CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ 68
(ĐC sưu tầm trên NET)
Theo các tài liệu lịch sử, 620.000 binh lính đã tử trận trong Nội chiến Mỹ. Đây là một trong những sự thật ít biết về cuộc nội chiến này.
Nhiều binh sĩ Mỹ tử trận đều được chôn gần nơi họ ngã xuống trong Nội chiến Mỹ (1861 - 1865).
Sau đó, thi hài những binh sĩ Mỹ tử trận chôn cất trên chiến trường đã
được khai quật và chuyển đến nghĩa trang quốc gia. Tuy nhiên, hài cốt
của hàng ngàn binh sĩ Mỹ chết trong Nội chiến Mỹ vẫn nằm yên nghỉ ở chiến trường năm xưa.
Số lính Mỹ chết trong các trại tù chiến tranh trong Nội chiến Mỹ ngang ngửa với số binh sĩ Mỹ chết trận ở chiến trường Việt Nam
Binh nhì người da trắng chiến đấu cho phe Liên minh được trả lương 13
USD/tháng. Trong khi đó, binh nhì người da đen chiến đấu cho phe Liên
minh được số tiền thấp hơn là 7 USD/tháng.
Đối với phe Liên bang trong Nội chiến Mỹ, binh nhì được trả 13
USD/tháng. Tuy nhiên, binh sĩ thường phải đợi rất lâu mới lấy được khoản
tiền đó.

Theo thống kê, tính đến thời điểm cuối cuộc Nội chiến Mỹ, số binh sĩ
người Mỹ gốc Phi chiếm tới 10% quân số ở phe Liên minh. Trong số đó,
khoảng 40.000 người đã tử trận.
Theo thống kê, tính đến thời điểm cuối cuộc Nội chiến Mỹ, số binh sĩ
người Mỹ gốc Phi chiếm tới 10% quân số ở phe Liên minh. Trong số đó,
khoảng 40.000 người đã tử trận.
Trong Nội chiến Mỹ, những bữa ăn vô cùng khan hiếm. Nhiều binh sĩ thuộc
phe Liên bang gần như chết đói vào thời điểm chiến tranh gần kết thúc.
Độ tuổi trung bình của binh sĩ thuộc phe Liên minh là 25,8 tuổi. Đến
cuối cuộc chiến tranh, gần như tất cả nam giới từ già đến trẻ đều phải
gia nhập quân đội, ra chiến trường chiến đấu.
Theo ước tính, các bác sĩ
đã thực hiện khoảng 60.000 phẫu thuật cắt cụt chân, tay... cho các binh
sĩ bị thương tật do tham gia cuộc Nội chiến Mỹ trong thời gian từ năm
1861-1865.
Samuel Irwin thuộc quân tình nguyện Pennsylvania số 67 phải cắt cụt cánh tay phải do bị thương lúc ra trận
Một lính Mỹ bị thương tật ở cánh tay phải và phải sử dụng dụng cụ hỗ trợ cho tay để có thể cử động dễ dàng hơn
Binh nhì Joshua S. Mason bị thương tật ở tay phải, khiến cho cánh tay này bị biến dạng.
Do số lượng binh sĩ bị thương trên chiến trường khá lớn trong khi
đội ngũ bác sĩ không đủ nên chân hoặc tay của người lính thường bị cắt
cụt để điều trị nhanh nhất. Chính vì vậy, nhiều binh sĩ không còn nguyên
vẹn cơ thể sau khi bị thương.
Tướng David D. Cole đã phải trải qua phẫu thuật cắt cụt chân, tháo khớp gối trong trận Amelia Courthouse.
Bàn chân trái của binh nhì Hiram Williams bị cắt cụt do bị thương trong trận Appomattox Court House
JH Jaycox thuộc quân tình nguyện New York
cũng trải qua phẫu thuật xương cánh tay bên phải.
Cánh tay phải của binh nhì Francis Furber bị thương tật, tổn thương
vĩnh viễn do tình hình chiến sự ác liệt. Rất nhiều binh sĩ thuộc quân đội Mỹ bị thương ở cánh tay phải.
Binh nhì Robert Fryer phải cắt cụt 3 ngón tay ở bàn tay phải sau trận chiến Hatcher's Run, Virginia.
Khoảng gần 180.000 người Mỹ
gốc Phi phục vụ trong quân đội của phe Liên minh và 18.000 người khác
chiến đấu trong lực lượng Hải quân của phe Liên minh.
4 trận thua để đời của Hải quân Mỹ
Sử dụng tàu chiến đơn độc
chống lại pháo đài ở Tripoli năm 1800, thất bại trước Hải quân Nhật năm
1942 là 4 trận thua để đời của Hải quân Mỹ.
Thất trận tại Algeria
Hải quân Mỹ phát triển mạnh mẽ trong
những năm Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Đến những năm Thế chiến II, họ
dần trở thành lực lượng mạnh nhất thế giới. Tuy nhiên, Hải quân Mỹ từng
hứng chịu nhiều thất bại không đáng có. Chúng trở thành những bài học
trong lịch sử hình thành và phát triển của họ.
Theo National Interest, năm 1800,
William Bainbridge, thuyền trưởng chiến hạm George Washington mang cống
vật đến nộp cho Dey (danh hiệu của nhà lãnh đạo Đế chế Ottoman ở
Algeria). Mục đích là hải quân Đế chế đảm bảo tự do cho các tàu buôn của
Mỹ qua khu vực Địa Trung Hải.
Tuy nhiên, vị thuyền trưởng cho rằng,
việc làm này là nhục nhã nên quyết định chống cự. Ông đã phạm sai lầm
lớn khi sử dụng chiến hạm để chống lại pháo đài tại cảng Tripoli. Những
khẩu đại bác cỡ nòng lớn cùng dự trữ đạn dược dồi dào ở pháo đài khiến
chiến hạm nhanh chóng bị đánh bại. Ông cùng toàn bộ thủy thủ đoàn bị
giam 9 tháng ở Tripoli trước khi được giải cứu. Và đây chính là một trong 4 trận thua để đời của Hải quân Mỹ
Trận đánh đảo Savo
Ngày 8/9/1942, chuẩn đô đốc Samuel
Eliot Morison, chỉ huy lực lượng viễn chinh Mỹ tấn công đảo Savo thuộc
quần đảo Solomon. Thủy quân lục chiến đã đổ bộ thành công lên nhóm đảo
Guadalcanal và Tulagi. Mục đích của chiến dịch là đánh bật lực lượng
Nhật Bản đang đồn trú trên đảo, cắt đứt tuyến không vận chiến lược của
Nhật nối Bắc Mỹ với Australia.
Morison đã phạm sai lầm khi phân tán
các tàu tuần dương và tàu khu trục thành 4 nhóm nhỏ để bảo vệ cho lực
lượng đổ bộ. Hải quân Đế quốc Nhật Bản tận dụng đêm tối cắt vào giữa đội
hình các nhóm nhỏ đánh chìm 4 tàu tuần dương, hai tàu khu trục hỏng
nặng, 1.077 thủy thủ thiệt mạng.
Trận đánh đảo Savo được xem là một trong những thất bại tồi tệ nhất của Hải quân Mỹ. Họ đã học được phương pháp sử dụng máy bay do thám để cảnh báo các cuộc tấn công có thể xảy ra trong tương lai.
Phong tỏa sông Mississippi
Những năm xảy cuộc Nội chiến Mỹ giai
đoạn 1861 đến 1865, hải quân liên minh tiến hành chiến dịch phong tỏa
các tuyến đường thủy nội địa nhằm cắt đứt tuyến vận tải của các bang ly
khai. Chỉ huy liên minh tin rằng, việc kiểm soát các tuyến đường thủy
nội địa, trong đó có sông Mississippi sẽ cô lập sức mạnh của hải quân
miền Nam.
Tuy nhiên, hải quân liên minh đã phạm
sai lầm vì phong tỏa nội địa không làm mất sức mạnh chiến đấu trên biển
của miền Nam. Những tàu chiến của phe ly khai tấn công đội tàu buôn của
liên minh trên biển gây thiệt hại hớn về tài sản. Bên cạnh đó, họ còn
bắt cóc các tàu đánh cá và đòi tiền chuộc.
Việc xem nhẹ sức mạnh trên biển khiến
liên minh chịu nhiều thiệt hại. Hải quân miền Nam đánh phá các tàu
thương mại không làm thay đổi cục diện cuộc chiến nhưng gián tiếp gây
cho liên minh nhiều khó khăn. Sau sai lầm chiến lược nghiêm trọng này,
đô đốc Alfred Thayer Mahan đã phát triển học thuyết “quyền lực trên
biển”. Ông cho rằng, một lực lượng hải quân lớn sẽ có tác động trên toàn
thế giới.
Từ đó, Hải quân Mỹ bắt đầu mở rộng tầm
ảnh hưởng trên biển. Đến nay, quan điểm của Mahan vẫn là phương châm
trong học thuyết phát triển lực lượng của Hải quân Mỹ.
Hải chiến năm 1812
Những năm chiến tranh giữa Mỹ và Liên
hiệp Anh, Quốc hội Mỹ đã phạm sai lầm nghiêm trọng khi từ chối tài trợ
kinh phí nhằm xây dựng đội tàu chiến mạnh để bảo vệ bờ biển. Các nhà lập
pháp đã chọn phương án xây dựng lực lượng hải quân tối thiểu với chi
phí thấp.
Bên cạnh việc không đầu tư cho đội tàu
chiến, hải quân còn phạm sai lầm chiến thuật trầm trọng. Những thuyền
trưởng chỉ huy tàu chiến với tinh thần chiến đấu kém nên dễ dàng bị Hải
quân Anh đánh bại. Đơn cử là trường hợp James Barron, thuyền trưởng tàu
USS Chesapeake đầu hàng tàu HMS Leopard chỉ sau một loạt đạn.
Hậu quả từ sai lầm này là Hải quân Anh
phong tỏa hầu hết bờ biển Mỹ trong những năm chiến tranh. James Holmes,
giáo sư tại Học viện Chiến tranh Hải quân Mỹ nhận xét, dù thua về số
lượng so với Hải quân Hoàng gia, nhưng nếu vận dụng chiến thuật hợp lý,
Mỹ vẫn có thể ngăn chặn sự kiềm tỏa của Anh. Bài học từ những sai lầm
trong quá khứ giúp Hải quân Mỹ
ngày càng mạnh hơn. Ngày nay, họ là lực lượng duy nhất trên thế giới sở
hữu 10 nhóm tác chiến tàu sân bay với tầm ảnh hưởng toàn cầu.
Nhận xét
Đăng nhận xét