BÍ ẨN LỊCH SỬ 98

(ĐC sưu tầm trên NET)

Vì sao Thái Bình công chúa không kế nghiệp Võ Tắc Thiên?

 

Thái Bình công chúa có nhiều tham vọng chính trị và nhiều mưu mô giống mẹ, nhưng bà không thể xưng danh hoàng đế như Võ Tắc Thiên.

Tố chất của hoàng đế
Võ Tắc Thiên và Đường Cao Tống Lý Trị có 4 người con, 2 trai, 2 hai gái, trong đó, Võ Tắc Thiên đặc biệt sủng ái con gái út, Thái Bình công chúa. Cũng giống như mẹ, Thái Bình công chúa là người mưu mô và tham quyền. Bà đã gài người thân cận vào làm nội gián để theo dõi mẹ đẻ. Biết mẹ là người đam mê dục vọng nên bà đã cống nạp cho Võ Tắc Thiên hai người đàn ông là Trương Xương Tông và Trương Dịch Chi. Hai người này đã lấy được lòng tin của Võ Tắc Thiên và được cho nhiều quyền hành, làm đủ mọi chuyện lộng hành ngoài cung mà Võ Tắc Thiên cũng không hề hay biết.
 Ảnh minh họa: Funshion.
Lợi dụng tình hình, Thái Bình công chúa xúi hai người này khởi binh làm phản, ép mẹ bỏ ngai vàng, truyền ngôi cho Lý Hiển. Ban đầu Võ Tắc Thiên không đồng ý nhưng Thái Bình đã khuyên mẹ từ bỏ để làm Thái Thượng Hoàng, cuối cùng Võ Tắc Thiên đã đồng ý. Với công này, bà được tôn là Trấn Quốc Thái Bình công chúa. Vị thế của Thái Bình công chúa không ngừng lớn mạnh, trở thành công chúa có quyền lực cao nhất của nhà Đường.
Với sự hỗ trợ của bà, Lý Đản đã đăng cơ sau khi lật đổ âm ưu của Vi Hậu và công chúa An Lạc và truất ngôi tiểu hoàng đế. Khi Lý Đản đăng cơ thường xuyên bàn bạc việc quân cơ với bà, mỗi lần Thái Bình công chúa vào triều bàn việc đều ngồi trò chuyện với Lý Đản rất lâu. Nếu Thái Bình công chúa không lên triều Lý Đản sẽ phái Tể tướng đến chỗ bà để xin ý kiến. Mỗi lần các Tể tướng cho bản tấu Lý Đản đều hỏi: "Việc này đã yết kiến Thái Bình công chúa chưa?", rồi mới hỏi: "Đã yết kiến Tam Lang (Thái tử Lý Long Cơ) chưa?" Nếu Tể tướng xác nhận đã được sự cho phép của Thái Bình công chúa đồng ý thì Lý Đản mới đồng ý và mọi việc công chúa muốn Lý Đản đều đồng ý. Trong triều bách quan văn võ từ Tể tướng trở xuống hoặc tán thưởng, hoặc tránh né, nhất nhất nghe theo ý của bà. Tháng 6/710, Đường Trung Tông băng hà, do Vi hoàng hậu và An Lạc công chúa hạ độc. Vi hoàng hậu muốn nhân đó chiếm ngôi vị, làm một Võ Tắc Thiên tiếp theo, nhưng Thượng Quan Uyển Nhi cùng Thái Bình công chúa đưa di chiếu lập Ôn vương Lý Trọng Mậu làm vua, tức Đường Thương Đế. Sau đó, Thái Bình công chúa đã dùng thế lực phối hợp với người cháu là Lý Long Cơ, con của Lý Đán, và lập người này làm vua. Lý Long Cơ làm vua nhưng sau này chính hai cô cháu lại tranh giành quyền lực của nhau. Và cuối cùng Thái Bình công chúa phải chết dưới tay Lý Long Cơ.
Không thể trở thành nữ hoàng đế thứ hai
Ảnh minh họa: Hercity.
Theo Lsguhsi, một trang web về lịch sử của Trung Quốc, dù có tố chất và uy quyền mạnh mẽ như trên nhưng Thái Bình công chúa không được lòng dân, không được lòng quần thần. Ngoài ra, triều đình cũng đã cảnh giác với việc một người đàn bà can dự vào triều chính nên Thái Bình công chúa không thể trở thành một Võ Tắc Thiên thứ hai. Theo lẽ thường, được lòng dân sẽ được thiên hạ, bằng không sẽ mất đi sự ủng hộ của dân chúng. Trong khi đó, Thái Bình công chúa là người tham tiền bạc, ung dung cướp tài sản của thuộc hạ, tranh chấp quyền lợi với dân chúng, do đó không được lòng dân.
Được yêu chiều từ nhỏ, lại chịu ảnh hưởng từ mẹ là Võ Tắc Thiên, cộng thêm những biến cố của tuổi thơ cùng sự thất bại hai cuộc hôn nhân đã tạo nên một Thái Bình công chúa ích kỉ, tham quyền, tham tiền tài. Thái Bình công chúa dùng tiền để khuếch trương thế lực và mua chuộc kẻ dưới, chính vì vậy thuộc hạ dưới quyền bà hầu hết đều không thể trọng dụng lâu dài. Đám người này không lấy trị an đất nước làm tôn chỉ mà chỉ quan tâm tới quyền lực của bản thân, quan tâm tới lợi ích của Thái Bình công chúa.
Xét về nhân phẩm hay năng lực, những kẻ này đều không thể so sánh được với thuộc hạ của Lý Long Cơ. Chính vì vậy bà đã thua cuộc trong trận chiến tranh giành quyền lực với chính kẻ bà đưa lên ngai vàng. Đời tư của Thái Bình công chúa cũng phức tạp, gây bất mãn trong triều thần. Theo "Hạ Lan Mẫn truyện" việc bị anh họ Hạ Lan Mẫn cướng bức đã gây ảnh hưởng tâm lý rất lớn đến Thái Bình công chúa và cũng là khởi nguồn cho bất hạnh trong đời sống riêng tư của bà. Người chồng đầu tiên của bà là Tiết Thiệu. Thời gian đầu, cuộc sống giữa Thái Bình Công chúa và Tiết Thiệu cũng có thể coi là hạnh phúc. Tuy nhiên, chỉ được 7 năm, cuộc hôn nhân này bắt đầu rạn nứt.
Sau khi Tiết Thiệu bị giết vì tạo phản, Thái Bình công chúa kết hôn với Võ Du Kỵ là cháu trai của Võ Tắc Thiên. Nhưng cuộc hôn nhân này cũng không mấy suôn sẻ do ảnh hưởng từ Võ Tắc Thiên. Theo "Tự trị thông giám", Thái Bình công chúa đã tư thông với ít nhất ba người và họ đều núp bóng công chúa làm nhiều việc xấu. Tuy nhiên, quan trọng nhất là từ sau khi Võ Tắc Thiên lên ngôi và thay nhà Đường thành nhà Võ, triều đình và dân chúng đều rất cảnh giác với việc một người đàn bà can dự vào triều chính. Trong bối cảnh xã hội như vậy bất kỳ một ý đồ nhiếp chính nào của phụ nữ cũng sẽ đi đến thất bại. Giống như Vi Hậu và công chúa An Lạc, Thái Bình công chúa không phải là ngoại lệ. Do đó, dù có tài giỏi đến đâu thì Thái Bình cũng không thể thực hiện giấc mơ hoàng đế. Vương triều Đại Đường cũng như trong suốt các triều đại phong kiến Trung Quốc, duy nhất một người đàn bà có thể đứng lên làm hoàng đế, chấp chính thành công, là Võ Tắc Thiên.
Theo Hiền Trang/Tri thức trực tuyến

Chuyện thú vị về “nhật ký phòng the” của hoàng đế

Khác với mọi đàn ông khác, chuyện mây mưa của hoàng đế luôn được ghi lại cụ thể trong sổ nhật ký the phòng.

nhat ky phong the cua hoang de

Cuộc “mây mưa” của hoàng đế diễn ra như thế nào?

Người ghi lại hoạt động này cũng là người được vua tin cậy nhất, chính là thái giám cảnh vụ. Đây còn phải là một người có tính kỹ lưỡng, ông còn phải ghi chép thật rõ ràng, tỉ mỉ, từ ngày, giờ, đến từng tiếng động để làm bằng chứng cho việc mang thai, và sổ sách quan trọng này còn được báo cho Quốc sử quán ghi vào sổ để theo dõi những chuyện về sau.
Mỗi hoàng đế có một khả năng giường chiếu khác nhau, tuỳ theo thể lực. Vua Minh Mạng được cho là vị vua sung mãn, khi mỗi  đêm ông có thể “chiều” đến 5,6 cung tần, mỗi canh mỗi bà.
Chuyện phòng the của các hoàng đế của Trung Quốc thì được điều chỉnh theo mặt trăng. Khi mặt trăng bắt đầu tròn, hoàng đế sẽ quan hệ với những phi tần ở thứ bậc thấp đến cao dần. Đến khi mặt trăng tròn hẳn, hoàng đế sẽ sủng hạnh hoàng hậu.
Khi mỹ nữ được nhà vua chọn, thái giám sẽ cởi bỏ toàn bộ y phục, dùng một tấm khăn choàng lông bọc cơ thể lại, vác trên lưng mang đến cung của hoàng đế. Đây là phương pháp an toàn bảo vệ hoàng đế phòng tránh việc cất giấu vũ khí trong người ám sát vua.
Mỹ nữ phải chờ cho hoàng đế nằm xuống, chỉ được bò vào giường từ phía dưới chân hoàng đế. Thái giám lúc này chờ ngoài cung, đợi cuộc mây mưa của hoàng đế kết thúc. Người ta cho rằng các bà vợ lẽ chính là người làm tổn thọ hoàng đế nên thời gian cho cuộc mây mưa này thông thường kéo dài 30 phút. Nếu đã đến thời gian quy định, thái giám sẽ hô một câu “Hết giờ rồi”, Hoàng đế sẽ đi đến chỗ thái giám, cung nữ mặc lại áo và sau đó lui khỏi phòng.

Cách tăng cường thể lực và “chuyện ấy” của hoàng đế

Uống máu gạc hươu hay nai là bài thuốc mà hầu hết các hoàng đế Trung Quốc hay dùng. Trong mỗi chuyến đi săn bắn, con thú sau khi bắn được sẽ cắt tiết tại chỗ, đám cận thần đi cùng sẽ lấy một chén rượu và hứng những giọt máu thú để dâng vua uống trực tiếp. Đây chính là bài thuốc cường dương hiệu nghiệm cho nhà vua.
Tuy nhiên, có rất nhiều loại thảo dược cũng hữu hiệu không kém được lưu truyền từ đời này sang đời khác nhằm tăng cường lạc thú giường chiếu cho nhà vua. Có thể kể đến như: nhân sâm, đương quy, thân và rễ của động, thực vật ký sinh.
Bên cạnh sinh lực dồi dào, hiển nhiên còn cần đến những mỹ nhân khêu gợi và nóng bỏng chốn phòng the. Vì vậy, bên cạnh chế độ ăn uống dưỡng chất, các cung tần, mỹ nữ trong triều còn được dạy nhiều kỹ thuật để chiều chuộng vua, làm cho vua thoả mãn nhất!

Bật mí đêm đầu tiên của nữ hoàng Võ Tắc Thiên

Thứ sáu, 2014-10-24 - Nguồn: GiaDinh.net.vn 

"Đêm đầu tiên" của Võ Tắc Thiên không phải là của Đường Cao Tông mà là Đường Thái Tông - Lý Thế Dân - phụ hoàng của Đường Cao Tông.

Tuy là chính cung Hoàng Hậu của Đường Cao Tông nhưng “đêm đầu tiên” của Võ Tắc Thiên lại “dâng hiến” cho Đường Thái Tông - Lý Thế Dân - phụ hoàng của Đường Cao Tông.
Đường Thái Tông - Lý Thế Dân là người đắm say mỹ nhân, nhưng mỹ nhân trong hậu cung nhiều vô kể nên một cung nữ vô danh 15 tuổi vừa tiến cung như Võ Mị Nương sẽ khó có cơ hội được Hoàng Thượng để mắt đến.
Hơn hai tháng tiến cung, nàng cũng chưa từng một lần được diện kiến Hoàng Thượng. Cả ngày chỉ ở trong cung học các quy tắc, lễ nghi liên quan đến đời sống trong cung với thái giám.
Sau này nàng biết, cùng vào cung với nàng có nàng Từ Huệ, nghe nói có cha làm quan trong triều đang rất được Hoàng thượng sủng ái.
Võ Mị Nương biết chân lý rằng: “Lợi dụng người đàn bà bên cạnh một người đàn ông để tiếp cận với đàn ông đó là cách hoàn hảo nhất” nên nàng nghĩ ra một kế: Kết nghĩa chị em với Từ Huệ để tiếp cận Hoàng Thượng.
Từ Huệ lúc này đang là tài nhân nên nàng lấy cớ muốn học hỏi lễ nghĩa đế đến cung gặp Từ Huệ. Cứ như thế dần dần hai người trở nên thân thiết.
Võ Mị Nương thấy cơ hội đã chín muồi bèn đề nghị hai người kết nghĩa chị em: “Nếu trong hai người, ai nhận được ân sủng của Hoàng thượng sẽ giúp đỡ người còn lại, hỗ trợ lẫn nhau, mãi mãi không rời xa”.
Tạo hình của Võ Tắc Thiên trên phim ảnh
Tạo hình của Võ Tắc Thiên trên phim ảnh
Mấy hôm sau quả nhiên Từ Huệ được Hoàng Thượng sủng hạnh, Võ Mị Nương mừng rỡ khôn xiết, sự việc tiến triển không nằm ngoài toan tính của nàng.
Mấy ngày trôi qua, không có chút phản hồi nào, nhưng nàng cũng không lo lắng. Nàng thừa hiểu Từ Huệ là người rất ngoan ngoãn và không bao giờ bỏ rơi nàng.
Nàng tích cực nhờ thái giám gửi thư cho Từ Huệ. Từ Huệ vì được Hoàng Thượng ân sủng nên đã được phong Tiệp Dư chuyển đến nơi khác. Nhưng nàng ấy cũng không quên nói tốt với Hoàng Thượng về Võ Mị Nương nên Hoàng Thượng cũng muốn gặp nàng.
Mấy hôm sau, Hoàng Thượng quả nhiên cho triệu Võ Mị Nương. Lần đầu được Hoàng Thượng sủng hạnh, đương nhiên nàng cảm thấy lo lắng.
Canh hai, nàng được thái giám dẫn đến điện Cam Lộ của Thiên tử. Đường Thái Tông là người thô lỗ nên sau khi ân ái nàng cảm thấy đau đớn vô cùng, nước mắt rơi lã chã.
Trong mắt Đường Thái Tông, nước mắt như những hạt chân trâu quý hiếm. Cung nữ đã từng được ông ta sủng hạnh nhiều vô kể, song bọn họ đều cố chịu đựng đau đớn, nở nụ cười gượng gạo, nhưng nàng không giống họ.
Những giọt nước mắt long lanh như ngọc lăn trên khuôn mặt như hoa như ngọc của nàng làm Hoàng thượng bội phần say đắm.
Hoàng Thượng cảm thấy mình đang ôm một trinh nữ trong lòng chứ không giống hình nộm như các nàng khác, tâm trạng vô cùng hưng phấn nên đã đặt cho nàng biệt hiệu Võ tắc thiên mị.
Sau lần đó, Hoàng thượng đã bị nàng mê hoặc. Cứ hai, ba ngày nàng lại được Hoàng thượng vời vào cung.
Trước mặt hoàng đế, Võ Mị Nương đã rất bạo gan, mưu trí, linh hoạt... Có lẽ đó cũng là 1 trong những nguyên nhân khiến bà từng bước trở thành người phụ nữ quyền lực nhất lịch sử Trung Hoa.
Võ Tắc Thiên thường được biết với tên gọi Võ Mị Nương, tên thật là Võ Chiếu. Bà là nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc, và để lại nhiều tranh luận về công tội giữa các nhà sử học.
Bà đã trải qua các vị trí Tài nhân, Chiêu nghi, Hoàng hậu, Hoàng thái hậu, Hoàng đế, Thái thượng hoàng, nhưng cuối cùng trước khi qua đời đã quay lại với vị trí Hoàng hậu của nhà Đường. Việc bà nổi lên nắm quyền cai trị bị các nhà sử học Khổng giáo chỉ trích mạnh mẽ nhưng các nhà sử học từ sau thập kỷ 1950 đã có cái nhìn khác về bà.
Theo Phunutoday

Tìm thấy dấu tích cung điện nhà Trần tại Thái Bình

 

Tại 6 hố khai quật đã phát hiện được một phần nền móng của các công trình kiến trúc gỗ thời Trần vào thế XIII – XIV.

Sáng 6/1 tại xã Hồng Minh, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình diễn ra Hội nghị báo cáo sơ bộ kết quả điều tra, khai quật khảo cổ học Di tích hành cung Lỗ Giang.
Tim thay dau tich cung dien nha Tran tai Thai Binh
Khu vực có dấu tích của hành cung Lỗ Giang (Ảnh: thaibinh.gov.vn). 
Kết quả điều tra, khai quật khảo cổ học kết hợp với việc nghiên cứu các nguồn tư liệu lịch sử, bước đầu cho phép suy đoán rằng: Khu vực đền Trần (Thái Lăng) xã Hồng Minh hiện nay chính là hành cung Lỗ Giang thời vua Trần Nhân Tông và Trần Anh Tông (là hành cung Kiến Xương vào thời vua Trần Hiến Tông).
Tại 6 hố khai quật đã phát hiện được một phần nền móng của các công trình kiến trúc gỗ thời Trần vào thế XIII – XIV.
Các dấu vết bó nền, móng trụ và sân gạch cho thấy đây là một công trình kiến trúc độc đáo, có mặt bằng lớn, nằm theo chiều Đông – Tây, quay mặt về phía Nam.
Ngoài ra, các loại hình vật liệu kiến trúc được tìm thấy ở đây gồm: Gạch, ngói mũi sen, đầu đao, bao nung, gốm men và các vật liệu trang trí như đầu rồng, phượng… cho thấy đây chính là dấu tích của những kiến trúc cung điện thời Trần.
Việc khai quật, nghiên cứu khảo cổ học đã cung cấp nhiều tư liệu quan trọng nhằm chứng minh sự tồn tại của hành cung Lỗ Giang xưa trên đất Hồng Minh, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình là cơ sở khoa học phục vụ công tác quy hoạch, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của địa phương.
Theo VOV
Hư ảo câu chuyện kho báu dưới chân ngôi tháp cổ bí ẩn
Thứ Hai, 01/06/2015 14:48  
Vàng hóa thành hình dạng đàn gà, buồng chuối di chuyển trên nóc nhà nhưng hễ thấy bóng người, nghe thấy lời trách quở là chúng lại tan biến trong nháy mắt... Đó là những chuyện mà người dân thôn Xóm Tháp, phường Hương Xuân, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế vẫn truyền tai nhau từ bao đời nay.

Nơi được cho liên tục xuất hiện “vàng sống” là khu vực xung quanh di tích Tháp Đôi Liễu Cốc.

Tòa tháp lớn ở di tích Tháp Đôi.
“Kho báu” bất khả xâm phạm?
Không ai ở thôn Liễu Cốc Thượng (nay là thôn Xóm Tháp) nhớ đích xác hai tòa tháp đôi trong làng có từ bao giờ. Ông Nguyễn Văn Cấn, năm nay tròn tuổi 60 cho hay trước ông nhiều thế hệ, tòa tháp đôi đã tồn tại uy nghi tráng lệ, được xây dựng cách nhau chừng 10m, hoàn toàn làm bằng chất liệu gạch thẻ được kết dính bằng hỗn hợp lạ đến nay vẫn chưa thể lý giải.
Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, tòa tháp đôi nay chỉ còn phần chân tháp là “nguyên bản”, cây cối bao phủ um tùm. Do di tích không còn nguyên vẹn nên ngày nay người dân vẫn gọi đây là phế tích Tháp Đôi Liễu Cốc. Các già làng trong thôn cho biết xưa kia đất làng vốn là vùng người Chăm sinh sống đông đúc.
Điều khiến người ta sợ sệt khi nhắc đến tháp đôi là lời đồn “vàng sống”. “Vàng hóa thành nhiều hình thù khác nhau như đàn gà, buồng chuối, hình mâm cơm di chuyển sáng trưng giữa đường làng, đi trên nóc nhà. Vàng đó chỉ nhìn thấy chứ không thể lấy được, thấy bóng dáng con người chúng lập tức biến mất. Nếu có bắt lấy được thì cục vàng lúc này đã hóa đá”, ông Cấn nhắc lại những lời nghe cha ông kể.
Tỏ ra kỳ bí không kém, cụ bà Nguyễn Thị Nhỏ (81 tuổi) cho biết: “Tháp đôi “thiêng” lắm, ngày xưa “vàng sống” xuất hiện như cơm bữa ai cũng bắt gặp nhưng tuyệt đối không được đụng vào. Ai tham lam mạo phạm đến “vàng sống” nhẹ thì bị ốm đau, nặng có thể mất mạng như chơi”.
Cũng theo lời cụ Nhỏ được nghe kể lại, tháp được ví như nấm mồ lớn chôn cất những người chức sắc của Chiêm Thành xưa kia. Nhiều lời đồn cho rằng dưới lòng đất nơi tháp đôi tọa lạc có rất nhiều châu báu, vàng bạc. Tuy nhiên, từ xưa đến nay chưa có người nào trong làng dám xới đất để tìm vàng bởi họ không dám vượt qua lời nguyền định mệnh: Hễ ai đào đất tìm vàng đều có kết cục bi thảm.
Cụ Nhỏ dẫn chứng ngày trước có nhiều người lạ nơi khác đến không tin lời nguyền nên hì hục đào trộm đất đai trong khu tháp tìm vàng. Kết quả là những người này đều đau ốm, bệnh tật triền miên, thậm chí không biết bao nhiêu kẻ đã phải bỏ mạng lại nơi đây.
Ông Nguyễn Văn Cấn, trưởng họ tộc Nguyễn Văn dẫn chứng thêm dưới thời Pháp thuộc, lính Pháp đem máy móc hiện đại tới tìm vàng ở đây nhiều lần đều bất thành. “Chúng dùng máy khoan để dò tìm, nhưng tất cả mũi khoan khi chạm xuống mặt đất đều gãy một cách kì lạ. Người cầm máy khoan sau đó cũng bị bệnh lạ ốm đau nên bọn chúng sợ hãi không dám khoan tiếp nữa”, ông Cấn cho hay.
Ông Cấn lý giải thêm ngày xưa được cha ông kể rằng Tháp đôi là nơi chôn sống nhiều người cùng vàng bạc nên mức độ “linh nghiệm” đáng phải “kiêng nể”. “Vàng bạc dẫu có thật đi chăng nữa cũng khó mà hưởng lạc nếu đó không phải của mình”, ông Cấn nói.

Ông Nguyễn Văn Cấn kể về truyền thuyết quanh di tích.
Vành đai “không ưa” xác chết
Các già làng thôn cho hay vùng đất bao quanh tháp chính là “vùng địa linh” che chắn cho hai tòa tháp, có bán kính chừng 20m tính từ tâm là tòa tháp lớn. Người dân truyền tụng đây là khu đất “thần linh trú ngụ” nên tuyệt đối không được chôn cất người chết. Từ bao đời nay quy tắc ngầm này vẫn được người làng “khắc cốt ghi tâm” nhằm tránh những tai họa không đáng.
Ông Nguyễn Văn Cấn chia sẻ, cách đây hơn 10 năm có một người làng “ngủng ngẳng” cho rằng lời đồn “vùng địa linh” nhảm nhí. Khi một người thân của ông qua đời, người này đã bất chấp mọi lời can ngăn mà đem chôn thi thể người thân cạnh tòa Tháp Đôi. Mấy ngày đầu không có chuyện gì bất lợi xảy ra khiến người này càng đắc chí cười chê những ai từng khuyên can mình.
Thế nhưng ngay sau ngày mở cửa mồ gia đình người quá cố liên tiếp gặp nhiều tai họa: Con cháu đi đường bị tai nạn một cách nực cười như tự ngã xe, tự tông vào cây bên đường. Không những vậy người này bỗng dưng đổ bệnh nặng, thuốc thang mãi vẫn không thuyên giảm.
“Bấy giờ gia đình kia mới bàn họp quyết định di dời ngôi mộ sang nơi khác và làm lễ tạ lỗi tại miếu Bà dưới chân tháp mới được bình an trở lại. Đây là trường hợp duy nhất ở làng từ trước đến nay dám vi phạm quy tắc ngầm chôn cất thi thể trong “vùng địa linh””, ông xác nhận câu chuyện.
Những tai nạn đó có thể chỉ là ngẫu nhiên, thế nhưng vô tình làm tăng thêm tính “linh thiêng” của ngọn tháp. Người địa phương thêu dệt nên biết bao chuyện kì bí liên quan, từ bên trong tháp “có con thuồng luồng nghìn năm tuổi sinh sống nhưng hiếm khi xuất hiện”, rồi có “con rắn hình thù kì quái bề ngang lớn hơn bề dài, có mào đỏ trên đầu, ban đêm cất tiếng gáy “te te” phát ra từ gốc cây nằm cạnh tòa tháp”.
Thời gian sau này người ta nhận định “rắn thần” có thể đã di chuyển lên vùng núi phía Tây thị xã Hương Trà. “Chúng tôi từng nhìn thấy dấu vết con vật bò trườn khiến cây cối bị gãy rạp. Nó nhằm hướng mấy ngọn núi trườn lên, đứa cháu tôi trong lúc đi làm đồng về đã thấp thoáng nhìn thấy rắn di chuyển nhưng không đủ can đảm đứng lại nhìn rõ”, người đàn ông tên Huy trong xóm mô tả.
Không rõ những câu chuyện trên có bao nhiêu phần trăm là sự thật, và tính hoang đường rõ ràng là nhiều hơn, tuy nhiên có một thực tế không thể phủ nhận là với người dân ở đây, di tích này có vị trí hết sức đặc biệt. Hiện phía trước hai tòa tháp vẫn còn ngôi miếu cổ khá nguyên vẹn có tên “Miếu bà cô xóm tháp” được xây dựng từ đời vua Thành Thái, là nơi dân làng thường xuyên hương khói.
Tháp Đôi Liễu Cốc là công trình đặc trưng của văn hóa Chămpa được xác định trên 1000 năm tuổi, gồm một tháp lớn và một tháp nhỏ. Tháp lớn có chiều cao khoảng 4m, tường tháp dày 1,6m, diện tích lòng tháp khoảng 9m2. Bên trong tháp còn lưu giữ một đoạn vòm cuốn gạch của đỉnh tháp, đây là nét đặc trưng kết cấu thể hiện trong các công trình kiến trúc - văn hóa tôn giáo Chăm.
Tháp nhỏ hoàn toàn giống tháp lớn về chất liệu cũng như kĩ thuật xây dựng nhưng diện tích lòng tháp chỉ rộng chừng 7m2. Ngày 20/7/1994 công trình Tháp Đôi Liễu Cốc được xếp hạng di tích cấp Quốc gia theo quyết định số 921/QĐBT.
Hiện nay di tích Tháp Đôi Liễu Cốc đang ở trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng nhưng vẫn chưa được trùng tu, tôn tạo.



Theo Mai Văn (Pháp luật Việt Nam)

Chiêm ngưỡng bộ trang sức cổ độc đáo thời Tiền sử
Thứ Sáu, 15/05/2015 07:52  
Từ thời Tiền sử, người Việt đã biết chế tác, sử dụng đồ trang sức. Ngoài ý nghĩa làm đẹp, đồ trang sức thời kỳ này còn là vật hộ mệnh, biểu hiện sự tôn quý, khẳng định đẳng cấp, quyền lực, sự giàu có.

Trước những ý nghĩa của các tuyệt tác trang sức độc đáo trên, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã phối hợp tổ chức trưng bày chuyên đề: “Trang sức cổ Việt Nam” tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế, số 3 Lê Trực, phường Thuận Thành, TP Huế (Thừa Thiên - Huế). Đây là dịp để người dân Cố đô Huế nói riêng và du khách trong, ngoài nước nói chung có cơ hội tìm hiểu về lịch sử phát triển, trình độ kỹ thuật và giá trị nghệ thuật của các món đồ trang sức quý hiếm ở Việt Nam ngày xưa.
Với nguồn nguyên liệu phong phú như: Vỏ nhuyễn thể, xương, sừng động vật, thủy tinh, đá quý, đồng, vàng, bạc… đồ trang sức xưa được chế tác dưới bàn tay khéo léo, óc sáng tạo và khiếu thẩm mỹ tin h tế của các nghệ nhân Việt.
Trong các bộ sưu tập được trưng bày tại buổi lễ, nổi bật nhất là bộ sưu tập đồ trang sức từ thời chúa Nguyễn đến thời các vua Nguyễn, thế kỷ 18 đến những năm 1945 của thế kỷ 20. Bằng sự sáng tạo độc đáo, bộ trang sức thời kỳ này mang nét quý phái đặc trưng của người Chăm Pa, Óc Eo phù Nam ở Nam Bộ.
Gần 100 mẫu đồ trang sức quý đã được trưng bày như: Trâm cài đầu bằng vàng khối với đầu trâm được tạo hình tượng chim phượng ngậm đèn lồng, hình hoa đào vô cùng tinh xảo; các bát sơn, vòng tay, thẻ bài, kim bội, kim khánh, ngọc bội đều làm bằng vàng, bạc hay ngọc quý được chế tác hết sức cầu kỳ, tinh xảo dưới bàn tay của các nghệ nhân Việt ngày xưa.
Anh Nguyễn Văn Thái, một du khách đến từ TP Hồ Chí Minh chia sẻ: “Được tận mắt chiêm ngưỡng những bộ sưu tập trang sức cổ vật quý giá này, chúng tôi ít nhiều hình dung được sự tài hoa, đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân. Qua đó, chúng tôi thấy được rằng, những đồ trang sức cổ ấy không chỉ để làm đẹp mà còn mang ý nghĩa là vật hộ mệnh, phục vụ đời sống tôn giáo và tín ngưỡng của dân tộc ta”.  


Dưới đây một số hình ảnh về bộ sưu tập trang sức cổ Việt Nam tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế:



Xâu hạt chuỗi từ những vỏ nhuyễn thể thuộc về nền văn hóa Bàu Tró, cách đây gần 5.000 năm

Vòng được đúc bằng đồng của cư dân văn hoá Đông Sơn xuất hiện cách đây 2.000 – 2.500 năm

Khóa bằng đồng được phát hiện cách đây khoảng 2.500 năm

Trâm cài đầu đúc bằng đồng cũng được phát hiện cách đây khoảng trên 2.000 năm

Vòng đeo tay bằng đồng chạm hình Phật nạm đá quý giữa thế kỷ 19-20 của bộ sưu tập cổ vật cung đình Triều Nguyễn

Móc đai lưng hình rồng bằng ngọc được phát hiện giữa thế kỷ 19-20

Cùng với ngọc bội hình chuông cổ và ngọc bội hình uyên ương…

Đặc biệt, đôi bao tay chất liệu đồng cũng được xuất hiện cách đây 2.000- 2.500 năm


Những chuỗi hạt, nhẫn, khuyên tai được chế tác từ vàng hết sức cầu kỳ và tinh xảo của văn hoá Óc Eo

Ngọc như ý thế kỷ 19

Bùa hộ mệnh bằng nanh thú bọc bạc giữa thế kỷ 19-20

Thẻ bài “Cơ mật Đại thần” bằng vàng nạm đá quý, niên hiệu Thành Thái (1889-1907)

Đặc biệt, trâm cài hình phượng ngậm đèn lồng bằng vàng khối thời chúa Nguyễn thế kỷ 18

Và Trâm hoa, vòng đeo tay bằng vàng, bạc nạm đá quý được chế tác hết sức tinh xảo

Một góc trưng bày trang sức cổ Việt Nam tại bảo tàng

Theo Phi Hoàng (Người đưa tin)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32