Thứ Tư, 13 tháng 4, 2016

QUÁ TRÌNH ĐẤU TRANH MỞ NƯỚC, DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT18/k

 (ĐC sưu tầm trên NET)

 

Thời kỳ phân chia Nam Bắc lần thứ nhất (1533-1802)(tiếp)

 Trong giai đoạn này, ở Việt Nam xuất hiện ba triều đại bao gồm: Nhà Mạc (1527 - 1677), Nhà Lê trung hưng (1533 - 1789) và Nhà Tây Sơn (1778 - 1802). Ngoài ra còn có 3 tập đoàn quân phiệt cát cứ gồm: Chúa Trịnh (1545-1787), Chúa Nguyễn (1558-1802) và Chúa Bầu (1527-1699). Đây là giai đoạn rối ren loạn lạc nhiễu nhương lộn xộn phức tạp nhất trong lịch sử Việt Nam.

Nhà Nguyễn (1802 - 1945)(tiếp)

Nổi dậy ở Đá Vách

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Phong trào nổi dậy ở Đá Vách là tên gọi một loạt nhiều cuộc nổi dậy của người dân tộc thiểu số ở khu vực Quảng Ngãi, Việt Nam. Phong trào kéo dài từ buổi đầu triều đại vua Gia Long  đến suốt hơn nửa thế kỷ. 

Thông tin mở đầu

  • Phía Tây Quảng Ngãi là địa bàn cư trú của các dân tộc, như: Kor, Ktu, Ba Na, Xơ Đăng...nhưng nhiều nhất là người Hrê . Trong các thư tịch xưa, người Hré được ghi bằng các tên gọi khác nhau, như: Mọi  Lũy (ý nói dân ở bên kia lũy Bình Man), Mọi Nước (hay Mọi Đồng, ý nói dân tộc này biết làm ruộng lúa nước), Mọi Hoang (ý nói không khống chế nổi), Tà Mạ (tên một cư trú của ngưới Hré), Mọi Đá Vách (hay Man Thạch Bích, tức gọi theo tên một ngọn núi có tên Nôm là Đá Vách, tên chữ Hán là Thạch Bích) hay chỉ đơn giản là Man...
Thế núi chót vót, vách đá rất hiểm trở, cỏ mọc rậm rạp, chưa từng có tiều phu đến chặt củi. Buổi sớm khói mây ngưng sắc tía, suối hang ngậm màu son. Lúc mặt trời chiếu xuống, núi đá đều sáng láng như ánh sao đêm.
Khi đến đây làm Tuần phủ (1750), danh sĩ Nguyễn Cư Trinh đã liệt núi Thạch Bích là một trong 12 cảnh đẹp của tỉnh (Quảng Ngãi thập nhị cảnh) qua bài thơ "Thạch Bích tà dương" (Bóng chiều núi Thạch Bích).

Nguyên nhân chính

Sưu thuế cao

Ngay từ khi lên ngôi, vua Gia Long đã ký ban hành các loại thuế đánh vào lâm thổ sản ở vùng này, làm cho "dân Man quanh năm nộp thuế không lúc nào rỗi . Hậu quả là: "dân phải nhặt củ rau và quả ở núi để ăn cho no bụng"  

Cai trị bằng bạo lực

Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra, được người dân ở Đá Vách nhiệt liệt tham gia. Theo Vũ Man tạp lục thư của Nguyễn Tấn (một võ quan triều Tự Đức) , thì lúc đó: sáu đạo binh của chúa Nguyễn bị bãi bỏ, dân biên giới tự lo phòng thủ, chọn người tài giỏi trong bọn thổ hào, thổ mục đặt lên để điều khiển họ. Chính vì vậy, ngay khi lên ngôi, Gia Long đã áp đặt chế độ trấn quan, cho lập đồn binh ở các nguồn, để dễ bề dập tắt các cuộc nổi dậy nhằm khôi phục.
Bên cạnh đó, quan lại được triều đình cử đến, nhiều người không thực sự có tài cai trị và biết yêu thương dân. Đơn cử như:
Dạo ấy, có viên Phó Quản cơ là Lê Quốc Huy đối xử với người Man rất hà khắc, Duyệt liền bắt Quốc Huy, hài tội rồi tâu xin chém... 
Còn võ quan Nguyễn Tấn thì cho biết kế sách của mình khi đến quản vùng Đá Vách như sau:
Đánh thuế chứ đừng cho chúng tích trữ vật thực, bởi vì nếu tích trữ được lương thực thì chúng dễ bề làm phản…Nếu bọn chúng còn ngoan cố không chịu nạp thuế thì ta phái quân lên gặt hết lúa của chúng mà ăn, lần thứ hai nếu còn không chịu nạp thì đánh 

Tệ nhũng nhiễu, tham lam của quan lại và địa chủ

Trong sách Việt Nam thế kỷ 19 (1802-1884), GS. Nguyễn Phan Quang cho biết:
Mỗi lần đi kinh lý, các trấn quan mặc sức cướp thóc gạo, gia súc, lâm sản, kể cả phụ nữ. Đơn cử như Nguyễn Tấn, vào năm 1864, trong một lần đem quân lên vùng núi Làng Nông, ông đã "bắt được vài ngàn con trâu". Còn ruộng đất chiếm đoạt chắc là nhiều lắm, vì sang đầu thế kỷ 20, số đất hương hỏa mà con cháu ông Tấn còn thừa hưởng là 215 mẫu ruộng. Và ngay cả Lê Văn Duyệt, ông cũng đã từng chiếm đoạt hàng trăm mẫu ruộng tốt ở Bình Khương, Trà Khương.
Đó là chưa kể tới giới "ăn theo" là địa chủ. Cũng theo sách trên, thì: Những vùng đất màu mỡ dọc các sông Trà Bồng, Trà Khúc của người kro lần lượt rơi vào tay địa chủ.. 

Xúc phạm những tập tục lâu đời

Các vua đầu thời Nguyễn còn mắc sai lầm khi cho rằng: Bọn man mọi ngu dại chưa thấm nhuần phong hóa, cần buộc họ cắt tóc, ăn mặc và sinh hoạt giống như người miền xuôi.  Tất cả đã làm cho người dân Đá Vách nung nấu căm thù, dẫn đến nhiều cuộc giao chiến suốt hơn 50 năm, bất chấp mọi biện pháp khủng bố và âm mưu chia rẽ của triều đình nhà Nguyễn.

Cuộc đấu tranh bền bỉ

Theo sử sách, thì khoảng giữa thế kỷ 18, quan quân của triều đình phong kiến đã phải run sợ mỗi khi đi tiễu trừ quân Đá Vách ở Quảng Ngãi:
Những sợ nhiều quân Đá Vách,
Tưởng thôi lạc phách, nhớ đến kinh hồn.
(trích Sãi vãi)
1761, thời chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát, Tuy Lộc hầu Đặng Đại Lược Cai bạ Quảng Nam dinh cùng con là Lãnh Đức hầu Đặng Đại Độ (sau này được phong làm Tuần phủ Gia Định, đặc tấn phong Khâm sai Tuần hành ngũ Phủ) đem quân đánh dẹp.
Đến thời chúa Nguyễn Phúc Thuần, người Đá Vách lại chống mệnh, làm Cai bạ Trần Phước Thành phải đi đánh dẹp. Nên khi khôi phục được cơ nghiệp, vua Gia Long liền lệnh cho trấn quan Quảng Ngãi là Nguyễn Văn Toàn gấp rút bổ sung đội ngũ để canh phòng người Man, bởi bấy lâu nay họ không cộng tác với chúa Nguyễn mà ủng hộ nhà Tây Sơn 
Bị canh phòng như vậy nhưng theo sử nhà Nguyễn, thì: Người Mọi ở giáp giới đầu nguồn Quảng Ngãi hàng năm cứ quấy nhiễu Nhưng ác liệt nhất, là vào các năm 1803, 1804, 1806, 1807; và đã làm cho quan quân nhà Nguyễn thiệt hại không ít. Do quân Đá Vách có những lợi thế sau:
  • Lối đánh du kích nhiều biến hóa đã tỏ ra rất hiệu quả, nên chỉ với một lực lượng nhỏ cùng với những vũ khí thô sơ, như: giáo mác, lao nhọn, cung nỏ, chông bẫy; vẫn kình chống với hàng mấy ngàn binh tướng được trang bị súng ống đầy đủ (kể cả đại bác).
  • Địa thế chiến đấu hiểm trở, nhiều sơn chướng...gây bất lợi cho quân Nguyễn, nhưng lại là nơi thuận lợi cho đội quân nổi dậy.
Cho nên khi vua Gia Long ngự giá đến dinh Quảng Nam, Trấn thủ Trương Phúc Phượng đã có lời tâu lên rằng:
Người Man ương ngạnh dựa vào địa thế hiểm trở, hễ quan quân đi rồi bọn họ lại kêu nhau tụ tập. Bọn này ngang bướng hơn cả giặc Cam Lộ ở Quảng Đức, giặc Ba Phủ ở Thuận Thành. Hơn nữa đất ở đây rộng, quân ta canh phòng không xuể, nếu không có biện pháp thì khó giữ được an ninh 
Dưới đây là lược kể  một vài trận đáng chú ý.

Dưới thời Gia Long

Năm 1803, người Đá Vách gây biến, Tả quân Lê Văn Duyệt cùng Phó tướng Nguyễn Văn Hiếu đem quân đánh đuổi đến chỗ nước xoáy khe Tử Khê. thì không dám cho tiến thêm. Nhận tấu sớ báo về, Gia Long (trị vì: 1802-1820) sai ban thưởng, nhưng căn dặn tướng soái rằng: Trời hè mưa lụt, tướng sĩ lặn lội nơi lam chướng bị ốm rất nhiều, tiến đánh thực là chưa tiện. Để khắc phục tình cảnh "quân lính từ nơi khác đến lâu ngày không quen thủy thổ", nhà vua ban lệnh lấy ngay lính ở địa phương, phiên chế thành 10 kiên cơ, để đóng giữ. Nhưng do thiếu lương thực và ở lâu không rừng rậm mà không được thay phiên, nên quân lính vẫn ốm chết nhiều.
Cho nên vào năm 1807, trước khi Tả quân Lê Văn Duyệt dẫn quân vào Đá Vách lần nữa, vua Gia Long đã đưa ra quyết sách rằng:
Động binh không phải là điều hay. Chỉ vì bọn ác man quấy rối nên phải dùng đến quân lính...Nay ngươi nên tùy cơ chiêu dụ để dân cư được yên, đó là thượng sách dẹp giặc.
Tuy nhiên, biện pháp "chiêu dụ" của triều đình không mấy hiệu quả, vì cuối năm này, quân Vách Đá lại kéo xuống đốt bảo Tượng Đầu. Nhà vua bèn sai Lưu thú Nguyễn Công Toản và Phan Tiến Hoàng đem quân đánh đuổi. Rồi lại cử Lê Văn Duyệt trở vào một lần nữa, và lại nhắc nhở rằng: Ngươi phải tùy liệu xử trí để phục lòng chúng, không đánh mà khuất phục được người là thương sách đó. Lần này, Tả quân Duyệt sai người giả làm dư đảng Tây Sơn lẻn vào các buôn làng dò hỏi. Đến khi biết việc cai trị của Phó quản cơ Lê Quốc Huy rất hà khắc và nhũng nhiễu, Tả quân cho hài tội rồi xin chém ngay để hả cơn giận của dân.
Nhưng chỉ vỗ yên được một ít đến lâu, cuối năm 1810, quân Đá Vách lại tràn xuống đánh bảo Giang Ngạn, giết chết viên Thủ ngự rồi kéo đến đánh phá thôn Bồ Đề, quê hương của Lê Văn Duyệt.
Năm 1812, thấy quân nổi dậy hoạt động mạnh, Tả quân xin lấy các xã ven núi đặt làm 27 xóm, chọn người đứng đầu, lại điều quân thuộc 6 cơ ở Quảng Ngãi đóng chặn.
Năm 1816, quân Đá Vách lại kéo xuống đánh phá, quan nhà Nguyễn là Phan Tiến Hoàng không chống nổi, bị trói về kinh nhận án trảm giam hậu.
Năm Gia Long thứ 18 (1819), theo đề nghị của Lê Văn Duyệt, nhà vua cho đắp trường lũy Bình Man (nay có tên là Trường Lũy Quảng Ngãi).

Dưới thời Minh Mạng

Vua Minh Mạng (trị vì: 1820-1841) vừa lên ngôi, thì quân Đá Vách lại tràn xuống quấy phá các bảo. Năm 1833, quân Đá Vách lại tràn xuống nữa. Tức giận, nhà vua hạ lệnh cho quân truy lùng "tận sào huyệt của chúng", nhưng càng tiến sâu vào rừng núi hiểm trở, quân triều càng tổn thất nặng nề hơn. Trong cuộc truy quét này, Quản cơ Tĩnh Man là Đoàn Văn Đáng tử trận.

Dưới thời Thiệu Trị

Năm đầu thời Thiệu Trị (trị vì: 1841-1847), cuộc đấu tranh của nhân dân Đá Vách lại bùng lên, bắt đầu bằng trận vây đánh bảo An Bài.
Năm 1844, hơn 300 quân nổi dậy bí mật tập kích cơ 1 nhằm giữ chân, để cho một lực lượng khác khoảng hơn 1000 người tràn xuống đánh các đồn mang số: 1, 4 và 5 trên lũy Bình Man. Viên Lãnh binh Nguyễn Văn Vĩnh vội báo về triều, nhưng viện binh chưa đến thì đồn đã bị 5 phá, viên Phó quản cơ đã bị giết và họ cũng đã kịp rút vào rừng sâu.
Cuối năm đó, Án sát Quảng Ngãi Mai Khắc Mẫn mang quân đánh vào Man Minh Long, nhưng thua to. Tác giả sách Vũ Man tạp lục, chép: Án sát tỉnh nhà là Mai Khắc Mẫn tiến đánh...đêm đến bỗng nghe gió thổi hạc kêu, quân lính bỏ chạy dẫm đạp lên nhau mà chết không đếm được.
Đầu năm 1847, quân nổi dậy lại đánh vào 5 đồn sở trên lũy, quân triều chống giữ không nổi, nhiều binh lính quá khiếp sợ đã bỏ trốn về quê… Sau trận này, nhà vua ra lệnh đặt thêm 13 đồn bảo để tăng cường sức đối phó.

Dưới thời Tự Đức

Trong những năm đầu đời Tự Đức (trị vì: 1847-1883), cuộc đấu tranh của nhân dân Đá Vách vẫn diễn ra, nhưng ít gay gắt hơn. Đến 1854, thì họ lại quyết liệt khiến nhà vua phải ra lệnh cho quan đầu tỉnh Quảng Ngãi điều động cả lính đang nghỉ phép, để bổ sung cho các đồn bảo.
Đến giữa năm sau (1885), quân nổi dậy tấn công bảo Ngân Hòa và Vĩnh Khánh, rồi thừa thắng đánh luôn bảo Tuy An, làm viên Hiệp quản phải bỏ chạy. Sau đó, nhà vua phải điều thêm 1000 lính đế phối hợp mới đánh đuổi được. Sách Đại Nam Thực lục, chép lời lại lời nhà vua: Ác man là bọn giặc hèn mọn mà quân ta ở quân thứ đã đến 4.000 người. Nay tạm cho thêm 1000 lính nữa để mau dập tắt...
Không sợ hãi, quân Đá Vách còn tổ chức tấn công thêm mấy lần nữa. Tính ra, chỉ nội trong năm 1885, họ đã vây đánh các đồn bảo 12 lần 

Cuộc nổi dậy Phan Bá Vành

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cuộc nổi dậy Phan Bá Vành (bắt đầu: 1821?, kết thúc: 1827) là cuộc nổi dậy do Phan Bá Vành lãnh đạo nhằm chống lại đường lối cai trị của nhà Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ 19 trong lịch sử Việt Nam.

Bối cảnh & nguyên nhân

Mặc dù các vua đầu triều Nguyễn có nhiều cố gắng, nhưng các mặt nông, công, thương,... đều suy đốn và đình trệ, làm cho các tầng lớp nhân dân mà đại bộ phận là dân lao động nghèo lâm vào cảnh sống ngày càng cơ cực. Chẳng những nhà Nguyễn không cải thiện được tình tình mà trái lại, ngày càng thêm rối ren. Nạn chiếm đoạt và tập trung ruộng đất của giới địa chủ, nạn những nhiễu của giới quan lại, chế độ thu tô thuế và lao dịch khắc nghiệt, thêm vào đó là nạn thiên tai và ôn dịch xảy ra luôn... tất cả đã làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt, càng làm bùng lên làn sóng đấu tranh quyết liệt của các tầng lớp nhân dân nghèo đói ở khắp mọi miền đất nước chống lại chế độ cai trị của nhà Nguyễn.
Căn cứ sử biên niên của triều Nguyễn, thì chỉ tính trong nửa đầu thế kỷ 19 đã có gần 400 cuộc nổi dậy, trong đó riêng thời Minh Mạng có tới 254 cuộc, lớn nhất là các cuộc nổi dậy của: Lê Văn Khôi (1833-1836), Nông Văn Vân (1833-1836), Lê Duy Lương (1832-1838) và cuộc nổi dậy này 
Trong Đặng gia thế phả có đoạn chép:
...Nhân lúc triều Nguyễn nhu nhược, chuyên lo dùng của cải xây đắp thành quách cung điện, bê trễ đê điều, đồng ruộng nông trang luôn năm lụt lội, dân tình đói rách, làng mạc điêu tàn, nhũng loạn khắp nơi... Có ông Phan Bá Vành ở miền Thái Bình, nhân nạn đói năm 1821 tập hợp dân chúng chống lại triều đình, được dân đi theo, lập căn cứ chính ở Trà Lũ  .

Sơ lược thân thế Bá Vành

Phan Bá Vành (?-1827)  tục gọi Ba Vành (vì là con thứ ba trong gia đình), sinh trưởng tại làng Minh Giám  , thuộc huyện Vũ Tiên (nay là huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình). Cha ông làm nghề chèo đò và nuôi bán cá giống, nhưng vì cha mất sớm nên Phan Bá Vành phải sớm đi làm thuê để phụ nuôi sống gia đình. Trong một bài vè ở Thái Bình có câu:
Minh Giám quê của Bá Vành
Mẹ tên là Vẻ, cha sinh chèo đò 
Thêm nghề bán cá con so,
Vành trên lưng mẹ nằm thò cổ ra...
Tương truyền, Phan Bá Vành là người rất khỏe mạnh, giỏi võ nghệ và có tài ném lao  .
Sau này Phan Bá Vành chọn Trà Lũ (Nam Định) làm căn cứ chính.

Diễn biến cuộc nổi dậy

Bất mãn vì đường lối cai trị của nhà Nguyễn, khoảng năm 1821, Phan Bá Vành tập hợp dân nghèo khổ vùng Nam Định, Thái Bình (tức vùng Sơn Nam Hạ cũ) nổi dậy chống triều đình nhà Nguyễn.
Với chủ trương "lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo", ngay từ giai đoạn đầu, người đi theo đã có hơn 5.000, về sau thêm mấy ngàn quân của thủ lĩnh Ba Hùm (người Mường) từ thượng du Thanh Hóa cùng với quân nổi dậy ở các tỉnh lân cận kéo đến hiệp lực, thì lực lượng của ông đã lên đến hàng vạn 
Những năm 1824-1825, nạn đói diễn ra ở Hải Dương, Sơn Nam; khiến dân nghèo theo ông càng đông. Lại được sự giúp đỡ của Nguyễn Hạnh (tướng cũ của nhà Tây Sơn, được Ba Vành phong chức hữu quân) , Vũ Đức Cát (quan nhà Nguyễn bị cách chức)  Ba Hùm (thủ lĩnh người Mường)... và một số nhân vật có tiếng ở địa phương như Trần Bá Hựu, Hai Đáng, Chiêu Liễn,... nên thanh thế Ba Vành ngày càng tăng. Bởi vậy sau này trong Vè Ba Vành ở vùng Thái Bình có câu:
Nghênh ngang một cõi biên thùy,
Thiếu gì tướng tá, thiếu gì binh lương...
Tháng 2 (âm lịch) năm Minh Mạng thứ 7 (1826), từ đại bản doanh tại thôn Phú Nhai, thuộc làng Trà Lũ (nay thuộc 3 xã Xuân Trung, Xuân Bắc, Xuân Phương huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định), Phan Bá Vành dẫn quân đi đánh chiếm đồn Trà Lý và đồn Lân Hải (Kiến Xương, thuộc Thái Bình), giết được hai viên thủ ngự sứ là Đặng Đình Liễu và Nguyễn Trung Diễn. Tiếp đó, thủ lĩnh Ba Vành cho quân đánh lan ra vùng Kiến Xương, Vũ Tiên, Chân Ninh (thời Thành Thái đổi thành Trực Ninh)... Trấn thủ Sơn Nam Lê Mậu Cúc hay được, mang quân đến đàn áp. Hai bên giao chiến ác liệt tại Cồn Tiên (Tiền Hải). Đến khi trấn thủ Cúc tử trận, thì quân triều quăng vũ khí, bỏ thuyền bè mà chạy cả 
Nghe tin cấp báo, vua Minh Mạng sai thống chế Trương Phúc Đặng kéo quân ra Bắc để tiễu trừ. Đến nơi, tướng Phúc Đặng cho quân đánh bất ngờ Giao Thủy. Thua trận, quân sư Vũ Đức Cát chạy ra An Quảng, rồi đến xã Đông Hào thì bị bắt và bị giết ngay.
Tháng 12 (âm lịch) năm ấy, Phan Bá Vành và Nguyễn Hạnh lại tập hợp được hơn 5.000 quân, mang đi tấn công vào hai huyện là Tiên MinhNghi Dương thuộc tỉnh Hải Dương. Tiếp theo, hai ông liên kết với nhóm Tàu Ô để mở rộng hoạt động ra các vùng ven biển thuộc vịnh Bắc Bộ.
Liệu chống không nổi, trấn thủ Hải Dương là Nguyễn Đăng Huyên lại phải cầu cứu đến triều đình Huế. Vua Minh Mạng liền thăng cho Trương Văn Minh làm tiền phong đô thống chế chuyên quản lính Bắc thành, để hiệp đồng với tham hiệp Nghệ An là Nguyễn Hữu Thận coi việc quân.
Không yên tâm, nhà vua lại chuẩn cho tham hiệp Thanh HóaNguyễn Công Trứ, tham biện Nghệ An Nguyễn Đức Nhuận, quản cơ Thanh Hóa Vũ Văn Bảo, quản cơ Nghệ An Trương Văn Tín cùng mang quân thủy bộ và 14 chiến thuyền ra gấp Hải Dương hội tiễu.
Mặc dù vậy, đầu năm Đinh Hợi (1827), quân Ba Vành vẫn kiên trì hoạt động mạnh ở vùng phủ Thiên Trường (Nam Định) và phủ Bo (tức phủ thành Kiến Xương). Nhận được tấu sớ xin thêm quân, vua Minh Mạng bèn sai hậu quân phó tướng Ngô Văn Vĩnh mang hai vệ quân ở Kinh đô Huế, cùng một số lính thuộc vệ quân Thần Sách ở Nghệ An đi gấp ra Bắc.
Tính ra, vua Minh Mạng đã điều động hầu hết lực lượng quân đội ở Bắc thành, Nghệ An, Thanh Hóa và một phần ở Huế để đối phó với quân của Phan Bá Vành  .
Tháng 2 (âm lịch) năm Đinh Hợi (tháng 3 năm 1827), nhà vua cho Thân Văn Duy coi tào binh Bắc thành, kiêm tham tán việc quân.
Sau khi bị đánh lui ở sông Bổng Điền, quân Ba Vành lại kéo đến vây chặt cánh quân của Phạm Đình Bảo (hay Bửu) ở chợ Quán, buộc các tướng Phạm Văn Lý, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Văn Phong phải mang ba đạo quân đến cứu, đuổi quân nổi dậy chạy về căn cứ ở làng Trà Lũ. Để chống cự lâu dài, Phan Bá Vành cho quân đào đắp thêm hào lũy ở đây.
Tương truyền, có nhiều chỉ huy dưới quyền đã khuyên Phan Bá Vành nên đánh ngay lúc quân triều mới đến, tức lúc họ đang mệt nhọc và chuẩn bị chưa xong. Nhưng vì nghe theo lời người vợ lẽ là Trần Thị Tú (con gái của viên trấn thành Phủ Bo mà ông đã bắt được khi đánh chiếm nơi này), nên ông cứ đóng chặt cửa thành cố thủ. Sau khi quân triều từ các nơi kéo về vây kín Trà Lũ, các tướng nhà Nguyễn liền cho phát pháo tấn công. Quân nổi dậy chống cự quyết liệt, bị chết quá nửa. Biết vợ lẽ thông đồng với đối phương là tướng Phạm Văn Lý, Ba Vành liền sai quân chém chết .
Một đêm, Ba Vành cho quân khơi một con ngòi chạy từ sông Cát thông đến sông Ngô Ðồng (sau dân gian gọi con ngòi này là Cống Vành), để mở đường chạy ra biển. Rạng sáng, quân nổi dậy theo con đường thủy ấy ào ạt phá vây, nhưng rồi bị quân triều do Phan Bá Hùng chỉ huy chặn đánh tan tác hết.
Trong cơn binh lửa, Phan Bá Vành bị thương rồi bị bắt sống, cùng với 765 thuộc hạ. Trên đường áp giải, Phan Bá Vành cắn lưỡi tử tử, còn số quân lính trên đều bị xử cực hình 
Ngay sau đó, theo lệnh của vua Minh Mạng, làng Trà Lũ bị tháo dỡ phá hết nhà cửa, lũy tre, cây cối, không sót một thứ gì. .

Tồn nghi

Năm nổi dậy

Cho đến nay, năm Phan Bá Vành nổi dậy vẫn chưa được rõ ràng. Một số tác giả, trong đó có Trần Trọng Kim, Phạm Văn Sơn đã căn cứ vào Đại Nam thực lục, Quốc triều sử toát yếu để cho rằng cuộc nổi dậy xảy ra vào tháng 2 (âm lịch) năm Minh Mạng thứ 7 (1826).
Tuy nhiên, có ý kiến dựa vào quyển Trần tộc gia phả diễn âm (Trần tộc ở làng Đông Thành) để cho rằng đó là năm 1825. Đoạn thơ ấy như sau:
Đời vua Minh Mạng lên ngôi,
Giữa năm Ất Dậu (1825) sao đuôi (sao chổi) ngang trời.
Bỗng đùng đùng bể khơi vang động,
Giặc Ba Vành ngang dọc một phương.. 
Còn quyển Đặng gia thế phả (đã dẫn trên), thì ghi năm 1821.
Vậy, rất có thể từ khoảng năm 1821 đến năm 1825, là giai đoạn chuẩn bị, đến tháng 2 (âm lịch) năm 1826 thì cuộc nổi dậy mới chính thức bùng nổ.

Nguyên do bị bắt

Theo Nguyễn Phan Quang, mặc dù có một số tài liệu viết rằng Phan Bá Vành đã bị bắt (hoặc bị giết) trong đêm nghinh hôn (hoặc trong đêm về ăn giỗ nhà vợ), nhưng ở nhiều tài liệu khác (tuy có ít nhiều dị biệt) đều cho rằng ông đã bị thương rồi bị bắt trong trận đánh cuối cùng:
  • Sách Quốc triều sử toát yếu (đã dẫn trên) và Minh đô sử đều chép Phan Bá Vành mở đường máu thoát thân nhưng bị Phan Bá Hùng dàn quân ra chặn bắt.
  • Trong Trà Lũ xã chí:
Thế tiến thoái đều khốn quẫn, Phan Bá Vành bèn cho đào sông dài hơn 100 trượng từ sông Cát đến sông Ngô Đồng. Nhưng vì nước cạn, thuyền không đi được, đạn đại bác (của quân triều) dội xuống như mưa. Ba Vành bị thương, bị chánh tổng Hoàng Nha là Lê Tuấn do thám bắt sống.
  • Trong Trần chi tộc phả:
(Ba) Vành thu tàn quân đào sông dài ước khoảng 2.000 thước (800m) gọi là sông Xẻ, (cống gọi là cống Vành), một đêm đào sông, đem thuyền ra biển. Rạng đông, quan quân đuổi theo, hai bên bờ súng ra, quân Vành chết gần hết. (Ba) Vành một mình trốn thoát vào bãi lau sậy, hai ngày sau khát nước quá, đi tìm nước uống, bị tổng trưởng Hoành Nha là Lê Điển tri sát bắt được giải về.
(Ba) Vành mở cống cho thuyền bơi ra; nước cạn thuyền không đi được, quan quân đánh khép lại, bắt được tướng ngụy là Đán, Liễn, Khương, Thự...hơn 10 người, chém vài trăm đầu, giặc nhảy xuống nước chết vài ngàn tên. Vành bị đạn bắn vào đùi, bị bắt...Vành cùng Đán, Liễn bị đóng củi giải đi Bắc thành. Vành tự cắn lưỡi chết 
  • Trong Truyện Phan Bá Vành của Văn Lang:
...Bị thương nặng, Phan Bá Vành cho gọi cai tổng Lê Tuấn là con một nghĩa quân thân tín ở Hoàng Nha, cõng ông về nhà cứu chữa. Biết không thể sống, ông sai Cai tổng Tuấn khiêng ông đi nộp quan để lấy thưởng. Ðến địa phận xã Ðồng Phú, huyện Thượng Nguyên (thuộc Mỹ Lộc, Nam Ðịnh ngày nay). Ông đã tự móc rốn, moi ruột tự tử (1827). Sau đó, nhà Nguyễn đã phanh thây Bá Vành thành bốn mảnh, còn đầu thì chặt đem bêu khắp ở các nơi thuộc địa bàn cuộc nổi dậy do ông lãnh đạo  

Nhận định sơ bộ

Trước đây, Trần Trọng Kim gọi cuộc nổi dậy Phan Bá Vành là một trong số "những giặc có thanh thế to mà quan quân phải đánh dẹp khó nhọc" (tr. 202). Phạm Văn Sơn, thì liệt nó vào "những vụ phiến động ở Bắc Kỳ, có mục đích lật đổ chế độ" (tr. 344).
Sau này, một số nhà nghiên cứu sử người Việt, trong đó có Nguyễn Phan Quang, Trương Hữu Quýnh...đã gọi đây là một trong các "cuộc khởi nghĩa tiêu biểu đã làm rung chuyển cả một vùng đồng bằng ven biển Bắc Bộ" (Việt Nam thế kỷ 19, tr. 133), là "cuộc khởi nghĩa nông dân điển hình nhất của đầu thế kỷ 19, dưới thời nhà Nguyễn" (Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1, tr.459)...

Lời bàn

Lời bàn chỉ để tham khảo:
Một số tác giả, trong đó có nhóm Trương Hữu Quýnh  đều cho rằng trong lúc Trà Lũ đang bị bủa vây, thì thủ lĩnh Ba Vành đang trúng kế mỹ nhân nên trì hoãn việc chuẩn bị đối phó. Vì vậy, khi quân triều từ các nơi kéo về vây kín, và đồng loạt tấn công thì mọi cố gắng chống đỡ của quân nổi dậy kể như vô hiệu. Tuy nhiên, theo Nguyễn Phan Quang, thì "kế ấy hẳn có ít nhiều tác dụng", nhưng không thể là nguyên nhân "quyết định" khiến đại cuộc thất bại. Ông viết:
Trà Lũ, tuy có nhiều ưu thế về mặt địa hình, nhưng một khi quân nhà Nguyễn chốt chặt hết các lối (nhất là lối thoát ra biển), thì mấy ngàn quân nổi dậy bị cô lập giữa một vùng đầm lầy.
Ở góc độ nào đó mà xét, việc Phan Bá Vành chuyển toàn bộ lực lượng về Trà Lũ, là một thất sách, thậm chí là một sự mạo hiểm và bế tắt...Kế mỹ nhân của quan tướng nhà Nguyễn, chẳng qua chỉ làm cho đại cuộc này kết thúc nhanh hơn mà thôi.
Được vậy, quan quân nhà Nguyễn đã phải chịu nhiều lao nhọc và tổn thất nặng nề.. 

Cuộc nổi dậy Lê Duy Lương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cuộc nổi dậy Lê Duy Lương (khởi phát: 1832, kết thúc: 1837 hoặc 1838) là cuộc nổi dậy của đa số người MườngHòa BìnhThanh Hóa dưới sự lãnh đạo của con cháu nhà Lê, của các tù trưởng họ Quách và họ Đinh với danh nghĩa "phù " trong lịch sử Việt Nam.

Bối cảnh sơ lược

Mặc dù các vua đầu triều Nguyễn có nhiều cố gắng, nhưng các mặt nông, công, thương đều suy đốn và đình trệ, làm cho các tầng lớp nhân dân mà đại bộ phận là dân lao động nghèo lâm vào cảnh sống ngày càng cơ cực.
Chẳng những nhà Nguyễn không cải thiện được tình tình mà trái lại, ngày càng thêm rối ren. Nạn chiếm đoạt và tập trung ruộng đất của giới địa chủ, nạn những nhiễu của giới quan lại, chế độ thu tô thuế và lao dịch khắc nghiệt, thêm vào đó là nạn thiên tai và ôn dịch xảy ra luôn...tất cả đã làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt, càng làm bùng lên làn sóng đấu tranh quyết liệt của các tầng lớp nhân dân nghèo đói ở khắp mọi miền đất nước chống lại chế độ cai trị của nhà Nguyễn.
Căn cứ sử biên niên của triều Nguyễn, thì chỉ tính trong nửa đầu thế kỷ 19 đã có gần 400 cuộc nổi dậy, trong đó riêng thời Minh Mạng có tới 254 cuộc, lớn nhất là các cuộc nổi dậy của: Phan Bá Vành (1821-1827), Lê Văn Khôi (1833-1836), Nông Văn Vân (1833-1836) và Lê Duy Lương (1832-1838)

Nguyên nhân

Giữa năm Nhâm Tuất (1802) vua Gia Long chiếm xong Bắc Hà. Để ngăn ngừa những ý đồ "phù Lê", nhà vua cho thi hành chính sách mua chuộc con cháu nhà Lê. Trong số đó, có Lê Duy Hoán là cháu vua Lê Hiển Tông, được phong tước Diên Tự công cùng một vạn mẫu đất ruộng và 1.016 dân ở Thanh Hóa để dùng vào việc thờ tự các vua Lê.
Theo quyển Quốc triều sử toát yếu, thì tháng 5 năm Đinh Sửu (1817), Lê Duy Hoán và Nguyễn Văn Thuyên (con tướng Nguyễn Văn Thành) có tội phải giết 
Theo giáo sư Nguyễn Phan Quang thì âm mưu chống lại nhà Nguyễn của con cháu nhà Hậu Lê đã có mầm mống từ đó (1817)
Đến khi Minh Mạng nối ngôi, nhà vua lần lượt ban hành một số chính sách nhằm thâu tóm mọi quyền hành một cách độc đoán . Trong đó có một chính sách đã làm nên hai cuộc nổi dậy rộng lớn, đó là cuộc nổi dậy của Nông Văn Vân và cuộc nổi dậy này. Theo sử liệu thì:
Tháng 12 năm Mậu Tý (1828), vua Minh Mạng cho đặt chế độ "lưu quan", tức cử quan lại người Kinh đến ở cạnh các thổ ti, nhằm trực tiếp khống chế họ và tiến hành thu thuế các loại như miền xuôi. Sau đó (1829), nhà vua còn cho bỏ lệ thế tập (cha truyền con nối) của các thổ ti vùng dân tộc ít người, phân chia các đất ấy thành châu, huyện lớn nhỏ tùy theo diện tích và dân số.
Ở các triều đại trước, các thổ ti (hay lang đạo) được hưởng nhiều ưu đãi, thỉnh thoảng họ chỉ phải triều cống nhà vua mà thôi. Khi ấy tại Hòa Bình, có họ Đinh và họ Quách là hai trong số những họ lang đạo lớn, vốn từng được các vua Lê trọng đãi nên âm thầm tính chuyện khôi phục lại nhà Lê, để địa vị và quyền lợi của họ vẫn được như cũ.
Vì hàm ơn xưa, và cũng vì mưu tính lật đổ chế độ đương thời, nên khi Lê Duy Hoán bị bắt giam, đứa con nhỏ (3 tuổi) thứ hai của ông là Lê Duy Lương, liền được các thủ hạ là anh em họ Quách (Quách Tất Công  Quách Tất Tại, Quách Tất Tế,...) đem về cất giấu ở Sơn Âm (Hòa Bình).
Vừa lớn lên, anh em họ Quách đưa Lê Duy Lương vào ở Thạch Bi (Hòa Bình) âm thầm khai khẩn ruộng, rèn vũ khí, vận động binh lính và nhân dân, chuẩn bị làm cuộc nổi dậy đánh đổ nhà Nguyễn, lập lại nhà Lê.

Diễn biến

Cuộc nổi dậy Lê Duy Lương gồm hai giai đoạn:

Giai đoạn 1 (1832-1833)

Trải qua một thời gian dài chuẩn bị, mở đầu là cuộc binh biến ở đồn Ninh Thiện (thuộc Nghệ An) vào tháng 2 năm Nhâm Thìn (1832). Khoảng thời gian ấy, ở phủ Trấn Ninh có hai viên chỉ huy là Trần Tứ và Đỗ Bảo cũng theo tờ thư của Lê Duy Lương, hô hào quân các đội giết chết chánh đội Đỗ Trọng Thai và 8 người lính, đoạt khí giới, rồi theo đường núi Kỳ Sơn, Hội Nguyên mà đi ra Bắc. Dọc đường bị tổng đốc An Tĩnh Tạ Quang Cự sai quân chặn bắt được và cả hai đều phải tội lăng trì.
Hai vụ khởi binh thiếu đồng bộ này, làm cho vua Minh Mạng khiến các địa phương là Thanh Hóa, Ninh Bình, Hà Nội, Sơn Tây phải "phòng triệt cho nghiêm" 
Vì bị theo dõi nghiêm nhặt, nên mãi đến tháng 3 năm sau (Quý Tỵ [1833]), cuộc nổi dậy mới chính thức bùng nổ với trận đánh chiếm đồn Chi Nê (nay thuộc huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình).
Nhờ Lê Duy Nhiên đi liên hệ từ trước nên cùng thời gian này, các lang đạo họ Đinh (Đinh Thế Giáp, Đinh Thế Đức, Đinh Công Trịnh,...) ở Thạch Bi (thuộc Hòa Bình) cùng Ba Nhàn-Tiền Bột ở Sơn Tây, mang khoảng 3000 quân đến hiệp lực, rồi chia nhau đi đánh phá các nơi. Sau đó, quân nổi dậy (đa phần là người Mường ở ba huyện là Lạc Hóa, Phụng Hóa, An Hóa cùng lưu dân nghèo đến từ vùng đồng bằng Bắc Bộ), đã chiếm giữ được ba châu huyện là Lạc Thổ, Phụng Hóa, Yên Hóa, và bao vây thành trấn Hưng Hóa.
Sách Quốc triều sử toát yếu chép:
Tháng 3 năm Quý Tỵ (1833), giặc trốn ở Ninh Bình là Lê Duy Lương cùng thổ ty xã Sơn Âm là anh em Quách Tất Công hiệp đảng khởi ngụy. Lương làm Minh chúa, tự xưng Đại Lê huyền tôn, tạo ấn ngụy, phong chức ngụy; đem dân thổ ba huyện là Lạc Thổ, Phụng Hóa, An Hóa làm quân, cùng những tù phạm trốn và dân đói ở các hạt gần đó theo nhiễu, quân nó đến vài ngàn; quan quân thường bị hại 
Việc tâu lên, vua Minh Mạng liền phái Tổng đốc An Tĩnh Tạ Quang Cự cùng Tham tán Hoàng Đăng Thận mang 2.000 biền binh, 5 con voi đến Ninh Bình. Nhà vua lại cử thêm các tướng là: hộ phủ Thanh Hóa Nguyễn Đăng Giai, lãnh binh Hưng Hóa Phạm Văn Điển, phó lãnh binh Nam Định Lương Văn Liễu, thủy sư Hà Nội Nguyễn Văn Quyền; tức tốc mang quân thủy bộ do mình coi quản tới hội tiễu, rồi cùng tiến đánh giải vây và chiếm lại các nơi trên. Trước lực lượng hùng mạnh này, quân nổi dậy chống giữ không nổi đành phải bỏ các nơi chiếm được, rút về Xích Thổ và Sơn Âm.
Để tận diệt, tháng 4 (âm lịch) năm 1833, vua Minh Mạng lại bổ thống chế Nguyễn Văn Trọng lãnh chức tổng trấn Thanh Hóa, phó đô ngự sử Hà Duy Phiên sung làm than tán quân vụ, dẫn thêm quân đến phối hợp, rồi chia ra làm nhiều mũi cùng kéo đến vây đánh Sơn Âm, nơi đặt đại bản doanh của quân nổi dậy. Trong đạo dụ của nhà vua có đoạn chỉ thị các tướng như sau:
...Đánh thẳng vào sào huyện Sơn Âm...Đốt hết của ăn của để và bắt hết dân làng ấy, cho giặc mất chỗ nương tựa...Bè đảng tộc thuộc của thủ nghịch phải giết hết, không được để sót một mống nào. Vợ con, của cải người Sơn Âm, theo như dụ trước, đều tịch thu hết để làm của thưởng... 
Trước hàng vạn quân triều cùng voi và đại bác, các căn cứ chính của quân nổi dậy lần lượt bị phá vỡ. Sau nhiều ngày giáp chiến ác liệt, đến khoảng tháng 6 (âm lịch) cùng năm (1833) thì Lê Duy Lương và Lê Duy Nhiên đều bị tham tán Hoàng Đăng Thuận bắt sống
Ngay sau đó, Lê Duy Lương và Lê Duy Nhiên đều bị đóng cũi đưa về Huế xử lăng trì.

Giai đoạn 2 (1836-1838)

Mặc dù Lê Duy Lương không còn nữa, nhưng cuộc nổi dậy do ông làm "minh chủ" vẫn chưa chấm dứt. Khoảng ba năm sau (1836), các thủ lĩnh họ Quách, họ Đinh chạy thoát, lại suy tôn một người họ Lê khác tên là Lê Duy Hiển làm "minh chủ", lại liên kết với các lang đạo Mường ở Quan Hóa, Cẩm Thủy, Lang Chánh (vùng thượng du Thanh Hóa), để tiếp tục công cuộc đang dở dang.
Cuối năm đó, quân nổi dậy đánh chiếm được châu lỵ Quan Hóa là Hồi Xuân. Nhờ vậy, thế lực của quân nổi dậy nhanh chóng lan đến các vùng Lôi Dương, Thủy Nguyên, Nông Cống (Thanh Hóa), Quỳ Châu (Nghệ An) ở phía Nam, và Ninh Bìnhphía Bắc.
Hay tin, tháng 2 năm Đinh Dậu (1837), vua Minh Mạng phong tướng Tạ Quang Cự làm Ninh Bình kinh lược đại thần, phong tham tán Hà Duy Phiên làm phó, để cùng đem quân đến đàn áp. Đang lúc ấy, Hà Công Kim và Đinh Kim Bảng chỉ huy một đạo quân nổi dậy đánh chiếm được châu Lang Chánh, giết chết viên tri châu là Hồ Tố Thiện. Lập tức nhà vua điều động thêm hai tướng nữa, đó là đại thần Trương Đăng Quế làm kinh lược đại sứ Thanh Hóa, để hiệp với tổng đốc mới của An Tĩnh là Phạm Văn Điển cùng mang quân đi phối hợp.
Bị các đạo quân triều tấn công dữ dội và dồn dập ở khắp nơi, lực lượng nổi dậy phải lui dần. Ở mặt trận Ninh Bình, tướng Tạ Quang Cự phái lãnh binh Trần Hữu Lễ đem quân chặn đường núi Thạch Bi, rồi tự mình đốc quân tiến đánh Quỳnh Côi. Vì địa hình hiểm trở, quan quân trải bao khóc nhọc mới bắt được Quách Tất Công ở Thượng Lũng, rồi bị tướng Cự lôi ra chém chết.
Theo thông tin trong sách Đại cương lịch sử Việt Nam thì quân nổi dậy tiếp tục bị bao vây và truy đuổi, đến năm 1838, thì "minh chủ" Lê Duy Hiển cùng các tướng lĩnh nghĩa quân lần lượt bị bắt giải về Huế. Đến lúc đó, cuộc đấu tranh này mới chấm dứt hẳn  
Tuy nhiên theo Quốc triều sử toát yếu thì Lê Duy Hiển bị Tạ Quang Cự và Hà Duy Phiên bắt sống vào tháng 4 (âm lịch) năm Đinh Dậu (1837). Trong khoảng thời gian đó, các tướng lĩnh cũng lần lượt bị bắt hoặc bị giết chết. Đến tháng 5 (âm lịch) thì vua Minh Mạng đem việc đã dẹp yên đảng giặc trong hai tỉnh là Ninh BìnhThanh Hóa thông dụ trong ngoài đều biết  

Sau khi bị đánh dẹp

Vua Minh Mạng cho xóa sổ xã Sơn Âm, chia hết ruộng đất cho xã khác, đồng thời đày dân làng này ra ở các xã duyên hải của tỉnh Ninh Bình để quản thúc.
Vì có chuyện Lê Duy Lương dấy binh, cho nên nhà vua truyền bắt dòng dõi nhà Lê đem đày vào ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định. Cứ chia cho 15 người ở một huyện và phát cho 10 qua tiền và 2 mẫu ruộng để làm ăn[12]. Mãi đến Tự Đức năm thứ hai (1849), nhờ lời tâu của Thái bảo Tạ Quang Cự và Đại học sĩ Võ Xuân Cẩn, nhà vua chấp thuận cho sửa sang đền miếu nhà Lê, cấp tự điền và cử người coi sóc các nơi ấy. Con cháu nhà Lê đều được tùy tiện chọn nơi yên ở.
Và cũng vì chế độ lưu quan đã gây nhiều bất mãn và phiền toái, vào những năm trước khi thực dân Pháp xâm lược, vua Tự Đức cũng đã bỏ chế độ này.

Lời bàn

Lời bàn chỉ để tham khảo:
Gia Long mặc dầu đã toàn thắng, nhưng chưa nắm được hết nhân tâm. Nhân dân và sĩ phu Bắc Hà vẫn còn có óc "hoài Lê". Khi vua Quang Trung ra Bắc, diệt Trịnh, đuổi Thanh được mau lẹ một phần cũng do sự ủng hộ của sĩ dân Bắc Hà bởi ngọn cờ chính nghĩa "phù Lê". Nhưng đến khi Gia Long bước lên ngai vàng thì sĩ dân Bắc Hà bắt đầu mất hết cảm tình, do đấy mầm loạn được nhen nhúm dần lên. Sau đó, là khi Minh Mạng mới cầm quyền được hai năm, những cuộc nổi dậy nhỏ ở những vùng quê đã nổi dậy như ong, rồi tiếp theo là các cuộc nổi dậy lớn...Những vụ có tính chất chính trị và cách mạng, tức nhằm mục đích lật đổ chế độ, dưới đời Minh Mạng là vụ Phan Bá Vành, Nông Văn Vân, Lê Văn Khôi và Lê Duy Lương  
  • Nguyễn Phan Quang:
Lê Duy Lương là "minh chủ" đã giương cao ngọn cờ "phù Lê", có xu thế phát triển sau khi Lê Duy Hoán bị giết. Đây là cuộc đấu tranh rộng lớn của nhân dân (chủ yếu là các tộc người miền núi), nhằm chống lại đường lối cai trị hà khắc của vua Minh Mạng, thói nhũng nhiễu của các quan lại địa phương, tái lập lại triều đại nhà Lê mà theo họ là tốt hơn.
Vua Minh Mạng nói: "Ta cho giặc Vân (Nông Văn Vân) là loại giặc nhỏ, không ví được như (Lê Duy) Lương". Cách so sánh của nhà vua không hẳn đã thỏa đáng, nhưng cũng chứng tỏ triều đình nhà Nguyễn đã nhìn thấy tầm quan trọng của cuộc nổi dậy này. Và đúng như vua Minh Mạng đã phát hiện, tuy trên danh nghĩa, cuộc nổi dậy do con cháu nhà Lê, nhưng về thực chất thì lại là của các lang đạo họ Quách (Quách Tất Công đứng đầu) và họ Đinh, vì địa vị và quyền lợi của họ không còn được như trước (tức dưới triều nhà Lê) 
  • Trương Hữu Quýnh (chủ biên):
Mặc dù có những hành động liên kết với cuộc nổi dậy của Ba Nhàn và Tiền Bột, nhưng giống như các cuộc nổi dậy khác ở thời kỳ này, cuộc nổi dậy của Lê Duy Lương vẫn mang đậm tính chất địa phương. Triều đình nhà Nguyễn buổi ấy, vẫn nắm trong tay một lực lượng quân sự lớn, đã lợi dụng những sai lầm, sơ hở của cuộc nổi dậy để đàn áp và tận diệt.
Đây là một trong số ít cuộc nổi dậy "có thanh thế to mà quan quân phải đánh dẹp khó nhọc" (Trần Trọng Kim), đã góp phần làm rệu rã nền thống trị của nhà Nguyễn, làm xã hội Việt Nam lúc bấy giờ ngày thêm rối ren, phức tạp và đầy rẫy khó khăn  

Chiến tranh Việt–Xiêm (1833-1834)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chiến tranh Việt – Xiêm (1833-1834)
Một phần của Xiêm La xâm lược Đại Nam
Thời gian 1833-1834
Địa điểm Đại Nam
Kết quả Quân Việt chiến thắng
Tham chiến
Early Nguyen Dynasty Flag.svg Nhà Nguyễn Flag of Thailand (1817).svg Xiêm La | Triều Rattanakosin
Chỉ huy
Chỉ huy chính: Early Nguyen Dynasty Flag.svg Trương Minh Giảng
Early Nguyen Dynasty Flag.svg Nguyễn Xuân
Early Nguyen Dynasty Flag.svg Tống Phước Lương
Early Nguyen Dynasty Flag.svg Phạm Hữu Tâm
Early Nguyen Dynasty Flag.svg Lê Văn Thụy
Early Nguyen Dynasty Flag.svg Phạm Văn Điển
Early Nguyen Dynasty Flag.svg Nguyễn Văn Xuân
Early Nguyen Dynasty Flag.svg Trương Phúc Đĩnh
Chỉ huy chính: Flag of Thailand (1817).svg Chao Phraya Bodin Decha
Flag of Thailand (1817).svg Prayurawongse (Phra Klang) 


Lực lượng
Không rõ trên 5 vạn quân
khoảng 100 chiến thuyền.
Tổn thất
Số quân thương vong và thiệt hại khác không rõ. Tướng Phi Nhã Khổ Lặc tử trận. Số quân thương vong và thiệt hại khác không rõ.
.
Chiến tranh Việt – Xiêm (1833-1834) là một cuộc chiến gồm hai đợt tấn công của quân Xiêm vào lãnh thổ Đại Nam (Việt Nam ngày nay). Đợt đầu khởi từ tháng 11 năm 1833, rồi tạm ngưng ngày nào chưa rõ. Đợt hai tấn công từ tháng Giêng năm Giáp Ngọ (1834), đến tháng Năm cùng năm thì kết thúc. Chung cuộc, quân Việt chiến thắng. Theo Việt sử tân biên, Quyển 4, thì:

Bối cảnh

Lịch sử Xiêm vốn có quan hệ mật thiết với Campuchia (Chân Lạp), từ khi Chao Phraya Chakri lên ngôi (1782, sau đó lấy hiệu là Rama I) cho đến lúc Nguyễn Ánh xưng đế lấy hiệu là Gia Long (1802), trong giai đoạn đầu những năm 1800 này, Xiêm gần như độc quyền thao túng, chi phối tình hình chính trị quân sự ở Campuchia, trong khi Việt Nam đang trong tình trạng nội chiến giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn.
Năm 1796, Rama I đưa hoàng tử Ang Chan (sử nhà Nguyễn thường gọi là Nặc Chăn ), con trai của vua Ang Eng, lên làm vua Campuchia khi chỉ mới 5 tuổi. Xiêm còn cử viên quan Chân Lạp thân Xiêm tên là Pok làm quan nhiếp chính cho Chân Lạp mà hầu như không gặp cản trở gì. Trước đó vua Ang Eng cũng được nuôi dưỡng tại Băng Cốc từ nhỏ, các con của ông (Ang Chan, Ang Snuong, Ang Em, Ang Duong) cũng được nuôi dưỡng bởi triều đình Băng Cốc. Một trong những chính sách thực hiện từ lâu trong lịch sử quan hệ Xiêm - Chân Lạp là nuôi dưỡng, đào tạo các hoàng tử Khmer thân Xiêm để đưa lên ngôi vua Campuchia khi có điều kiện thuận lợi nhằm gây ảnh hưởng và thao túng vương quốc này.
Kể từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu về sau, các chúa Nguyễn dần lấy hết đất Chiêm Thành, lại lấn sang đất Chân Lạp. Do đó, theo Việt Nam sử lược thì:
Người Xiêm La có ý muốn ngăn trở để giữ lấy Chân Lạp làm của mình. Nhưng vì thế chúa Nguyễn mạnh hơn, cho nên phải chịu để chúa Nguyễn sang bảo hộ Chân Lạp. Tuy vậy nước Xiêm La thường hay dùng những người phản đối với vua Chân Lạp, rồi giúp binh lực cho về làm loạn trong nước.
Nhiều khi quân Việt phải sang đánh đuổi quân Xiêm La để giúp quốc vương Chân Lạp. Cũng có khi quân Xiêm La sang đánh ở đất Hà Tiên, như năm Ất Mùi (1715), Tân Mão (1771)... Lại có khi sang sinh sự với những nước ở Lào. Hễ khi nào Xiêm và Lào đánh nhau, thì nhà vua sai quan quân phòng giữ những chỗ biên thùy, và sang cứu viện những nước bị người Xiêm bắt nạt, như năm Đinh Hợi (1827)... 
Do bị kiềm kẹp giữa hai quốc gia hùng mạnh, vua Ang Chan phải thi hành chính sách "chư hầu kép": đồng thời thần phục cả Xiêm lẫn Việt Nam. Năm 1807, Ang Chan quyết định ngã sang hẳn về phía Việt Nam bằng cách xin vua Gia Long cho thụ phong và cống nạp. Điều này được Việt Nam chấp nhận còn Xiêm tỏ ra khiên cưỡng, vì nó khiến cho ảnh hưởng của Xiêm tại Campuchia bị giảm sút nghiêm trọng. Từ thời vua Ang Eng cho đến khi vua Ang Chan lên ngôi, Xiêm đã tốn công nuôi dưỡng và xây dựng hệ thống quan Chân Lạp lại thân Xiêm, nay lại bị Việt Nam ảnh hưởng. Tuy nhiên, vua Rama I và Gia Long vốn có mối thâm tình thuở trước nên cả hai bên đã chấp nhận chia sẻ quyền lực tại Campuchia.
Sau khi vua Rama I mất (1809), vua Rama II lên nối ngôi, đã cho quân Xiêm hỗ trợ các em trai thân Xiêm của Ang Chan trở lại tranh giành ngôi vua Campuchia vào những năm 1812-1813, 1814 nhằm phá bỏ cục diện nói trên để giành lại ảnh hưởng ở Campuchia, nhưng không thành công.
Bên cạnh đó, do còn phải đương đầu với Miến Điện ở phía tây, Xiêm không tập trung sức lực trong việc cạnh tranh ảnh hưởng với Việt Nam được. Tuy nhiên sau khi Miến Điện thua Anh trong cuộc chiến 1824-1826, Xiêm quay sang bành trướng ở hướng đông.
Từ sau khi các vua Rama I, Rama II và Gia Long mất, quan hệ Xiêm - Việt không còn mối ràng buộc hữu nghị nữa. Các vua nối ngôi ở hai nước là Rama IIIMinh Mạng đã đẩy quan hệ hai nước tới bờ vực chiến tranh.
Vua Xiêm mới là Rama III đã thẳng tay bình định cuộc nổi dậy của Chậu A Nụ (Anouvong, 1827-1829), biến Lào thành một tỉnh của Xiêm (1831). Đồng thời, Xiêm cũng chờ cơ hội thuận tiện để can thiệp quân sự vào Việt Nam.
Tháng 6 năm Quý Tỵ (1833), Lê Văn Khôi khởi binh chống vua Minh Mạng ở đất Gia Định. Vài tháng sau vì yếu thế, Lê Văn Khôi cho người sang cầu cứu Xiêm La. Không bỏ lỡ cơ hội, vua Rama III liền sai sai tướng (Chiêu) Phi Nhã Chất Tri (còn gọi là tướng Bodin, Chao Phraya Bodindecha) và Phi Nhã Phật Lăng (Phra Klang, Tish Bunnag) dẫn hàng ngàn quân thủy bộ chia ra làm 5 đạo sang đánh Đại Nam.

Kế hoạch và lực lượng

Phía Xiêm La

Gồm 5 đạo quân, có nhiệm vụ như sau:
Tuy rằng năm đạo trên cùng tiến, nhưng chủ đích chính là đánh lấy Chân Lạp và các tỉnh thuộc miền Nam nước Việt; nên chỉ có đạo quân thứ nhất và thứ hai là đông đảo và hùng mạnh; còn các đạo khác, chỉ cốt để phân tán lực lượng của quân Việt.
Trong cánh quân do tướng Bođin chỉ huy có hai hoàng tử Campuchia là Ang Em và Ang Duong đi cùng. Họ là những người đã chạy sang Xiêm cùng với anh trai Ang Suguon (Nặc Ong Nguyên) và sống ở Băng Cốc vào năm 1812 (Ang Suguon sau đó chết ở Xiêm năm 1822). Thêm vào đó còn có sự tham gia tích cực của hai viên quan người Campuchia tên là Kâu và Preah Ang Kêv Ma   (hai người đó rời bỏ Campuchia chạy đến tị nạn ở triều đình Băng Cốc, một năm trước đó). Bốn người này cầm đầu 4 phân đội tiến công vào Campuchia. Nhiệm vụ của các đội quân này là: "quét hết quân đội Việt Nam trong đất Campuchia" rồi tuyển thêm người Khmer bổ sung cho cánh quân này, sau đó vượt Campuchia sang chiếm thành Châu Đốc nằm ở cửa kênh Vĩnh Tế để phối hợp với cánh quân thuỷ của PhraKlang sẽ đến đó.

Phía Đại Nam

Vua Minh Mạng được tin báo cấp, liền xuống chiếu sai quan quân phòng ngự các nơi.

Diễn biến

Quân Xiêm chủ động tiến công

Khi quân của Bodin tiến vào Campuchia thì quân Việt đóng tại đó đã rút về nước để tăng cường lực lượng chống Lê Văn Khôi. Cánh quân của Bođin tiến vào Campuchia một cách khá dễ dàng. Quân Xiêm chỉ gặp một cuộc chống cự duy nhất ở trận Kampong Chhnang, nơi mà quân Campuchia đã gấp rút tổ chức để cố gắng chặn đứng quân Xiêm nhưng không được. Sau trận đánh này, vua Ang Chan đó phải rời bỏ thủ đô Phnôm Pênh (Nam Vang) chạy đến ẩn náu ở dinh Long Hồ, Vĩnh Long  Bodin cho hoàng tử Ang Em đóng ở thành Oudong, Ang Duong ở thành Nam Vang để thu phục dân chúng Chân Lạp.
Trong đợt tấn công đầu tiên, quân Xiêm làm chủ tình thế. Tháng 11, quân Xiêm chiếm được thành Nam Vang rồi chia quân làm hai đạo tiến vào Đại Nam. Cánh quân của Phraklang tràn vào Hà Tiên hầu như không gặp phải một sự kháng cự nào đáng kể. Tại mặt trận Hà Tiên, quân của Ngô Văn Loan hạ được ba tàu chiến của quân Xiêm, chặn đối phương được ít ngày nhưng thành Hà Tiên thất thủ.
PhraKlang để lại ở Hà Tiên một đội pháo nhỏ rồi theo kênh Vĩnh Tế tiến lên phía thành Châu Đốc để hội quân với Bodin từ Nam Vang theo sông Hậu tiến xuống. Tỉnh An Giang nhanh chóng thất thủ.
Quân Xiêm thừa thắng, từ Ba Nam , Chân Lạp cho chiến thuyền đổ xuống theo sông Tiền, tập trung quân, lập nhiều đồn ở hai bên bờ sông Thuận Cảng (Vàm Nao, An Giang) .

Quân Việt chống trả

Tin cấp báo về đến Huế rằng quân Xiêm đang tấn công ồ ạt vào Hà Tiên, cả triều đình lẫn vua Minh Mạng vẫn còn "bán tín bán nghi". Tuy nhiên nhà vua vẫn khẩn cấp điều động một đơn vị cấm quân cùng 500 hương dũng dùng thuyền đi vào Nam Bộ. Đồng thời, vua Minh Mạng cấp cho tỉnh An Giang 10 chiến thuyền; các tỉnh Vĩnh Long, Định Tường, Hà Tiên mỗi tỉnh 5 đến 7 chiếc; cấp cho Vĩnh Long 3000 cân thuốc súng; An Giang và Định Tường mỗi tỉnh 2000 cân, Hà Tiên 1000 cân; cấp đại bác mỗi tỉnh từ 5 đến 10 khẩu, số đạn mỗi khẩu 100 viên. Việc điều động được tiến hành một cách bí mật để nhân dân khỏi hoang mang lo sợ. Ngoài ra, vua Minh Mạng cũng lệnh cho các tỉnh An Giang, Hà Tiên, Định Tường bổ sung quân từ 200 đến 500 hương dũng nhằm chuẩn bị lực lượng để đến đóng giữ Nam Vang 
Sau đó, tại kinh đô Huế, Minh Mạng còn cấp tốc điều động 2 đại đội: thuỷ quân và lục quân, nhiều thuyền lớn, voi chiến, súng đạn và gần 10.000 quân được động viên từ các tỉnh đi vào Gia Định phối hợp với lực lượng tại chỗ chống lại quân Xiêm.

Bản đồ vị trí sông Thuận Cảng (Vàm Nao) và đồn Cổ Hỗ (nay là chợ Thủ, xã Long Điền A, huyện Chợ Mới).
Cuối tháng 12 năm 1833, quân Đại Nam do Trương Minh GiảngNguyễn Xuân lãnh đạo tới An Giang, giao tranh với quân Xiêm ở Thuận Cảng. Quân Đại Nam lùi về sông Cổ Hỗ để ngăn quân Xiêm. Hai bên cầm cự và giao tranh trên sông.
Cùng lúc quân Xiêm huy động nước Vạn Tượng mang hơn 1.000 quân tiến vào đất Quảng Trị. Minh Mạng cho rằng quân Xiêm chỉ hư trương thanh thế, mặt trận chính vẫn là phía nam, nên sai Vệ úy Lê Văn Thụy ra phòng giữ 
Vài ngày sau, quân Xiêm lại lấn vào Trấn Ninh ở Nghệ An. Quân Đại Nam do Nguyễn Đức Long chỉ huy lui về giữ động Giăng Màn. Quân Xiêm tiến về đóng khe Nhự Ổi rồi tiến vào bờ sông Hiển Bôn . Dân huyện Cam Cát (tức Khăm Cợt hay Khamkheuth, tỉnh Bolikhamxai) và Cam Môn báo với trấn thủ Ngàn Phố (tức Hà Tĩnh). Bố chánh Nguyễn Đình Tân và án sát Võ Đĩnh bèn mang quân ra giữ. Quân Xiêm cũng án binh không tiến.
Nhằm phân tán lực lượng quân Nguyễn, và để Xiêm dễ dàng tập trung lực lượng giành chiến thắng ở chiến trường chính Hà Tiên và Campuchia, Rama III ra lệnh cho các đơn vị quân Xiêm-Lào từ Luang Prabang và Nông Khai (tức Nong Khai, Thái Lan) tập trung ở Trấn Ninh, Xiêng Khoảng   và các vùng biên giới Việt Nam từ Nghệ An đến Quảng Trị để tấn công, quấy rối, bắt người đem về.
Quân Xiêm tăng cường quấy rối các bản mường dọc biên giới Việt Lào trong quy mô lớn và tiến hành thực hiện chánh sách di dời người Phuôn (chủ yếu ở Trấn Ninh). Điều này đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh biên giới của Việt Nam, buộc các quan lại địa phương, có lúc cả triều đình Nguyễn phải tìm cách ứng phó giải quyết.
Theo "Đại Nam Thực Lục", cuối 12-1833 Xiêm đó cho quân xâm chiếm đất Trấn Tĩnh thuộc Nghệ An, đưa thư đòi Trấn Ninh phải nép những người dân Viêng Chăn còn lưu lại ở đó. Mặt khác, Xiêm tấn công phủ Trấn Định, xâm phạm các huyện Cam Lộ, Cam Cát, Cam Môn. Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1834, Xiêm tăng cường tấn công, quấy phá, bắt người ở các vùng nói trên càng quyết liệt hơn.
Tới tháng Giêng năm Giáp Ngọ (1834), thủy quân Xiêm từ Thuận Cảng (tức sông Vàm Nao) tiến đánh quân Đại Nam đang đóng ở rạch Củ Hủ . Khi ấy, quân Xiêm nhân lúc nước xuống, theo bờ sông phóng hỏa đốt bè, ngăn trở thủy quân Việt rồi sấn tới đánh, Quản vệ Phạm Hữu Tâm đốc binh đánh từ giờ Dần đến giờ Tỵ, chém quân Xiêm chết nhiều.
Đề cập chiến công này, Minh Mạng chính yếu chép:
Đại Nam Thực Lục thì chép:
Trước kia bọn Giảng từ Thuận Cảng lui đóng ở sông Cổ Hỗ, đặt đồn ở hai bên bờ làm thế ỷ giốc. Sau đó vài ngày, Tướng quân Tống Phước Lương lại đến. Giặc Xiêm dẫn hơn 100 binh thuyền từ Thuận Cảng xuống, dàn ngang giữa dòng sông, cầm cự chu sư của ta, lại vây đánh đồn ở bờ bên tả. Quản vệ giữ đồn là Phạm Hữu Tâm cự chiến, chém được tên đại đầu mục giặc là Phi Nhã Khổ Lạc và hơn 20 đầu giặc. Giặc dựng trại đối diện với lũy ta, ngày đêm bắn đại bác. Quân ta có người bị thương và chết. Bọn Giảng cho rằng thế giặc đương dữ tợn hung hăng, bèn phi tư cho quân thứ Gia Định phái thêm binh thuyền đến tiếp ứng. Bấy giờ vừa gặp Tham tán Hồ Văn Khuê đến quân thứ. Trần Văn Năng liền bàn, uỷ [Văn Khuê] đi giúp việc quân. Lại phái Phó vệ úy vệ Hậu thủy Nguyễn Tiến Khoan đem hơn 300 binh dõng và 7 chiếc thuyền, đồng thời cùng tiến. Rồi đem việc tâu lên.

Quân Việt phản công

Quân các tỉnh phía Đông Campuchia dưới sự chỉ huy của viên quan Campuchia là Chakrey Long  và Yumreach Hu  nhanh chóng tổ chức lực lượng, trang bị vũ khí đánh tan được một đội quân Xiêm ở tỉnh Prey Veng. Nhờ thắng lợi này quân Campuchia nhiều nơi khác cùng phối hợp với quân Việt đánh các đội quân khác của Xiêm. Lúc này Bodin rất khó khăn vì đội tàu đánh trong sông của ông đang bị tổn hại nặng trong trận thuỷ chiến, tinh thần quân Xiêm hết sức hoang mang. Nhất là khi các cánh quân thuỷ, bộ của triều đình Huế đến nơi, làm cho tinh thần quân Xiêm càng thêm nao núng.
Quân Xiêm sau đó từ Thuận Cảng lui quân rút lên Châu Đốc, quân Đại Nam thừa thế ngược sông Tiền, sông Hậu tiến lên. Đại Nam Thực Lục chép:
Giặc Xiêm lui về đồn Châu Đốc. Trước đây, quân giặc đánh nhau với quân ta ở Tiền Giang, bị thua luôn, định rút lui, bèn ngầm đem 1 cánh quân Đà Đạo (thuộc địa giới Định Tường) ở bên hữu sông, chực đánh úp đồn hữu ngạn, nhưng biết ta đã phòng bị trước, nên cuối cùng mưu không thành, bèn dốc hết quân hướng về đồn tả ngạn, hò la bắn súng, làm ra dáng định cướp trại : từ sáng sớm đến canh tư mới im tiếng súng. Khi quan quân biết thì giặc Xiêm đã lìa trại, bỏ xác chết mà đi rồi. Tham tán Nguyễn Xuân liền đem vài chục binh thuyền riêng đi đến địa phận thủ sở Tân Châu ở thượng du để ngăn chặn. Bọn Tham tán Trương Binh Giảng, Hồ Văn Khuê và Tán tương Trương Phước Đĩnh đồng thời đốc thúc, đại đội binh thuyền do Thuận Cảng qua Hậu Giang, đuổi theo đến sông Châu Đốc, thì giặc đóng đồn ở bờ sông chống cự lại. Bọn Giảng sai Phạm Hữu Tâm và Thái Công Triều tiến đánh. Triều, một mình đi thuyền Cự Hải sấn lên trước. Giặc dùng súng lớn, súng nhỏ bắn loạn xạ. Quân ta nhiều người thương vong. Triều cũng bị thương. Ta bèn chia quân đóng giữ trên bờ và dàn chu sư ở trong sông, tùy cơ đánh dẹp. Rồi làm sớ tâu lên.
Về phía quân Xiêm, tại Châu Đốc, Bođin và Phraklang khi bàn bạc kế hoạch tấn công Gia Định, Phraklang cho rằng cơ hội chiến thắng tương đối nhỏ và tinh thần binh lính lúc đó đã suy sụp, lương thực và đạn dược đã bị cạn kiệt, nên ông đề nghị tổ chức một cuộc rút quân bí mật. Mặc dầu Bođin không đồng ý, song Phraklang vẫn bí mật cho quân thuỷ rút khỏi Châu Đốc. Vì vậy, số quân Xiêm còn lại ở Việt Nam chỉ khoảng 10.000 quân bộ đang trong tình trạng hoang mang, lo lắng và bị quân Nguyễn bao vây. Trong tình cảnh đó, Bođin đã hạ lệnh cho quân Xiêm bí mật rút lui sau khi phóng lửa đốt hết kho tàng, nhà cửa... Khi quân Nguyễn vào chỉ thu được 8 cỗ súng hồng y và 90 phương muối, còn tiền bạc, thúc gạo đó bị đốt cháy gần hết 
Đạo quân của Bodin rút về Campuchia theo đường bộ, vượt qua Prey Kabbas để đi về Battambang. Preah Ang Kêv Ma được lệnh rút chạy trước về Phnôm Pênh và U Đông để báo cho Ang Im và Ang Đuông về tình hình của quân Xiêm để hai anh em Ang Im và Ang Đuông tìm cách rút lui về Xiêm  . Còn thuỷ quân của Phraklang rời bỏ Hà Tiên theo đường biển để về Xiêm.
Thừa thắng, quân Việt thu phục thành Châu Đốc , tiến công lấy lại thành Hà Tiên rồi cùng lực lượng quân Chân Lạp tiến đánh chiếm lại thành Nam Vang. Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân lại tiếp tục truy đuổi. Sau khi quan quân Việt thắng liền mấy trận, chém tướng bắt binh, thu được nhiều khí giới, lấy lại thành Phú Túc (Pursat), liền cho người Chân Lạp đóng giữ các nơi hiểm yếu. Minh Mạng gửi thư khích lệ phong chức cho các tướng người Chân Lạp 
Quân Nguyễn tiếp tục truy kích quân Xiêm đến tận biên giới Campuchia-Xiêm, đồng thời đưa Ang Chan trở lại ngôi vua. Cho đến đầu tháng 3-1834 tướng Xiêm Bođin mới trở về được Battambang với khoảng 3.000 tàn quân, sau khi đã bị thiệt hại nặng nề  Toán quân này được chia làm bốn nơi đóng giữ Battambang mà không trở về Xiêm. Em của vua Rama III là Thôn-kha-long-danh-hoà từ Băng Cốc đem 2.000 quân đến đóng ở Bồn Khương hỗ trợ, truyền hịch giục Bođin về. Bodin không chịu về, lấy lý do rằng "quyết lấy cho được Chân Lạp, thề chẳng về nước Xiêm"   Theo sử liệu triều Nguyễn thì cho rằng: Bođin không chịu về chẳng qua ông ta "sợ bại trận trở về chẳng được người nước (Xiêm) đếm xỉa đến nữa".
Trong khi đó tại mặt trận Quảng Trị, Vệ úy ở Cam Lộ của Đại Nam là Lê Văn Thụy ra quân đánh quân Xiêm ở Thú Kê giành thắng lợi. Lê Văn Thụy đánh tiếp đồn Tầm Bồn, Mang Bổng. Quân Xiêm bỏ đồn chạy về. Quân Xiêm chưa ngưng chiến, lại mang 5.000 quân đánh đồn Công Nhạc thuộc châu Mang Bổng và đạo Cam Lộ. Lê Văn Thụy lại ra quân đánh lui địch, bắt được tướng Xiêm là Mạc Sát Khôn La Mân và tướng Khiếu, thu được nhiều súng. Tháng 2 năm 1834, quân Xiêm lại đánh vào châu Ba Lan ở Cam Lộ nhưng cũng bị Lê Văn Thụy, Phạm Phi, Nguyễn Cửu Đức...đánh lui.
Tại Trấn Ninh, Nghệ An, Phạm Văn Điển được lệnh ra chi viện cho Nguyễn Đức Long, Lê Thuận Tĩnh. Tháng 2 năm 1834, Lê Thuận Tĩnh đụng độ quân Xiêm ở động Giăng Màn bị bại trận, tướng Phan Văn Sĩ tử trận. Quân Đại Nam phải lui về giữ ở Trú Cẩm. Minh Mạng lại cử Nguyễn Văn Xuân ra chi viện đánh lui quân Xiêm.

Một đoạn sông Vàm Nao, nơi xảy ra trận thủy chiến.
Đánh giá trận thủy chiến chính trong cuộc đối đầu này, nhà văn Sơn Nam viết:

Kết quả

Quân Tiêm sang đánh (lần hai) từ tháng Giêng năm Giáp Ngọ (1834), đến tháng Năm năm ấy, thì quân nhà Nguyễn đã bình xong cả mọi nơi. Vua Minh Mạng mừng rỡ, ban thưởng cho các tướng sĩ và bố cáo ra cho mọi nơi đều biết.
Quân Xiêm rút lui, quân nổi dậy của Lê Văn Khôi ở thành Phiên An cũng không còn lực lượng hỗ trợ, chỉ có thể cố thủ trong thành cho tới khi thành bị hạ vào tháng 9 năm 1835.
Khi rút chạy, PhraKlang cướp thuyền biển và mang theo 2.000 người Việt, phần lớn theo đạo Thiên Chúa (ít nhiều có liên hệ với cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi) đưa về sống ở ngoại thành Băng Cốc . Về sau Xiêm sử dụng số người này để phá rối vùng biên giới Việt Nam-Campuchia. Trước khi rời bỏ Phnôm Pênh, quân Xiêm đốt cháy và phá huỷ dinh thự của vua Ang Chan, đồng thời tranh thủ thời cơ, lợi dụng tình thế khi rút lui để bắt dân Khmer sống dọc bờ sông Tonle Sap và một vài nơi khác đưa về Xiêm
Cuộc tấn công bất ngờ của Xiêm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến bang giao hai nước. Hai nước cắt đứt quan hệ, bắt đầu một thời kỳ căng thẳng, xung đột và chiến tranh trên đất Campuchia kéo dài hơn 10 năm (từ cuối năm 1833 cho đến đầu năm 1847). Thắng lợi của cuộc chiến này đem lại cơ hội cho Đại Nam dưới thời vua Minh Mạng, được quyền bảo hộ phần lớn đất đai của Cao Miên như trước. Sau chiến thắng này, Minh Mạng quyết định nhập toàn bộ vùng đất Cao Miên nằm trong quyền bảo hộ của Đại Nam vào lãnh thổ Đại Nam và đổi tên là Trấn Tây thành, khi Ang Chan II mất, mà không có con trai nối dõi.

Vùng đất Cao Miên do Đại Nam bảo hộ (tô màu hồng). Phần gạch chéo là phần nhà Nguyễn thực sự kiểm soát.
Năm Minh Mạng thứ 16 (1836), Trương Minh Giảng đã dâng biểu xin được vua Minh Mạng chia Cao Miên thành 33 phủ là: Nam Vang, Kỳ Tô (Thời Thâu), Tầm Đôn (Tầm Giun), Tuy Lạp (Xui Rạp), Ba Nam (Ba Cầu Nam), Ba Lại (Ba Lầy), Bình Tiêm (Bông Xiêm), Kha Bát (Lợi Ỷ Bát), Lư Viên, Hải Đông (Bông Xui), Hải Tây (Phủ Lật), Kim Trường, Thâu Trung (phủ Trung), Ca Âu (Ca Khu), Vọng Vân, Trung Hà, Trưng Lai (Trưng Lệ), Sơn Phủ, Sơn Bốc, Tầm Vu (Mạt Tầm Vu), Khai Biên, Kha Lâm (Ca Rừng), Ca Thê, Lạp Cẩm, Bài Lô, Việt Long, Tôn Quảng, Biên Hóa, Di Chấn Tài, Ý Dĩ (Phủ Phủ), Chân Thành (Châu Chiêm) (sau thuộc huyện Hà Dương An Giang), Mật Luật (sau thuộc huyện Tây Xuyên An Giang), Ô Môn (sau thuộc huyện Phong Phú An Giang), và 2 man là Cân Chế và Cân Dò, rồi cử quan cai trị. Phế bỏ tước hiệu quan chức bản địa của Cao Miên, áp dụng quan chế nhà Nguyễn: cử Lê Đại Cương (sau được thay bằng Dương Văn Phong) làm Tham tán đại thần, cắt đặt các chức hiệp tán, đề đốc, lãnh binh, lang trung, viên ngoại lang, giáo thụ huấn đạo,... Dùng người Cao Miên làm bia tập bắn cho quân sĩ Việt. Lòng dân Cao Miên không phục, nhưng Trương Minh Giảng vẫn tâu về triều là họ tín phục. 

Nhận định về việc cai trị của Đại Nam ở Cao Miên thời Minh Mạng

Phê phán việc quan lại Việt sang Chân Lạp làm nhiều điều trái lẽ, sử gia Trần Trọng Kim viết:
Ấy cũng là vì người mình (người Việt) không biết bênh vực kẻ hèn yếu, chỉ đem lòng tham tàn mà ức hiếp người ta (Chân Lạp), cho nên thành ra hao tổn binh lương, nhọc mệt tướng sĩ, mà lại phải sự bại hoại, thật là thiệt hại cho nước mình 
Sử gia Phạm Văn Sơn nhận định:
Tiếc rằng sau chiến thắng 1834, do không biết lựa chọn cán bộ hay không có cán bộ đứng đắn, liêm chính nên Việt Nam bị đánh bật ra khỏi Trấn Tây thành phải coi là một sự xấu hổ cho triều đình thuở ấy. Và việc này đã chứng minh rõ rằng đường lối chính trị của vua Minh Mạng quá dở và đám quan lại của triều đình thật là bất tài vô hạnh. Vì họ mà nhà nước phải hao tổn biết bao nhiêu binh tướng, tài sản và tính mạng của nhân dân... 

Cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi
Một phần của Lịch sử Việt Nam thời Nguyễn
Thời gian 5 tháng 7, 1833 - 8 tháng 9, 1835
2 năm, 65 ngày
Địa điểm Sài Gòn, Việt Nam
Kết quả Triều Nguyễn chiến thắng
Tham chiến
Phiến quân Lê Văn Khôi
Flag of Thailand (1817).svg Xiêm La
Early Nguyen Dynasty Flag.svg Triều Nguyễn
Chỉ huy
Lê Văn Khôi
Thái Công Triều
Nguyễn Văn Trắm
Lê Đắc Lực
Nguyễn Văn Đà
Nguyễn Văn Thông
Dương Văn Nhã
Hoàng Nghĩa Thơ
Võ Vĩnh Tiền
Võ Vĩnh Tải
Võ Vĩnh Lộc
Nguyễn Văn Bột
Lưu Tín
Trần Văn Tha
Nguyễn Văn Tâm
Nguyễn Văn Chân
Quách Ngọc Chấn
Mạch Tấn Giai
Marchand
Chiêu Phi Nhã Chất Tri (Bodin)
Chiêu Phi Nhã Phật Lăng (PhraKlang)
Tống Phúc Lương
Nguyễn Xuân
Phan Văn Thúy
Trương Minh Giảng
Trần Văn Năng
Võ Quýnh
Lê Văn Trác
Hồ Kim Truyền
Ngô Bá Toán
Lê Phúc Bảo
Lê Đại Cương
Doãn Uẩn
Bùi Văn Lý
Hoàng Đăng Thuận
Phạm Hữu Tâm


.
Cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi , hay còn được gọi là: cuộc binh biến của Lê Văn Khôi, khởi nghĩa của Lê Văn Khôi, sự biến thành Phiên An, là một cuộc nổi dậy chống lại triều đình xảy ra vào thời vua Minh Mạng. Sự kiện này diễn ra từ năm 1833 đến năm 1835 ở các tỉnh miền Nam Việt Nam, lãnh đạo của cuộc nổi dậy này là Lê Văn Khôi, con nuôi của Lê Văn Duyệt. 

Nguyên nhân

Vua Minh Mạng và tả quân Lê Văn Duyệt vốn có nhiều hiềm khíchtư thù. Minh Mạng tuy ghét nhưng không dám  làm gì Lê Văn Duyệt vì công lao và uy quyền quá lớn của ông với triều đình. 
Năm 1832, ngay sau khi Lê Văn Duyệt mất, vua Minh Mạng bèn tìm cách giành lại quyền lực của mình ở thành Gia Định. Vua bãi bỏ chế độ tổng trấn  tất cả đổi là tỉnh, trực thuộc vào triều đình Huế, cắt đặt quan lại vào thay. Trong những quan lại ấy có Nguyễn Văn Quế làm tổng đốc, Bạch Xuân Nguyên làm bố chính, Nguyễn Chương Đạt làm án sát 
Theo sách Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, thì: vốn là người tham lam, tàn ác; nên khi đến làm bố chính ở Phiên An, Bạch Xuân Nguyên nói rằng phụng mật chỉ truy xét việc riêng của Lê Văn Duyệt, rồi đòi hỏi chứng cớ, trị tội bọn tôi tớ của ông Duyệt ngày trước 
Trước khi đi, Bạch Xuân Nguyên đã được Minh Mạng bí mật dặn dò  về việc dựng nên một bản án chống lại Lê Văn Duyệt . Ngay khi tới nơi, Bạch Xuân Nguyên làm một báo cáo dày nhiều tập trong đó lên danh sách , tìm bằng chứng, rồi buộc Lê Văn Duyệt nhiều tội trong đó có các tội tham nhũng, lạm dụng quyền lực  đơn cử như việc Lê Văn Duyệt mở rộng thành Bát Quái, đóng thêm tàu được xem là một bằng chứng xác đáng về tội ác chống triều đình của Lê Văn Duyệt  nhưng vì ông đã chết nên cho người đánh mộ 100 roi  Đồng thời nhiều thuộc hạ của Lê Văn Duyệt cũng bị bắt, và 16 người nhà của Lê Văn Duyệt bị giết chết
Những hành động này đã thúc đẩy các thuộc hạ của Lê Văn Duyệt, trong đó có con nuôi ông là Lê Văn Khôi, lo sợ cho số phận của mình, nên họ dấy binh nổi dậy dưới sự lãnh đạo của Lê Văn Khôi

Diễn biến


Vua Minh Mạng của nhà Nguyễn

Nổi dậy

Nguyên trước Lê Văn Khôi có tên là Nguyễn Hữu Khôi, người ở Cao Bằng, do khởi binh làm loạn, bị quân triều đình đuổi đánh, mới chạy vào Thanh Hóa, gặp Lê Văn Duyệt làm kinh lược ở đấy, bèn xin ra thú. Lê Văn Duyệt tin dùng cho làm con nuôi, đổi tên họ là Lê Văn Khôi, rồi đem về Gia Định cất nhắc cho làm đến chức phó vệ úy. Theo Quốc triều chính biên toát yếu, khi nổi dậy, Lê Văn Khôi giữ chức Tả quân Minh nghĩa Vệ úy 
Khi Bạch Xuân Nguyên tuyên bố phụng mật chỉ trị tội các thủ hạ của Lê Văn Duyệt, Lê Văn Khôi bị bắt giam . Ông bèn mưu với mấy người cùng cánh khởi binh chống triều đình.
Lê Văn Khôi ngầm liên hệ được với binh lính bên ngoài, vào đêm 18 tháng 5 năm Quý Tỵ (tức 5 tháng 7 năm 1833), ông cùng 27 lính hồi lương  đồng mưu đột nhập dinh giết cả nhà Bạch Xuân Nguyên và thuộc hạ Nguyễn Trương Hiệu, người trực tiếp lo vụ án Lê Văn Duyệt, cùng thủ hạ. Lúc đó ở Gia Định lại có những người có tội ở Bắc Kỳ đem đày vào, hoặc cho làm ăn với dân sự, hoặc bắt làm lính gọi là hồi lương; những lính ấy đều theo Lê Văn Khôi nổi dậy .
Quân Lê Văn Khôi chiếm được Thành Bát Quái. Họ tổ chức một lễ thắp đuốc  tại mộ Lê Văn Duyệt và tại đây, Lê Văn Khôi tuyên bố bất phục triều đình, ủng hộ An Hòa, con trai của Nguyễn Phúc Cảnh (hoàng tử Cảnh) Tối cùng ngày , quân nổi dậy giết vị quan tổng đốc An-Biên mới nhận chức của triều đình là Nguyễn Văn Quế người chịu trách nhiệm việc xây dựng lại quyền lực của triều đình trung ương ở vùng Gia Định  khi ông đang mang quân đến cứu Bạch Xuân Nguyên  Án sát Phiên An là Nguyễn Chương Đạt sợ hãi mở cửa thành, đang đêm chạy trốn. Nhân đó, quân nổi dậy phá ngục thả lính hồi lương để gia tăng lực lượng.
Sách Đại Nam chính biên liệt truyện của nhà Nguyễn chép sự việc này hơi khác. Theo đó, khi Lê Văn Khôi cùng 60 người đến đánh Bạch Xuân Nguyên và Nguyễn Văn Quế. Xuân Nguyên thấy động lẻn trốn thoát, còn Quế cùng vài thủ hạ chống cự bị giết chết. Sau đó Lê Văn Khôi đuổi theo bắt được Bạch Xuân Nguyên, mang về nhà Lê Văn Duyệt để tế Duyệt. Sau đó Lê Văn Khôi mới giết nốt Xuân Nguyên . Thành Gia Định thất thủ vào tay quân nổi dậy.
Quân triều đình thuộc các tỉnh còn lại trong Nam Kỳ Lục tỉnh chậm trễ ứng cứu khi thành Gia Định thất thủ. Theo Doãn Uẩn, án sát Vĩnh Long mới nhậm chức, thì đến ngày 27 tháng 5 năm Quý tỵ (14/7/1833), tổng đốc Long Tường là Lê Phúc Bảo mới dẫn quân cứu viện từ bản doanh là thành Vĩnh Long tiến đánh Gia Định, nhưng đến tỉnh Định Tường thì đóng quân lại không tiến. Tổng đốc An Lê Đại Cương trước đó từ An Giang thân cầm đại binh đi cứu viện, khi đến Định Tường cũng dừng quân không tiến.
Tới tháng 7 năm đó, cả Văn Quế và Xuân Nguyên đều bị triều đình truy đoạt chức tổng đốc An Biên và Bố chính Phiên An

Đánh chiếm 6 tỉnh

Nhiều quan lại do triều đình bổ nhiệm đều bị giết chết và hoặc chạy khỏi thành Gia Định . Cuộc nổi dậy bất ngờ này đã không được triều đình dự phòng trước. Quân nổi dậy nhanh chóng tràn đi các tỉnh đồng bằng Nam Bộ và đánh chiếm. Trong vòng 3 ngày lục tỉnh Nam Kỳ đã nằm trong tay lực lượng nổi dậy Lê Văn Khôi làm chủ thành Phiên An, nhiều tướng văn võ của triều đình đầu hàng. Ông đúc ấn tự xưng là đại nguyên soái, phong cho Thái Công Triều, Lê Đắc Lực làm trung quân; các tướng người Bắc Kỳ là Nguyễn Văn Đà , Nguyễn Văn Thông làm tiền quân; Dương Văn Nhã, Hoàng Nghĩa Thơ làm Tả quân; Võ Vĩnh Tiền, Võ Vĩnh Tải làm Hữu quân; Võ Vĩnh Lộc, Nguyễn Văn Bột làm hậu quân; Lưu Tín, Trần Văn Tha làm thủy quân; Nguyễn Văn Tâm, Nguyễn Văn Chân, Quách Ngọc Chấn làm Tượng quân 
Trong tháng 6 âm lịch năm đó, quân nổi dậy đánh chiếm Biên Hòa. Các quan lại nhà Nguyễn như Thự tuần phủ Biên Hòa Võ Quýnh, án sát Lê Văn Trác, lãnh binh Hồ Kim Truyền đều bỏ chạy 
Vài ngày sau, Võ Quýnh khôi phục lại được Biên Hòa. Minh Mạng lệnh cho tổng đốc Long Tường là Lê Phúc Bảo, tổng đốc An Hà là Lê Đại Cương đốc quân cùng đến Phiên An đánh Lê Văn Khôi. Nhưng khi quân triều đình chưa kịp điều thì quân nổi dậy dưới sự chỉ huy của Thái Công Triều lại đánh chiếm Định Tường, khiến cho Phúc Bảo, Đại Cương đều bị cách chức làm lính cùng với tuần phủ Định Tường là Tô Chấn và Án sát Ngô Bá Toán 
Tại tỉnh Định Tường, quân nhà Nguyễn của tổng đốc Phúc Bảo gặp quân nổi dậy Dương Văn Nhã dẫn 10 thuyền và mấy trăm quân đánh tới. Bảo sai Phó quản cơ Lê Tiêu dẫn thổ binh Lạc Hóa đánh nhau với quân nổi dậy ở Tra Giang (giáp giới 2 tỉnh Gia Định-Định Tường). Tiêu tử trận quân binh vỡ. Lê Thúc Bảo bèn trong đêm tối, tự bỏ mấy ngàn binh thuyền, chèo chiếc thuyền con chạy về Vĩnh Long (ngày 10 tháng sáu âm về tới nơi). Lê Đại Cương đến Định Tường thấy vậy cũng lập tức lui binh, tự nói rằng về giữ địa hạt. Tuần phủ Định Tường Tô Trân bất đắc dĩ cũng đi Vĩnh Long, để trống tỉnh thành, quân nổi dậy thừa cơ tiến đóng Định Tường.
Lê Văn Khôi còn nhiều người trong gia đình ở ngoài Bắc, bị triều đình bắt giữ ở Cao Bằng
Thái Công Triều mang quân từ Định Tường đến đánh chiếm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Ngày 14 tháng 6 âm (tức 30/7/1833), quân nổi dậy theo Tiền Giang vượt Vĩnh Long tiến đánh Lê Đại Cương ở xứ Cái Tàu. Doãn Uẩn và phó lãnh binh An Giang là Võ Văn Vĩ đem quân cứu viện Lê Đại Cương. Quân nhà Nguyễn thua tan tác, Võ Văn Vĩ tử trận, Đại Cương chạy trốn về đất Chế Lăng (vùng đất Cao Miên đương thời nằm trong lòng Nam Kỳ), Doãn Uẩn lui về Vĩnh Long. Sau đó cùng ngày, quân nổi dậy với hơn bốn mươi chiến thuyền tiến đánh Vĩnh Long. Quân binh nhà Nguyễn trong thành chống giữ không nổi. Tổng đốc, bố chính bỏ thành chạy trốn, thành Vĩnh Long thất thủ. Một hai ngày sau thành Châu Đốc và thành Hà Tiên cũng chung số phận với Vĩnh Long. Quân nổi dậy chia nhau đi giữ các huyện và đặt quan chức cai trị tại đó. Tháng 7 năm 1833, quân nổi dậy tấn công Biên Hòa nhưng bị đánh lui. Sau đó, Lê Văn Khôi tiếp tục mở cuộc tấn công lần nữa và chiếm được thành, giết tướng nhà Nguyễn là Tôn Thất Gia. Cùng lúc, anh vợ Lê Văn Khôi là Nông Văn Vân làm tri châu Bảo Lạc thuộc Tuyên Quang cũng nổi dậy, tự xưng là Thiết chế thượng tướng quân  

Thất thế

Vua Minh Mạng liền cử Tống Phúc Lương, Nguyễn Xuân, Phan Văn Thúy, Trương Minh GiảngTrần Văn Năng đem thủy bộ binh tượng vào đánh Khôi 
Ngay trong tháng 8 năm 1833, quân triều đình đã phản công và bắt đầu lấy lại các tỉnh Nam Bộ. Tướng Ngô Bá Toán chuộc tội, lấy lại được Định Tường, được phong chức Bố Chính Sứ. 
Trong tháng (ngày 17 tháng bảy âm tức 31/8/1833), Án sát Vĩnh LongDoãn Uẩn chiếm lại được thành Vĩnh Long. Sau đó Án sát An GiangBùi Văn Lý cũng chiếm lại An Giang và Hà Tiên. Trương Minh GiảngHoàng Đăng Thuận lấy lại được Biên Hòa.
Địa chủ, phú hào các nơi dao động, không dám ủng hộ Lê Văn Khôi nữa. Tiếp đó, một tướng giỏi của ông là Thái Công Triều cũng đầu hàng triều đình , khiến lực lượng nổi dậy suy yếu nhanh chóng Triều mang quân về đánh Khôi ở Gia Định.

Cố thủ và thất bại

Lê Văn Khôi yếu thế, bèn nhờ giáo sĩ phương Tây đi sang cầu viện Xiêm La. Xiêm La nhân muốn lấn chiếm Đại Nam bèn nhận lời giúp.
Lê Văn Khôi còn mời một vị giáo sĩ người Pháp tên Marchand đến và ở trong thành. Việc mời vị giáo sĩ này và việc ủng hộ con của hoàng tử Cảnh (đã cải đạo sang Cơ đốc giáo trước đó) là An Hòa là nhằm có được sự ủng hộ của những người Công giáo địa phương . Lê Văn Khôi còn kêu gọi những người theo Công giáo vào thành và sống dưới sự bảo trợ của ông . Những giáo sĩ người Việt giữ vai trò lãnh đạo lực lượng Công giáo địa phương đánh lại quân triều đình và liên lạc với bên ngoài khi thành bị vây khốn.
Năm 1834, quân triều đình đánh bại quân Xiêm, chiếm lại toàn bộ các tỉnh miền nam và chuyển sang vây quân nổi dậy trong thành Bát Quái. Lê Văn Khôi bị bệnh mất ở trong thành Phiên An khi thành đang bị vây ngặt. Con trai ông là Lê Văn Cù mới 8 tuổi  được cử lên thay.
Dù Lê Văn Khôi đã chết, quân nổi dậy vẫn giữ được thành trước quân triều đình cho tới tháng 9 năm 1835 . Lúc bấy giờ, hiện trạng rất nguy ngập: Thành bị bao vây, dịch tả hoành hành, súng đạn hư hỏng vơi cạn dần, lương thực tuy nhiều nhưng bị ẩm mốc, tinh thần và sức lực quân dân đều suy kiệt và ly tán... Cho nên đến ngày 16 tháng 7 năm Ất Mùi (tức 8 tháng 9 năm 1835), khi quân triều đình chia làm 8 mũi, tấn công ồ ạt vào thành. Quân nổi dậy chống cự không nổi, bị thua trận. Quân nổi dậy cả thảy 1.831 người đều bị giết chết và chôn chung một chỗ, sau này gọi là Mả Ngụy hay Mả Biền Tru , nay thuộc khu vực Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau chiến tranh


Joseph Marchand bị xử lăng trì
Sáu người bị kết tội "chủ mưu" bị đóng cũi giải về Huế và nhận lãnh án lăng trì, trong đó có con trai của Lê Văn Khôi mới 8 tuổi, một linh mục người PhápMarchand, một người Hoa là Mạch Tấn Giai
Theo GS. Nguyễn Phan Quang thì các "tội nhân" đó là: Nguyễn Văn Cù (con Khôi), giáo sĩ Marchand (Cố Du), Mạch Tấn Giai (gốc người Triều Châu), Nguyễn Văn Hoành, Nguyễn Văn Trắm, Nguyễn Văn Bột.
Sau khi dẹp xong cuộc nổi dậy, triều thần Phan Bá Đạt dâng sớ xin kể tội Lê Văn Duyệt  vua Minh Mạng đồng ý và nhóm nội các là Hà Quyền, Nguyễn Tri PhươngHoàng Quýnh ra án nghị Lê Văn Duyệt có bảy tội phải chém , hai tội phải thắt cổ  một tội phải sung quân , nhưng vì ông đã chết nên chỉ cho người tước sắc phong, phá và xiềng xích mồ mả  Mãi cho tới đời vua Thiệu Trị án mới được dỡ bỏ 
Cuộc nổi dậy này đã khiến vua Minh Mạng phá hủy tòa thành kiên cố cũ là Thành Bát Quái và cho xây tòa thành nhỏ hơn, ít kiên cố hơn là Thành Gia Định (hay Phượng Thành, Phụng Thành). 

Nhận xét

Và hiện nay các sử gia vẫn còn tranh cãi về nguyên nhân chính của cuộc khởi nghĩa này là do việc triều đình làm nhục Lê Văn Duyệt hay tình trạng quan chức địa phương mất quyền lực...

Cuộc nổi dậy Nông Văn Vân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cuộc khởi nghĩa của Nông Văn Vân là một cuộc đấu tranh chống nhà Nguyễn của các dân tộc thiểu sốViệt Bắc (Việt Nam) do Nông Văn Vân làm thủ lĩnh, xảy ra từ đầu tháng 7 (âm lịch) năm Quý Tỵ 1833 đến khoảng giữa tháng 3 (âm lịch) năm Ất Mùi (1835) thì bị triều đình dập tắt. Cuộc nổi dậy kết thúc khi quân nhà Nguyễn phóng hỏa đốt rừng Thẩm Pát (hay Thẩm Bát) ở Tuyên Quang và tuyên bố đã tìm thấy thủ lĩnh Nông Văn Vân bị chết cháy ở trong đó. Theo một số nhà nghiên cứu thì đây là cuộc đấu tranh rộng lớn và tiêu biểu nhất của các dân tộc thiểu số ở nửa đầu thế kỷ 19 tại Việt Nam 

Nguyên nhân

Vào đời Minh Mạng, ở các tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng,... nhà vua đặt chức lưu quan do người Kinh nắm giữ ở bên cạnh các quan đứng đầu là người dân tộc các quan lại do triều đình cử đến Theo sử liệu thì họ thường có thói ức hiếp, tham nhũng, nên các thổ quan (trong đó có Nông Văn Vân) và người dân Bảo Lạc rất bất mãn, chỉ chờ dịp nổi lên đánh đuổi. 
Tháng 5 năm Quý Tỵ (1833), Lê Văn Khôi (em vợ Nông Văn Vân) vì bất mãn đã khởi binh chiếm lấy thành Phiên AnGia Định. Vua Minh Mạng lập tức cử quân đi đánh dẹp, đồng thời lệnh cho quan lại ở Cao Bằng truy nã vợ con và họ hàng Lê Văn Khôi đang cư ngụ ở đó. Theo sử liệu, thì viên án sát Cao Bằng là Phạm Đình Trạc liền ra lệnh bắt lấy 2 con, 1 người em ruột và 14 người thân thuộc của Lê Văn Khôi. Đình Trạc lại sai đào mả ông nội (Bế Văn Sĩ) và cha đẻ (Bế Văn Kiện hay Viên) của Lê Văn Khôi rồi đốt hài cốt ra tro. Nông Văn Vân lúc bấy giờ đang làm Tri châu Bảo Lạc cũng bị truy nã vì là anh vợ Khôi. 
Trong tình thế ấy, Nông Văn Vân liền phát động cuộc nổi dậy. Việc làm đầu tiên của ông, là thích bốn chữ "Tỉnh quan thiên hối" (quan tỉnh thiên vị, ăn hối lộ) vào mặt phái viên do tỉnh phái đến rồi đuổi về.
Ngày 2 tháng 7 (âm lịch) năm Quý Tỵ (1833),  Nông Văn Vân tự xưng là "Tiết chế Thượng tướng quân," lập đại bản doanh ở Vân Trung (thị trấn Bảo Lạc ngày nay)  thuộc châu Bảo Lạc, tập họp các thổ mục , một số họ hàng của Lê Văn Khôi  một số thợ mỏ người Hoa,  và nhân dân bị áp bức, được khoảng sáu ngàn người cùng đứng lên chống Nguyễn.

Tóm tắt diễn biến

Khi Nông Văn Vân phất cờ chống nhà Nguyễn thì ở miền Bắc đang có cuộc nổi dậy của Lê Duy Lương và ở miền Nam đang có cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi.
Trong cục diện ấy, Nông Văn Vân chia quân đi đánh phá các tỉnh miền ngược. Các quan sở tại chống không nổi, phải xin quân cứu viện. Tháng 8 (âm lịch) năm 1833, vua Minh Mạng cho Tổng đốc Sơn Hưng TuyênLê Văn Đức làm Tổng đốc Tam Tuyên quân vụ, Thự tổng đốc Hải AnNguyễn Công Trứ làm Tham tán, cùng đến mặt trận Tuyên Quang. Lại sai Tổng đốc Ninh TháiNguyễn Đình Phổ đem binh tượng tới mặt trận Thái Nguyên. Sau thấy hai thành tỉnh là Cao BằngLạng Sơn bị vây ngặt quá, tháng 10 (âm lịch) nhà vua lại sai An Tĩnh tổng đốc là Tạ Quang Cự làm Tổng thống Đại thần lên đánh ở hai mạn đó.
Tháng Chạp năm Quý Tỵ (1833) đạo quân của Tạ Quang Cự giải vây được tỉnh Lạng Sơn và lấy lại thành Cao Bằng. Đạo quân của Lê Văn ĐứcNguyễn Công Trứ vào đến Vân Trung ở Bảo Lạc là đại bản doanh của quân nổi dậy, khiến Nông Văn Vân phải chạy trốn sang Trung Quốc. Nhưng khi quân triều vừa rút đi, thì Nông Văn Vân lại về rủ đồ đảng đánh phá như cũ. Nhà vua lại sai các đạo quân tiến lên phòng giữ các tỉnh mạn ngược. Đến tháng 9 (âm lịch) năm Giáp Ngọ (1834), Lê Văn ĐứcPhạm Văn Điển đi từ Sơn Tây lên Tuyên Quang; Tạ Quang Cự, Nguyễn Tiến LâmHồ Hữu đi từ Cao Bằng; Nguyễn Đình PhổNguyễn Công Trứ đi từ Thái Nguyên; ba mặt quân cùng tiến lên hội tiễu.
Tháng Chạp năm ấy, cả ba đạo cùng đến hội ở Vân Trung, rồi sai người đưa thư sang nhờ quan nhà Thanh (Trung Quốc) ngăn không cho quân nổi dậy chạy sang bên ấy. Nên khi Nông Văn Vân chạy sang Trung Quốc thì bị quân nhà Thanh đuổi bắt, phải trở về Tuyên Quang.
Tháng 3 (âm lịch) năm Ất Mùi (1835), biết chỗ Nông Văn Vân ở, quan quân nhà Nguyễn liền lần theo truy đuổi khiến ông Vân phải chạy ẩn vào trong rừng Thẩm Pát ở Thái Nguyên, rồi bị thiêu chết khi quân triều phóng hỏa đốt rừng. Cuộc nổi dậy do ông và các đồng đội đã dày công gầy dựng đến đây là kết thúc.

Một số sự kiện nổi bật

Cuộc nổi dậy do Nông Văn Vân làm thủ lĩnh là một cuộc đấu tranh "rộng lớn". Sách Bắc Kỳ tiễu phỉ (Quyển 47), chép:
Thổ phỉ Tuyên, Cao, Thái, Lạng lan tràn, chỗ nào cũng có đứa hùng trưởng, mà đều lấy giặc (Nông Văn) Vân làm chủ...
Sách Đại Nam thực lục (Quyển 18), chép:
Việc nổi loạn là do (Nông Văn) Vân xướng xuất, tù trưởng các châu đều họa theo và đều nhận chức quan của Vân...
Sau đây là một số sự kiện nổi bật:

Tại mặt trận Tuyên Quang

Để thông đường tới thành tỉnh Tuyên Quang (gọi tắt là thành Tuyên), Nông Văn Vân cho quân đánh chiếm đồn Ninh Biên (sau đổi tên là An Biên, nay thuộc thị xã Hà Giang) và đồn Phúc Nghi (nằm bên hữu ngạn sông Gâm).
Sau khi cho người đưa thư dụ hàng viên trưởng đồn Ninh Biên là Hoàng Kim Thuận không được, Nông Văn Vân liền đem quân lẻn theo đường núi thuộc châu Vị Xuyên (nay là một huyện của tỉnh Hà Giang) đến đánh đồn Ninh Biên. Cùng lúc ấy, làm theo lệnh của thủ lĩnh Vân, Ma Sĩ Vinh dẫn quân đi đánh đồn Phúc Nghi. Sách Việt Nam thế kỷ XIX kể:
Cuối tháng 7 (âm lịch) năm Ất Tỵ (1833), nghĩa quân do thủ lĩnh Ma Sĩ Vinh chỉ huy từ các cao điểm kéo đến vây chặt bốn mặt đồn Phúc Nghi. Đồng thời, một cánh quân khác cưỡi thuyền độc mộc từ thượng lưu bơi qua phía trước đồn, rồi bỏ thuyền lên bờ giáp lại cùng đánh,...Lực lượng của nghĩa quân ước hơn 1000 tên 
Hay được tin, Bố chính Phạm Phổ cùng Thành thủ úy Trương Phúc Nguyên kéo quân đi ngăn lại. Đầu tháng 8 (âm lịch) năm Ất Tỵ (1833), một trận kịch chiến sau đó nổ ra tại sông Tiểu Miện. Quân triều đình đánh thua, Hoàng Kim Thuận bị giết tại trận. Quân nổi dậy bèn vây kín đồn Ninh Biên. Do thiếu quân và thiếu lương ăn, Phạm Phổ tự vẫn, Trương Phúc Nguyên cùng hơn 400 biền binh trong đồn đều bị bắt sống.
Lấy được hai đồn trên, Nông Văn Vân liền chia quân thủy bộ ra làm ba cánh đi tấn công thành Tuyên. Theo kế hoạch thì cánh thứ nhất đi tới địa đầu phủ Đoan Hùng, ngăn không cho viện binh ở Sơn Tây kéo lên. Cánh thứ hai (có quân của Nguyễn Đình Liêm từ Thái Nguyên qua phối hợp) tới đánh mặt trước thành. Cánh thứ ba từ châu Ninh Biên theo sông Tiểu Miện tới đánh mặt sau thành. Tuy nhiên vì cánh quân thứ ba không đến kịp và vì tướng Lê Văn Đức kịp thời đưa quân tới cứu nên việc đánh chiếm thất bại.
Sách Việt Nam thế kỷ XIX, kể:
Vào hạ tuần tháng 8 (âm lịch) năm Quý Tỵ (1833), nghĩa quân chủ động đi chiếm lĩnh các cao điểm xung quanh tỉnh thành ở hai bên bờ sông Lô, xây dựng đồn lũy dã chiến. Ngày 21 tháng 8, khoảng 4000, 5000 quân nổi dậy tiến đến chiếm đồn Cao Tụ ở phía sau tỉnh thành. Tuy nhiên do quân triều tập trung đông với voi chiến và súng lớn, mà cánh quân ở Ninh Biên chưa đến kịp, nên quân nổi dậy không thể chiếm được tỉnh thành, đành phải lui về đồn Núi Đền (trên núi Đùm hay Tràng Đà) ở bên kia sông Lô. Quân triều đình đuổi theo đến bờ sông nhưng không qua được vì không có thuyền.
Ngoài ra, để quân triều không ứng cứu lẫn nhau, Lưu Trọng Chương và Hoàng Trinh Tuyên dẫn 2.000 quân nổi dậy đi đánh đồn Đại Đồng thuộc châu Thu (Thái Nguyên). Tướng Lê Văn Đức bèn phái Lãnh binh Nguyễn Văn Quyền, Quản cơ Nguyễn Hữu Du và Tri phủ Đoan Hùng là Nguyễn Đức Hoành đem hơn ngàn quân cùng hai thớt voi chia đường đi cứu. Hai bên giáp chiến tại địa phận rừng Hoàng Loan; cuối cùng quân nổi dậy bị đẩy lui. Theo Quốc triều sử toát yếu thì khi ấy Nông Văn Vân "đã thua" ở trận thành Tuyên nhưng vì "đồng đảng nó chưa biết nên tới đó khuấy nhiễu".
Tháng 10 (âm lịch) năm 1833, tướng Lê Văn Đức và tướng Nguyễn Công Trứ cùng đưa quân vào đánh phá đại bản doanh Vân Trung và Ngọc Mạo (Đồng Mu ngày nay)  định tìm bắt Nông Văn Vân.
Mặc dù quân nổi dậy ở đồn Phúc Nghi, đồn Ninh Biên, Đèo Ve (Kẻm Ve), Đèo Hoạch (Kẻm Kiếng), Tòng Bá, đồn Bắc Cái (thuộc xã Bạch Đích), Pắc Phấn, v.v. dựa vào chỗ hiểm phục binh đón đánh, và được lực lượng ở Thái Nguyên "chia lửa"  nhưng vì quân triều đình mạnh quá nên đều phải rút chạy.
Dù vào được Vân Trung và Ngọc Mạo nhưng quân triều không bắt được Nông Văn Vân vì lúc này (tháng Chạp năm 1833) ông đã lánh sang Trung Quốc. Do không hợp thủy thổ và thường bị phục kích, cuối tháng Chạp năm 1833 Lê Văn ĐứcNguyễn Công Trứ cho quân rút về Tuyên Quang. Theo tài liệu, trên đường đi và về, quân triều phải chịu nhiều khó nhọc và tổn thất.
Sách Việt Nam thế kỷ XIX kể:
Từ Ninh Biên vào đại bản doanh Vân Trung (Bảo Lạc) phải mất một tháng rưỡi. Điểm lại quân số, khi đi có một vạn quân, vào đến Vân Trung đã có 2.400 lính ốm với hơn 100 tên bỏ mạng dọc đường, nhiều thổ dũng bỏ trốn, lúc đến Vân Trung chỉ còn non một nửa. 
Việc "thắng lợi nhưng lắm hao tổn" này đã bị nhà vua kết tội. Sử nhà Nguyễn chép:
...Lê Văn ĐứcNguyễn Công Trứ kéo quân từ Vân Trung về đến tỉnh Tuyên Quang, đem những tình trạng quân giặc cứ hiểm thiết phục, dọc đàng đón lương cướp súng, và quân sĩ nhiễm bệnh lam chướng, lương ăn không đủ, dâng sớ xin nhận tội. Ngài (Minh Mạng) dụ rằng: "Quân đi ngàn dặm quý là thần tốc, mình chẳng tới mau để giặc giữ chỗ hiểm, thừa (thời) gian cướp bậy. Khi quân mình về, giặc lại phòng bị các nơi, đến nỗi quân mình chết hại, súng ống bỏ mất, uổng công bấy lâu qua lại, tội chẳng đáng sao?... Vậy giao cho bộ nghị xử". Bộ khép (Lê Văn) Đức vào tội tử. Vua cho là nặng quá, chuẩn cho tước bỏ mũ áo, giáng bốn cấp, cất lương, khiến cho Đức phải cố gắng thu công chuộc tội...
Tháng Giêng năm Giáp Ngọ (1834), Nông Văn Vân trở về nước. Sau đó ông sai Nông Văn Sĩ dẫn hơn ngàn quân đi đánh nhau với quân triều ở Cao Bằng. Tham tán Võ Văn Từ đem việc báo lên. Vua Minh Mạng nổi giận sai Lê Văn ĐứcNguyễn Công Trứ lập tức đem đại binh từ Tuyên Quang vào lại Vân Trung và Ngọc Mạo để "đạp bằng sào huyệt giặc, làm sao bắt chém được thằng Vân (Nông Văn Vân), thằng Đản (Bế Văn Đản), thằng Cẩn (Bế Văn Cẩn)... mới cho đem quân về." 
Theo lời tâu của tướng Lê Văn Đức và tướng Nguyễn Công Trứ thì việc tiến quân vào Vân Trung lần thứ hai cũng hết sức khó khăn vì phải luôn đánh nhau mà lại thường hay thiếu lương do địa hình hiểm trở khó vận chuyển. Do vậy mãi đến cuối năm 1834 ba đạo quân do các tướng là: Lê Văn ĐứcPhạm Văn Điển đi từ Sơn Tây; Tạ Quang Cự, Phạm Tiến LâmHồ Hữu đi từ Cao Bằng; Nguyễn Đình PhổNguyễn Công Trứ đi từ Thái Nguyên; mới vào được đại bản doanh Vân Trung.

Mặt trận Thái NguyênBắc Kạn

Tháng 8 (âm lịch) năm 1833, khi đội quân chủ lực đang bận ở mặt trận thành Tuyên, thì Nông Văn Sĩ nhận lệnh của Nông Văn Vân, đem một đội quân khác đi đánh châu Bạch Thông thuộc tỉnh Thái Nguyên. Bố chính Thái Nguyên là Nguyễn Đôn Tố liền phái Suất đội Trần Đình Dự, Dương Đình Ất cùng viên thủ bảo Chợ Rã (nay đổi tên là huyện Ba Bể) là Bế Văn Đức đem quân đi cản phá. Từ đất Bằng Thành thuộc Chợ Rã quân nổi dậy chia ba mũi xông vào đánh giáp lá cà. Đình Dự và Đình Ất thua chạy; Văn Đức đầu hàng. Chiếm cứ được Chợ Rã, "thổ dân theo vào đảng (giặc) đến hơn nghìn người." 
Lúc ấy Quang Toản đang đóng quân ở đồn Na Miêu cũng bị hơn 2.000 quân nổi dậy tấn công nhưng vì quân ít hơn, phải lui về giữ đất Na Cù. Lãnh binh Bắc Ninh là Trần Văn Duy đánh thua ở đồn Chợ Mới (nay là một huyện của tỉnh Bắc Kạn), khiến tướng Nguyễn Đình Phổ (lúc này đã mặt ở Thái Nguyên) phải xin nhận tội.
Đồng thời từ đất Bằng Lũng hơn nghìn quân nổi dậy xông tới uy hiếp đồn Bắc Kạn (nay viết là Bắc Kạn) ở châu Bạch Thông. Yếu thế hơn, Bố chính tỉnh Thái Nguyên là Nguyễn Đôn Tố cho quân lui về Chợ Mới, rồi sai Lãnh binh Nguyễn Văn Cát dẫn quân tới đồn Bắc Cạn, phái Quang Toản và Đinh Quang Tiến dẫn quân tới Tượng Đầu làm rào cản. Sau đó đôi bên đụng độ ác liệt ở đồn Bắc Kạn. Lãnh binh Cát bị trúng đạn pháo chết tại trận; quân triều bị đánh tan. Đang hăng, quân nổi dậy liền kéo đi đánh phá Tượng Đầu, giết chết Suất đội Nguyễn Đình Du, bắt sống Quang Toản và Đinh Quang Tiến. Quang Tiến chịu hàng, còn Quang Toản, vì không chịu nên bị giết chết. Nghe tin thất trận, Bố chính Nguyễn Đôn Tố liền đem quân voi đến cứu nhưng vừa đến Tông Hóa thì bị quân nổi dậy cản lại, không tiến được.
Tháng 10 (âm lịch) năm đó (1833) hơn 1.000 quân nổi dậy lại kéo tới vây đánh thành tỉnh Thái Nguyên khiến Nguyễn Đình Phổ vừa cầu cứu, vừa đánh. Tháng sau quân nổi dậy lại tổ chức tấn công lần nữa nhưng cả hai lần đều bị Tổng đốc Phổ đốc quân đánh đuổi 
Sang tháng 3 (âm lịch) năm Giáp Ngọ (1834) quân nổi dậy lại tràn xuống phố Bắc Nẫm. Án sát đạo Thái Nguyên lúc bấy giờ là Nguyễn Mưu và Phó lãnh binh Nguyễn Văn Ưng ra sức ngăn lại nhưng thua. Quản cơ Nguyễn Văn An, Chính đội Nguyễn Đình Cát và Vệ úy Võ Văn Sơn đều tử trận; Án sát Nguyễn Mưu bị bắt sống. Thừa thắng, quân nổi dậy tiến đánh đồn Chợ Rã (nay là một thị trấn thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn) và Chợ Mới. Không chống nổi, Lãnh binh Nguyễn Văn Ưng cho quân lui về đồn Chợ Đô. Tướng Tạ Quang Cự đem việc báo lên, nhà vua liền sai tỉnh thần Hà NộiNam Định đưa thêm lính và voi lên tiếp sức Tháng 7 (âm lịch) năm đó (1834) Nồng Văn Sĩ và Nồng Văn Hoành lại nhóm quân ở hạt Cẩm Hóa thuộc Thái Nguyên đến hơn 1.000 người, chia làm 3 đạo: một đạo đi đánh đồn Bắc Cạn ở châu Bạch Thông, một đạo đinh đánh đồn Gia Bằng ở Cao Bằng, một đạo tới núi Tiêm Lĩnh (ở địa giới tỉnh Cao BằngLạng Sơn) để cướp lương. Các quan ở Cao BằngThái Nguyên đều phái binh chống cự và đem việc tâu lên. 

Mặt trận Cao Bằng

Sau trận đánh mở đầu ở Nước Hai (châu lỵ Thạch Lâm, nay là thị trấn huyện Hòa An) ngày 1 tháng 9 (âm lịch) năm 1833, hơn nghìn quân nổi dậy kéo đến bao vây thành tỉnh Cao Bằng (lần thứ nhất) vào ngày hôm sau.  Nhận được tin cầu cứu của Bố chính Bùi Tăng Huy, vua Minh Mạng liền ra lệnh cho Tuần Phủ Lạng Bình (Lạng SơnCao Bằng) là Hoàng Văn Quyền đang đóng quân ở Lạng Sơn cấp tốc đem quân sang cứu viện.
Trên đường đi, ông Quyền cho dừng quân ở đồn Na Lãnh rồi sai Cai đội Dương Văn Phong đem quân đánh đồn Tiêm Lĩnh vừa bị đối phương chiếm giữ. Quân nổi dậy tạm lui nhưng ngay đêm đó lại lén đến vây kín rồi dùng pháo lớn bắn vào loạn xạ. Quân triều nhiều người bị thương vong. Sau đó quân nổi dậy kéo đi tấn công đồn Na Lãnh. Tuần phủ Quyền đánh thua phải cho quân lui về trạm Lạng Chung ở châu Thất Tuyền (Lạng Sơn).
Quân triều chạy về trạm Lạng Chung, theo sách Bắc Kỳ tiễu phỉ thì:
Sáng sớm ngày 23 tháng 9 (âm lịch) lũ giặc đông đến 5.000 tên vây đánh úp trạm Lạng Chung. Tri châu Thất Tuyền Nguyễn Khắc Hòa cùng 7 anh em của nó đem dân phu hùa theo giặc... Biền binh chống đánh không được, lùi ra ngoài đồng. Giặc thừa thế đuổi bắn, Tuần phủ Quyền bị giặc bắt được... Bọn quản cơ, cai đội, kẻ thì chết kẻ thì chạy, binh lính trong trận đều vứt bỏ khí giới chạy về. Thừa thắng, quân nổi dậy tiến lên vây hãm thành tỉnh Lạng Sơn.
Lúc bấy giờ thành tỉnh Cao Bằng thiếu đạn, thiếu lương vì bị vây cả tháng mà viện binh thì vừa bị đánh tan. Biết không chống cự nổi, ba ông quan đầu tỉnh là Bố chính Bùi Tăng Huy, Án sát Phạm Đình Trạc, Lãnh binh Phạm Văn Lựu đều tự tử.
Cuối tháng 11 (âm lịch) năm 1833, tướng Tạ Quang Cự đưa quân lên cứu thành tỉnh Cao Bằng. Xét mình yếu thế hơn, Nông Văn Vân gom quân chạy sang Trung Quốc để bảo toàn lực lượng. Ngày 27 tháng 11 (âm lịch) tướng Quang Cự lấy lại thành mà không cần phải đánh, sau đó gửi về bản tâu, trích:
Thần vừa tới Cao Bằng, thì được biết từ tối hôm trước bọn giặc đã phóng lửa đốt hết nhà cửa trong và ngoài thành mà bỏ đi rồi... Từ ngày 2 tháng 9 (âm lịch), giặc đến tỉnh thành vây hãm, trong thành thuốc đạn, muối gần hết, biền binh mỏi mệt đau ốm... Ngày 5 tháng 10 (âm lịch) (Bố chính) Bùi Tăng Huy thắt cổ, (Án sát) Phạm Đình Trạc đào lỗ tự chôn, (Lãnh binh) Phạm Văn Lựu cũng thắt cổ chết, (Lãnh binh) Vũ Văn Lợi hàng giặc... 
Tháng Giêng (âm lịch) năm Giáp Ngọ(1834), Nông Văn Vân trở về nhóm quân ở miền thượng du Cao Bằng. Sau đó ông sai Nông Văn Sĩ đem hơn ngàn quân từ làng Thông Sơn tới đánh nhau với quân triều ở đồn Trung Thảng. Tức giận, vua Minh Mạng cử Lê Văn Đức làm Tổng đốc đạo Tuyên Quang, Nguyễn Công Trứ làm Tham tán, cùng đem đại binh từ Tuyên Quang vào lại Vân Trung.
Tháng 2 (âm lịch), quân đạo Cao Bằng đánh nhau với quân nổi dậy ở Đinh Lãm bị thua, hai tướng là Tạ Quang Cự và Võ Văn Từ đều bị cách tước.  Nhưng sau đó hai ông lén đánh phá tại núi Công Lãnh, gây cho quân nổi dậy một số thiệt hại.
Khoảng giữa tháng 6 (âm lịch), Nông Văn Vân, Bế Văn Cận (hay Cẩn), Bế Văn Huyền (em vợ Văn Vân), đem khoảng 6.000 quân đi đánh chiếm thành tỉnh Cao Bằng (lần thứ hai). Đôi bên giao chiến với nhau nhiều trận, đều bị thiệt hại nhưng nhờ có viện binh nên quân nổi dậy đánh thắng. Thừa thắng, Nông Văn Vân cho quân tràn tới đốt phá châu Thạch Liêm, rồi tiến chiếm thành tỉnh Cao Bằng.
Hay được tin, tướng Nguyễn Tiến Lâm và Phó vệ úy Nguyễn Tình Lộc mang tượng binh định tiến lên lấy lại nhưng mới tới sơn ải Lạng Chỉ thì bị đối phương chặn đánh, Tình Lộc chết tại trận, Tiến Lâm lui về đồn Lạc Dương ở Cao Bằng. Tạ Quang CựNguyễn Công Trứ kéo quân lên chi viện. Bắt được tin, quân nổi dậy lên núi giữ chỗ hiểm chia đặt hơn 20 trại quyết đối đầu với quân triều. Tướng Quang Cự bèn thân đốc biền binh từ xã Hoa Sơn (nay đổi là Cẩm Sơn) tiến lên Lạc Dương (Cao Bằng), đi đến đâu quân nổi dậy bị đánh tan đến đấy. Liệu không thể giữ được thành tỉnh Cao Bằng, Nông Văn Vân cho quân rút đi. Quản cơ ở Cao Bằng là Nguyễn Hựu Đĩnh (hay Đình) liền đem quân vào lấy lại thành mà không phải đánh. Biết Bế Văn Cận đang ở Lạc Dương định lui quân, Quản cơ Đĩnh liền cho phục binh ở phía sau đồn Ninh Lạc. Quả nhiên Bế Văn Cận lọt vào vòng vây, bị Chính đội trưởng Trình Văn Châu giương súng bắn trúng; thổ dũng Hà Đình Bảo sấn vào chém được đầu tướng Cận. 

Mặt trận Lạng Sơn

Tháng 10 (âm lịch) năm 1833 hai tướng của Nông Văn Vân là Nguyễn Khắc Hòa và Bế Văn Đản đem hơn 10.000 quân vây thành tỉnh Lạng Sơn. Án sát Trần Huy Phác vội chạy giấy tới quân thứ và các tỉnh lân cận cầu cứu. Vua Minh Mạng liền sai Tổng đốc Tạ Quang Cự và Tham tán Võ Văn Từ đem quân lên đó. Phó lãnh binh Hà Nội là Hồ Văn Vân khi ấy cũng nhận lệnh đem binh lên cứu Lạng Sơn nhưng vừa tới trạm Lạng Nhơn thì bị quân nổi dậy chặn đánh, trúng phải đạn chết tại trận.
Tháng 11 (âm lịch) năm đó (1833) tướng Tạ Quang Cự đánh phá quân nổi dậy ở đồn Quang Lang thuộc Lạng Sơn rồi tiến lên đánh phá ở phía Đơn Sa, An Bài, và giải vây được thành tỉnh Lạng Sơn. Sau đó ông nhận lệnh đến Cao Bằng và thâu phục lại được thành tỉnh này.

Bị dập tắt

Tháng Chạp năm Giáp Ngọ (1834) cả ba đạo quân xuất phát từ Tuyên Quang, Cao BằngThái Nguyên cùng đến hội ở Vân Trung thuộc châu Bảo Lạc. Sách Việt Nam thế kỷ XIX đã kể lại một phần cục diện lúc bấy giờ như sau:
...Tuy cố sức kình chống, nhưng từ giữa tháng 11 (âm lịch) năm Giáp Ngọ (1834), cuộc nổi dậy do Nông Văn Vân làm thủ lĩnh cứ diễn biến xấu dần, và trên thực tế đang bước vào giai đoạn cuối. Ở mặt trận Thái Nguyên, nhiều căn cứ quan trọng của quân nổi dậy ở các xã Nhạn Môn, Bằng Thành, Bộc Bố, nhất là hệ thống đồn trại ở Bắc Niệm... đều đã lọt vào tay quân triều. Ở Tuyên Quang, sau trận quyết chiến ở khu rừng Bạch Đích thì "cổ họng vào Bảo Lạc ở phía tây" coi như đã bị cánh quân của Lê Văn Đức chọc thủng... Ngày 14 tháng 11 (âm lịch), được tin đạo quân Tuyên Quang của tướng Đức đã vào đến Vân Trung, tướng Tạ Quang Cự liền tập trung hơn 2.500 quân thuộc đạo Cao Bằng, nhân đêm tối vượt qua lũng Dầu, theo đường tắt đánh thẳng vào Cạm Bẻ (Bế Lĩnh), là cửa ngõ phía đông của căn cứ Ngọc Mạo, rồi tràn xuống thung lũng Ngọc Mạo... Tháng 12 (âm lịch), Nguyễn Đình PhổNguyễn Công Trứ vừa đi vừa đánh, lần lượt chiếm lấy Bắc Nẫm, Cổ Đạo, Giai Lạc... Khi ba đạo quân Tuyên, Cao, Thái hội ở Vân Trung, thì "nghịch Vân đã đem vợ con trốn sang Tàu." 
Đồng thời với việc cho quan quân tiến vào đánh phá Vân Trung, vua Minh Mạng còn sai bộ Lễ gửi công văn nhờ các quan nhà Thanh hỗ trợ phòng khi Nông Văn Vân chạy sang Trung Quốc lần nữa. Ngoài hai việc ấy, nhà vua còn cho đổi châu Bảo Lạc thành huyện Để Định, lựa hai thổ ty đắc lực đặt làm Tri huyện và Huyện thừa cốt để triệt phá hậu phương lớn của thủ lĩnh Vân.  Quả nhiên cũng như lần trước, Nông Văn Vân chạy sang Trung Quốc, bị quân nhà Thanh đuổi bắt, lại phải trở về Bảo Lạc, định củng cố lại lực lượng. Quân triều lại tập trung đánh vào nơi ấy khiến Vân phải rút vào rừng. Bị cả ba đạo quân triều truy lùng ráo riết, nhiều chỉ huy của quân nổi dậy bị bắt hoặc ra hàng. Trong số ra hàng có viên Chính quản lữ là Nông Tịnh Hòa. Vì lời khai của Tịnh Hòa mà quân triều biết được chỗ trú ẩn của Nông Văn Vân.
Được tin Nông Văn Vân đang ẩn ở xã Ân Quang, quan quân nhà Nguyễn liền đi truy bắt nhưng ông đã chạy thoát vào rừng Thẩm Pát (ở gần căn cứ Ngọc Mạo).  Sau khi cho quân vây kín, ngày 11 tháng 3 (âm lịch) năm 1835, viên chỉ huy quân triều ra lệnh phóng hỏa đốt rừng và tâu về là đã tìm thấy Nông Văn Vân bị chết cháy ở trong đó. Vua Minh Mạng được tin, mừng rỡ "truyền mở tiệc rượu mua vui, lại sai cung tần khoác tay nhau làm kiệu ngồi mà múa hát, hô lên liền mấy tiếng: "Cao Bằng yên rồi! Cao Bằng yên rồi!" 
Kể lại đoạn thủ lĩnh Vân bị diệt, sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép:
Tên ra thú là Nông Tính Hòa dò được thực đi báo nơi quân thứ, Lê Văn ĐứcPhạm Văn Điển tức thì phái Vệ úy Nguyễn Văn Quyền đem hơn ngàn binh dũng tới ngay vây bắt...Sợ (Nông Văn) Vân trốn thoát, (Nguyễn Văn) Quyền cho phóng hỏa đốt cả bốn mặt,...(Nông Văn) Vân ở trong lỗ đá chui ra chết về lửa rơi nằm bên cạnh núi, bên cạnh mình có một đĩnh lớn vàng và kèm theo một lưỡi dao bằng bạc mạ vàng. Bọn (Lê Văn) Đức cho đệ lá hồng kỳ chạy như bay về báo tiệp và đóng hòm đầu Vân đưa dâng, rồi lấy sào cao treo ngược thây ở đỉnh núi Vân Trung. Thủ cấp Vân đưa tới, vua sai đem treo ở chợ búa ba hôm. Lại truyền cho các tỉnh từ Quảng Nam trở vào Nam và từ Quảng Trị trở ra Bắc treo ba hôm, sau đâm nát quẳng xuống hố xí. Mộ của tổ phụ Vân, (vua) sai người đào hài cốt ném xuống sông. Con Vân là Lôi đưa về Kinh xử trị, còn gia quyến và đồng đảng Vân đều bị giết hết, không còn sót mống nào 
Theo nhiều nhà nghiên cứu, thì cuộc nổi dậy Nông Văn Vân đến đây (tháng 3 âm lịch năm 1835) là kết thúc.

Nhận xét

Mặc dù cuộc nổi dậy kéo dài không lâu (non 2 năm), nhưng theo một số nhà nghiên cứu, thì Nông Văn Vân quả là một thủ lĩnh có tài bởi ông đã lôi kéo được đông đảo các tù trưởng và nhân dân các dân tộc thiểu số cùng theo, khéo lợi dụng địa thế rừng núi hiểm trở trong tấn công và phòng ngự như lời của sử gia Trần Trọng Kim: Nông Văn Vân nhân được chỗ mường mán lắm núi rừng, bèn chia quân đi tản ra mọi nơi, tìm chỗ hiểm yếu trong núi rừng mà ẩn nấp. Hễ có quan quân đến, đánh được thì tiến, không đánh được thì lui, cứ ra vào, lui tới không nhất định. Quan quân đi đánh thật là khó nhọc và lại hao binh tổn tướng rất nhiều.
Đề cập đến cuộc nổi dậy, sách Đại cương lịch sử Việt Nam (Tập I) có đoạn:
Bất bình với chính sách dân tộc của nhà Nguyễn, từ năm 1829, Nông Văn Vân đã có ý định kêu gọi nhân dân Tày, Nùng nổi dậy, Tuy nhiên, đến tháng 8 (dương lịch) năm 1833, cuộc khởi nghĩa mới thực sự bùng nổ... Cuộc khởi nghĩa của này không chỉ thể hiện sự bất bình của nhân dân các dân tộc ít người phía Bắc đối với nhà Nguyễn mà còn là của chung dân nghèo đương thời.

Mối quan hệ

Với Ba Nhàn, Tiền Bột

Đầu năm 1834, từ Trung Quốc trở về, để tăng sức mạnh và cũng để phân tán lực lượng của quân triều, Nông Văn Vân ngầm liên kết với hai thủ lĩnh cuộc nổi dậy ở Sơn Tây là Lê Văn Bột (Tiền Bột) và Nguyễn Văn Nhàn (Ba Nhàn). Sự kiện này được sử nhà NguyễnQuốc triều sử toát yếu chép như sau:
Năm Giáp Ngọ (1834), tháng 6 (âm lịch)... Tướng giặc tỉnh Sơn Tây Lê Văn Bột, Nguyễn Văn Nhờn theo lời nghịch (Nông Văn) Vân tụ đảng hơn 6,7 ngàn người... Tỉnh thần đem việc phi tâu lên. Ngài (Minh Mạng) dụ quan Tổng đốc Hà Ninh là Đoàn Văn Trường, Tổng đốc Ninh Thái là Nguyễn Đình Phổ, với Lê Văn Đức bốn mặt hội lại đánh giặc...
Theo sách Bắc Kỳ tiễu phỉ (Quyển 50), thì Ba Nhàn và Tiền Bột định đưa quân lên Tuyên Quang cả thảy 2 lần để hiệp đồng với Nông Văn Vân nhưng đều không thực hiện được. 

Với Lê Văn Khôi

Nông Văn Vân là anh vợ của Lê Văn Khôi. Khi cuộc binh biến ở thành Phiên An nổ ra, vua Minh Mạng liền ban mật dụ cho các quan tỉnh Cao Bằng là phải tìm bắt cho được vợ con và thân thích của Lê Văn Khôi. Cuộc truy nã kéo dài ngót ba tháng, hàng trăm người lần lượt đã bị bắt giữ. Ngoài ra nhà vua cũng ra lệnh đón chặn các đường biển và đường núi, không cho quân nổi dậy cùng vũ khí từ Gia Định kéo ra Bắc và ngược lại.. 
Sau khi nghiên cứu Tộc phả Bế-Nguyễn và một số tư liệu khác, bước đầu GS. Nguyễn Phan Quang đã đưa ra một ý kiến như sau:
Kế hoạch phối hợp nổi dậy giữa Lê Văn KhôiNông Văn Vân đã được ghi trong "Bản triều bạn nghịch liệt truyện" của Kiều Oánh Mậu và trong một số truyền thuyết ở Cao Bằng... Cả hai ông đã thống nhất một ý đồ chung là phát động cuộc nổi dậy đồng thời trong phạm vi cả nước nhằm lật đổ triều Nguyễn... Rõ ràng không phải Lê Văn Khôi nổi dậy chỉ nhằm mục đích trả thù cho Lê Văn Duyệt, càng không phải vì thân thuộc của Lê Văn KhôiCao Bằng bị truy nã mà nổ ra cuộc nổi dậy Nông Văn Vân... Ý đồ trên đây đã chuẩn bị từ lâu và được xúc tiến khẩn trương khi Minh Mạng lên ngôi...