôi ở trong ngõ nhà anh
Giang Đức Tuệ đi ra phố Lý Nam Đế - cụ Phí Văn Bái kể tiếp - một chiếc
xe ôtô lướt qua rồi dừng lại. Cửa xe mở ra, một vị đeo quân hàm cấp
tướng mời tôi lên xe: anh Lê Trọng Tấn. Anh đưa tôi về nhà anh ở 36C Lý
Nam Đế. Sau khi nhờ đồng chí bảo vệ đưa tôi vào phòng khách, còn mình đi
cất tài liệu và rửa mặt, anh trở ra ôm tôi rất lâu. Anh hỏi từng anh em
cùng hoạt động trước ngày Nhật đảo chính Pháp. Riêng tôi, anh nói nhỏ:
“Anh Bái trong chỉnh quân, chỉnh huấn, cải cách ruộng đất có làm sao
không?”.
Anh dẫn tôi xuống nhà dưới thăm chị đang ốm. Anh hỏi
chị: “Bà có nhớ ai đây không?”. Chị Nguyễn Thị Mùi (tức Nguyễn Thị
Minh Sơn) nắm tay tôi, mỉm cười, khẽ nói: “Anh Phí Văn Bái cùng anh Văn
Cao xuống nhà ta nhiều lần”. Khi tiễn tôi về, trước khi ra cổng, anh nhờ
tôi hỏi thăm từng người và hẹn một ngày gần sẽ gặp nhau đầy đủ.
Lúc chia tay ra về, anh Lê Trọng Tấn hẹn sau khi về
già, đất nước thống nhất hòa bình, nghỉ hưu, có thời gian rảnh rỗi chúng
tôi sẽ gặp nhau cùng tâm sự những nỗi truân chuyên đã trải qua. Tiếc
thay anh mất đột ngột trên cương vị công tác, công việc còn dang dở, ước
mong của anh chưa vẹn tròn...
Cụ Phí Văn Bái trầm ngâm, một thoáng im lặng bao phủ
khắp căn phòng: “Chúng tôi rất tự hào về anh Lê Trọng Tấn, một vị chỉ
huy quân sự tài ba trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, một con
người luôn được nhân dân quý mến, kính trọng và cảm phục. Mọi người nhớ
anh là Đại tướng Lê Trọng Tấn, còn tôi luôn nhớ anh là một đồng chí có
tình cảm chân thành với bạn bè, đồng đội”
Bức ảnh Tướng Lê Trọng Tấn tìm thấy ở căn cứ giặc
Đại tướng Lê Trọng Tấn, người chỉ huy kiên cường,
lỗi lạc; người bạn chiến đấu chí thiết (lời của đại tướng Võ Nguyên Giáp) |
Gian chính giữa là nghiêm ngắn nơi thờ cúng đại tướng với bức tượng đồng bán thân đúc khéo toát lên vẻ uy dũng nhưng hồn hậu kèm đôi câu đối Đại tướng huân danh hương đăng nguyện duy trì chững chạc/Tượng đồng truy tặng Lê môn tưởng ký ức công lao (Huân nghiệp tướng tài khói hương luôn bền nối. Tượng đồng đặt trước cửa họ Lê luôn ghi nhớ công lao).
Gian bên cạnh cùng phối thờ là những bài vị nghiêm ngắn mà coi kỹ tôi lấy làm lạ và càng ngạc nhiên hơn khi đọc hai hàng câu đối Quang Thuận Lê triều thử địa dịch truyền tam tiến sĩ/ Cung tần Trịnh phủ my kiều đặc biệt nhất Dương phi.
Nhà tưởng niệm đại tướng mà lại phối thờ những tam tiến sĩ những Phủ Trịnh với Dương phi là sao? Câu đối trên có thể tạm hiểu Quang Thuận triều Lê mãi lưu danh ba ngài tiến sĩ/ Phủ Trịnh ngời rạng vẻ mỹ miều của bà Chúa họ Dương.
Sau này, khi hỏi lại tôi mới hay, chả biết phong thủy lẫn thế đất làng Yên Nghĩa huyện Hoài Đức nay là Hà Tây vượng lẫn đắc địa ra sao mà bà Chúa Dương Thị Ngọc Hoan vợ chúa Trịnh Sâm, quê mãi huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh, phủ chúa ở Thăng Long thiếu chi dinh thự mà lại lập hẳn cả một hành cung đồ sộ ở đây?
Khi sống bà đã làm nhiều việc ân đức cho làng cho vùng tỷ như để lại 30 mẫu ruộng để nuôi lính tráng phục dịch lẫn người nghèo (tên gọi ruộng bà Chúa nay vẫn còn) nên khi mất, làng lập đền thờ khói hương mãi đến giờ! (Có thể hành cung của bà chúa được đặt ở đây là do một nhánh lớn của chúa Trịnh Căn trước bà hơn một trăm năm đã sinh cơ nghiệp ở làng này? Mà hậu duệ là cụ Trịnh Doanh, người đang dẫn tôi thăm nhà tưởng niệm. Nhà cụ Doanh nói riêng cũng như Yên Nghĩa nói chung là nơi nuôi giấu che chở cơ quan Xứ ủy Bắc Kỳ và các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt… trong suốt một thời gian dài).
Ba ông tiến sĩ của làng Yên Nghĩa là Nguyễn Tông, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa thi Quý Mùi (1463). Con ông là Nguyễn Vũ, đỗ nhị giáp tiến sĩ khoa thi Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh thống (1499) rồi đến cháu ông là Nguyễn Thước, đỗ Hội nguyên đệ tam giáp tiến sĩ khoa Đinh Mùi (1547). Một nhà mà ba ông cháu cha con cùng đỗ tiến sĩ có lẽ cũng hơi bị hiếm.
Đất này lại là một mảnh của vương triều phong kiến có niên đại lâu nhất lịch sử Việt Nam văng đến tận đây nên có lý khi rước những nhân vật có tên trong sử làng sử nước ấy cùng phối thờ với đại tướng?
Nhưng cũng còn một cái lý nữa là cụ Doanh có nêu ra một tồn nghi là có nhiều ý kiến khẳng định Đại tướng Lê Trọng Tấn viễn tổ chính là chúa Trịnh Căn (?) Bằng cớ là ba anh em ruột của đại tướng Lê Trọng Tấn là Lê Mạnh Hồ (cả), Lê Trọng Tấn (tức Tố, thứ hai) và Trịnh Quý Đông (út).
Cụ Đồ Lăng thân sinh còn cẩn trọng cho ba anh em mang tên lót là những từ chỉ thứ tự thời tiết của một mùa. Mạnh là đầu mùa. Trọng là giữa và Quý là cuối! Điều đặc biệt là người em thứ ba này lại mang họ Trịnh nên chả phải là ngẫu nhiên khi có việc phối thờ này?
Cụ Doanh còn trích hẳn một tư liệu trong cuốn Họ Trịnh và Thăng Long (NXB Văn hoá Dân tộc, 2000) của hai nhà nghiên cứu Bỉnh Di và Trịnh Quang Vũ ở trang 111 đã khẳng định đại tướng là hậu duệ của dòng chúa Trịnh Căn.
Nếu đúng như cụ Doanh nói thì có lẽ cái việc tìm lẫn khẳng định đích thực họ cho đại tướng Lê Trọng Tấn xin kính chuyển các nhà nghiên cứu xem xét giải quyết?
Xin trở lại câu chuyện của cụ Doanh kể rằng cơ quan Xứ ủy hồi ấy đóng tại nhà cụ có một người nữ cán bộ trẻ đẹp năng nổ xông xáo gan dạ tên là Bích Vân còn có tên nữa là Hoàng Ngân (sau này một đội nữ du kích anh hùng của vùng đồng bằng Bắc Bộ đã mang tên người nữ cán bộ gan dạ ấy và đã từng lập nhiều chiến công xuất sắc).
Chị Bích Vân từ lâu đã có cảm tình với đồng chí Hoàng Văn Thụ. Bài thơ mà anh Hoàng Văn Thụ tặng chị Bích Vân rồi chị Bích Vân thuộc lòng sau đây chính là do thân mẫu cụ Doanh kể lại vì đã trực tiếp chứng kiến tình cảm ấy cũng như nhiều lần Bích Vân nằm ổ rơm cùng cụ, chuyện trò tỉ tê như hai mẹ con!
Hai trái tim mình đã kết tinh/ Chỉ vì nghĩa vụ phải làm thinh/ Mối thù đế quốc to em nhỉ/ Cướp cả giang san cả ái tình. Tấm gương hy sinh tiết liệt của người Cộng sản Hoàng Văn Thụ ở trường bắn Tương Mai năm 1944 đã cắt đứt mối lương duyên hồi ấy hẳn còn manh nha của đôi trai tài gái sắc này?
Cũng nói thêm, thân mẫu cụ Doanh là Nguyễn Thị Tụy, người được Hoàng Văn Thụ trực tiếp kết nạp vào Đảng năm 1940. Xin trở lại với anh lính khố đỏ Lê Trọng Tấn (tức Tố) của thôn Nghĩa Lộ của làng Yên Nghĩa này.
Thời gian tham gia lính khố đỏ, Lê Trọng Tấn đã đóng đến chức đội nên dân làng Yên Nghĩa thường gọi là Đội Tố. Nắm chắc đội Tố là con một nhà Nho thanh bần của làng vì bị bắt ép vào lính nên tổ chức Đảng đặt ra nhiệm vụ giáo giục cảm hoá Đội Tố…
Thời gian ấy, đơn vị của Đội Tố đang đồn trú gần sân bay Tông (Sơn Tây) nên cũng gần làng Yên Nghĩa. Chị Bích Vân tức Hoàng Ngân khi đó đang phụ trách công tác phụ vận kiêm binh vận của Xứ ủy Bắc Kỳ và một số nhân mối khác được giao nhiệm vụ cảm hoá giáo dục Đội Tố…
Chắc công việc ấy phải khá vất vả công phu lẫn khéo léo thì sau này chúng ta mới được đọc những dòng sau trong lý lịch trích ngang của đại tướng Lê Trọng Tấn: “…đồng chí được giác ngộ cách mạng đầu năm 1944 và tham gia Việt Minh.
Trong thời kỳ này đồng chí về quê nhà Yên Nghĩa tham gia các hoạt động cách mạng ở địa phương. Đến tháng 8 năm 1945 đồng chí được cử làm ủy viên quân sự trong ủy ban khởi nghĩa Hà Đông. Cuối năm này đồng chí được kết nạp vào ĐCS Đông Dương… "
Chao ôi, tôi thầm nghĩ, nếu không có sự giác ngộ cảm hóa ngày ấy, nếu không có cách mạng, nếu không có quân đội cách mạng cùng con mắt xanh của Anh Văn ngày ấy thì khó mà có những vị thế như Đại đoàn trưởng một đại đoàn chủ lực lúc 34 tuổi.
Năm 1954, chỉ huy đại đoàn 312 tiêu diệt cứ điểm Him Lam mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm 1958 là đại tá, hiệu trưởng trường sĩ quan lục quân. Năm 1961 là thiếu tướng Tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam. Năm 1964 với bí danh Ba Long là Phó tư lệnh LLVTGPMNVN. Năm 1972 là tư lệnh chiến dịch Bình Trị Thiên.
Trong chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng mùa Xuân 1975 là Phó tư lệnh chiến dịch kiêm tư lệnh các cánh quân phía Đông. Năm 1980 là Thượng tướng và Tổng tham mưu trưởng QĐNDVN hàm đại tướng năm 1984. Cái chết đột ngột mà như người xưa nói là bất đắc kỳ tử (chết mà chưa đến cái chết ấy) khiến huân nghiệp của vị đại tướng quê ở làng Yên Nghĩa này đã vĩnh viễn dừng lại ngày mồng 5 tháng 12 năm 1986!
…Tại một góc nhà lưu niệm, tôi dừng lại lâu hơn trước một bức ảnh đen trắng cỡ 18x24cm có nhiều khoảng đã mờ và loang lổ… Rọi cả đèn ngó kỹ mới rõ hình đại tướng mặc thường phục, quần xắn cao, đi dép cao su đúc, loại dép râu phổ biến của quân giải phóng. Đại tướng đầu ngẩng cao ánh mắt như nhìn vào một phía xa… Bên cạnh đại tướng là khoảng gì đó như những luống rau.
Rìa bức ảnh là một dòng ngay ngắn Ba Long, Phó R. Bên những dòng chữ vắn tắt Bức ảnh này Mỹ Ngụy chụp để nhận dạng tướng Lê Trọng Tấn thời gian hoạt động ở chiến trường miền Nam… Mỹ Ngụy chụp? Mà lại nhận dạng là thế nào?
Chừng như thấy vẻ phân vân băn khoăn của khách tham quan, cụ Doanh giọng hồ hởi cho tôi hay, người nhặt được tấm ảnh này nhà cũng gần đây… Và người đàn ông tóc húi ngắn vẻ rắn rỏi, chủ căn nhà mái bằng xây cất cũng đã lâu thoáng vẻ ngạc nhiên khi thấy đám khách không mời mà đến này! Nhưng khi cụ Doanh vừa ngỏ lời anh đã à, à vẻ rất niềm nở.
…Khoảng đêm 26 rạng ngày 27 gì đó của tháng 3 năm 1975, đơn vị đặc công của Lê Văn Viêm, tên ông chủ nhà, thuộc tiểu đoàn 403, sư đoàn 305 tập kích vào căn cứ sân bay và cảng Chu Lai.
Trận đánh diễn ra mau chóng và thắng lợi. Đơn vị của Viêm sau khi làm chủ chiến trường trong lúc thu dọn chiến lợi phẩm, Viêm đã tìm thấy trên bàn làm việc của viên chỉ huy căn cứ có một cuốn album khá dày…
Tò mò Viêm giở coi thì trang đầu có một dòng chữ viết khá đậm đại ý: Những nhân vật cỡ bự của Cộng quân. Nhớ coi kỹ để nhận người… Trong cuốn album ấy anh Viêm thấy nhiều ảnh lắm. Cái mờ cái rõ. Có nhiều cái chụp đã lâu.
Nhờ có những dòng ghi bên cạnh mà Viêm biết được nhiều người như Trịnh Đình Thảo, Trần Độ, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Thị Định v.v… Là người cùng làng với Tướng Lê Trọng Tấn (nhà ông Viêm cách nhà Tướng Lê Trọng Tấn khoảng gần 100 mét. Trước khi vào bộ đội năm 1971, hồi nhỏ có mấy lần Viêm gặp Tướng Tấn về làng có bận rẽ qua nhà Viêm chơi) mà Viêm nhận ra ngay bức ảnh này.
Viêm lột tấm ảnh ra cất vào ba lô. Tiếc cuốn album sau này không biết lạc đâu mất nhưng may tấm ảnh vẫn còn. Năm 1978, một lần về quê, Tướng Lê Trọng Tấn rẽ qua nhà Viêm chơi. Anh Viêm đưa tấm ảnh này ra…
Tướng Tấn nhíu mãi cặp mày mà vẫn không nhớ ra tấm hình này ông chụp vào hoàn cảnh nào? Ai chụp? Không hiểu sao tấm ảnh này lại rơi vào tay địch nhỉ? Anh Viêm còn nhớ Tướng Tấn nói vui có khi địch nó chụp được mình cũng nên ?! Và sau đó Tướng Tấn có xin lại tấm ảnh ấy!
Rời nhà anh Viêm, chúng tôi rẽ vào một ngôi nhà ngói năm gian thâm thấp. Nếp nhà cụ đồ Lăng, thân sinh đại tướng ngày trước lợp rạ nay đã được lợp ngói. Nghe nói hồi một đơn vị cũ của đại tướng xin làm con đường vào làng nhưng đại tướng không đồng ý.
Anh em đành tặng đại tướng mái ngói này vậy! Vâng, chú Tấn nhà tôi sinh ở ngôi nhà này đấy ạ… Chất giọng niềm nở của bà Căn, con gái của ông Lê Mạnh Hồ người con trai cả của cụ Đồ như làm ấm thêm căn nhà cổ. ấm áp như hương khói bốn mùa không dứt trong ngôi nhà mà vị tướng tài của nước Nam ta đã cất tiếng khóc chào đời!
Thanh minh năm Dậu
Nguồn:
1 - Đại tướng Lê Trọng Tấn - Những ngày đầu cách mạng / Kiều Mai Sơn (ghi) // ANTG, 23.12.2008.
2 - Bức ảnh Tướng Lê Trọng Tấn tìm thấy ở căn cứ giặc / Xuân Ba // Tiền Phong, 29.04.2005.
Nguyễn Chí Thanh: Vị đại tướng được Bác Hồ đặt tên
VietnamDefence -
Quân đội ta có hai vị Đại tướng
đầu tiên thì một người xuất thân từ trí thức, một người xuất thân từ
nông dân và cùng quê Bình Trị Thiên. Có điều đặc biệt, người xuất thân
từ trí thức thì trở thành quan võ, Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng Tư lệnh.
Người xuất thân từ nông dân thì trở thành quan văn, Chủ nhiệm Tổng cục
Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam...
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1/1/1914-6.7.1967)
|
Người cộng sản kiên cường
Nói thế thôi, chứ thực ra cả hai vị đại tướng này đều
là văn võ kiêm toàn, đều có nhãn quan chiến lược vào loại tầm cỡ, xứng
đáng được ghi vào sử sách. Một người thì rõ ràng đã được thế giới suy
tôn là một trong các vị tướng nổi tiếng thế giới. Còn một người thì đã
từ giã chúng ta, để lại một chỗ trống không gì có thể bù đắp được và cho
đến nay nhiều người vẫn nuối tiếc...
Tên khai sinh của anh là Nguyễn Vịnh. Tại Hội nghị
Đảng toàn quốc ở Tân Trào tháng 8/1945, khi nghe có tên Nguyễn Chí Thanh
trong danh sách Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nguyễn Vịnh quay sang
hỏi đồng chí Võ Nguyên Giáp ngồi bên cạnh: "Nguyễn Chí Thanh là ai mà
nghe lạ thế!". Đồng chí Võ Nguyên Giáp mỉm cười trả lời: "Là anh chứ ai
nữa, chính Bác đặt tên cho anh đấy". Nguyễn Vịnh vừa ngỡ ngàng, vừa sung
sướng! Từ đây cái tên Nguyễn Chí Thanh trở thành một phần lịch sử của
quân đội ta, của Cách mạng Việt Nam.
Nguyễn Vịnh sinh ngày 1/1/1914 tại làng Niệm Phò, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên.
Cuối năm 1936, đầu năm 1937, anh may mắn được gặp các
anh Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu trong Phong trào Mặt trận Bình dân
và bắt đầu được giác ngộ về lý tưởng Cộng sản. Tháng 7/1937, Nguyễn Vịnh
được kết nạp vào Đảng.
Trong 8 năm, từ khi là một đảng viên Đảng Cộng sản
Đông Dương, rồi Bí thư Chi bộ và sau đó là Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên,
Nguyễn Vịnh đã bị đế quốc bắt giam 3 lần ở các nhà lao Huế, Lao Bảo,
Buôn Ma Thuột và đã từng vượt ngục để tiếp tục hoạt động. Suốt thời gian
lăn lộn với phong trào cũng như những năm tháng bị tù đày Nguyễn Vịnh
luôn tỏ ra là một đảng viên cộng sản kiên cường, nguy hiểm không sờn
lòng, khó khăn không lùi bước. Anh đã góp phần xây dựng cơ sở Đảng, đẩy
mạnh phong trào cách mạng ở Thừa Thiên - Huế trong suốt thời kỳ hoạt
động bí mật trước cách mạng.
"Chúng ta chỉ sợ mất lòng tin của dân"
Bác Hồ đến dự hội nghị quân chính toàn quốc lần thứ nhất, cùng đi với Bác là Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (năm 1960)
|
Mở đầu cuộc họp, anh đọc lá thư đề ngày 5/3/1947 của
Bác Hồ "Gửi các đồng chí Trung Bộ", nêu lên những khuyết điểm của cán bộ
đảng viên trong những ngày đầu kháng chiến. Liên hệ với tình hình địa
phương, anh nghiêm khắc tự phê bình và phê bình để rút ra bài học sâu
sắc trong thời gian qua. Anh nói: "Bộ đội ta rất anh dũng. Tinh thần
cách mạng của đồng bào ta rất cao. Điều đáng trách là cán bộ, đảng viên
chúng ta không biết cách tổ chức huấn luyện và chỉ huy anh em đánh
giặc".
Cuối cùng anh củng cố lòng tin cho mọi người: "Mất đất chưa phải là mất nước. Chúng ta chỉ sợ mất lòng tin của dân. Có lòng tin của dân là có tất cả. Vì vậy chúng ta không được chạy dài. Chúng ta phải trở về với dân".
Cuối cùng anh củng cố lòng tin cho mọi người: "Mất đất chưa phải là mất nước. Chúng ta chỉ sợ mất lòng tin của dân. Có lòng tin của dân là có tất cả. Vì vậy chúng ta không được chạy dài. Chúng ta phải trở về với dân".
Bác Hồ và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh
bên ao sen ở Nghệ An. Ảnh tư liệu |
Năm 1948, Trung ương quyết định thành lập Phân khu
Bình Trị Thiên để thống nhất chỉ huy 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa
Thiên. Phân khu ủy Bình Trị Thiên được thành lập và anh Thanh được chỉ
định làm Bí thư.
Nhận nhiệm vụ mới, anh cùng các đồng chí trong Phân
khu ủy đi sâu nghiên cứu tình hình và ra nghị quyết mở một chiến dịch
phá tề trong cả 3 tỉnh của Phân khu. Đây là một chủ trương sáng suốt và
kịp thời. Kết quả là cả một hệ thống ngụy quyền địch ở cơ sở bị ta đập
vỡ từng mảng lớn, làm cho chúng hết sức hoảng sợ. Bởi vì khi một khu vực
hàng mấy huyện lớn không còn hội tề nữa thì tự nhiên cả hệ thống đồn
bốt của địch bị trơ ra giữa vòng vây của nhân dân.
Trên một vùng nông thôn rộng lớn của Bình Trị Thiên,
sau chiến dịch đâu đâu cũng có chính quyền cách mạng, có dân quân du
kích hoạt động, những đồn lẻ của địch bị tiêu diệt.
Những cuộc hành quân của địch luôn bị chặn đánh bởi hoạt động của du kích tại chỗ. "Bình Trị Thiên khói lửa" sau một thời gian tạm lắng đã vươn lên hòa nhập với phong trào cả nước. Trong chiến công chung đó có sự đóng góp quan trọng, nếu không nói là quyết định của Nguyễn Chí Thanh. Sau sự việc này, Bác Hồ đã tặng Nguyễn Chí Thanh danh hiệu: "Vị tướng du kích".
Những cuộc hành quân của địch luôn bị chặn đánh bởi hoạt động của du kích tại chỗ. "Bình Trị Thiên khói lửa" sau một thời gian tạm lắng đã vươn lên hòa nhập với phong trào cả nước. Trong chiến công chung đó có sự đóng góp quan trọng, nếu không nói là quyết định của Nguyễn Chí Thanh. Sau sự việc này, Bác Hồ đã tặng Nguyễn Chí Thanh danh hiệu: "Vị tướng du kích".
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (bên trái)
giao nhiệm vụ cho thiếu tướng Chu Huy Mân trước khi vào chiến trường miền Nam (năm 1964) |
Năm 1951, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2,
Nguyễn Chí Thanh được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương và được Ban
Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.
Với trọng trách đảm nhận công tác Đảng, công tác
chính trị trong quân đội, Nguyễn Chí Thanh đã có đóng góp to lớn tạo nên
sức mạnh của quân đội ta, liên tiếp đánh thắng địch trong nhiều chiến
dịch lớn, kết thúc bằng chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử tháng 5/1954.
Năm 1959, anh được phong hàm Đại tướng và đây là vị Đại tướng thứ hai
của quân đội ta.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3 tháng 9/1960,
Nguyễn Chí Thanh lại được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và được Ban
Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.
Năm 1961, do yêu cầu của công cuộc hợp tác hóa nông
nghiệp và đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, Nguyễn Chí Thanh được Trung
ương Đảng giao cho phụ trách Ban Nông nghiệp Trung ương. Chỉ ít lâu sau,
một phong trào thi đua mới trên mặt trận nông nghiệp nổi lên như sóng
cồn. Đó là kết quả của mấy tháng liền Nguyễn Chí Thanh xuống xâm nhập cơ
sở ở Hợp tác xã Đại Phong (xã Phong Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình).
Bài báo "Hoan nghênh Hợp tác xã Đại Phong" do anh viết đăng trên báo
Đảng, trở thành một sự kiện trong đời sống chính trị của nhân dân miền
Bắc lúc bấy giờ.
Con người của quần chúng
Nói đến Nguyễn Chí Thanh là nói đến quần chúng, nói
đến phong trào quần chúng. Hầu như anh sinh ra trên đời này là để sống
với nhân dân. Là Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Nông nghiệp Trung ương
nhưng hầu như Nguyễn Chí Thanh có mặt cả tháng liền với các hợp tác xã,
và từ đó sinh ra gió "Đại Phong". Hồi còn là Chủ nhiệm Tổng cục Chính
trị cũng vậy - Là Đại tướng nhưng Nguyễn Chí Thanh thường xuyên có mặt ở
các đơn vị, gần gũi cán bộ, chiến sĩ và từ đó cờ "Ba Nhất" phất phới
bay. Có thể nói Nguyễn Chí Thanh ở đâu là ở đó có phong trào quần chúng.
Bởi anh tin tưởng sâu sắc vào sức mạnh của quần chúng. Anh thường nói,
không có quần chúng thì không thể có thắng lợi của cách mạng. Anh cũng
thường nói: "Cán bộ thế nào thì phong trào thế ấy", cán bộ phải lăn lộn,
gắn bó với phong trào và chính anh là điển hình của một cán bộ như thế.
Có một giai thoại về vị "Đại tướng nông dân" này rất
thú vị. Đó là vào năm 1951, khi Nguyễn Chí thanh vừa được bổ nhiệm chức
vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị chưa được bao lâu, anh cùng đơn vị đi
Chiến dịch Hòa Bình. Trên đường hành quân ra trận, phải qua một con
suối, ai cũng xắn quần lội qua. Có một anh cán bộ cấp đại đội hay tiểu
đoàn gì đó đang loay hoay với đôi giày thì thấy một người trạc tuổi chưa
đến 40, da ngăm đen, khỏe mạnh mặc bộ quần áo nâu bạc đi qua, anh cán
bộ nghĩ chắc là một bác nông dân, liền gọi lại:
- Ông chịu khó cõng mình qua suối một tí.
"Người đó" không tỏ ra khó chịu mà vui vẻ nhận lời, ghé lưng vén quần cõng anh cán bộ qua suối.
Sang đến bờ bên kia, anh cán bộ phấn khởi vỗ vai
người đã giúp cõng mình qua suối, định nói lời cảm ơn. Nhưng bỗng thấy
bác nông dân nghiêm mặt lại, nói giọng miền Trung nghiêm khắc:
- Cậu có biết tớ là ai không?
Anh cán bộ chưa kịp định thần vì câu hỏi bất ngờ thì được nghe người đó nói tiếp:
- Tớ là Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm Tổng cục Chính
trị. Hôm nay tớ giúp cậu vì xét ra cậu cũng cần giúp nhưng nhớ lần sau
đừng bắt người khác cõng như thế nữa nhé.
Năm 1954, khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, anh cùng
gia đình từ chiến khu trở về Hà Nội, cơ quan định bố trí cho anh một
căn hộ ở bên hồ Trúc Bạch. Đó là một biệt thự đẹp, có mái nhọn cao vút,
trang trí nội thất sang trọng. Nhưng anh đã từ chối và đề nghị bố trí
cho mình một chỗ ở trong khu quân đội. Anh tâm sự với các đồng chí xung
quanh: "Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, khó tránh khỏi chớm nở
trong bộ đội tư tưởng đòi hưởng thụ. Mình ở nhà sang quá thì khó gần gũi
anh em, mà có khi muốn nói điều cần nói cũng khó lọt tai người nghe".
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh thăm lớp 5, trường Bắc Lý (Hà Nam)
|
Trung tướng Đoàn Chương còn nói về chị Cúc, vợ anh bằng những lời lẽ tốt đẹp: "Là vợ một cán bộ lãnh đạo cao cấp, nhưng tuyệt nhiên chị không bao giờ cậy thế chồng để lên mặt "bà chủ" với anh em phục vụ. Điều đó một phần do bản chất đôn hậu của chị, một phần quan trọng là do thái độ của anh Thanh. Anh chúa ghét những thói ấy".
Có một lần anh xuống dự đại hội đại biểu một tỉnh có
nhiều hiện tượng cán bộ đảng viên tham ô, xâm phạm đến lợi ích của quần
chúng. Kỳ giáp hạt năm ấy địa phương bị mất mùa, nhân dân thiếu ăn. Nhà
nước đưa gạo về giúp, nhưng một số nơi cán bộ thiếu trách nhiệm, quản lý
không chặt chẽ, để xảy ra nhiều hiện tượng tiêu cực rất đáng xấu hổ.
Đối với những trường hợp như thế anh thường không giữ được bình tĩnh.
Trên bục phát biểu khi nhắc đến hiện tượng này giọng anh như lạc hẳn đi:
"Đảng viên gì? Cán bộ gì? Dân đói, Nhà nước gửi về
mấy tạ gạo, ba ông Chi ủy dấm dúi chia nhau mỗi người mấy chục cân, thì
không bằng... con chó! Không thể nào để lại trong Đảng ta những con
người thoái hóa đến mức ấy".
Trung tướng Trần Quý Hai kể lại, hồi ở chiến khu Thừa
Thiên, mặc dầu với cương vị Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy,
anh và gia đình vẫn sống hòa chung cuộc sống thiếu thốn, gian khổ với
nhân dân. Có tháng cả nhà liên tục ăn sắn, nấu cháo bằng sắn, làm bánh
bằng bột sắn. Có ai đem biếu một tí gạo, thức ăn, anh lại đem chuyển
sang bệnh viện cho thương bệnh binh - Mẹ anh thương anh làm việc vất vả,
người hốc hác nói với anh rằng đây là người ta thương anh người ta biếu
anh chứ có phải của tham ô đâu, nhưng anh nói với mẹ: "Mẹ hãy hiểu cho
con, con là cán bộ của Đảng, của dân thì không thể dân ăn khổ mà chỉ
riêng con ăn ngon được"./.
Kỷ niệm về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh
Phút giây cảm động nhất trong đời Nguyễn Chí Thanh có lẽ là phút chia tay Bác Hồ buổi chiều hôm đó. Bác tiễn anh ra tận giàn nho và đứng lại hồi lâu với anh ở đó. Bác dặn anh phải giữ gìn sức khỏe; Bác hỏi thăm các cháu của anh sơ tán về Mỹ Đức (Hà Tây) có gì khó khăn không; về tình hình công tác của chị Cúc vợ anh...
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh
tại Đại hội Đảng bộ quân đội 1960. Ảnh tư liệu |
Một mẫu mực sáng ngời về đạo đức cách mạng
Có lần lên công tác Tây Bắc, Khu ủy bố trí cho anh ở
nhà khách của Khu ủy. Dạo đó là năm 1961, cả thị xã Sơn La - thủ phủ Khu
Tây Bắc lúc bấy giờ - chỉ mới có hai ngôi nhà 2 tầng trên đồi cao. Từ
cửa sổ phòng khách, nhìn xuống phố xá mới hồi cư, nhà ở toàn bằng nứa
lá, đường phố tung bụi đỏ mờ mịt, anh trầm ngâm nói với đồng chí Phan
Quang, phóng viên Báo Nhân Dân đi cùng anh trong chuyến công tác đó:
- Đồng chí xem, dân còn ở thế kia, cần gì phải xây
một lúc mấy nhà to như thế này. Tôi nghĩ chỉ cần một trụ sở Chính quyền
khu cho bề thế, để đồng bào các dân tộc vùng núi cao về trông thấy cơ
ngơi cách mạng mà phấn khởi, tin tưởng. Để đồng bào có dịp so sánh mấy
mươi năm dưới chế độ cũ, chưa nhìn đâu thấy nhà to như thế này. Còn trụ
sở Đảng bộ chưa cần xây dựng vội. Giá như ta dùng số tiền này vào việc
phục vụ sản xuất có tốt hơn không?
Anh Thanh vừa nói đến đây, thấy đồng chí chủ nhiệm
nhà khách đi đến, anh ân cần mời vào phòng rồi thân mật nói tiếp câu
chuyện đang nói:
- Này, cái khoản đãi đằng mình đề nghị các ông nên
phiên phiến. Tôi biết, các đồng chí lãnh đạo Khu ủy có lòng hiếu khách
cho nên luôn thết đãi chúng tôi nhưng chỉ nên một lần là đủ, gọi là họp
mặt anh em lâu ngày gặp nhau, cấp trên cấp dưới cùng ngồi lại, uống với
nhau chén rượu. Mà cũng chớ nên bày vẽ sang trọng quá như vừa rồi. Các
đồng chí có biết không, Bác Hồ - Chủ tịch nước, không bao giờ đãi khách
quá 3 món, trừ những bữa tiệc đặc biệt về ngoại giao. Một bữa, chủ khách
ăn chung, sau đấy thôi. Anh em dưới xuôi lên đây công tác, các đồng chí
chăm sóc cho là quý rồi. Còn ai ăn cơm đều phải trả tiền. Trả bao nhiêu
tùy điều kiện và tiêu chuẩn mỗi người. Các đồng chí mến khách, cho thêm
gói chè, bao thuốc, tôi không phản đối nhưng nên vừa phải. Tôi thấy ở
phòng này đặt chè và thuốc, trong buồng ngủ cũng có, phòng khách cũng
có. Làm gì mà lắm thế!
Tôi nói riêng với các đồng chí: Các cuộc họp Ban Bí
thư Trung ương Đảng, mọi khi có thuốc lá nay không còn nữa. Mình là dân
nghiện, thắc mắc hỏi mới biết Bác Hồ bảo thôi. Thật ra tốn kém chẳng bao
nhiêu, mà cái chính Bác muốn tạo thói quen. Ở nước ngoài giàu có, đến
hội nghị ai muốn hút thuốc, bỏ của mình ra mà dùng. Mà cũng chỉ được hút
ở hành lang.
Cánh chim đại bàng lại cất cánh
Đang say sưa trên mặt trận nông nghiệp thì Mỹ đưa
quân vào miền Nam tiến hành cuộc Chiến tranh cục bộ đối với nước ta. Một
lần nữa, Nguyễn Chí Thanh được gọi trở lại quân đội và lên đường vào
chiến trường đánh Mỹ.
Thế là con chim đại bàng lại vỗ cánh bay về phương
Nam. Anh đi chưa được bao lâu, tin chiến thắng từ chiến trường đã dồn
dập bay về. Trận Bình Giã, trận Ba Gia quân ta tiêu diệt hàng tiểu đoàn,
hàng trung đoàn địch. Tiếp theo là những trận đọ sức đầu tiên với quân
viễn chinh Mỹ. Chiến thắng Núi Thành và nhất là chiến thắng Vạn Tường
khẳng định quân và dân ta hoàn toàn có khả năng thắng Mỹ về quân sự
trong Chiến tranh cục bộ.
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh
làm việc tại chỉ huy sở Miền (B2) năm 1964 |
Nhớ lời Bác dặn lúc ra đi, Nguyễn Chí Thanh nhanh
chóng đúc rút những bài học kinh nghiệm của những trận đầu thắng Mỹ điện
gấp ra miền Bắc. Cuối năm 1965, Nghị quyết lần thứ 11, khóa III của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng về quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược được
nhất trí thông qua có sự đóng góp xứng đáng của Nguyễn Chí Thanh.
Sau mấy năm lăn lộn ở chiến trường và đã tìm ra chiếc
chìa khóa để thắng Mỹ, đầu năm 1967, Nguyễn Chí Thanh được triệu tập ra
Hà Nội để chuẩn bị cho bước phát triển mới của chiến tranh.
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 14 tháng 6/1967,
Nguyễn Chí Thanh đã báo cáo một cách toàn diện tình hình cuộc kháng
chiến chống Mỹ ở miền Nam. Nội dung của bản báo cáo toát lên một nội
dung chủ yếu và đặc biệt quan trọng là: "Ta nhất định thắng Mỹ. Mỹ thua
đã rõ ràng. Cần phải tiếp tục thế tiến công địch để tiến lên giành thắng
lợi quyết định".
Những ngày đầu tháng 7/1967, Nguyễn Chí Thanh chuẩn
bị trở lại chiến trường. Ngày 5/7, Bác Hồ nói với đồng chí Vũ Kỳ mời
Nguyễn Chí Thanh đến ăn cơm chiều với Bác cũng là để tiễn Nguyễn Chí
Thanh ngày mai lên đường. Phút giây cảm động nhất trong đời Nguyễn Chí
Thanh có lẽ là phút chia tay Bác Hồ buổi chiều hôm đó. Bác tiễn anh ra
tận giàn nho và đứng lại hồi lâu với anh ở đó. Bác dặn anh phải giữ gìn
sức khỏe; Bác hỏi thăm các cháu của anh sơ tán về Mỹ Đức (Hà Tây) có gì
khó khăn không; về tình hình công tác của chị Cúc vợ anh. Những năm anh ở
chiến trường, mỗi lần tết đến thỉnh thoảng Bác cho mời chị Cúc và các
cháu vào ăn cơm với Bác. Ở trong Nam nhận được thư chị gửi vào kể chuyện
này, anh vô cùng xúc động.
Nhìn mái tóc bạc phơ của Bác, nhìn dáng đi của Bác
không còn được nhanh nhẹn như xưa, Nguyễn Chí Thanh cảm thấy trái tim
mình như có ai bóp chặt. Qua một số đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, anh
biết Bác sắp phải đi Trung Quốc chữa bệnh. Vì thế, bữa cơm là bữa cơm
Bác tiễn anh vào chiến trường phương Nam, cũng là bữa cơm anh tiễn Bác
lên phương Bắc.
Trong tham luận đọc tại Hội thảo nhân 30 năm ngày mất
của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ngày 5/7/1997, Đại tướng Võ Nguyên Giáp
viết: "Nhớ tới anh Thanh, tôi tưởng nhớ và vô cùng thương tiếc một
người bạn chiến đấu thân thiết, một chiến sĩ cộng sản kiên cường, một
cán bộ lãnh đạo xuất sắc của Đảng, một tướng lĩnh tài ba của quân đội
ta, người đã có những cống hiến quan trọng vào sự nghiệp vẻ vang của
Đảng, của dân tộc Việt Nam ta".
Nguồn:
1 - Vị đại tướng được Bác Hồ đặt tên / Phùng Thế Tài // ANTG, 09.02.2009.
2 - Kỷ niệm về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh / Phùng Thế Tài // ANTG, 11.02.2009.
Nhận xét
Đăng nhận xét