Chuyển đến nội dung chính

ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN 38

(ĐC sưu tầm trên NET)

Những bức ảnh làm cả thế giới bàng hoàng


  1. 24. Người Mỹ ở Việt Nam



    Bức ảnh của phóng viên chiến trường Larry Burrows chụp cảnh lính Mỹ ở chiến trường Nam Việt Nam năm 1966 - được đăng ngay sau đó trên tạp chí LIFE - đã củng cố thêm sự khẳng định của dư luận tiến bộ Mỹ rằng, người Mỹ lẽ ra không bao giờ nên tham chiến tại Việt Nam.




    Năm 1969, mỗi tuần, có đến hàng trăm lính Mỹ chết trận tại Việt Nam. Đây là những bức ảnh đã được đăng trên LIFE ngày ghi đầy đủ tên tuổi, quê quán của những lính Mỹ chết trận được Lầu năm góc thông báo trong Tuần lễ tưởng niệm tổ chức từ ngày 28/5 đến 3/6/1969. Đây là cơn ác mộng đối với nước Mỹ trong những ngày hè năm 1969.

    25. Vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki


    Đây là đám mây hình nấm do quả bom nguyên tử ném xuống Nagasaki, Nhật Bản vào năm 1945, cao đến 18 km.

    Hơn nửa thế kỷ qua, hình ảnh này vẫn là một trong những ký ức hãi hùng về chiến tranh và sự tàn bạo của con người. Theo ước tính, 140.000 người dân Hiroshima đã chết bởi vụ nổ cũng như bởi hậu quả của nó. Số người thiệt mạng ở Nagasaki là 74.000. Ở cả hai thành phố, phần lớn người chết là thường dân. :027:
    Vai trò của hai vụ nổ đối với việc nước Nhật đầu hàng, cũng như hậu quả và lý lẽ biện hộ cho việc thả bom vẫn là chủ đề còn bàn cãi. Ở Mỹ, quan điểm đa số cho rằng hai quả bom đã chấm dứt chiến tranh sớm hơn nhiều tháng và hạn chế thiệt hại sinh mạng các bên tham chiến. Với nước Nhật, dư luận cho rằng chúng là không cần thiết và hành vi chống lại dân thường là vô đạo đức.
    Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Đế quốc Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện Khối Đồng minh và ký vào văn kiện đầu hàng ngày 2 tháng 9 năm 1945, chính thức chấm dứt Thế chiến thứ hai.

    HIROSHIMA:
    Lúc 8 giờ 15 (giờ Hiroshima), chiếc Enola Gay thả quả bom nguyên tử "Little Boy" trên bầu trời trung tâm Hiroshima. Quả bom nổ cách mặt đất khoảng 600 m với đương lượng nổ 13 kiloton (vũ khí nguyên tử sử dụng U-235 bị coi là không có hiệu năng cao, chỉ có 1,38% khối lượng của chúng phân hạch), ngay lập tức giết chết ít nhất 90.000 người. Trong số này, có khoảng 2 ngàn người Mỹ gốc Nhật và từ 800 đến 1.000 người Mỹ khác mang hậu quả của vụ nổ. Họ là những công dân Mỹ đang theo học ở Nhật và không thể rời khỏi Nhật Bản khi chiến tranh nổ ra. Có thể có cả hàng trăm tù binh phe Đồng Minh chết trong lần này. Bán kính bị tàn phá là 1,6 km và cháy trên diện tích 4,4 km vuông. Ước tính 90% nhà cửa ở Hiroshima bị hủy diệt hoặc hư hại.

    Hiroshima trước khi bị ném bom


    Hiroshima sau khi bị ném bom



    NAGASAKI:
    Lúc 11 giờ 01, vào phút cuối cùng, mây đứt quãng trên bầu trời Nagasaki cho phép sĩ quan thả bom trên chiếc Bock's Car, Kermit Beahan, nhìn thấy sân vận động thành phố bằng mắt qua lớp mây mỏng. Quả bom "Fat Man", mang lõi khoảng 6,4 kg Plutonium 239 được thả xuống thung lũng công nghiệp của thành phố. 43 giây sau, nó nổ ở 469 mét cách mặt đất, ở giữa xưởng thép và vũ khí của Misubishi ở xưởng thủy lôi của Misubishi-Urakami. Vụ nổ có đương lượng 21 kiloton, nhiệt độ cao nhất đạt được là 3.871°C (7.000° Fahrenheit) và sức gió khoảng 1.000 km/giờ (624 mph).
    Lúc bom nổ, có khoảng 200 ngàn người trong thành phố. Quả bom thả vội vàng đã nổ ở đoạn giữa hai mục tiêu chính, xưởng thép và vũ khí ở phía bắc và xưởng thủy lôi ở phía nam. Nếu bom rơi chếch về phía nam, vùng thương mại và dân cư của thành phố có thể bị thiệt hại nặng nề hơn nhiều. Đây là yếu tố chủ yếu lý giải vì sao quả bom này với đương lượng nổ lớn hơn quả "Little Boy" ở Hiroshima nhưng gây thiệt hại ít trầm trọng hơn.
    Theo một số nguồn ước tính, 70.000 người trên tổng số 240.000 dân cư Nagasaki chết ngay và 60.000 người khác bị thương. Bán kính vụ nổ là 1,6 km, những đám cháy trải dài từ phần bắc của thành phố cho đến 3,2 km cách vụ nổ về phía nam. Một số lượng không tính toán được những người sống sót từ vụ nổ ở Hiroshima sơ tán đến Nagasaki và lại bị đánh bom ở đây.

    Nagasaki trước và sau khi bị ném bom:


    Mái vòm Bom Nguyên tử tại Khu Tưởng niệm Hòa bình Hiroshima, một tàn tích của thành phố gần như bị san phẳng bởi vụ ném bom nguyên tử xuống đây:


    26. Vụ thảm sát Nam Kinh

    Tháng 7/1937, cuộc đụng độ giữa binh lính Nhật Bản và Trung Quốc leo thang thành một cuộc chiến tranh tổng lực. Nhật Bản và Trung Quốc ở trong thế giằng co. Người Nhật tiến vào Thượng Hải và nhanh chóng tới Nam Kinh (thủ phủ tỉnh Giang Tô, miền đông Trung Quốc).
    Ngày 13/12/1937, quân Nhật chiếm đóng thành phố mà không gặp khó khăn nào. Cảm thấy bị sỉ nhục vì không chiếm được Trung Quốc trong vòng 3 tháng như đã hứa với Nhật hoàng, quân đội Nhật tiến hành chiến dịch giết người, hãm hiếp và cướp phá để trả thù cho tới tháng 3/1938.
    Theo ước tính của các sử gia và những tổ chức nhân đạo ở Nam Kinh vào thời đó, 250.000-350.000 người đã bị giết, trong đó có nhiều phụ nữ, trẻ em. Theo những người nước ngoài có mặt tại đây trong thời gian này, 20.000 phụ nữ đã bị cưỡng hiếp. Người Trung Quốc bị đưa đi hành quyết bên bờ sông Trường Giang. Những đống thi thể người bị thiêu la liệt tại đây. Những bức ảnh chụp lại thời đó cho thấy binh lính Nhật đứng cười ngay bên cạnh đống xác nạn nhân.
    Ở trong và ngoài thành phố, các thi thể phụ nữ nằm khắp nơi. Chẳng hạn, trong một ngôi nhà gần cổng ZinZhong, một phụ nữ ở độ tuổi 60 nằm đó, thi thể sưng húp lên; trên phố YangPi, một em gái đã chết, bụng bị mổ và ruột bị moi ra ngoài, hai mắt em mở trừng trừng, miệng vẫn còn dính máu. Trên phố GuYiDian, một em gái trạc 12 tuổi nằm đó, quần áo lót của em bị xé rách, mắt em nhắm, miệng mở. Thực tế này cho thấy những phụ nữ này không chỉ chết dưới bàn tay giết người của binh lính Nhật, mà họ còn bị đe doạ trước khi chết.
    Bên ngoài cổng HongWu, binh lính Nhật hãm hiếp một phụ nữ đang mang thai rồi cắt bụng nạn nhân, lấy thai nhi ra ngoài. Trong một vụ khác, binh lính Nhật muốn cưỡng hiếp một phụ nữ đang bụng mang dạ chửa, mẹ chồng cô tìm mọi cách ngăn lại. Lập tức, bà bị đá, còn người con dâu bị đâm. Lính Nhật còn dùng dao lấy bào thai ra ngoài.
    Phóng viên Tillman Durdin của tờ New York Times đưa tin về thời kỳ đầu cuộc thảm sát viết: "Tôi 29 tuổi và đó là câu chuyện lớn đầu tiên của tôi cho tờ New York Times. Vì vậy, tôi lái xe xuống sát mặt nước. Tôi phải vượt qua những đống xác người chất ở đó. Ôtô phải đi qua những xác chết đó. Ở sát bờ sông, tôi thấy một đám sĩ quan Nhật hút thuốc, nói chuyện giám sát việc thảm sát một tiểu đoàn lính Trung Quốc bị bắt. Lính Nhật đi thành nhóm khoảng 15 người, được trang bị súng máy. 200 người bị hành quyết trong vòng 10 phút trong sự cổ vũ, tán dương của các khán giả quân đội Nhật". Durdin kết luận vụ thảm sát Nam Kinh là "một trong những tội ác dã man nhất thời hiện đại".
    Nhà truyền giáo Thiên chúa giáo John Magee mô tả binh lính Nhật giết không chỉ tất cả các tù nhân mà họ tìm thấy mà cả một số lượng lớn các công dân bình thường ở mọi lứa tuổi. Nhiều người trong số này bị bắn hạ giống như những con thỏ bị săn ngay giữa đường phố. Sau một tuần lính Nhật tiến hành "giết, hiếp", Magee cùng các nhà truyền giáo phương tây khác thiết lập một khu an toàn quốc tế.
    Nhật ký của Minnie Vautrin, người phụ nữ Mỹ muốn giúp trong vụ thảm sát Nam Kinh, đề ngày 16/12 có đoạn: "Hôm nay, có lẽ không có tội ác nào xảy ra ở thành phố này. 30 em gái bị đưa khỏi trường ngôn ngữ (nơi tôi làm việc) đêm qua, và hôm nay tôi nghe thấy nhiều câu chuyện đau lòng của những em gái bị đưa ra khỏi nhà đêm qua - một trong những em đó mới 12 tuổi...".
    Sau này, bà viết: "Có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ biết mấy nghìn người đã bị tàn sát. Vì trong nhiều trường hợp, xác họ bị tẩm dầu rồi thiêu. Các thi thể cháy xém sẽ kể lại một vài bi kịch. Các sự kiện trong những ngày tiếp sau đó càng ngày càng mập mờ. Tuy nhiên, chắc chắn là có những câu chuyện để đời sẽ không xoá mờ khỏi tâm trí tôi cùng những người ở Nam Kinh trong thời kỳ này".
    Minnie Vautrin bị suy nhược thần kinh năm 1940 và trở lại Mỹ. Bà tự sát năm 1941.
    John Rabe, thủ lĩnh đảng Quốc xã tại Nam Kinh, cũng hoảng sợ trước tội ác của lính Nhật. Ông phụ trách khu vực an toàn quốc tế và đã kể lại những gì đã chứng kiến, ghi lại trên phim. Tuy nhiên, tất cả những điều này bị Đức Quốc xã cấm khi ông trở về Đức.
    Sau khi Thế chiến II kết thúc, một trong những binh lính ở Nam Kinh đã kể lại những gì đã thấy tận mắt. Azuma Shiro thừa nhận: "Có khoảng 37 ông già, bà già và trẻ em. Chúng tôi bắt họ và tập trung họ tại quảng trường. Một phụ nữ ôm hai con ở hai cánh tay. Chúng tôi đâm và giết họ, cả ba - giống như những củ khoai tây trên xiên nướng. Khi đó tôi nghĩ, tôi mới xa quê được một tháng... và 30 ngày sau, tôi giết người mà chẳng thấy động lòng".
    Shiro phải hứng chịu hậu quả vì những lời thú nhận: "Khi một triển lãm về chiến tranh mở ra ở Kyoto, tôi tới đó thú nhận. Người đầu tiên chỉ trích tôi là một phụ nữ ở Tokyo. Cô ấy nói tôi đã gây tổn hại đến những người quá cố. Cô ấy liên tục gọi điện cho tôi trong 3-4 ngày liền. Ngày một nhiều thư được gửi đến cho tôi. Tình hình nghiêm trọng tới mức cảnh sát phải bảo vệ tôi".
    Tuy nhiên, lời thú nhận đó đã bị nhà chức trách cấp cao ở Nhật Bản coi thường. Cựu bộ trưởng Tư pháp Shigeto Nagano khẳng định không có chuyện thảm sát từng xảy ra và đó là sự thêu dệt của Trung Quốc. Bản thân người Nhật cũng có ý kiến trái ngược về vấn đề này. Bộ phim Đừng khóc Nam Kinh do Trung Quốc và Hong Kong sản xuất năm 1995 phải mất vài năm sau mới được trình chiếu tại Nhật Bản.
    Nhiều quan chức và sử gia Nhật Bản thừa nhận giết người, cưỡng hiếp đã xảy ra, nhưng ở mức độ thấp hơn nhiều so với các bản tin cũng như bài phân tích. Giới chức và giới học giả nước này còn lập luận, dù thế nào chăng nữa thì những chuyện đó xảy ra trong thời kỳ chiến tranh
    Một số hình ảnh:






    và quá nhiều các hình ảnh rùng rợn khác mà mình chưa từng thấy trên đời, không dám đưa lên đây! :pray: Không thể tượng tượng đấy là hành động của những con người!
  2. 27. Thảm sát Mỹ Lai
    Thảm sát Sơn Mỹ hay thảm sát Mỹ Lai là một tội ác chiến tranh của quân đội Mỹ đã xảy ra trong Chiến tranh Việt Nam tại làng Sơn Mỹ thuộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.



    Ngày 16 tháng 3 năm 1968 một nhóm quân nhân Mỹ (đại đội Charlie thuộc lữ đoàn bộ binh 11) dưới sự chỉ huy của người thiếu úy 24 tuổi William Calley nhận nhiệm vụ chiếm đóng làng Sơn Mỹ và tìm du kích Việt Cộng.
    Các binh lính đã hãm hiếp phụ nữ và bắn chết gần như tất cả dân cư của làng: 503 thường dân, trong đó là 182 phụ nữ, 172 trẻ em, 89 đàn ông dưới 60 tuổi và 60 người già. Gần như không một quân nhân nào chống lại mệnh lệnh giết người. Chỉ có phi công trực thăng Hugh Thompson, bằng cách đe dọa sẽ bắn họ bằng súng máy của chiếc trực thăng, đã bắt buộc các quân nhân tha cho 11 người phụ nữ và trẻ em, những người được ông di tản đi. Đội lái máy bay trực thăng đã được tặng thưởng Huy chương Quân nhân (Soldier’s Medal) 30 năm sau đó cho hành động can thiệp này.
    Ngay sau vụ việc các sĩ quan chỉ huy đã tìm cách che đậy thảm sát này. Theo trình bày chính thức, tròn 20 thường dân đã chết không do cố ý trong lúc chiến đấu chống lại Việt Cộng. Chỉ đến ngày 5 tháng 12 năm 1969 mới xuất hiện một bài báo tường trình đầy đủ về vụ thảm sát trên tạp chí Life. Kế tiếp theo đó tạp chí Newsweek và Time cũng tường thuật về vụ việc này. Cả thế giới đã bị sốc. Chỉ có 4 quân nhân bị đưa ra tòa án quân sự. Người sĩ quan chỉ huy Calley bị tòa tuyên xử lao động bắt buộc chung thân nhưng được tổng thống Mỹ Richard Nixon ân xá thành 3 năm quản thúc tại gia.
    Nhà báo Seymour Hersh, người phát hiện ra tình huống bi kịch này đã nhận giải thưởng Pulitzer về tường thuật quốc tế năm 1970. Tường thuật của ông được minh họa bằng hình của nhà nhiếp ảnh Ron Haeberle. Người nhiếp ảnh này đã tham dự vào chiến dịch dưới tư cách là phóng viên quân đội chính thức nhằm cung cấp chứng cứ cho cái được gọi là "đếm xác" (body count) của thống kê quân sự. Các xác chết được chụp đã được các sĩ quan nhận dạng là những người Việt Cộng đã hy sinh. Thế nhưng người ta không gặp một người Việt Cộng nào trong làng và cũng không gặp kháng cự nào. Mặc dầu vậy quân đội Mỹ rất hài lòng với cuộc hành quân, không có quân nhân Mỹ nào chết hay bị thương và 128 người chết của phía bên kia. Phải mất 1 năm Hersh mới tìm được một nhà xuất bản sẵn sàng công bố câu chuyện và hình ảnh của ông.
    Việc xuất bản này đã đánh dấu một bước ngoặt trong cảm nghĩ của công chúng về Chiến tranh Việt Nam, cả ở Mỹ lẫn trong toàn bộ thế giới phương tây và đã góp phần quyết định vào việc tổng động viên của phong trào chống chiến tranh.



    28. Ất Dậu 1945: năm khủng khiếp!

    Nạn đói năm Ất Dậu là một nạn đói xảy ra tại miền Bắc Việt Nam trong khoảng từ tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945 làm khoảng từ 400.000 đến 2 triệu người dân chết đói.
    Không có số liệu chính xác về số người đã chết đói, nhưng một số nguồn khác nhau ước tính là từ khoảng 400.000 đến 2 triệu người đã bị chết đói tại miền bắc Việt Nam trong thời điểm này. Tháng 5 năm 1945, bảy tháng sau khi trận đói bùng nổ tại miền bắc, toà khâm sai tại Hà Nội ra lệnh cho các tỉnh miền Bắc phúc trình về tổn thất. Có 20 tỉnh báo cáo số người chết vì đói ở miền bắc là hơn 380.000, chết vì bệnh – không rõ nguyên nhân – là hơn 20.000, tổng cộng 400.000 cho riêng miền bắc. Tháng 10 năm 1945, theo báo cáo của một quan chức quân sự của Pháp tại Đông Dương khi đó là tướng Mordant thì khoảng nửa triệu người chết. Toàn quyền Pháp Jean Decoux thì viết trong hồi ký của ông về thời kỳ cầm quyền tại Đông Dương "À la barre de l’Indochine" – là có 1 triệu người miền Bắc chết đói. Các nhà sử học Việt Nam ước đoán là từ 1 đến 2 triệu. Nhiều nhà sử học sau này nêu con số 1 triệu trong khi những người sinh sống tại miền Bắc khi đó thì thiên về con số 2 triệu, là điều Hồ Chí Minh có nhắc đến trong bài Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945.

    Bức ảnh Hai em bé ở Thái Bình được coi là biểu tượng của nạn đói năm 1945:


    Những người chết đói ở trại Giáp Bát được cải táng về nghĩa trang Hợp Thiện (Hà Nội) - Ảnh: Võ An Ninh
    G]

    Vợ chết rồi, chồng nhìn con, chờ đến lượt mình rồi con mình ngã xuống - Ảnh: Võ An Ninh


    Người chết đói bên đường




    và một số hình ảnh khác:






    Các bro tham khảo thêm bài viết này nữa cho nó dễ hình dung:
    Hành trình của những “hồn ma”
    Đoạn trường đày ải

    Nghe chúng tôi nhắc tới hình ảnh những người đói kéo nhau lên Hà Nội, bà Chén (xã Tây Lương, Tiền Hải, Thái Bình) cố ngước đôi mắt mù lòa, lẩy bẩy đôi chân còm nhưng đã phù đỏ để đi ra ngõ. Bà nhớ từ cái ngõ này, 60 năm trước bà đã ôm con hòa cùng đoàn người lê theo sự dẫn dắt của cái đói.

    Đi đâu, về đâu thì không ai biết nhưng cứ từng đoàn từng đoàn rách rưới, giơ xương, trũng mắt như quỉ đói âm thầm, dắt díu nhau đi. Họ không phân biệt được nam nữ, già trẻ. Chỉ có thể thấy những thân hình dài ngắn không đều mà đoán trẻ con hay người lớn mà thôi. Họ đi chậm. Không ồn ào, không cười nói. Thỉnh thoảng có người đổ gục xuống đường không giãy giụa. Nhiều thây người bất động, mắt mở trừng trừng không biết sống hay chết.

    Tại các cổng chợ, ngã ba, đầu cầu, gốc cây họ nằm ngồi la liệt chìa tay ăn xin hay bới tìm lục lọi. Ngay đầu chợ, một người đàn bà có vẻ giàu có đi ngang qua, không hiểu bà ta kinh tởm hay ốm đau thế nào mà ôm bụng gập người nôn thốc nôn tháo. Hai ba đứa trẻ vội lao vào tranh nhau bốc bãi nôn, hối hả nhét vào mồm…

    Bà Chén cũng gặp nhiều người ôm con nhỏ như mình. Những đứa trẻ còn sức thì khóc, không còn thì lả gục trên vai mẹ. Một người đàn bà xin được chút gì đó để ăn, bà ta kéo đầu con để chia cho nó. Gọi hồi lâu người mẹ ấy mới biết con mình đã chết tự khi nào. Trong góc chợ lại có một người đàn bà nhe răng, trợn mắt nằm co quắp chết bên hai đứa trẻ.

    Thằng bé chắc chừng một tuổi không biết gì cứ hì hục nhay vú mẹ cho đến tận lúc tối trời. Bà Chén đi hai ngày một đêm như thế thì đến thị xã Thái Bình… Một số chết, một số ở lại, còn bà Chén và những đoàn người đói rách vô hồn đó cứ như thế tiếp tục đi lên Hà Nội…

    Trong Viện Sử học VN có lưu một bức thư của một tác giả nước ngoài là Vespy viết tháng 4-1945 tả về thảm cảnh của những cuộc hành trình này: “Họ đi thành rặng dài bất tuyệt, người nào người ấy rúm người dưới sự nghèo khổ, toàn thân lõa lồ, gầy guộc giơ xương, ngay cả những thiếu nữ đến tuổi dậy thì đáng lẽ hết sức e thẹn cũng thế.

    Thỉnh thoảng họ dừng lại vuốt mắt cho một người trong bọn đã ngã và không bao giờ dậy được nữa, hay để lột một miếng giẻ rách không biết gọi là gì cho đúng để che thân người đó. Nhìn những hình người xấu hơn con vật xấu nhất, nhìn thấy những xác chết nằm co quắp cạnh đường chỉ có vài nhành rơm vừa làm quần áo vừa làm vải liệm, người ta thật lấy làm xấu hổ cho cái kiếp con người”.

    Nhân tính tiêu tan... vì đói

    Lục tìm trong tâm khảm sâu thẳm, đau đớn nhưng chắc hẳn còn sáng rõ của mình, bà Chén nói: “Ánh mắt người đói lúc đó không có màu, không có thần. Nhiều lúc họ xử với nhau như thú đói, không nhân tính...”. Bà Chén lúc ấy bế một đứa con nhỏ trên tay. Dành dụm suốt từ đầu vụ đói, bà còn được mấy hào trong túi để dành cho chuyến đi này.

    Chợ Bo (thị xã Thái Bình) lúc đó là một bãi đất được căng lên những mảnh nilông, đay hay lá khô trên những chiếc cọc tre xiêu vẹo. Cả một biển người nằm ngồi lê la bới rác, xin ăn chập chờn như những bóng ma. Vài người ngồi xổm ánh mắt láo liên đầy cảnh giác bên những cái thúng úp mẹt và thường là có thêm một, hai người đàn ông to khỏe dựng đòn gánh đứng bên.

    Đó là những người bán hàng. Khoai, ngô, hay bánh cám, bánh đúc… trộn đầy trấu hoặc mùn cưa… Ai mua hàng phải chìa tiền. Đứng tới nửa ngày bà Chén mới cảm thấy có thể an toàn để lại gần người bán bánh hỏi mua. Thế nhưng đang định xé bánh cho con thì cả đám người đang nằm như thây ma vùng dậy vồ lấy mẹ con bà, tranh nhau chiếc bánh.

    Những ngày sau, trên dặm hành trình địa ngục ấy, tất cả số tiền bà có đủ để mua ba chiếc bánh thì bà đều bị cướp hết. Cuối cùng bà cũng chỉ còn cách chờ nhặt rác rưởi, cọng rau, xin ăn và tham gia cướp của kẻ khác như họ đã cướp của bà để ăn. Bà không nhớ mình đi mấy ngày, mấy tuần hay mấy tháng thì tới Hà Nội.

    Con trai bà Chén năm nay cũng đã ngoài 60 tuổi. Anh nói: “Những câu chuyện cướp bóc, thú tính trong nạn đói, 60 năm qua mẹ tôi không bao giờ muốn nhắc lại. Chỉ có một lần bà kể cho tôi nghe một câu chuyện kinh hoàng: khi bế con đi Hà Nội, qua sông Long Hầu bà thấy có hai bố con nhà nọ đói lả, phù thũng, chắc là sắp đến lúc chết. Người con chừng 7-10 tuổi.

    Không hiểu lúc ấy họ kiếm được thứ gì, chắc là có thể ăn được nên hai người tranh nhau rất dữ. Đứa con co cả người nắm chặt tay bố. Hồi lâu đẩy con ra không được, người cha liền co chân đạp con xuống cầu. Đứa trẻ cố níu lấy thành cầu, hai mắt không rời miếng ăn trên tay bố. Người cha lúc ấy kiên quyết hơn và ông ta đã đạp được đứa con rơi xuống nước rồi ngấu nghiến nhét thứ đó vào mồm...”.

    Theo điều tra của Viện Sử học tại xã Quảng Đại, Quảng Xương, Thanh Hóa: ông Viên Đình Hữu đói quá quẳng con trai 4 tuổi xuống sông Đơ. Ông Hoàng Bảo ở xóm Cháy (Đông Hưng, Thái Bình) thấy bố của ông Bắc (cùng xóm) thổi nồi cơm. Ông Bắc bóp cổ bố đến chết để ăn một mình...

    Suốt chặng đường khổ ải từ quê nhà lên Hà Nội, bà Chén còn gặp rất nhiều cảnh mẹ bỏ rơi con, chồng chạy trốn vợ, rồi cướp bóc, giết chóc lẫn nhau vì miếng ăn một cách đau thương và rùng rợn như vậy. Nhưng Hà Nội lúc này cũng là địa ngục...

    Hà Nội - điểm hẹn sinh tồn

    Ông Nguyễn Ngọc Liên, 82 tuổi, hiện trú tại phòng 105, nhà C6, khu tập thể Kim Liên, Hà Nội kể: “Ngày đó nhà tôi ở 233 phố Huế. Bắt đầu từ mùa đông năm 1944, tôi đã thấy những đoàn hình nhân vô cùng thảm hại ùn ùn dắt nhau qua các phố.

    Áo quần họ là miếng giẻ buộc túm dính vào những bộ xương lắc lư. Những cái đầu trơ sọ, đính hai con mắt vàng trũng thất thần. Ban đầu người hàng phố cho họ ăn những thứ có thể, nhưng càng ngày họ đến càng đông, hết lớp này đến lớp khác. Họ nằm, bò, lê và chết gục khắp đường, ngõ, vỉa hè...

    Ai còn sống thì cứ lang thang xin ăn, không ít trường hợp cướp giật, móc mồm người khác giành ăn. Của bố thí không thể đủ cho đoàn người đói khát. Họ chết ngày một nhiều. Một buổi sáng tôi vừa mở cửa thì hai xác chết lạnh cứng đổ ập vào tôi. Đến tận bây giờ tôi vẫn không quên được cảm giác hãi hùng và xót thương lúc đó”.

    Ông Đặng Văn Cự - 87 tuổi, hiện ở phường Giáp Bát, Hai Bà Trưng (Hà Nội) - nói: “Ban đầu cũng chia sẻ với bà con nhưng chúng tôi cũng đói, lương thực cạn kiệt và trước cảnh tàn ác của Pháp - Nhật thì cũng không dám chắc mai này mình có thoát cảnh ma đói hay không.

    Trong thành phố, nhiều thanh niên, nhà hảo tâm thành lập đoàn khất thực có trung tâm ở phố Hàng Da, quyên góp cơm cháo chia cho bà con. Nhưng vì số lượng quá lớn, tổ chức chỉ là tình cảm của một số người có điều kiện nên đoàn khất thực tồn tại không được bao lâu.

    Chúng tôi cũng bị cướp giật bánh trái, ngô khoai, nhưng không ai nỡ đánh đập người đói mà chỉ tránh né. Người làng tôi bán bánh thì làm bằng đất bày ở quầy, mẹt, thúng. Ai mua thì mới đến chỗ khác lấy bánh thật ra. Ai cướp thì chỉ cướp được bánh đất mà thôi”.

    Cảnh người đói sinh trộm cướp và bị giết chóc thì nhiều lắm. Ông Liên nhớ: một buổi chiều trên đường Trần Quang Khải bây giờ. Một đoàn bốn chiếc xe bò chở những bì lúa chất cao 3-4m. Mỗi xe có một người kéo và bốn người đẩy. Phía trước và sau có 9-10 tên lính Nhật súng gươm tuốt trần áp tải.

    Một người trong đám phu xe, bí mật dùng một chiếc dùi thép chừng 20 phân đâm một lỗ nhỏ vào bao lúa và gí một chiếc túi vải con vào hứng dòng lúa chảy. Tên lính Nhật phát hiện. Không nói gì, hắn dùng mũi kiếm đâm xuyên lưng người móc gạo. Nạn nhân rú lên một tiếng rồi đổ gục xuống đường, lênh láng máu. Đoàn xe vẫn tiếp tục đi...

    Những dòng người khất thực đã kéo nhau đi trong đói lả vật vờ... Rồi họ cũng tìm đến điểm cuối cùng của cuộc hành trình - nơi chấm dứt mọi nỗi dày vò đau đớn của một kiếp người. Của triệu kiếp người...
    (Sưu tầm)

    Hiroshima: Những bức ảnh kinh hoàng chưa từng tiết lộ
    [source : Dantri]

    Đầu tháng 8/1945, hai quả bom nguyên tử ném xuống thành phố Hiroshima và Nagasaki đã cướp đi sinh mạng của 250.000 người và trở thành cuộc thảm sát khốc liệt nhất trong lịch sử cận đại. Nhưng phải đến 60 năm sau, chính phủ Nhật Bản mới chính thức cho tiết lộ những bức ảnh tuyệt mật ghi lại sự kiện này.



    1. Tàn tích


    Không một chứng tích nào khác có thể minh họa sức nóng khủng khiếp phát ra từ vụ nổ hơn những hiện thực trần trụi được ghi lại dưới đây. Đó là những vết rạn chân chim hằn in trên mặt cầu Yorozuyo, nằm cách tâm bom chừng nửa km về phía tây nam.



    Là khe nứt toạc trên bậc thềm tam cấp dẫn vào một ngân hàng ở Hiroshima - ngay tại nơi này, 1 nạn nhân xấu số đã bị thiêu rụi trong phút chốc.



    Những gì còn lại của một cơ thể sống - mấy giây trước vẫn còn ngồi nhẩn nha ngay gần trung tâm vụ nổ - giờ chỉ là những đường nét dáng hình hằn in trên tường đá.



    Tất cả đồng hồ được tìm thấy trong vùng bình địa nhất loạt dừng lại ở con số 8h15 phút sáng - thời điểm quả bom phát nổ.



    2. Toàn cảnh cuộc thảm sát đẫm máu

    Đúng 8h15 phút sáng ngày 6/8/1945, quả bom nguyên tử phát nổ ở độ cao 580 m trên bầu trời Hiroshima, tạo nên một khối cầu lửa khổng lồ và phát tán khắp bề mặt thành phố sức nóng 4.000 độ C. Bức xạ và sóng nén áp suất cao lan tỏa khắp bốn phương tám hướng, thiêu rụi hàng chục ngàn người và gia súc, làm tan chảy tất cả các tòa nhà và xe cộ. Trong nháy mắt, thành phố 400 năm tuổi tan thành tro bụi.



    Trẻ em, phụ nữ tê liệt trong đúng các tư thế sinh hoạt thường ngày, lục phủ ngũ tạng bị luộc chín, xương cháy thành than bụi.



    Ngay chính tâm vụ nổ, nhiệt độ đủ sức làm nóng chảy cả thép và bê tông. Chưa đầy vài phút, 75.000 người thiệt mạng và bị thương nặng, 65% trong số đó là trẻ em dưới 10 tuổi.

    Số nạn nhân bỏ mạng bởi tàn dư của sóng bức xạ tiếp tục gia tăng với số lượng lớn vào nhiều ngày sau. “Sức khỏe của họ suy sụp bất ngờ. Chán ăn, rụng tóc, khắp người nổi vết lở loét màu xanh, và máu thì cứ vô cớ ồng ộc tuôn ra từ tai, mũi, họng”.



    Các bác sĩ đã cố gắng tiêm vào cơ thể vitamin A liều lượng cao, nhưng hậu quả còn kinh hoàng hơn: máu bắt đầu túa ra từ những vết kim châm. Gần như không bệnh nhân nào qua khỏi.





    3. Số phận của những “hibakusha”

    Hibakusha là thuật ngữ khá phổ biến ở Nhật Bản, chỉ những nạn nhân mang trên mình tàn tích vụ nổ bom nguyên tử Hiroshima và Nagasaki.



    Họ và đám con cháu bị xã hội phân biệt đối xử thậm tệ, do phần lớn dân chúng thiếu hiểu biết về bệnh phóng xạ, cho rằng những bệnh này có thể lây nhiễm hoặc di truyền từ đời cha sang đời con.



    Họ bị sa thải khỏi các nhà máy. Phụ nữ hibakusha không bao giờ lấy được chồng, do nỗi sợ hãi sẽ đẻ ra những đứa con quái thai. Đàn ông hibakusha cũng chung số phận, vì “chẳng ai muốn chung sống với 1 người mà tính mệnh chỉ tính bằng vài năm nữa”.



    4. Yosuke Yamahata - tác giả những tấm hình có sức tố cáo cao nhất mọi thời đại


    Nhiếp ảnh gia Yosuke Yamahata

    10/8/1945, một ngày sau vụ thả bom nguyên tử tại thành phố Nagasaki, phóng viên ảnh Yosuke Yamahata bắt đầu ghi lại những hình ảnh đầu tiên về cuộc thảm sát tàn khốc nhất trong lịch sử Nhật Bản. Cả thành phố là 1 biển chết, ngập trong gạch vữa đổ nát và xác người cháy trụi.

    Bộ ảnh của Yamahata được đánh giá minh chứng sống động nhất, đầy đủ nhất hậu quả thảm khốc của vụ bom nguyên tử trên nước Nhật. Tạp chí New York Times đã từng gọi chúng là “Những bức ảnh mang sức mạnh tố cáo cao nhất mọi thời đại”.

    Yamahata đổ bệnh nặng vào ngày 6/8/1965, đúng ngày sinh nhật lần thứ 48 và cũng là ngày tưởng nhớ lần thứ 20 những nạn nhân trong vụ ném bom ở thành phố Hiroshima. Khi đó, ông đã bước giai đoạn cuối của bệnh ung thư tá tràng - di chứng từ chất phóng xạ còn đọng lại từ năm 1945.

    Ông qua đời ngày 18/4/1966 và được chôn cất tại nghĩa trang Tam, Tokyo.









    ----------------------------------------------------------------------------------------
    [source : nuocnga.net]

    Giáo sư người Anh Blê-két nhận xét rằng việc ném bom nguyên tử "không phải là hoạt động kết thúc cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, mà là hoạt động đầu tiên của chiến tranh lạnh".

    Một ý kiến khác:

    Mỹ vội thả 2 quả bom ngày đó vì đó là cơ hội (có thể là cuối cùng) để thử nghiệm sức công phá trên thực tế của vũ khí nguyên tử đối với con người!
  3. 29. Thảm sát Katyn

    Thảm sát Katyń, hay Thảm sát Rừng Katyń, là vụ Liên Xô hành quyết hàng loạt các công dân Ba Lan trong Đệ nhị thế chiến. Thoạt tiên cụm từ này chỉ vụ thảm sát các sĩ quan Ba Lan bị giam ở trại Kozelsk trong khu rừng Katyń gần làng Gnezdovo, cách không xa Smolensk. Về sau, nó bao hàm cả việc giết hại khoảng 22.000 công dân Ba Lan, tù binh ở các trại Kozelsk, Starobelsk và Ostashkov và tù nhân ở các nhà lao ở Tây Belarus, Tây Ukraina, bị bắn theo lệnh Stalin trong khu rừng Katyn và tù nhân ở Kalinin (Tver), Kharkov và các thành phố khác của Liên Xô.
    Sau khi Đức Quốc Xã và Liên Xô tấn công và đánh bại Ba Lan vào tháng 9 năm 1939, nhiều người Ba Lan đã bị bắt làm tù binh. Họ bị giam trong nhiều trại tù như Ostashkov, Kozelsk và Starobelsk. Kozelsk và Starobelsk chủ yếu dành cho sĩ quan, còn Ostashkov thì dành cho thám tử, sen đầm, cảnh sát và giám ngục. Trái với một nhầm lẫn phổ biến, trong số 15.000 tù binh trong các trại này chỉ có chừng 8.000 sĩ quan.
    Do chế độ quân dịch cưỡng bách của Ba Lan bắt buộc mọi sinh viên tốt nghiệp đại học phải làm sĩ quan dự bị, nên phe Xô Viết đã bắt phần lớn giới trí thức Ba Lan, người Do Thái và Belarus.
    Ngày 5 tháng 3 năm 1940, theo một tờ trình do Dân uỷ Nội vụ (bộ trưởng nội vụ) Lavrenty Pavlovich Beria trình lên Stalin, các uỷ viên Bộ Chính trị Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản toàn liên bang – Stalin, Kliment Yefremovich Voroshilov, Vyacheslav Mikhailovich Molotov, Anastas Ivanovich Mikoyan, Mikhail Ivanovich Kalinin, Lazar Moiseyevich Kaganovich và Lavrenty Beria – ký lệnh hành quyết bọn "dân tộc chủ nghĩa và phản cách mạng" đang bị giam trong các trại và nhà lao ở các phần lãnh thổ bị chiếm đóng miền Tây Ukraina và Belarus. Kết quả là khoảng 22.000 công dân Ba Lan đã bị giết hại, trong đó có chừng 15.000 tù binh. Định nghĩa rộng rãi những kẻ tội đồ đã chụp lên một số đáng kể giới trí thức Ba Lan, thêm vào số cảnh sát, sĩ quan chính quy và dự bị.

    Một số hình ảnh:












    Bro nào muốn tham khảo thêm thì vào đây:
    http://www.katyn.org.au/naziphotos.html


    30. Thảm hoạ Sóng thần Ấn Độ Dương năm 2004



    Thảm hoạ Sóng thần Ấn Độ Dương năm 2004, được biết đến trong cộng đồng khoa học như là Cơn địa chấn Sumatra-Andaman, là một trận động đất xảy ra dưới đáy biển lúc 00:58:53 UTC (07:58:53 giờ địa phương) ngày 26 tháng 12 năm 2004. Trận động đất kích hoạt một chuỗi các đợt sóng thần chết người lan toả khắp Ấn Độ Dương, cướp sinh mạng một số lượng lớn cư dân và tàn phá các cộng đồng dân cư sinh sống ven biển ở Indonesia, Sri Lanka, Ấn Độ, Thái Lan và những nơi khác. Từ những ước tính ban đầu, người ta cho rằng hơn 283.100 người chết, nhưng những phân tích mới đây cho thấy con số tử vong chính xác là 186.983, với 42.883 trường hợp mất tích, trong tổng số 229.886 nạn nhân. Cho đến nay, thiên tai này là một trong những thảm hoạ gây nhiều tử vong nhất trong lịch sử thế giới hiện đại. Các phương tiện truyền thông quốc tế và người dân châu Á gọi nó là Sóng thần Á châu, trong khi tại Úc, Tân Tây Lan, Canada và Anh người ta gọi nó là Sóng thần ngày lễ Từ thiện (Boxing Day) bởi vì nó xảy ra ngay vào ngày lễ này.
    Cường độ của trận động đất lúc đầu đo được 9.0 (trên thang Richter), nhưng sau tăng lên ở khoảng giữa 9.1 và 9.3. Với cường độ này, đây là trận động đất lớn thứ hai từng được ghi nhận bởi địa chấn kế, chỉ đứng sau trận động đất lớn ở Chile ngày 22 tháng 5 năm 1960 có cường độ 9.5. Cơn địa chấn Ấn Độ Dương làm rung chuyển mặt đất với cường độ 100 lần mạnh hơn trận động đất Loma Prieta xảy ra năm 1989. Nó có thời gian kéo dài lâu nhất mà người ta có thể ghi nhận được, từ 500 đến 600 giây. Độ lan toả của nó đủ lớn để có thể khiến tinh cầu của chúng ta dịch chuyển ít nhất là nửa inch, tức là hơn một centimeter. Nó cũng kích hoạt các trận động đất ở những khu vực khác, đến tận Alaska.
    Cơn địa chấn khủng khiếp này khởi phát ở Ấn Độ Dương ngay phía bắc đảo Simeulue, ngoài khơi bờ biển phía tây của miền bắc Sumatra, Indonesia. Những đợt sóng thần sản sinh từ nó đã tàn phá vùng duyên hải Indonesia, Sri Lanka, Nam Phi, Thái Lan và những quốc gia khác với những con sóng cao đến 30 m (100 ft), gây thiệt hại nghiêm trọng và mang chết chóc đến tận bờ biển phía đông châu Phi, nơi xa nhất có ghi nhận tử vong do sóng thần là ở Cảng Elizabeth, Nam Phi, 8000 km (5.000 ml) cách xa tâm chấn.

    Và đây là hậu quả của nó:
















  4. 31. Chủ nghĩa Phát xít - kẻ sát nhân kinh tởm nhất của mọi thời đại
    Vào cuối năm 1944, quân đội Xô Viết tiến vào lãnh thổ Đức qua ngã Ba Lan, họ đã gặp trại tử thần Majdanck bên trong có trang bị nhiều phòng hơi ngạt và nhiều lò hỏa thiêu để tận diệt các người Do Thái. Nhiều phóng viên báo chí đã đi vào trong trại này và đã phổ biến những điều mắt thấy tai nghe. Ký giả H. W. Lawrence đã viết cho tờ báo New York Times: “Tôi đã nhìn thấy một nơi khủng khiếp nhất trên trái đất”.

    Tới mùa xuân năm 1945, địa danh của các trại tập trung người Do Thái như Ohrdruf, Buchenwald, Dachau, Nordhausen, Auschwitz... vẫn chỉ là những tên gọi tầm thường trên các bản đồ quân sự nhưng khi đoàn quân Hoa Kỳ đã tiến vào Ohrdruf ngày 6/4/1945, các quân nhân Mỹ đã nhìn thấy nhiều bãi đất chứa thây người chết, đa số thối rữa giữa ánh nắng tháng 4, một số khác là các đống xác người rất lớn, hỏa thiêu giữa trời và cháy dở dang, còn các tù nhân sống sót trông giống như các bộ xương biết đi. Mùi tử khí xông lên nồng nặc. Các cảnh tàn sát các tù nhân, các cảnh giết người dã man tàn ác này đã ra ngoài sức tưởng tượng của các người lính Hoa Kỳ.







    Holocaust là hệ thống lò hỏa thiêu 6 triệu người Do Thái do bọn Quốc Xã Đức (the Nazis) và các kẻ cộng tác gây nên trong thời kỳ Thế Chiến Thứ Hai. Bọn Quốc Xã đã gọi công việc tàn sát tập thể này bằng danh từ “Giải pháp cuối cùng của vấn đề Do Thái” (the Final Solution to the Jewish Problem).
















    Răng của người Do thái sau các vụ tàn sát::pray:


    Còn đây là kính! :pray:
  5. 31. Trại tập trung Auschwitz


    Auschwitz là cái tên Đức hóa cho thị trấn Owiêcim (Ba Lan, cách Krakow 60km về phía tây nam). Trại tập trung Auschwitz lập ngày 14.6.1940, ban đầu để giam giữ tù chính trị Ba Lan. Chỉ huy trại là Rudolph Hess.

    Năm 1942, Himmler nhận ra đây là nơi lý tưởng để Đức quốc xã thực hiện học thuyết "giải pháp chung thẩm" về người Do Thái ở châu Âu. Auschwitz là nơi tù nhân phải chịu những hình thức tra tấn dã man nhất. Dưới sự giám sát "Tiến sĩ" Josef Mengele, các "bác sĩ" SS thực hiện những thử nghiệm bẩn thỉu nhất trên cơ thể tù nhân, chẳng hạn thử nghiệm gene trên những cặp sinh đôi, trong khi "giáo sư" phụ khoa Carl Clauberg dùng các loại thuốc chích để buộc phụ nữ Do Thái tắt đường sinh đẻ, với mục tiêu kiểm soát chặt số trẻ con gốc Slave và diệt trừ thế hệ Do Thái.

    Một hình thức tra tấn khác là "phiên trực", tù nhân bị gọi bất kể đêm ngày, thời tiết lạnh, để "đứng gác" ngoài trời lạnh giá nhiều giờ. Ai đứng không nổi đều bị quản giáo bắn chết. Bị bỏ đói đến chết cũng là một hình thức trừng phạt.

    Ban đầu tù nhân chỉ bị xử tử bằng súng. Sau này trại bị quá tải, ban quản giáo lập hình thức "xử lý" hiệu quả hơn. Cuộc thử nghiệm đầu tiên tổ chức tháng 9.1941: bơm khí hydrogen cyanide (có tên Zyclon B hay Cyclone B) thử nghiệm với 250 và 600 tù binh Ba Lan và Nga. Hiệu quả tức thì nên Himmler "duyệt" áp dụng đại trà.

    Về sau trại "gốc" quá tải, quốc xã lập trại thứ hai lớn hơn ở Brzezinka (tên Đức hóa là Birkenau, cách Auschwitz 3km) và gọi là Auschwitz II. Ở đây có thể giam cùng lúc 100.000 tù nhân và liên tục tống người Do Thái vào phòng hơi ngạt. Khi nghe lệnh "đi tắm", tù nhân buộc phải cởi quần áo, rồi cứ từng đợt 2.500 người trần truồng vào "phòng tắm" Zyclon B phun từ các vòi sen. Trước khi bị thiêu, tù nhân đều bị cạo trọc đầu để lấy tóc dệt thành quần áo tù và làm vải lọc vàng. Đồ trang sức của họ cũng bị lột để bán lấy "kinh phí hỗ trợ nỗ lực chiến tranh".

    Tháng 11.1944, trước sức tấn công của Hồng quân LX, quân Đức tháo chạy khỏi Auschwitz và đến ngày 27.1. 1945 Auschwitz được giải phóng, chỉ còn 7.500 tù nhân sống thoi thóp rời trại.

    Theo nhà sử học Teresa Wiebocka (Ba Lan, hiện là quản thủ bảo tàng Auschwitz – Birkenau), quốc xã giam ít nhất 1.100.000 Do Thái, gần 150.000 người Ba Lan, 23.000 người du mục Gypsies, 15.000 tù binh LX và hàng chục ngàn tù nhân các nước khác tại Auschwitz.

    Năm 1947, Chính phủ Ba Lan lập Bảo tàng Auschwitz nay Bảo tàng là di sản thế giới UNESCO.

    Cho đến đầu năm nay, đã có 25 triệu người đến tham quan Auschwitz, nơi trở thành nghĩa trang lớn nhất thế giới dù không có một nấm mộ nào.

    Một số hình ảnh:
    Những đường ray tử thần đưa các con tà u chở đầy nạn nhân từ khu vực châu Âu bị chiếm đóng tới Auschwitz gần như hằng ngày từ năm 1942 đến mùa hè năm 1944.


    Lính gác kiểm tra người mới đến để xác định họ có đủ điều kiện "được" lao động cưỡng bức hay không. Hầu hết là không và bị chuyển ngay tới các phòng khí độc. Các phòng khí độc ngày một rộng lớn trong chiến tranh. Cuối cùng, một khu liên hợp gồm 4 toà nhà lớn, trong đó có khu lột quần áo, phòng khí độc và lò hoả thiêu, được thiết lập. Tư trang của các nạn nhân bị tịch thu và gửi trở lại Đức.


    Điều kiện sống trong trại vô cùng khắc nghiệt. Nhiều tù nhân cùng ngủ trên một chiếc giường. Giường thì chỉ là phản gỗ cứng. Tù nhân phải nằm rúc vào nhau để giữ ấm trong mùa đông và cùng nhau chịu đựng cái nóng của mùa hè.


    Sau khi thực thi một số biện pháp giết người hàng loạt, Đức Quốc xã quyết định sử dụng Zyklon B, loại khí trước đó được dùng để tẩy uế, tại Auschwitz. Các nạn nhân bị tổng cùng một lúc vào phòng được nguỵ trang dưới hình thức nhà tắm rồi bị thiêu sống trong các lò được thiết kế riêng cho mục đích này. Xe đẩy chạy ra vào lò để các nạn nhân bị thiêu nhanh hơn. Khoảng một triệu người Do Thái bị giết hại trong trại. Đây chính là các lò thiêu làm nên "tên tuổi" của con thú Phát xít! :pray:



    Trẻ em, vì còn quá nhỏ nên không thể trở thành lao động cưỡng bức, bị giết ngay sau khi tới Auschwitz.

    Tuy nhiên, Hồng quân Liên Xô tìm thấy một số em mặc đồng phục trại khi giải phóng nơi này. Các bác sĩ của Phát xít Đức đã tiến hành các xét nghiệm, tiêm những loại thuốc bí hiểm và nhỏ loại thuốc mắt gây mù. Một số em bị hoạn, một số chết trong cuộc thử tội.


    Giẻ lau và thảm làm bắng tóc của nạn nhân


    Auschwitz Museum Sculpture


    Xem thêm:
    http://www.pbase.com/diasdosreis/auschwitz

    Các bạn đọc thêm bài này nữa!
    Nguồn http://www.avanglion.hu

    AUSCHWITZ

    “Không lời lẽ nào có thể diễn tả sự nhục nhã và tàn phá này của nhân loại!”

    Đó là nhận định được nêu ra với hệ thống trại tập trung và hủy diệt của nước Đức quốc xã trong Đệ nhị Thế chiến, mà được biết đến nhiều nhất là khu trại chính - thường được gọi là “trại mẹ” - mang tên Auschwitz - Birkenau, tại một thành phố nhỏ ở phía Nam Ba Lan, cách cố đô Cracow chừng 60 cây số về phía Tây. Ở đây, trong thập niên 40 thế kỷ trước, vỏn vẹn trong vòng chưa đầy 4 năm, ít nhất đã có tới hơn 1,5 triệu người bị thiệt mạng - hơn 90% số này là dân Do Thái. Kể từ thời điểm đó, cái tên Auschwitz đã trở thành biểu tượng của holocaust, của khủng bố và hủy diệt, cũng như của sự chà đạp thô bạo những quyền con người căn bản nhất.

    Trở lại lịch sử hơn 60 năm về trước, sự hình thành và hoạt động của hệ thống trại tập trung phát-xít Đức gắn liền với tư tưởng về hệ chính trị quốc xã. Năm 1933, ngay từ khi lên nắm quyền, lãnh tụ phát-xít Adolf Hitler đã tuyên bố rằng ông ta tìm ra một lý tưởng mới cho nước Đức; ấy là, một dân tộc “thượng đẳng” như Đức không thể chấp nhận sự tồn tại của các sắc dân “hạ đẳng” khác, như Do Thái, Nga, Đông Âu, Tzigane, hoặc những người tàn tật, bị bệnh tâm thần hay đồng tính luyến ái… Mặt khác, sự bành trước vô độ để giành “không gian sinh tồn” của nước Đức quốc xã cũng là một lý do được đưa ra từ trước Đệ nhị Thế chiến để tàn sát người dân ở những vùng bị Đức chiếm đóng.

    Trên cơ sở lý luận ấy, hệ thống trại tập trung và hủy diệt Auschwitz - Birkenau đã được hình thành vào mùa Xuân năm 1940, sau khi Đức bắt tay với Liên Xô tấn công Ba Lan và xóa sổ quốc gia này trên bản đồ thế giới. Một doanh trại quân đội gồm 20 tòa nhà đã được chọn làm địa điểm cho khu “trại mẹ”, về sau được cả thế giới biết đến với cái tên kinh hoàng: “Trại tử thần”. Nằm ngoài ngoại ô thành phố nhỏ Oswiecim (sau bị đổi theo tiếng Đức thành Auschwitz), dễ cách ly với thế giới bên ngoài, nhưng lại thuận tiện giao thông với các thành phố khác ở Ba Lan và khá gần cửa khẩu - đó là những lý do khiến phát-xít Đức chọn nơi đây làm trung tâm cho sự hủy diệt và thảm sát hàng loạt các sắc dân bị coi là “hạ đẳng”.

    Lần lượt, tù nhân từ các nước bị chiếm đóng trên toàn Châu Âu được đưa về đây; đại bộ phận số này là người Do Thái vì, theo một dự kiến còn để lại trong văn bản, Đức quốc xã trù liệu trong vài năm, sẽ phải giết 11 triệu người Do Thái tại Châu Âu. Tuy không thể đưa ra được những con số thông kê thật chính xác, nhưng tính đến đầu tháng Giêng năm 1945, khi các đạo quân Liên Xô chiếm được khu “trại mẹ” Auschwitz, vài triệu người đã bỏ mình tại nơi này!

    Năm 1947, chính phủ Ba Lan ra quyết định trùng tu lại khu “trại mẹ” thành một viện bảo tàng tưởng nhớ những nạn nhân của độc tài phát-xít. Mang tên Bảo tàng Quốc gia Auschwitz - Birkenau, bảo tàng viện này là nơi cất giữ những bằng chứng về tội ác diệt chủng và chống nhân loại của phát-xít Đức, cũng như, nó tạo điều kiện cho các nhà khoa học và các thế hệ về sau có thể tìm hiểu, nghiên cứu và biết đến một trong những tấn thảm kịch lớn nhất của nhân loại. Từ năm 1979, Bảo tàng Quốc gia Auschwitz - Birkenau được liệt vào danh mục những di sản văn hóa thế giới được Liên Hiệp Quốc công nhận và tính đến nay, vài chục triệu khách từ khắp nơi trên thế giới đã đến nơi đây để chứng kiến “Vùng đất tử thần” một thời.

    Cho dù hơn 60 năm đã trôi qua, nhưng bất cứ ai có dịp qua khu “trại mẹ” Auschwitz 1 và 2 vẫn còn có trong mình cảm giác hãi hùng. Đặt chân xuống sân ga tàu hỏa dẫn tới “Cửa tử thần” của trại Auschwitz 2, nơi mà các đường ray tàu hỏa đều kết thúc và người tù biết chắc mình sẽ không còn lối ra, chúng ta được mục sở thị cái gọi là “phát kiến độc đáo” của phát-xít Đức. Hơn nửa thế kỷ trước, tù nhân bị chở bằng tàu hỏa đến Auschwitz lập tức bị tước mọi hành lý ở đây, bị tách khỏi vợ, chồng, con cái, gia đình… và phải trải qua màn chọn lựa của các “bác sĩ tử thần” người Đức. Chừng 70-75% số họ, hoặc có khi hơn thế nữa, những người già, trẻ em, phụ nữ mang thai và người có bệnh bị đưa thẳng từ sân ga đến phòng hơi ngạt. Số còn lại, được coi là có khả năng lao động trong các xưởng chiến khí và công nghiệp của Đức, được đưa vào trại tập trung để rồi, nhiều người đã thiệt mạng trong thời gian ngắn vì cơ cực.

    Bước vào trại Auschwitz 1, chúng ta sẽ phải bàng hoàng trước hàng chữ vô sỉ và khét tiếng trên cổng chính: “Lao động giải phóng con người” (Arbeit macht frei). Bởi lẽ, trớ trêu thay, cho dù hàng ngày vẫn đi qua chiếc cổng đó - trong tiếng nhạc rộn ràng của dàn nhạc - để đến các xưởng, các nhà máy, nhưng lao động không hề giải phóng bất cứ ai; ngược lại, tù nhân trong trại chết dần chết mòn vì đói khát, khổ cực, bệnh tật và bị hành hạ. Những ai dám “trái lệnh” đều bị trừng phạt nặng nề dưới nhiều hình thức. Tại tầng hầm của tòa nhà số 11, còn được gọi là “Tòa nhà tử thần”, chúng ta được chứng kiến những xà-lim cấm cố nhỏ đến mức tù nhân không thể cựa quậy được. Không ít người đã bị bỏ đói và chết tại đây, hoặc vì lạnh lẽo và nhục hình. Nhiều người còn bị lính Đức xả súng bắn ngay tại chỗ hoặc bên “Bức tường chết chóc” cạnh tòa nhà số 11, bị treo cổ hàng loạt trên những giá treo cổ di động, bị giết bằng độc dược hoặc bị đưa vào phòng hơi độc. Vô số phụ nữ và trẻ em bị làm vật thử nghiệm và chết dưới tay các bác sĩ tử thần như Josef Mengele, hay GS TS Carl Clauberg, kẻ đã tự hào tuyên bố rằng chỉ cần 1 thày thuốc “có tay nghề” và một nhóm phụ tá 10 người, kèm một địa điểm được trang bị phù hợp, hàng ngày, họ có thể tiến hành triệt sản cho hàng ngàn phụ nữ!

    Tuy nhiên, để lại nỗi kinh hoàng và cảm giác ghê sợ ở mức độ lớn nhất đối với những ai đến thăm Auschwitz - Birkenau, vẫn là hệ thống phòng hơi ngạt, lò thiêu xác cùng những vật chứng rợn người: hàng tấn tóc (từng được các công ty Đức trả giá rẻ mạt để làm vải!), hàng ngàn chiếc va-li, những cặp kính, thìa dĩa, quần áo, đồ chơi trẻ em và vật dụng của những nạn nhân. Đại đa số tù nhân đến Auschwitz đã chết thảm trong các phòng hơi ngạt mà không hề hay biết gì về số phận của mình! Ngay sau khi được “chọn lọc” ngoài sân ga, những ai bị coi là “không có khả năng lao động” được hứa cho “đi tắm” để rồi sẽ gặp lại thân nhân, gia đình. Sau chuyến đi dài và mệt nhọc, không ai nghi ngờ gì khi bước vào căn phòng lớn, có đường ống dẫn nước bề ngoài như một nhà tắm; có điều, nước không bao giờ chảy ở đây, thay vào đó là hơi độc khiến hàng ngàn người thiệt mạng trong vòng 15-20 phút. Xác chết được thiêu hàng loạt trong lò thiêu; tuy nhiên, những khi quá tải, lính Đức làm việc này ngay ngoài trời rồi thả tro đi khắp nơi…

    Khách tới thăm Auschwitz - Birkenau còn được biết đến lòng quả cảm và những hành động anh hùng của những con người từng phút phải đối mặt với cái chết của trại hủy diệt. Nhiều tù nhân đã kháng cự, hay tìm cách vượt ngục với một mục đích cao cả, là đưa tội ác diệt chủng tại Auschwitz - mà phát-xít Đức vẫn tìm mọi cách để che giấu - ra trước công luận thế giới. Lịch sử còn ghi lại tấm gương những người - nhiều khi vô danh - đã làm sáng lên ngọn lửa của hy vọng và phẩm giá con người trong cảnh khốn cùng. Ở đây, nhất thiết phải nhắc đến hành động của cha Maksymilian Maria, một nhà tu hành người Ba Lan, đã công khai chịu chết thay cho một bạn tù bị án tử hình bằng cách bỏ đói. Người bạn ấy cuối cùng đã sống sót, và bằng cái chết cao cả của mình, cha Maksymilian đã được Giáo hội Công giáo La Mã phong Thánh vào năm 1982, như một biểu tượng của sự phản kháng và hy sinh quên mình tại Auschwitz - Birkenau.

    Du khách tới Auschwitz, ngày nay, vẫn có thể chứng kiến xà-lim tử tội tại tầng hầm “Tòa nhà tử thần”, nơi cha Maksymilian đã chết thay cho bạn, và nơi gần 40 năm sau, cố Đức Giáo hoàng Jean Paul Đệ nhị, khi nghiêng mình tưởng nhớ người đồng hương, đã nói: “Biết bao chiến thắng như thế đã nảy sinh từ đây!” Quả vậy, cho dù từng là cõi chết, nhưng
    Auschwitz vĩnh viễn là bài ca chiến thắng của cuộc sống trước sự hủy diệt, của niềm tin và phẩm giá trước sự vô nhân và tàn bạo. Năm 1996, chính phủ CHLB Đức đã công bố coi ngày 27-1-1945, thời điểm Auschwitz được giải phóng, là ngày tưởng niệm những nạn nhân của độc tài quốc xã. Năm 2005, các thành viên của Nghị viện Châu Âu đã dành 1 phút mặc niệm để thông qua quyết định tưởng nhớ các nạn nhân và lên án tấn thảm kịch holocaust, cũng như, để cảnh cáo Châu Âu và thế giới phải để tâm đến tệ tân phát-xít và bài ngoại đang có xu hướng gia tăng; đồng thời, nhấn mạnh lại một điều căn bản, rằng không thể chà đạp và hành hạ con người vì những lý do chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, xã hội, chính trị hay khuynh hướng giới tính. Gần đây nhất, hình ảnh tân Đức Giáo hoàng Benedict 16 lặng lẽ chắp tay trong tư thê người cầu nguyện, một mình đi qua cánh cửa chính của Auschwitz, cúi đầu tưởng niệm và đặt nến trước “Bức tường chết chóc” và xà-lim của cha Maksymilian, đã đọng lại trong tâm trí của nhiều người… Như một hành động sám hối cho sự lầm lạc một thời của nước Đức, tân Đức Giáo hoàng, người từng tham gia quân đội Đức thời cuối Thế chiến, đã cho biết rằng chính những tội ác kinh hoàng của chủ nghĩa quốc xã đã khiến ông quyết định trở thành một nhà tu hành, để suốt đời phụng sự cho đức tin của mình bằng sự yêu thương con người…

    “Trại tử thần” Auschwitz, một phần của Bảo tàng Quốc gia Auschwitz - Birkenau, ngày nay đã trở thành một chặng trong hành trình của nhiều tour du lịch trên thế giới. Du khách đến đây, không phải để chiêm ngưỡng lâu đài, thành quách hay danh lam thắng cảnh như ở những nơi khác; mà để tìm hiểu và ngậm ngùi trước một bài học lịch sử, dù đã qua nhưng còn rất sống động, và để nguyện cầu cho những thảm cảnh tương tự sẽ không bao giờ xảy ra nữa!
  6. 32. Những cánh đồng chết ở Campuchia (Chế độ diệt chủng Polpot)

    Ngày 17/4/1975, Polpot chiếm được Phnôm Pênh. Nhân dân Phnôm Pênh đổ ra đường, chưa kịp reo hò, chưa kịp nhận xét thì ngay phút đầu tiên bắt gặp gương mặt của những người lính Polpot, họ bàng hoàng nghe lệnh: Tất cả ra khỏi thành phố ! Đàn ông, đàn bà, già trẻ, sư sãi, nhà giáo, nhà buôn, sinh viên ko kịp mang theo quần áo,tụ tập con cái, gọi vợ, gọi chồng thì bị lùa đi như những bầy nô lệ.

    Xã hội CPC từ 1 ốc đảo hoà bình trong thập kỷ 60 đã bị Polpot biến thành 1 trại khổ sai khổng lồ đầy rẫy những hố chôn người, ko còn thành phố, trường học, chợ búa, tiền tệ; ko còn nhảy múa, đi chùa, tụng kinh niệm Phật, ko có sự giao lưu với bên ngoài; con người ko được nói, ko được vui, ko được buồn, ko đuợc khóc, ko được suy nghĩ, chỉ được cúi đầu tuân lệnh, sống câm lặng và hồi hộp chờ đợi nghe bọn Polpot kêu đến tên mình đưa đi hành quyết.
    Sau 3 năm 8 tháng 20 ngày dưới chế độ Polpot, như nhân dân CPC vẫn thường nói, và theo thống kê của Mặt trận đoàn kết dtộc cứu nước CPC, bọn diệt chủng Polpot đã giết hại hơn 2.700.000người, trong đó có gần 200 nhà văn, nhà báo; 600 bác sĩ, dược sĩ; 18.000 thầy cô giáo, giáo sư, hơn 10.000 sinh viên, hơn 1.000 văn nghệ sĩ. Hơn 1000 trí thức ở nước ngoài về chỉ sống sót lại 85 người. Gần 6.000 trưưòng học, hơn 700 bệnh viện và cơ sở y tế, gần 2000 ngôi chùa, hơn 100 nhà thờ đạo thiên chúa và đạo Hồi bị phá huỷ hoặc biến thành nhà kho, thành trại giam.
























    Tham khảo: Chính sách của Pônpôt đối với Việt Nam
    Ngày 20/5/1975 thường vụ TƯ Đảng Polpot họp quyết định 3 chủ trương lớn:
    - Làm sạch nội bộ nhân dân
    - Xác định VN là kẻ thù số 1, kẻ thù truyền kiếp
    - Xây dựng xã hội mới của CPC, ko chợ, ko tiền, ko trường học, ko trí thức, ko tôn giáo, ko đô thị
    Báo hiệu cho chính sách ấy,cũng trong tháng 5/1975 một khối thuốc nổ phá sập toà nhà Ngân hàng quốc gia CPC. Pol pot hãnh diện nói: “Đây là tiếng súng đại bác tiến công vào dinh luỹ đồng tiền”. Cùng với tiếng nổ báo hiệu công khai đó, thường vụ TƯ đảng Polpot ra chỉ thị tuyệt mật tiến hành 1 cuộc thanh trừng nội bộ, “dù có phải hao tốn 1 triệu người. Đảng ta cung ko tiếc, đảng ta cần phải mạnh. Nếu chỉ còn lại 2 triệu người CPC thì chúng ta vẫn xây dựng lại được đất nước”. Ngày 15/10, hội nghị thường vụ TƯ đảng Polpot lại ra nghị quyết khẳng định: “Đường lối di dân của chúng ta là quan trọng nhất sau ngày 17/4/1975. Làm việc này chúng ta thủ tiêu được mọi lực lượng chống đối, làm chủ đất nước 100 % ”. Ngày 9/9/1975 nhà vua Xi ha núc từ Bắc Kinh trở về CPC. Trong hồi ký Chiến tranh và hi vọng (Nhà xuất bản Hachette-Paris, 1979) nhà vua kể lại lời Xon Xen - bộ trưởng quốc phòng của chính phủ Polpot hồi đó nói với nhà vua: “Muốn cho đất nước và giống nòi CPC khỏi bị hoạ diệt vong, phải vĩnh viễn cắt khỏi thân thể CPC 3 phẫu thuật:
    1. Kiên quyết ko để cho bất kỳ 1 người VN nào có quyền sống ở CPC. Nhằm mục đích ấy, biện pháp do Khme đỏ thi hành là 1 năm giết chết 1 số lượng lớn Việt kiều bị tình nghi làm tay sai cho VN hoặc Việt cộng. Mặt khác dùng vũ lực trục xuất toàn thể Việt kiều, việc này được thi hành từ năm 1973
    2. Ra lệnh cho mọi người dân CPC, cả nam lẫn nữ phải làm việc gian khổ hơn nhân dân VN gấp 2 lần, 10 lần và làm như thế để CPC mạnh hơn VN rất nhiều …
    3. “Chấp nhận” 1 cuộc chạm trán vũ trang trên quy mô lớn với VN…
    Tám triệu người CPC phải tiêu diệt 60 triệu người VN, Với thái độ hết sức nghiêm túc, các nhà lãnh đạo Khmer đỏ đã ra lệnh cho binh sĩ và nhân dân : “ 01 người CPC phải giết chết 30 người VN”.

    Mọi người bình thường ko thể ko đặt câu hỏi: Polpot chủ trương thanh lọc nhân dân CPC chỉ cần để lai 2 triệu người. Rồi lại hi sinh 2 triệu người CPC để tiêu diệt 60 tr người VN. Vậy Polpot tính đưa dân tộc CPC đi tới đâu ?
    Nguồn http://www8.ttvnol.com

    Thêm vài hình ảnh:
    Bản đồ Campuchia dưới thời Polpot???


    Nơi trưng bày "sản phẩm" của Polpot!!!


    Và sát thủ lừng danh Polpot:
    Thời hoàng kim:


    và khi về già:
  7. 33. Thảm sát Mĩ Lai (tiếp)
    Trung uý Lieutenant William Calley, kẻ chỉ huy cuộc thảm sát.



    Xét xử Lieutenant William Calley
    Toà án quân sự xét xử William Calley tại Fort Benning, bang Georgia, bắt đầu ngày 17/11/1970. Công tố viên là đại tá Aubrey M. Daniel III, 28 tuổi, người còn ít kinh nghiệm. Luật sư biện hộ của Calley là George Latimer, một cựu quan toà quân sự. Theo cáo trạng bên quân đội, Calley đã “giết 109 người châu Á”. Chỉ một vài lính thuộc trung đội của Calley đồng ý ra làm chứng, còn lại từ chối. Các bức ảnh sống động của phóng viên chiến trường Haerberle cũng là bằng chứng sắc cạnh.

    Trong suốt quá trình xét xử, Calley tỏ ra là một người lính tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh. Hắn được sống trong một căn hộ riêng biệt tại doanh trại ở Fort Benning.

    Trong quá trình xét xử, ngày 11/1/1971, Paul Meadlo, 23 tuổi, một binh sĩ dưới quyền Calley thú nhận anh ta cùng Calley đã đẩy chừng gần 100 người xuống mương, chĩa súng máy nhả đạn liên tiếp vào phụ nữ, trẻ em, người già. “Tôi đứng bên cạnh Calley. Anh ta ra lệnh bắn. Anh ta đã xả hết 4 hay 5 băng đạn gì đó”, Meadlo kể lại. Dennis Conti, một nhân chứng khác cho biết, trong ngày khủng khiếp đó, Meadlo cuối cùng đã gần như bật khóc và không thể tiếp tục được nữa, nhưng Calley ép anh ta không được ngừng tay súng. Tất cả bằng chứng gộp lại cho thấy, Calley đã nạp 10-15 băng đạn, trong khi các nạn nhân rên siết dưới lòng mương, các bà mẹ ra sức che đạn cho con nhỏ...

    Khi Calley đứng lên tự biện hộ, hắn ngạo mạn cho rằng “giết người” là một phần công việc phá huỷ mọi thứ tại Việt Nam. Hắn nói: “Tôi không thể dừng lại cân nhắc xem chúng là nam, là nữ hay là trẻ con... Tôi thực hiện mệnh lệnh được giao và tôi không thấy có gì sai trái”. Luận điệu ấy lặp lại nhiều lần đã buộc đại uý Ernest Medina, thượng cấp của Calley, phải hầu toà. Ông ta phủ nhận mọi cáo buộc của Calley: “Không, anh (Calley) không được giết phụ nữ và trẻ con... Nếu họ có vũ khí và định bắt giữ anh thì anh mới có quyền bắn trả”.

    Bản án giữa đôi dòng dư luận
    Ngày 29/3/1971, toà án kết tội Calley giết chết ít nhất 22 người Việt. Sau khi nghe tội danh, hắn đã đứng thẳng dậy, hướng về chủ tịch bồi thẩm đoàn, nghiêm trang chào theo kiểu nhà binh. Ngày hôm sau, toà tuyên án tù chung thân và lao động khổ sai.

    Bản án khiến nhiều người không tâm phục khẩu phục. Một số cho rằng Calley chỉ là bia đỡ đạn cho các quan chức quân sự cấp cao, những người đáng lẽ phải chịu trách nhiệm trực tiếp về vụ thảm sát này. Tuy nhiên, dư luận Mỹ lại đòi chính quyền tha bổng cho Calley. Chỉ hai ngày sau, 1/4/1971, tổng thống Nixon đặc cách cho Calley chỉ phải chịu quản thúc tại gia trong khi tiến hành thủ tục phúc thẩm. Phản ứng lại ân chuẩn này, công tố viên Daniel đã gửi thư công khai chỉ trích tổng thống: “Quyết định của ngài thật sai lầm, vì như vậy sẽ khiến nhiều người Mỹ không nhận thức được khía cạnh đạo đức của vấn đề... Đó là, việc lính Mỹ bắn vào những người tay không và thiếu khả năng kháng cự là bất hợp pháp”.

    Vài năm tiếp theo, Calley vẫn tiếp tục được sống dưới mái nhà của mình. Hắn từng nói với phóng viên: “Tôi rất tự hào vì đã phục vụ quân đội Mỹ và tham gia trận Mỹ Lai”. Năm 1973, mức án của hắn được bộ trưởng Quân đội giảm xuống 10 năm. Ngày 9/9/1974, Calley được ân xá. Như vậy, hắn ta chỉ thụ án tại gia 3,5 năm và khoảng 1 tháng cho mỗi 10 người dân Mỹ Lai bị giết.

    Hiện nay, Calley sống ẩn dật tại Columbus, bang Georgia và làm việc cho cửa hàng trang sức của gia đình. Hắn từ chối các cuộc tiếp xúc với báo giới và tránh nhắc về Việt Nam. Ngược với Calley, Thompson đã trở về thăm lại mảnh đất Mỹ Lai và được dân làng nơi đây đón tiếp nồng hậu. Ông không ngại gặp gỡ báo chí với nụ cười rạng rỡ trên môi.

    Có lẽ hình phạt thích đáng nhất Calley và những tên tội phạm khác dấu mặt trước toà là nỗi ám ảnh Mỹ Lai dai dẳng suốt cuộc đời. Riêng với Calley, tên của hắn được lưu giữ trong lịch sử thế giới với cái mác của một kẻ giết người hàng loạt.

    Thêm một xêri ảnh về vụ thảm sát Mĩ Lai do Ronald Haeberle chụp.










Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32