VIỆT NAM HIỀN HÒA 69
(ĐC sưu tầm trên NET)
Phóng viên sờ đầu pho tượng bí ẩn
Có ý kiến cho rằng, nó được xây dựng từ thời Lê Hoàn, nhưng cũng có ý kiến cho rằng, ngôi chùa được xây dựng trước Công nguyên.
Như vậy, đây có thể là ngôi chùa cổ nhất Việt Nam. Trong ngôi chùa ấy, còn có một pho tượng cổ khổng lồ và lạ lùng, đó là pho tượng được đắp trên một thân cây.
Theo mấy cụ bà trông chùa, thì người nắm rõ lịch sử ngôi chùa là ông Trần Anh Nghĩa, người làng Mỹ Cụ. Ông Nghĩa từng là công an xã, chủ tịch xã và bây giờ về hưu thì làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh của xã Chính Mỹ.
Dù nhiều năm làm cán bộ, nhưng ông vẫn luôn yêu mến lịch sử, văn hóa nên chịu khó sưu tầm lịch sử địa phương.
Về
chuyện pho tượng được đắp trên một thân cây, ông Nghĩa khẳng định là có
thật. Để minh chứng, ông dẫn tôi vào chùa Linh Sơn, chiêm bái pho tượng
mà theo ông là vô cùng đặc biệt này.
Đó là một pho tượng khổng lồ, sơn màu đồng, ngồi tọa thiền trên bệ hình tòa sen. Pho tượng có mái tóc xoăn giống người Ấn Độ.
Theo ông Nghĩa, đây là pho tượng A Di Đà. Tượng cao 2,5m, chu vi 3,2m, được đắp bằng chất liệu đất sét cùng giấy dó. Ông Nghĩa bảo tôi cứ tự nhiên trèo lên ban thờ Phật và… sờ đầu pho tượng.
Sau khi kính cẩn tạ lỗi, tôi trèo lên ban thờ, sờ đầu tượng A Di Đà và thấy rõ đỉnh đầu pho tượng là khúc gỗ trồi lên.
Theo lời ông Nghĩa, vào thời vua Lê Dụ Tông, người dân Mỹ Cụ cho rằng, pho tượng này giống “tượng Tàu”, nên bàn nhau quyết định phá.
Các cụ dùng dao búa phá tượng, thì thấy lộ ra một thân cây trong lòng tượng. Các cụ đào rỗng cả ban thờ, sâu xuống đất, song mãi mà không trốc được gốc cây lên.
Bỗng nhiên, từ dưới gốc cây, vọt lên một dòng nước mát lành, phun lên trời cao đến 10m. Rồi trong làng xảy ra đủ các loại biến cố, trâu chết tươi, người chết đứng.
Nghĩ rằng “người Tàu” đặt pho tượng này để yểm long mạch, hãi quá, dân làng phải đắp lại tượng. Pho tượng này được đắp lại từ thời Hậu Lê và vẫn còn đến ngày hôm nay. Từ đấy, người dân trong vùng kính cẩn thờ phụng pho tượng này.
Truyền thuyết ngôi chùa và pho tượng lạ
Theo truyền thuyết, từ thời Hùng Vương, làng Mỹ Cụ chỉ là cái trại nhỏ, do một số cư dân đến sinh sống lập ra.
Đến thời Thục Phán An Dương Vương, dân cư đông đúc hơn, trại được mở rộng thành trang (trang là đơn vị hành chính lớn hơn trại), được đặt tên là Mỹ Cát Trang, có nghĩa là bãi cát trắng rất đẹp.
Thành hoàng của làng Mỹ Cụ là vợ chồng cụ Lý Huy Chân và Đào Thị Bảo. Tên tuổi, gia cảnh hai cụ vẫn được ghi trong sử sách của làng, trong các câu chuyện truyền miệng và được thờ tự trong đền, đình.
Quê gốc hai cụ ở Thanh Hóa, là hào phú anh hùng, biết nghề địa lý, giỏi buôn bán thương nghiệp. Thời Hùng Vương, cụ Chân treo ấn từ quan, rồi dắt nhau di cư về vùng đất thuộc huyện Thủy Nguyên bây giờ.
Đến
vùng đất Mỹ Cụ, thấy đất đẹp, tiền có án thủy đáo đường (thủy triều lên
xuống), hậu có đan phượng hàm thư (con chim phượng ngậm sách), tả hữu
có song đồng sơn (hai quả núi hai bên), nên dừng chân, lập trại sinh
sống, buôn bán.
Xưa kia, nơi nào có đất thiêng, thì thầy địa lý thường khuyên mang mồ mả tổ tiên đến chôn, với niềm tin sẽ phát nghiệp đời sau.
Tất nhiên, cụ Chân đã rước mồ tổ tiên ra vùng đất này và chôn đúng huyệt thiêng giữa trại. Tuy nhiên, giờ đây, dân làng không biết huyệt đạo đó ở đâu.
Thời kỳ đó, biển tiến sát chân những quả núi này, với bãi cát trắng mênh mông. Công việc buôn thuyền bán bè khắp biển cả của vợ chồng cụ Chân rất phát, giàu có vô biên, vàng bạc chất thành núi.
Trong 4 năm ở làng, hai vợ chồng đã liên tiếp đẻ 4 người con, gồm 3 trai, 1 gái. Những người con được ăn học đầy đủ, lớn lên con trai khỏe mạnh, dũng mãnh, con gái xinh đẹp, cổ cao 3 ngấn, mắt phượng mày ngài.
Tiếc
thay, hai cụ mắc bệnh tiêu chảy, nên chết sớm và chết cùng ngày. 4 anh
em đã mai táng hai cụ lên núi Phượng Hoàng, đúng khu vực bây giờ là chùa
Linh Sơn.
Sau khi hai cụ mất, việc buôn bán, làm ăn sa sút. 4 anh em đang giàu có sung túc trở nên nghèo khổ. Không còn chốn dung thân, họ dắt nhau lên núi Phượng Hoàng, chỗ chùa Linh Sơn bây giờ và trú ngụ dưới gốc cây mộc hương (cây gỗ tỏa mùi thơm ngát).
Ngày đó, vùng này là những cánh rừng gỗ lim rậm rịt. Vậy nên, có thời kỳ, người ta gọi núi Rùa, cạnh núi Phượng Hoàng là núi Lim.
Mười mấy năm trước, một số người hút cát ở sông Si, con sông lượn cạnh núi Rùa, khi hút sâu xuống lòng sông vài mét, còn vớt được những thân gỗ lim khổng lồ, không rõ đã nằm dưới lòng sông bao nhiêu trăm, ngàn năm.
Trong
rừng có một con hổ khổng lồ, người dân gọi là hổ tướng, thường xuyên về
làng bắt người, khiến dân làng hết sức kinh sợ. 4 anh em họ Lý võ nghệ
cao cường, đã kéo nhau vào rừng săn tìm nhiều ngày và giết được con hổ.
Giết xong hổ tướng, 4 anh em lại trở về gốc mộc hương sinh sống. Tuy nhiên, từ hôm giết con hổ thì phong ba bão táp nổi lên, gió mưa vần vũ suốt 3 ngày liền.
Khi bão táp dừng, người dân nhìn lên núi Phượng Hoàng, thấy cây mộc hương rụng lá xác xơ. Dân trại kéo lên xem, thì không thấy 4 anh em họ Lý đâu cả, chỉ thấy 4 đống mối lùm lùm dưới gốc mộc hương. Người dân thương xót 4 anh em nên dựng miếu thờ.
Thời Hùng Vương, Thục Phán An Dương Vương có ý đồ xâm chiếm nước Việt, nên kéo quân xuống vùng Quảng Ninh. Vua Hùng đã sai tướng Vương Văn Chi đem quân đi chống.
Trên đường xuống Quảng Ninh, đến gốc mộc hương, ngựa của tướng Vương Văn Chi nhất định không cất bước, cứ hí vang trời.
Thấy sự lạ, ông cho dừng quân, ngủ lại ngôi đền này. Tam nam nhất nữ họ Lý đã báo mộng sẽ đi trước dẫn quân đánh trận. Quả đúng như giấc mơ, quân của Vương Văn Chi đánh đâu thắng đó, như chẻ tre. Quân Thục Phán bỏ chạy tán loạn.
Lúc quay về, Vương Văn Chi đã tụ họp dân trại quanh chân núi Phượng Hoàng và núi Rùa, kể lại sự tình và quyết định đốn hạ cây mộc hương, cắt làm 4 đoạn, tạc 4 pho tượng đặt trên núi để thờ.
Trong các sắc phong, thần phả, truyền thuyết, đều nói rằng, nơi thờ tam nam nhất nữ họ Lý, tiền có rồng đất (núi Rồng – giờ không rõ quả núi này đâu, có lẽ là một phần của dãy Phượng Hoàng - PV), hậu có hổ phục (núi Hổ Phục), tả có đan phượng hàm thư (chim phượng ngậm thư – núi Phượng Hoàng) và hữu có quy ẩn xà (con rắn quấn quanh con rùa – núi Rùa).
Sử
sách, truyền thuyết đều nói rõ như vậy, nhưng đến nay, không ai biết
ngôi miếu đó ở chỗ nào. Mấy trăm năm trước, người dân dựng đình làng Mỹ
Cụ, thì dựng lại 4 pho tượng anh em họ Lý, đến nay vẫn còn thợ phụng ở
đình.
Như vậy, liệu truyền thuyết này có liên quan gì đến pho tượng trong chùa Linh Sơn ở núi Phượng Hoàng? Liệu pho tượng này có phải được Vương Văn Chi đắp trùm lên cây mộc hương huyền thoại?
Cách đây chừng 20 năm, khi ông Trần Anh Nghĩa còn đương chức Chủ tịch UBND xã Chính Mỹ, đã được vinh dự đón Hòa thượng Kim Cương Tử (Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng đã mất năm 2001, thọ 88 tuổi) về thăm chùa Linh Sơn.
Sau khi nghiên cứu sắc phong, bia đá, mộ tháp, hòa thượng chỉ nói: “Ngôi chùa này đã có rất lâu đời”. Bản thân hòa thượng cũng không thể khẳng định chùa có từ khi nào. Nhưng trong cổ sử có ghi rằng, cha mẹ Lê Hoàn là người Thanh Hóa, vốn làm nghề đăng đó, đã về ngôi chùa này cầu và sinh vương.
Sau này, nhà nghiên cứu Dương Trung Quốc cũng về nghiên cứu và cho rằng thời Đinh đã khôi phục lại ngôi chùa này, còn nó có từ khi nào thì không ai biết.
Trong tâm trí người dân Mỹ Cụ, trong các câu chuyện truyền miệng, thì ngôi chùa này có từ trước Công nguyên, khi Phật giáo bắt đầu truyền vào Việt Nam. Hiện trong ngôi chùa này vẫn còn thờ nhiều pho tượng giống người Ấn Độ.
Như vậy, cùng với truyền thuyết về cây mộc hương, pho tượng lạ và chứng tích còn lại, Linh Sơn tự là ngôi chùa được xếp vào hàng cổ nhất Việt Nam?
Nguyệt Phong
| Chùa Dâu, Bắc Ninh ngôi chùa cổ nhất Việt Nam | ||
“Dù ai đi đâu về đâu
Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về, Dù ai buôn bán trăm nghề Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu”
Không biết tự bao giờ, những câu thơ trên đã lưu truyền trong dân gian và trở nên vô cùng gần gũi, tự hào đối với những người dân miền quê quan họ.
Cách Hà Nội khoảng 30 km, xuôi quốc lộ 5, tới Phú Thị, rồi rẽ theo quốc
lộ 182 đi chừng 12 km là về tời chùa Dâu, nay thuộc xã Thanh Khương,
huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Trở về nơi đây, ta không khỏi ngạc
nhiên trước vùng đất mang đậm chất trữ tình, thơ mộng, trước không gian
thanh tịnh của miền quê yên ả, hiền hòa, hiếu khách. Chùa Dâu cổ kính,
rêu phong, ẩn mình giữa những tán lá, lùm cây tạo trong lòng người cảm giác tĩnh tại, thực mà như mơ với bao huyền thoại về một xứ sở của vùng Dâu, Kinh Bắc xưa.
Chùa
Dâu còn có tên là Diên Ứng, Pháp Vân hay Cổ Châu, tọa lạc ngay trung
tâm của khu di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu và phong phú bậc nhất của
quê hương Kinh Bắc. Nơi đây là thủ phủ của quận Giao Chỉ (Giao Châu),
trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất
của nước ta, bao gồm thành cổ Luy Lâu, đền thờ và Lăng mộ Sỹ Nhiếp, hệ
thống chùa tháp, đền đài, cung điện, lầu gác, bến bãi, gốm cổ, phố chợ
sầm uất của đô thị Luy lâu,... là chứng tích một thời kỳ dài hàng chục
thế kỷ trước và sau Công nguyên.
1. Lịch sử
Chùa
Dâu là nơi giao lưu của hai luồng văn hóa Phật giáo, từ Ấn Độ sang và
từ phương Bắc xuống, chủ yếu bằng đường thủy theo dòng sông Dâu. Vào
buổi đầu Công Nguyên, các tăng sỹ Ấn Độ, tiêu biểu là Khâu-đà-la đã tới
đây truyền bá đạo Phật đầu tiên. Cuối thế kỷ VI, nhà sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi
từ Trung Quốc đến chùa này và lập nên một phái thiền ở Việt Nam. Chùa
Dâu trở thành trung tâm của phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, nơi trụ trì của nhiều
cao tăng Việt Nam, Ấn Độ và Trung Quốc đến để nghiên cứu, biên soạn,
phiên dịch kinh Phật, đào tạo tăng ni.
Chùa
được khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226, những tài liệu,
cổ vật còn lại ở chùa Dâu, đặc biệt là bản khắc “Cổ Châu Pháp vân Phật
bản hạnh”, có niên đại 1752 cùng kết quả nghiên cứu về lịch sử Phật Việt
Nam của các nhà sử học và Phật học đã khẳng định “Chùa Dâu là tổ đình
của Phật giáo Việt Nam”, được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử ngày
28/4/1962.
Năm
1913, chùa được xây dựng lại và trùng tu nhiều lần qua các thế kỷ tiếp
theo. Đời nhà Trần, vua Trần Nhân Tông đã sai Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi
về kiến thiết lại chùa Dâu thành “chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu
chín nhịp”. Trải qua bao thăng trầm và chiến tranh tàn phá nhưng chùa
Dâu với tháp gạch cao sừng sững, với tòa ngang, dãy dọc nguy nga, cổ
kính vẫn còn đó.
Chùa
Dâu gắn với huyền tích Phật mẫu Man Nương và tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp
Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện), là biểu hiện sinh động sự kết hợp nhuần nhuyễn
giữa tín ngưỡng dân gian của người Việt với Phật giáo khi mới du nhập.
Tương truyền, nàng Man Nương, cô gái Kẻ Mèn (nay thuộc xã Hà mãn, Thuận
Thành) dốc tâm học đạo Phật, một hôm nằm ngủ quên, sư Khâu –đà –la vô
tình bước qua mà bỗng nhiên mang thai. Kết quả đến giờ Ngọ ngày 08 tháng
4 (âm lịch) thì sinh một nữ nhi. Nàng liền đem con đến trả cho sư
Khâu-đà-la. Nhà sư mang đứa bé đén gốc cây dung thụ gõ cây đọc kệ. Cây
dung thụ bỗng nứt toác ra ôm đúa bé vào lòng. Rồi Khâu-đà-la cho Man
Nương cây tích trượng và dặn khi nào có đại hạn cứ cắm xuống đất và phát
nguyện thì sẽ có nước để cứu dân. Thế rồi vào năm Giáp Tý, mưa bão đánh
đổ cây dung thụ trôi theo dòng sông Dâu về đến thành Luy Lâu thì quẩn
không trôi được nữa. Bao nhiêu chàng trai trong vùng được huy động đến
kéo cây vào bờ nhưng cây không hề nhúc nhích. Vừa lúc đó, Man Nương vô
tình ra sông rửa tay, bỗng dưng cây dập dình như con tìm thấy mẹ. Man
Nương ném dải yếm ra thì cây dung thụ trôi ngay vào bờ. Cũng khi ấy Sỹ
Nhiếp trong thành Luy Lâu được mộng phải tạc cây dung thụ thành tượng Tứ
Pháp để thờ. Sỹ Nhiếp cho ngay thợ xẻ cây dung thụ tạc tượng Tứ Pháp.
Khi tượng đã làm xong, làm lễ đặt tên cho pho thứ nhất thì bỗng thấy
trời nổi mây ngũ sắc liền đặt tên là Pháp Vân, thờ ở chùa Dâu, dân gian
gọi là bà Dâu. Khi đặt tên cho Pho thứ hai thì bỗng thấy trời nổi gió
lớn liền đặt tên là Pháp Vũ, thờ ở Chùa Thành Đạo (tức chùa Đậu) dân
gian gọi là bà Đậu. Đến khi đặt tên cho pho thứ ba thì bỗng thấy trời
nổi sấm ầm ầm thì liền đăt tên là Pháp Lôi thờ ở chùa Phi Tướng (tức
chùa Tướng) dân gian gọi là bà Tướng. Đến khi đặt cho pho thứ tư thì
bỗng thấy trời nổi chớp, liền đặt tên là Pháp Điện thờ ở chùa Phương
Quan (tức chùa Dàn) dân gian gọi là bà Dàn. Nhưng khi làm lễ rước Phật
Tứ Pháp về các chùa, chỉ được ba pho, còn pho tượng Pháp Vân không hề
chuyển động. Hỏi ra mới biết khi tạc tượng rìu đẽo phải hòn đá trong cây
dung thụ đã quẳng xuống sông. Tức thì dân các làng chài quanh đấy được
phái đi mò nhưng không hề thấy. khi Man Nương đi dò đến nơi thì bỗng
nhiên hòn đá dưới nước nhảy lên vào lòng và phát sáng. Hòn đá đó đặt tên
là Phật Thạch Quang được thờ ở chùa Dâu.
Câu
chuyện nàng Man Nương được giải thích là sự mầu nhiệm của “nhân thiên
hợp khí”. Thực chất đó là cuộc hôn phối giữa đạo phật với tín ngưỡng bản
địa, tiền thân của Tứ pháp (Mây, Mưa, Sấm, Chớp) thờ ở vùng Dâu, Luy
Lâu rồi lan tỏa ra nhiều vùng khác. Ngày mồng 8 tháng 4 không chỉ là
ngày sinh Phật Thích Ca (Ấn Độ) mà là ngày sinh của Phật Tứ Pháp (Việt
Nam).
2. Kiến trúc
Chùa
Dâu ngày nay là kiến trúc tu sửa của thời Hậu Lê (thế kỷ 17-18). Cũng
giống như nhiều ngôi chùa cổ Việt Nam, chùa được xây dựng theo kiểu
“nội công ngoại quốc”. bốn dãy nhà liên thông hình chữ nhất bao quanh ba
ngôi nhà chính: tiền đường, thiêu hương và thượng điện. Tiền đường của
chùa Dâu đặt tượng Hộ pháp, tám vị Kim Cương; gian thiêu hương đặt tượng
Cửu Long, hai bên có tượng các vị Diêm Vương, Tam Châu Thái tử, Mạc
Đĩnh Chi. Thượng Điện để tượng bà Dâu (Pháp Vân), Bà Đậu (Pháp vũ), hai
bên tượng bà Dâu là tượng Kim Đồng, Ngọc Nữ với khuôn mặt sống động
trong tư thế của một điệu múa cổ xưa, phía trước là một hộp gỗ trong đặt
Thạch Quang Phật là một khối đá. Các pho tượng Bồ tát, Tam thế, Đức
ông, Thánh tăng được đặt ở phần hậu điện phía sau chùa chính. Do chùa
Đậu (Bắc Ninh) bị phá hủy, nên tượng bà Đậu (Pháp Vũ) được đưa về thờ ở
chùa Dâu. Ngoài ra, trong chùa còn có rất nhiều pho tượng như: tượng tổ
sư Tỳ- ni-đa-lưu- chi, 18 vị La Hán,…
![]()
Tượng Pháp Vân, phía trước là hộp đặt Thạch Quang Phật
![]()
Các pho tượng Bồ Tát, Tam Thế, Đức Ông, Thánh Tăng được đặt ở phần hậu điện sau chùa chính
![]()
Gian thiêu hương đặt tượng Cửu Long, hai bên có tượng các vị Diêm Vương, Tam Châu Thái tử
Chính
giữa sân chùa trước bái đường, có ngôi tháp Hòa Phong, xây bằng gạch
trần cỡ lớn ngày xưa, được nung thủ công tới độ có màu sẫm già của vại
sành, cao chín tầng, nay chỉ còn ba tầng, cao khoảng 17m. Mặt trước tầng
2 có gắn bảng đá khắc chữ "Hòa Phong tháp". Chân tháp vuông, mỗi cạnh
gần 7 m. Tầng dưới có 4 cửa vòm. Trong tháp có treo một quả chuông đồng
đúc năm 1793 và một chiếc khánh đúc năm 1817. Có 4 tượng Thiên Vương - 4
vị thần trong truyền thuyết cai quản 4 phương trời- cao 1,6 m ở bốn
góc.
![]()
Bên trong tháp Hòa phong
Tháp Hòa phong
Con cừu đá
Trước
tháp, bên phải có tấm bia vuông dựng năm 1738, bên trái có tượng một
con cừu đá dài 1,33 m, cao 0,8 m. Truyền sử kể rằng: vào thời Luy Lâu
còn là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của cả nước ta, có vị sư
người Tây Thiên sang nước ta tu hành truyền bá đạo Phật. Ông dắt theo 2
con cừu. Một hôm sơ ý để 2 con đi lạc, 1 con lạc đến chùa Dâu, 1 con lạc
đến Lăng Sĩ Nhiếp (thái thú Giao Chỉ thời đó), dân ở 2 vùng này đã tạc
tượng 2 con cừu bằng đá ở nơi chúng đến để thờ. Do vậy hiện nay chùa Dâu
có 1 con, Lăng Sĩ Nhiếp (cách đó 3 km) có 1 con.
3. Lễ hội chùa Dâu
Ngày
mùng 8 tháng 4 âm lịch hàng năm, các chùa thờ Tứ Pháp tổ chức hội với
trung tâm là chùa Dâu. Đây là lễ hội được coi là cổ nhất còn tồn tại đến
ngày nay. Sử sách cho biết các vua chúa thường về đây dự lễ hội, lễ
Phật, cầu đảo, thậm chí tượng Pháp Vân nhiều lần được rước về kinh đô
Thăng Long để cầu đảo. Lễ hội được tổ chức với những nghi lễ trang
nghiêm, trọng thể theo đúng phong tục truyền thống kỷ niệm ngày Phật mẫu
Man Nương hạ sinh nữ nhi. Lễ hội có nhiều nghi thức sinh hoạt dân gian
và nhiều trò diễn xướng phong phú, hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách
thập phương, tín đồ, tăng, ni phật tử đến cúng lễ, dâng hương, dự hội.
Hội
Dâu có 12 làng (xưa là xã) thuộc tổng Dâu (tức tổng Khương Tự) cùng
phối hợp tổ chức, 12 làng nay thuộc 3 xã Thanh Khương, Trí Quả, Hà Mãn.
Hội diễn ra trong 02 ngày mồng tám và mồng chín tháng 4 âm lịch, ngày
mồng tám là hội chính.
![]()
Một cảnh rước trong lễ hội
Hoạt
động chính của hội là các làng tổ chức rước các tượng Pháp Vân (bà
Dâu), Pháp Vũ (bà Đậu), Pháp Lôi (bà Tướng), Pháp Điện (bà Dàn) từ các
chùa của làng mình về chùa Dâu “công đồng” (hội tụ các yếu tố Mây+ Sấm
+Chớp= Mưa), đám rước gồm ngựa thờ, cờ lọng, cống bát quái,... Điều đặc
sắc, ấn tượng nhất là khi tới chùa Dâu thì diễn ra trò “mẹ đuổi con”.
Kiệu bà Dâu, bà Đậu, bà Tướng, bà Dàn, mỗi kiệu được rước chạy 03 vòng
rồi trở về chỗ cũ. Sau đó diễn ra trò “cướp nước” được đón đợi nhiều
nhất, khi có hiệu lệnh, kiệu bà Tướng (bà Sấm, bà Đậu (bà Mưa) đua nhau
rước chạy ra tam quan. Kiệu rước bà nào đến trước thì bà đó được nước,
là thắng. người dân quan niệm rằng, nếu là bà Đậu thì năm ấy được mùa,
nếu là bà Tướng thì năm ấy ruộng đồng lắm sâu, nhiều đỉa, làm ăn trắc
trở.
Bên
cạnh đó, dân xã còn tổ chức rước “Phật Thạch Quang” và “Phật Tứ Pháp”
về chùa Mãn Xá (quê mẹ Man Nương để bái tổ), rước “tuần nhiễu”,…
Ý
nghĩa quan trọng nhất của hội Dâu là cầu cho mưa thuận gió hòa, ước
vọng ngàn đời của cư dân nông nghiệp, một lễ hội Phật giáo lớn của vùng
đồng và Trung du Bắc Bộ. Mỗi dịp lễ hội hàng năm với sự diễn lại sự tích
của các vị Tứ Pháp, Man Nương, hội chùa Dâu đã biểu lộ sự sùng bái tín
ngưỡng phồn thực cổ sơ của cư dân vùng lúa nước. Trải qua hàng ngàn năm,
phần “lễ” của hội đã ít nhiều bị mai một, mặc dù vậy chúng ta vẫn nhận
thấy chân nét đẹp, giá trị văn hóa truyền thống phản ánh đời sống tín
ngưỡng đa dạng, sự sáng tạo phong phú của người xưa còn được lưu giữ đến
ngày nay./.
Bắc Giang
| ||
Bí ẩn pho tượng trùm thân cây và ngôi chùa cổ nhất VN?
Có ý kiến cho rằng, nó được xây dựng từ thời Lê Hoàn, nhưng cũng có ý kiến cho rằng, ngôi chùa được xây dựng trước Công nguyên.
Như vậy, đây có thể là ngôi chùa cổ nhất Việt Nam. Trong ngôi chùa ấy, còn có một pho tượng cổ khổng lồ và lạ lùng, đó là pho tượng được đắp trên một thân cây.
Theo mấy cụ bà trông chùa, thì người nắm rõ lịch sử ngôi chùa là ông Trần Anh Nghĩa, người làng Mỹ Cụ. Ông Nghĩa từng là công an xã, chủ tịch xã và bây giờ về hưu thì làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh của xã Chính Mỹ.
Dù nhiều năm làm cán bộ, nhưng ông vẫn luôn yêu mến lịch sử, văn hóa nên chịu khó sưu tầm lịch sử địa phương.
| Ngôi chùa Linh Sơn dưới chân núi Phượng Hoàng |
Đó là một pho tượng khổng lồ, sơn màu đồng, ngồi tọa thiền trên bệ hình tòa sen. Pho tượng có mái tóc xoăn giống người Ấn Độ.
Theo ông Nghĩa, đây là pho tượng A Di Đà. Tượng cao 2,5m, chu vi 3,2m, được đắp bằng chất liệu đất sét cùng giấy dó. Ông Nghĩa bảo tôi cứ tự nhiên trèo lên ban thờ Phật và… sờ đầu pho tượng.
Sau khi kính cẩn tạ lỗi, tôi trèo lên ban thờ, sờ đầu tượng A Di Đà và thấy rõ đỉnh đầu pho tượng là khúc gỗ trồi lên.
Theo lời ông Nghĩa, vào thời vua Lê Dụ Tông, người dân Mỹ Cụ cho rằng, pho tượng này giống “tượng Tàu”, nên bàn nhau quyết định phá.
Các cụ dùng dao búa phá tượng, thì thấy lộ ra một thân cây trong lòng tượng. Các cụ đào rỗng cả ban thờ, sâu xuống đất, song mãi mà không trốc được gốc cây lên.
Bỗng nhiên, từ dưới gốc cây, vọt lên một dòng nước mát lành, phun lên trời cao đến 10m. Rồi trong làng xảy ra đủ các loại biến cố, trâu chết tươi, người chết đứng.
Nghĩ rằng “người Tàu” đặt pho tượng này để yểm long mạch, hãi quá, dân làng phải đắp lại tượng. Pho tượng này được đắp lại từ thời Hậu Lê và vẫn còn đến ngày hôm nay. Từ đấy, người dân trong vùng kính cẩn thờ phụng pho tượng này.
| Pho tượng cổ khổng lồ này được đắp trùm lên thân cây |
Truyền thuyết ngôi chùa và pho tượng lạ
Theo truyền thuyết, từ thời Hùng Vương, làng Mỹ Cụ chỉ là cái trại nhỏ, do một số cư dân đến sinh sống lập ra.
Đến thời Thục Phán An Dương Vương, dân cư đông đúc hơn, trại được mở rộng thành trang (trang là đơn vị hành chính lớn hơn trại), được đặt tên là Mỹ Cát Trang, có nghĩa là bãi cát trắng rất đẹp.
Thành hoàng của làng Mỹ Cụ là vợ chồng cụ Lý Huy Chân và Đào Thị Bảo. Tên tuổi, gia cảnh hai cụ vẫn được ghi trong sử sách của làng, trong các câu chuyện truyền miệng và được thờ tự trong đền, đình.
Quê gốc hai cụ ở Thanh Hóa, là hào phú anh hùng, biết nghề địa lý, giỏi buôn bán thương nghiệp. Thời Hùng Vương, cụ Chân treo ấn từ quan, rồi dắt nhau di cư về vùng đất thuộc huyện Thủy Nguyên bây giờ.
| Trên đầu pho tượng này vẫn trồi lên mặt khúc gỗ, là thân cây xuyên xuống tận lòng đất |
Xưa kia, nơi nào có đất thiêng, thì thầy địa lý thường khuyên mang mồ mả tổ tiên đến chôn, với niềm tin sẽ phát nghiệp đời sau.
Tất nhiên, cụ Chân đã rước mồ tổ tiên ra vùng đất này và chôn đúng huyệt thiêng giữa trại. Tuy nhiên, giờ đây, dân làng không biết huyệt đạo đó ở đâu.
Thời kỳ đó, biển tiến sát chân những quả núi này, với bãi cát trắng mênh mông. Công việc buôn thuyền bán bè khắp biển cả của vợ chồng cụ Chân rất phát, giàu có vô biên, vàng bạc chất thành núi.
Trong 4 năm ở làng, hai vợ chồng đã liên tiếp đẻ 4 người con, gồm 3 trai, 1 gái. Những người con được ăn học đầy đủ, lớn lên con trai khỏe mạnh, dũng mãnh, con gái xinh đẹp, cổ cao 3 ngấn, mắt phượng mày ngài.
| Linh Sơn tự ẩn dưới những bóng cổ thụ |
Sau khi hai cụ mất, việc buôn bán, làm ăn sa sút. 4 anh em đang giàu có sung túc trở nên nghèo khổ. Không còn chốn dung thân, họ dắt nhau lên núi Phượng Hoàng, chỗ chùa Linh Sơn bây giờ và trú ngụ dưới gốc cây mộc hương (cây gỗ tỏa mùi thơm ngát).
Ngày đó, vùng này là những cánh rừng gỗ lim rậm rịt. Vậy nên, có thời kỳ, người ta gọi núi Rùa, cạnh núi Phượng Hoàng là núi Lim.
Mười mấy năm trước, một số người hút cát ở sông Si, con sông lượn cạnh núi Rùa, khi hút sâu xuống lòng sông vài mét, còn vớt được những thân gỗ lim khổng lồ, không rõ đã nằm dưới lòng sông bao nhiêu trăm, ngàn năm.
| Ông Trần Anh Nghĩa bên một tháp mộ cạnh chùa Linh Sơn |
Giết xong hổ tướng, 4 anh em lại trở về gốc mộc hương sinh sống. Tuy nhiên, từ hôm giết con hổ thì phong ba bão táp nổi lên, gió mưa vần vũ suốt 3 ngày liền.
Khi bão táp dừng, người dân nhìn lên núi Phượng Hoàng, thấy cây mộc hương rụng lá xác xơ. Dân trại kéo lên xem, thì không thấy 4 anh em họ Lý đâu cả, chỉ thấy 4 đống mối lùm lùm dưới gốc mộc hương. Người dân thương xót 4 anh em nên dựng miếu thờ.
Thời Hùng Vương, Thục Phán An Dương Vương có ý đồ xâm chiếm nước Việt, nên kéo quân xuống vùng Quảng Ninh. Vua Hùng đã sai tướng Vương Văn Chi đem quân đi chống.
| Ngôi tượng giống người Ấn Độ trong chùa và truyền thuyết về Linh Sơn tự khiến người dân tin rằng ngôi chùa này có từ trước Công nguyên |
Thấy sự lạ, ông cho dừng quân, ngủ lại ngôi đền này. Tam nam nhất nữ họ Lý đã báo mộng sẽ đi trước dẫn quân đánh trận. Quả đúng như giấc mơ, quân của Vương Văn Chi đánh đâu thắng đó, như chẻ tre. Quân Thục Phán bỏ chạy tán loạn.
Lúc quay về, Vương Văn Chi đã tụ họp dân trại quanh chân núi Phượng Hoàng và núi Rùa, kể lại sự tình và quyết định đốn hạ cây mộc hương, cắt làm 4 đoạn, tạc 4 pho tượng đặt trên núi để thờ.
Trong các sắc phong, thần phả, truyền thuyết, đều nói rằng, nơi thờ tam nam nhất nữ họ Lý, tiền có rồng đất (núi Rồng – giờ không rõ quả núi này đâu, có lẽ là một phần của dãy Phượng Hoàng - PV), hậu có hổ phục (núi Hổ Phục), tả có đan phượng hàm thư (chim phượng ngậm thư – núi Phượng Hoàng) và hữu có quy ẩn xà (con rắn quấn quanh con rùa – núi Rùa).
| Cây tùng cổ tỏa bóng mát che chùa Linh Sơn, được cho rằng đã 700 tuổi |
Như vậy, liệu truyền thuyết này có liên quan gì đến pho tượng trong chùa Linh Sơn ở núi Phượng Hoàng? Liệu pho tượng này có phải được Vương Văn Chi đắp trùm lên cây mộc hương huyền thoại?
Cách đây chừng 20 năm, khi ông Trần Anh Nghĩa còn đương chức Chủ tịch UBND xã Chính Mỹ, đã được vinh dự đón Hòa thượng Kim Cương Tử (Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng đã mất năm 2001, thọ 88 tuổi) về thăm chùa Linh Sơn.
Sau khi nghiên cứu sắc phong, bia đá, mộ tháp, hòa thượng chỉ nói: “Ngôi chùa này đã có rất lâu đời”. Bản thân hòa thượng cũng không thể khẳng định chùa có từ khi nào. Nhưng trong cổ sử có ghi rằng, cha mẹ Lê Hoàn là người Thanh Hóa, vốn làm nghề đăng đó, đã về ngôi chùa này cầu và sinh vương.
Sau này, nhà nghiên cứu Dương Trung Quốc cũng về nghiên cứu và cho rằng thời Đinh đã khôi phục lại ngôi chùa này, còn nó có từ khi nào thì không ai biết.
Trong tâm trí người dân Mỹ Cụ, trong các câu chuyện truyền miệng, thì ngôi chùa này có từ trước Công nguyên, khi Phật giáo bắt đầu truyền vào Việt Nam. Hiện trong ngôi chùa này vẫn còn thờ nhiều pho tượng giống người Ấn Độ.
Như vậy, cùng với truyền thuyết về cây mộc hương, pho tượng lạ và chứng tích còn lại, Linh Sơn tự là ngôi chùa được xếp vào hàng cổ nhất Việt Nam?
Nguyệt Phong





Nhận xét
Đăng nhận xét