CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ 53
(ĐC sưu tầm trên NET)
Đời nhà Hồ, chiến truyền được đóng mới to lớn hơn, có nhiều tầng lát ván sàn tiện cho việc đi lại, chiến đấu; còn vũ khí thì ra đời nhiều loại mới và hiện đại hơn.
Vũ khí tiến bộ vượt bậc
Sử sách chép rằng, Hồ Quý Ly đã ra lệnh mở xưởng đúc vũ khí, phát hành tiền giấy, thu hồi tiền đồng để đúc súng, tuyển thợ giỏi vào làm việc trong các công xưởng quân sự. Vì thế, vũ khí, thiết bị quân sự vào thời kỳ này đã có những bước tiến quan trọng về mặt kỹ thuật và tính năng quân sự. Thủy binh đã được trang bị thuyền chiến lớn hơn trước và có khả năng thủy chiến khá tốt.
Cụ thể, bên cạnh kế thừa các chiến thuyền của các triều đại trước, như: Mông Đồng (hai đáy), Lưỡng Phúc (hai lòng), Ngự (thuyền chỉ huy), Lâu thuyền (thuyền lầu), Trường Quang, Châu Kiều và Đinh Sắt… Năm 1404, Hồ Hán Thương cho đóng Trung tàu tải lương, Cổ lâu thuyền tải lương - một loại thuyền chiến lớn đóng đinh sắt, có hai tầng boong với hàng chục tay chéo và hai người điều khiển một mái chèo, để chở lương nhưng cũng sẵn sàng chiến đấu.

Một đoạn thành nhà Hồ tại huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Thành nhà Hồ được đặt nền móng xây dựng vào năm 1397. Đây là công trình kiến trúc đồ sộ được xây dựng bằng đá độc nhất vô nhị ở Việt Nam, với 4 bên được bao quanh bằng tường đá, tổng khối lượng đá được sử dụng để xây thành khoảng 20.000m3 và gần 100.000m3 đất được đào đắp. Trong lòng đất của khu di tích này còn lưu giữ các dấu tích cung điện, đền đài, đường sá và nghệ thuật trang trí, các làng cổ cùng toàn bộ cảnh quan đồi núi, sông hồ mang đậm chất phong thủy điển hình.
Di sản Thành nhà Hồ còn thể hiện sự giao thoa văn hóa giữa Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Thành nhà Hồ được công nhận di tích quốc gia từ năm 1962. Sau 6 năm xây dựng hồ sơ và đệ trình UNESCO (từ năm 2006 đến năm 2011), Thành nhà Hồ đã chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hoá của nhân loại.
Vĩnh Khang
Theo đó, trang trí vẽ thuyền trở thành nghi lễ quốc gia. Thủy quân chia thành nhiều phiên hiệu rạch ròi, như: Thiện Hải thuyền của vua chúa khi xuất trận; còn Đấu thuyền, Lâu thuyền Tẩu Kha thuyền, Khai lãng thuyền, Hải Cốt thuyền...có hình dáng, cấu trúc, chạm khắc, màu sắc, vương huy, vương hiệu khác nhau…
Cải tổ thủy quân
Ngay trong năm đầu tiên ở ngôi vua, Lê Thái Tổ đã ban hành quy chế cụ thể cho lực lượng thủy quân cũng như vũ khí cho binh lính. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Vào ngày mồng 10 tháng 8 năm Mậu Thân (1428), vua định các khí vật như cờ xí, nghi trượng cho các quân, chiến khí và thuyền ghe: trung đội cờ vàng, thượng đội cờ đỏ, hạ đội cờ trắng. Mỗi vệ một lá cờ lớn của chủ tướng. Mỗi quân một lá cờ hạng trung, 10 lá cờ đội và 40 lá cờ nhỏ. Thuyền chiến có hỏa công 10 chiếc, thuyền nhỏ đi tuần thám hai chiếc… Ngoài trang phục chung giống như các lực lượng khác, thủy quân thời Lê sơ đội nón thủy ma và nón sơn đỏ để có sự phân biệt”.
Từ tiền đề trên, sau đó không bao lâu, nhà Lê đã có một lực lượng thủy quân khá mạnh. Đến năm 1435, Lê Thái Tông sau khi xem bộ binh diễn tập, đã xem thủy quân diễn tập ở sông Hồng. Tiếp đó, vào năm 1438, Lê Thái Tông lại sai chiến thuyền của năm đạo quân diễn tập thủy chiến. Rồi khi thấy Chiêm thành hay cho quân xâm phạm biên giới, năm 1446, vua Lê Nhân Tôn sai Lê Thụ, Lê Khả đem thủy quân đánh Chiêm Thành, quân Đại Việt đánh chiếm cửa biển Thi Nại, rồi tiến lên đánh chiếm thành Cha Bàn, bắt được vua Chiêm Bí Cái...
Đến thời Lê Thánh Tông, thủy quân của Đại Việt ngày càng hùng mạnh và lập được nhiều chiến công. Nhà Lê có nhiều loại chiến thuyền lớn nhỏ, có chiến thuyền được trang bị bằng hỏa khí. Năm 1964, vua ban hành phép duyệt trận đồ thủy chiến của thủy binh như: Trung hư, Thường sơn xà, Mãn thiên tinh, Nhạn hàng, Liên châu, Ngư đội, Tam tài hành, Thất môn, Yến nguyệt... Mỗi loại trận đồ có hàng trăm thuyền chiến tham gia tập trận. Nhà vua còn định ra quân lệnh về thủy trận gồm 31 điều - đây là "Điều lệ thủy binh" bằng văn bản đầu tiên của quân thủy Việt Nam.
Cũng nhờ sự quan tâm đến xây dựng quân đội, trong đó có thủy binh nên thời Lê Thánh Tông, đội chiến thuyền lớn nhất lịch nước ta đã được thành lập. Vào năm Kỷ Sửu (1469), Lê Thánh Tông đã huy động một phần trong số đó đi chinh phạt Chiêm Thành. Theo sử sách, ngoài lực lượng bộ binh thì có tới 25 vạn thủy quân và 5.000 chiến thuyền do nhà vua đích thân chỉ huy trong cuộc Nam chinh đó.
Như vậy, với quân bộ, quân thủy dưới thời vua Lê Thánh Tông dần được hoàn thiện về tổ chức; thủy quân được chia làm 4 đội: Hải hồng quân, Hải mã quân, Hải kình quân và Hải điểu quân; được trang bị hàng vạn chiến thuyền có ống phun lửa (còn gọi là hỏa đồng), bố trí ở tất cả các cửa sông, cửa cửa biển xung yếu, góp phần quan trọng bảo vệ giang sơn, đất nước.
Đưa Hoàng Sa, Trường Sa vào bản đồ Đại Việt
Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thời xưa được cha ông ta thường coi là một dải đảo dài nên gọi chung bằng các tên khác nhau như Bãi Cát Vàng, Cồn Vàng, Vạn lý Hoàng Sa, Vạn lý Trường Sa, Đại Trường Sa…
Tư liệu từ triều nhà Hồ trở về trước đã bị mất mát, phá hoại rất nhiều vào thời giặc Minh xâm lược nước ta nhưng việc Lê Thánh Tông cho lập bản đồ toàn quốc gọi chung là Hồng Đức bản đồ vào năm Canh Tuất (1490), trong đó có cả Hoàng Sa và Trường Sa, điều này cho thấy trước đó hai quần đảo này đã thuộc chủ quyền Đại Việt và nhà Hậu Lê sau khi chiến thắng quân Minh, đã hết sức quan tâm tới việc xác lập biên giới quốc gia, khẳng định chủ quyền lãnh thổ trong đó có vùng biển, đảo.
Căn cứ vào Hồng Đức bản đồ, nho sinh Đỗ Bá (tự Công Đạo) đã soạn ra bộ sách Toàn tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư (1630 – 1653), ở quyển 1 có thể hiện địa mạo phủ Quảng Ngãi, phần chú thích trên bản đồ có nói tới Bãi Cát Vàng tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày nay: “Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, dựng đứng giữa biển” và có một bản đồ vẽ nhóm đảo thuộc Quảng Ngãi, phủ Thăng Hoa với chú thích chữ Nôm là “Bãi Cát Vàng”.
Toàn tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư theo lệnh của Chúa Trịnh những năm Chính Hòa (1689-1705) là văn kiện chính thức của Nhà nước phong kiến bấy giờ. "Bãi Cát Vàng” được ghi chú trong bản đồ phản ánh việc thực thi chủ quyền của Nhà nước phong kiến Việt Nam trên biển Đông trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa - muộn nhất là vào thế kỷ thứ XV.
Cũng theo Thiên nam lộ đồ, bản đồ xứ Quảng Nam đời Lê, được vẽ lại năm 1741 (bản sao chép của Dumoutier), có “Bãi cát vàng” - tức Hoàng Sa ngày nay.
(An Ninh Quốc Phòng) - Nhiều năm trở lại đây nhận thấy được sự biến động rất lớn về tình hình an ninh trong khu vực đặc biệt là vấn đề trên Biển Đông. Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng đầu tư và nâng cấp trang thiết bị khí tài cho lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam nói chung và lực lượng hải quân Việt Nam nói riêng không ngừng lớn mạnh. Sau đây nhằm cung cấp thông tin chi tiết cho bạn đọc nắm rõ hơn nữa về lực lượng tàu chiến Việt Nam hiện có, BBT xin giới thiệu đến quý độc giả loạt bài này.
1.Chiến hạm đầu tiên của Việt Nam: Tàu tuần dương Petya II – III
Petya II và III là lớp chiến hạm hiện đại đầu tiên được hải quân Việt Nam nhận về sau khi giải phóng miền nam, năm 1978-1979 đã tham chiến trong cuộc chiến với Khmer đỏ. Hiện nay Petya vẫn còn phục vụ trong lực lượng HQ Việt Nam.
Loại chiến hạm Petya II này có độ giãn nước 1077 tấn, kích thước 81.8 x 9.2 x 2.85 m. Sức đẩy 3 trục, 6000bhp với hai động cơ đẩy Turbines khí 30.000 shp. Tốc độ của loại tàu này lf 29 hải lý/giờ.

Tàu được trang bị radar Fut-N/Strut Curve 2-D. Hệ thống vũ khí bao
gồm: hai tháp pháo với súng hai nòng 76.2mm, 2 ống phóng ngư lôi 15.8
inch, hai dàn phóng tên lửa RBUU-6000 ASWRL
Còn loại tàu Petya III có độ giãn nước 1.040 tấn, kích thước 81.8 x 9.2 x 2.72 m. Sức đẩy 3 trục gồm một động cơ diesel, 6000 bhp với hai động cơ đẩy turbines khí 30.000 shp. Tốc độ tương đương với tàu tuần dương Petya II là 29 hải lý/giờ.
Petya III được trang bị radar Fut-N/Strut Curve 2-D. Hơn nữa tàu còn được lắp đặt hệ thống định vị siêu âm Titan hull mounted MF có thể phát hiện tàu ngầm và hệ thống định vị Herkules lắp trên thân.

Hệ thống vũ khí của Petya-III gồm có 2 tháp pháo với đại bác đôi 76,2
mm AK-726 với tầm bắn thẳng mục tiêu trên biển xa 8.2 km. AK-726 được
điểu khiển bằng hệ thống tự động Fut-B có thể bắn hạ máy bay có tốc độ
bay từ 350 – 650 m/s, ở độ cao từ 500 – 6000 m. Tầm bắn tối đa là 18,3
km. Tốc độ bắn là 45 viên trong 1 phút. Tuy nhiên đây là hệ thống pháo
khá cũ được sản xuất vào các năm 1958 – 1964, cho nên có nhiều hạn chế
về tầm bắn cũng như độ chính xác.
Petya-III còn có 2 dàn Rocket RBU-6000 chống ngầm với 12 ống phóng mỗi dàn, sử dụng rocket cỡ 213 mm RGB-60 không điều khiển có khả năng bắn xuống mặt nước sâu từ 10-500m với tốc độ 11,5 m/s, tầm xa từ 350 – 5800 m. RBU-6000 được điều khiển bởi hệ thống Burya, ngoài nhiệm vụ chính là chống tàu ngầm và tàu chiến khác, RBU-6000 còn dùng để oanh kích các mục tiêu bờ biển. Ngoài ra Petya-III còn có 10 trái ngư lôi cỡ 400 mm.

HIện nay Việt nam có ba tàu tuần dương Petya II và hai chiếc Petya
III mang tên HQ-09 và HQ-11. Tuy nhiên, đây là loại tàu tuần dương nhỏ,
khả năng chiến đấu còn hạn chế chính vì vậy Việt Nam trang bị thêm nhiều
loại tàu chiến hiện đại và có khả năng chiến đấu cao hơn.
2. Tàu hỏa tiễn cỡ nhỏ lớp BPS 500
Đây là loại tàu được Nga thiết kế nhưng các công việc sản xuất và lắp ráp tại Việt Nam. Tàu có kích thước 62 x 11 x 2.5 m, độ giãn nước 517 tấn. Sức đẩy của tàu gồm hai động cơ diesel, 2 động cơ phản lực waterjets với 19.600bhp. Tốc độ đi của tàu khá nhanh 32 hải lý/giờ.

BPS 500 được trang bị radar Positiv-E/Cross Dome air/surf search có
thể định vị trên không và dưới biển và hệ thống phóng mồi bẫy 2 PK
decoy.

Hệ thống vũ khí gồm 8 hỏa tiễn KH-35 Uran SSM, 1 đại bác 76.2mm, một súng phòng không 30mm, 2 súng 12.7mm MG.
3.Tàu tên lửa Tarantul I
Tàu phóng tên lửa lớp Tarantul I (Molniya) đã có mặt tại Việt Nam vào năm 1999. Và Việt Nam mua bản quyền đóng loại tàu này trong nước. Hiện Việt Nam có khoảng 4 chiếc Tarantul 1, và 2 chiếc Tarantul thế hệ mới thuộc project 1412.8. Trong tương lai sẽ đóng thêm 20 chiếc Tarantul nữa
Tàu chiến Tarantul dùng để tác chiến tại các vùng cửa biển và ven bờ. Tàu Tarantul trang bị nhiều loại vũ khí hiện đại và các khí tài tiên tiến, có khả năng độc lập tác chiến và chiến đấu hiệp đồng trong đội hình biên đội.
– Tàu tên lửa Tarantul được phát triển theo dự án số 12421 của Nga, bao gồm: Tàu chiến đấu, tàu bổ trợ và tàu tuần tra tại các vùng cửa biển, ven bờ. Tàu tên lửa Tarantul trang bị đầy đủ các thiết bị trinh sát và truyền tin, các hệ thống ra-đa trinh sát và kiểm soát xạ kích. Ra-đa có tầm bao quát toàn bộ vùng tác chiến trong tầm bắn của tên lửa, bám tín hiệu 15 mục tiêu và khoá tới 6 mục tiêu trong môi trường tác chiến điện tử. Hệ thống ra-đa kiểm soát bắn của pháo và tên lửa trên tàu có khả năng phát hiện các mục tiêu trên không, trên biển, tự động dò tìm các tín hiệu đặc trưng của mục tiêu và xử lý các tín hiệu đó chuyển thành dữ liệu tác xạ trên máy tính.

* Vũ khí chính trang bị trên tàu Tarantul gồm:
Vũ khí chính trang bị trên tàu Tarantul gồm: hệ thống tên lửa đối hạm với giàn phóng tên lửa U-ran phóng tên lửa hành trình KH-35 sắp xếp thành hai hàng, mỗi hàng 8 ống phóng (16 tên lửa). Tên lửa hành trình KH-35 dẫn bằng ra-đa chủ động giai đoạn cuối. Trên hành trình bay, tên lửa bay cách mặt nước 15 mét, ở giai đoạn cuối chúng hạ thấp độ cao và tiêu diệt mục tiêu chỉ ở độ cao từ 3 mét đến 5 mét. Tên lửa Kh-35 có cự ly tác chiến 130km, tốc độ tối đa khoảng 300 m/s, đầu nổ HE nặng 145 kg. 12 tên lửa phòng không Igla-1M. Một pháo hạm 76mm AK-176M (với 316 viên đạn), tầm xa 15km, hai pháo phòng không 30mm AK-630M.
– Hoặc tên lửa hành trình đối hạm Moskit – SS-N-22 với 2 giàn phóng (tổng cộng có 4 tên lửa), tầm xa 90 – 120 km, tốc độ siêu âm. Tầm bắn tối đa 250km, tốc độ mach 3, trần bay cách mặt nước biển 20m, đầu nổ 320 kg.
– Hoặc tên lửa hành trình đối hạm P-15 Termit “SS-N-2C” với 2 giàn phóng (tổng cộng có 4 tên lửa), tầm xa 80 km, tốc độ March 0.9.
– 12 tên lửa phòng không Igla-1M;
– 1 pháo hạm 76mm AK-176M (với 316 viên đạn), tầm xa 15 km.
– Hai pháo phòng không 30mm AK-630M.
Hệ thống ra-đa trên tàu có: Ra-đa trinh sát băng HF, UHF, ra-đa nhận biết mục tiêu không-biển, ra-đa điều khiển, kiểm soát xạ kích cho tên lửa. 2 hệ thống phóng mồi bẫy và mồi bẫy nhiệt PK-10 cỡ 120 mm hoặc PK – 16 dùng để chống ra-đa và hệ thống trinh sát quang học của các hệ thống vũ khí của đối phương. Đạn mồi bẫy PK-16 cỡ 82mm, tầm hoạt động từ 200 mét đến 1800 mét.
Tàu tên lửa Tarantul có lượng giãn nước 550 tấn, trang bị máy chính 2 trục, động cơ tua-bin khí 32.000 sức ngựa, 3 động cơ Diesel, công suất 500kW mỗi động cơ. Tàu có tầm hoạt động 2400 hải lý, hoạt động liên tục trong thời gian 10 ngày. Toàn bộ thuỷ thủ đoàn trên tàu 44 người. Tàu còn trang bị các thiết bị điều hoà không khí, hệ thống thông gió tiên tiến nhất, bảo đảm cho tàu hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết.
Việt Nam đã mua bản quyền đóng loại tàu này trong nước. Sẽ có khoảng 20 chiếc sẽ ra đời tại Việt Nam.
(còn tiếp)
(An Ninh Quốc Phòng) - Phần lớn các loại vũ khí được trang bị cho hải quân Việt Nam đều có xuất xứ từ Liên Xô trước đây và bây giờ là Nga. Một số loại đã lạc hậu đang dần được loại bỏ và thay thế bởi những loại vũ khí hiện đại hơn.
4. Tàu tên lửa lớp Osa-II: Ong bắp cày
Sức mạnh quân đội nhân dân Việt Nam trên thế trận Biển Đông (Kì 1)
“Ong bắp cày” là biệt danh tàu cao tốc tên lửa lớp Osa II trang bị cho Hải quân Nhân dân Việt Nam. Trước khi có sự xuất hiện của các tàu tên lửa hiện đại 1241RE và 1241.8, đóng vai trò chủ lực trong Hải quân Nhân dân Việt Nam là tàu cao tốc tên lửa lớp Osa II (project 205U) do Liên Xô thiết kế, sản xuất. Đầu những năm 1980, Việt Nam nhận viện trợ 8 tàu tên lửa Osa II (project 205U) và trang bị cho hải quân.

Tàu tên lửa Osa II được phát triển nhằm tiêu diệt tàu chiến, tàu đổ
bộ và các mục tiêu khác trên biển. Osa II có lượng giãn nước 209 tấn,
dài 38,6m, thủy thủ đoàn 29 người. Osa II có kích thước nhỏ hơn tàu
1241RE và 1241.8 nhưng hỏa lực của nó đủ sức đánh chìm chiến hạm hàng
nghìn tấn. Tàu được trang bị tổ hợp tên lửa hành trình chống hạm P-15
Termit (NATO định danh là SS-N-2) với 4 ống phóng đặt ở hai bên sườn
tàu. Đạn tên lửa P-15 Termit đạt tầm bắn tối đa 80 km, lắp đầu đạn thuốc
nổ mạnh nặng tới 454 kg.

Tính toán trên lý thuyết, nếu phóng đủ 4 quả đạn thì tàu Osa II có
khả năng tiêu diệt tuần dương hạm cỡ 16.000 tấn. Chiến thuật chiến đấu
của tàu tên lửa Osa II thường là “đánh và chạy”. Sau khi phóng tên lửa
thì tàu Osa II nhanh chóng tăng tốc bỏ chạy. Con tàu được trang bị 3
động cơ công suất 12.000 mã lực và 3 chân vịt cho phép nó đạt tốc độ cao
40 hải lý/h.

Nếu bị không quân đối phương phản công, Osa II dùng tổ hợp pháo 30mm
đánh trả. Tàu Osa II trang bị 2 pháo phòng không bắn nhanh Ak-230 lắp
pháo 2 nòng cỡ 30 mm tiêu diệt mọi mục tiêu trên không ở cự ly tối đa
4.000 m, tốc độ bắn 2.000 viên/phút. Ngày nay, Osa vẫn là vũ khí chính
của Hải quân Việt Nam. Tuy vậy, Tarantul vẫn là lựa chọn số một dành cho
dòng tàu cao tốc mang tên lửa không chỉ ở nước ta mà còn ở các nước
khác nữa.

5. Tàu phóng lôi lớp Turya
Là loại tàu được coi là “tiền bối” của tàu phóng lôi lớp Shershen nhập khẩu của Liên Xô, có kích thước 39.6 x 9.6 x 4. Độ giãn nước của tàu này là 250 tấn. Sức đẩy lên tới 15000 bhp với ba động cơ diesel và ba trục. Con tàu còn được gắn thủy phi cơ phía trước để gia tăng tốc độ, có thể đi từ 37-40 hải lý/giờ.

Hệ thống định vị tàu ngầm Rat Tail dipping kết hợp với hệ thống vũ
khí gồm một tháp pháo gắn súng AK – 257 hai nòng 57mm, một súng hai nòng
25mm, bốn ống phóng ngư lôi 533mm chống tàu và chống tàu ngầm. Ngoài ra
tàu còn được trang bị hệ thống radar Pot Drum hoặc Muff comb.
Hiện tại Việt Nam có 4 chiếc tàu này đang phục vụ trong lực lượng Hải quân.

HQ-331 và HQ-335 là hai chiếc tàu thuộc lớp Turya PTF, thiết kế cũng
tương tự như lớp Turya do Nga sản xuất, tuy nhiên vận tốc của loại tàu
này nhanh hơn (42 hải lý/giờ). Hệ thống vũ khí được trang bị 1 cặp súng
57 ly/70cal AA, 1 cặp 25 ly, 4 ống phóng ngư lôi 533 ly.
6. Tàu tuần tra lớp SO 1
Đây là loại tàu cỡ nhỏ có kích thước 41.9 x 6.1 x 1.8 m, tốc độ 28 hải lý/giờ. Tàu SO 1 có độ giãn nước 213 tấn, sức đẩy 6000 bhp với 3 động cơ diesel 3 trục.

Vũ khí trang bị cho tàu này là 4 tên lửa RBU-1200 ASW RL, 18 quả mìn và hai súng 2 nòng 25mm.
7. Tàu phóng lôi lớp Shershen
Được nâng cấp dựa trên tàu lớp Turya, giá thành rẻ và dễ bảo dưỡng. Động cơ tương tự như Turya hay Osa gồm 3 động cơ diesel M503A, 3 trục, 3 chân vịt. Độ giãn nước là 161 tấn. Kích thước 34.60 x 6.74 x 1.72 m. Sức đẩy là 12000 bhp. Tốc độ 42 – 45 hải lý/giờ.

Vũ khí trang bị cho loại tàu này là hai súng AK – 230 hai nòng 30mm, 4
ống phóng lôi 533mm (loại ngư lôi 53-56), và mìn. Hệ thống radar
OTA-53-206.

Hiện Việt Nam còn 4 chiếc đang phục vụ trong lực lượng Hải quân, tuy
nhiên lớp tàu này còn được trang bị thêm tên lửa phòng không tầm gần
SA-N-5 SAM

8. Tàu quét mìn lớp Yurka
Dựa theo thiết kế cua tàu quét mìn lớp T-43 của Liên Xô, nhưng có một số cải biến về việc chống mìn và hệ thống bảo vệ chống mìn nổ. Thân tàu được làm từ thép có từ tính thấp.
Yurka có độ giãn nước là 560 tấn, kích thước nhỏ gọn 52.1 x 9.6 x 2.65 m. Tàu sử dụng hai động cơ diesel, hai trục với sức đẩy 5000bhp. Vận tốc trung bình của tàu là 16 hải lý/giờ.

Tàu được lắp hệ thống định vị chống mìn MD-69 Lan. Hệ thống vũ khí
gồm hai khẩu AK-230 hai nòng 30mm, 10 quả mìn AMD-1000, tên lửa RBU
1200. Ngoài ra loại tàu này cũng có thể kết hợp hệ thống dò mìn dưới
nước MKT-210 Sweeps BKT, AT-3, TEM-4.

Hiện tàu lớp Yurka đang được neo đậu tại Hải Phòng và Đà Nẵng.
10. Tàu tuần tra lớp Svetlyak
Tàu tuần tra Svetlyak được thiết kế để thực hiện nhiều nhiệm vụ. Từ nhiệm vụ tuần tra để ngăn bạo lực ở khu vực biên giới bờ biển, để bảo vệ tàu thuyền lớn và vật tư trên mặt nước và trên không.

Độ giãn nước 375 tấn. Kích thước 49.5 x 9.2 x 2.2m. Động cơ đẩy gồm 3
động cơ diesel M504 với sức đẩy 16.200 bhp. Có thể hoạt động trong 10
ngày trên quãng đường 2200 dặm. Vận tốc tối đa 30 hải lý/giờ.

Vũ khí gồm 1 khẩu AK-176M 76.2 mm, giàn phóng tên lửa 4 hàng, mỗi
hàng 4 quả tên lửa Ingal-M SR-SAM (tức 16), 1 cặp AK-630 AA 30 mm, 1
súng phóng lựu đạn AGS-17. Hệ thống phóng mồi bẫy P3RK.

(còn tiếp)
(An Ninh Quốc Phòng) - Trong những năm gần đây lực lượng hải quân luôn được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm. Cho nên lưc lượng này không ngừng ngày một lớn mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng.
11. Tàu chiến đấu Molnya
Thế hệ tàu tên lửa chiến đấu Molnya dùng để tác chiến tại các vùng cửa biển và ven bờ. Loại tàu này trang bị nhiều loại vũ khí hiện đại và các khí tài tiên tiến, có khả năng độc lập tác chiến và chiến đấu hiệp đồng trong đội hình biên đội.

Tàu tên lửa Molnya trang bị đầy đủ các thiết bị trinh sát và truyền
tin, các hệ thống radar trinh sát và kiểm soát bắn. Radar có tầm bao
quát toàn bộ vùng tác chiến trong tầm bắn của tên lửa, bám tín hiệu 15
mục tiêu và khoá tới 6 mục tiêu trong môi trường tác chiến điện tử. Hệ
thống radar kiểm soát bắn của pháo và tên lửa trên tàu có khả năng phát
hiện các mục tiêu trên không, trên biển, tự động dò tìm các tín hiệu đặc
trưng của mục tiêu và sử dụng hệ thống dữ liệu bắn trên máy tính.
Tàu tên lửa Molnya trang bị hệ thống với giàn phóng tên lửa Uran phóng tên lửa hành trình KH-35 gồm hai hàng, mỗi hàng tám ống phóng, như vậy tàu có thể phóng cùng một lúc 16 quả tên lửa. Tên lửa KH-35 sẽ được dẫn bằng radar chủ động giai đoạn cuối. Trên hành trình bay, tên lửa cách mặt nước 15 m, khi đến gần mục tiêu chúng hạ thấp độ cao và tiêu diệt mục tiêu ở độ cao 3-5m. Loại tên lửa KH-35 có cự ly 130km, tốc độ 300m/s, đầu nổ HE nặng 145kg.

Tàu chiến Molnya còn có thể trang bị tên lửa hành trình chống tàu
Moskit SS-N-22 với hai dàn phóng (4 quả) tầm xa 90-120km, bay với tốc độ
siêu âm. Tầm bắn tối đa của Moskit là 250km, tốc độ Mach 3, đầu nổ
320kg.

Ngoài ra tàu còn được trang bị 12 tên lửa phòng không Igla-1M, một
pháo tàu AK-176M 76mm (cơ số 316 viên đạn pháo) với tầm xa 15km, hai
pháo phòng không AK-630M 30mm.
Hệ thống radar gồm các radar trinh sát băng HF, UHF, radar nhận biết mục tiêu trên không- biển, radar điều khiển, kiểm soát bắn cho tên lửa. 2 hệ thống phóng mồi bẫy và mồi bẫy nhiệt PK-10 cỡ 120 mm hoặc PK – 16 dùng để chống radar và hệ thống trinh sát quang học của các hệ thống vũ khí của đối phương. Đạn mồi bẫy PK-16 cỡ 82mm, tầm hoạt động từ 200 m đến 1800 m.

Tàu tên lửa Molnya có lượng giãn nước 550 tấn, trang bị máy chính 2
trục, động cơ tua-bin khí 32.000 bhp, 3 động cơ diesel, công suất 500kW
mỗi động cơ. Tàu có tầm hoạt động 2400 hải lý, hoạt động liên tục trong
thời gian 10 ngày. Toàn bộ thuỷ thủ đoàn trên tàu 44 người. Tàu còn
trang bị các thiết bị điều hoà không khí, hệ thống thông gió tiên tiến
nhất, bảo đảm cho tàu hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết.
12. Tàu quét mìn lớp Yevgenya
Tàu do Liên Xô sản xuất, có kích thước 26,13 x 5,90 x 1,30, độ giãn nước 90 tấn, tầm hoạt động 300 dặm. Động cơ tàu gồm 2 động cơ diesel, 2 trục với sức đẩy 850 bhp. Tốc độ tối đa của tàu là 11 hải lý/giờ.
Hệ thống định vị gồm radar MG-7 gắn phía đuôi tàu.

Tàu được trang bị vũ khí là một pháo 2 nòng cỡ 25mm, 10 quả thủy lôi,
2 khẩu súng máy 14,5 ly, thiết bị quét MT34, SEMT-1, AT-2, Neva, GKT-3.
13. Tàu tuần tra cao tốc Mirage
Hiện Hải quân Việt Nam có 4 chiếc tàu cao tốc này. Với hai động cơ diesl M520B, 2 trục, 2 động cơ waterjets kết hợp cùng thiết kế nhỏ gọn 35.45 x 6.79 x 2.76 m, sức đẩy của tàu lên tới 10.800 bhp, vận tốc khá nhanh là 50 hải lý/giờ.

Tàu được trang bị 1 pháo phòng không cỡ 30 mm AK-306, loại pháo này
có 6 nòng tốc độ bắn 600- 1000 phát / 1phút , 2 súng máy 14.5 mm. Hơn
nữa, sức mạnh của tàu còn được củng cố bằng 1 hệ thống tên lửa phòng
không Igla 1 M , súng phóng lựu chống ngầm cầm tay DP-64 và hệ thống tên
lửa SHTURM và tên lửa ATAKA (6 tên lửa tầm xa 5800 mét).

14. Khu trục hạm Gepard 3.9
Vào năm 2006, Việt Nam đã đặt mua của Nga 2 tàu hộ vệ tên lửa lớp “Gepard-3.9″. Cặp tàu hộ vệ tên lửa đầu tiên này đã được bàn giao cho Việt Nam trong năm 2011.
Cả 2 chiếc “Gepard-3.9″ đều đã được đưa vào biên chế của Hải quân Nhân dân Việt Nam, trong đó chiếc đầu tiên mang tên Đinh Tiên Hoàng (số hiệu HQ-011) và chiếc thứ hai mang tên Lý Thái Tổ (số hiệu HQ-012) được biên chế lần lượt vào tháng 3/2011 tháng 8/2011.
Tàu hộ vệ tên lửa lớp “Gepard-3.9″ được thiết kế hiện đại, có khả năng tàng hình, có thể theo dõi, tìm kiếm và tiêu diệt các mục tiêu tàu nổi, tàu ngầm; đồng thời phòng không, hộ tống, tuần tra bảo vệ lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế một cách độc lập hoặc tác chiến theo biên đội.

Chiến hạm lớp “Gepard-3.9″ có chiều dài 102 m, rộng 13,7 m, lượng dãn
nước toàn phần khoảng 2.100 tấn, tốc độ 21 hải lý/giờ, tầm hoạt động
khoảng 5.000 hải lý, thời gian chạy liên tục trên biển 20 ngày đêm, có
thể chịu được sóng gió cấp 10-12.
Trên tàu được trang bị hệ thống vũ khí phòng vệ và tấn công tân tiến như tên lửa chống tàu Uran-E (Kh35) có khả năng tìm diệt các tàu mặt nước của đối phương từ xa ở cự ly đến 130 km; pháo hạm đa năng AK-176 tốc độ bắn 60-120 phát/phút, có thể tiêu diệt các mục tiêu trên biển, ven bờ và trên không với tầm bắn 15 km, độ cao 11,5 km; tổ hợp pháo – tên lửa phòng không đa năng Palma tốc độ bắn 10.000 phát/phút với tầm bắn 8.000 m; ống phóng ngư lôi 533 mm…

Phía đuôi tàu có bãi đáp cho trực thăng chống ngầm Ka-28. Với nhiệm
vụ chính là chống tàu ngầm, Ka-28 được trang bị các thiết bị và vũ khí
có thể phát hiện và tiêu diệt tàu ngầm.
15. Tàu bắn pháo Made-in-Vietnam đầu tiên TT400 TP
Đây là chiếc tàu bắn pháo đầu tiên do chính kĩ sư, công nhân Việt Nam thiết kế và chế tạo ngay trên đất nước mình. Giúp quân đội tăng uy thế trên thế giới.
Con tàu được các kĩ sư, chuyên gia nước ngoài đánh giá cao về mặt kĩ – mỹ thuật, và độ chuẩn xác cao.

TT400TP là lớp tàu pháo có vũ khí điều khiển tự động hoạt động trên
biển với bốn nhiệm vụ: tiêu diệt tất cả tàu chiến đổ bộ và tàu hộ tống
của địch; bảo vệ căn cứ các đội tàu đổ bộ và đội tàu hộ tống ở vùng hoạt
động của các lực lượng và tàu phục vụ các lực lượng rà quét mìn; bảo vệ
tàu dân sự trên biển và trinh sát chiến thuật cảnh giới mặt nước.
Chiều dài dài nhất 54,16m, chiều rộng rộng nhất 9,16m, tốc độ tối đa 32 hải lý/giờ. Tàu hoạt động liên tục trên biển 30 ngày đêm, có khả năng tác chiến trong điều kiện gió cấp 9, 10 và sóng cấp 8, tầm hoạt động 2.500 hải lý.

Ngoài ra, tàu pháo TT400TP được trang bị các thiết bị hiện đại có độ
tích hợp cao, nhiều tính năng nổi trội hơn so với cùng lớp tàu 400 tấn
(như điều khiển máy chính máy phụ, hệ thống báo cháy, tự động dập cháy,
hệ thống điều khiển vũ khí tự động, ổn định).



Với lực lượng tàu chiến hùng hậu, kết hợp với các loại tên lửa hiện
đại như Bramos, Yakhont, SS-N-22, đặc biệt là dàn tên lửa được đánh giá
là hiện đại bậc nhất thế giới S-300 nhập từ Nga và máy bay “khủng” Su-30
thêm 6 chiếc tàu Kilo, Việt Nam chắc chắn sẽ bảo vệ được lãnh hải của
tổ quốc, duy trì hòa bình trong khu vực.
Trọng Nam (tổng hợp)
(An Ninh Quốc Phòng) - Hôm 22/3 vừa qua Việt Nam đã lai dắt cập cảng Cam Ranh thành công tàu ngầm Kilo TP.Hồ Chí Minh trong hợp đồng 6 chiếc Kilo kí kết với Nga năm 2009. Nhằm cung cấp thông tin cho bạn đọc hiểu rõ hơn về lớp tàu ngầm này, BBT xin giới thiệu bài viết. Kilo là lớp tàu ngầm diesel êm nhất thế giới với khả năng ẩn nấp, biến mất và săn ngầm cực kì hiệu quả trong tác chiến ở vùng biển xa bờ.
Tàu ngầm lớp Kilo được đưa vào phục vụ trong Hải quân Nga vào đầu những năm 1980. Nó được thiết kế bởi Cục thiết kế hàng hải trung ương Rubin tại St Petersburg.
Các phiên bản của nó bao gồm Kiểu 877EKM – lớp Turbot và Kiểu 636 – lớp Kilo. Ngoài ra còn có một phiên bản hiện đại hơn là Kiểu 677 – lớp Lada được đưa vào chạy thử nghiệm tháng 11-2004.
Các kỹ sư của Rubin đã phát triển hệ thống động cơ đẩy không khí độc lập có thể dùng cho Kilo và vài lớp tàu ngầm khác.

Ban đầu, các tàu ngầm Kilo được đóng tại xưởng Komsomolsk nhưng hiện nay đã được chuyển về xưởng Admiralty ở St Petersburg.
Kilo là lớp tàu ngầm được thiết kế với nhiệm vụ săn tàu ngầm, tàu chiến, tuần tra và trinh sát đối phương. Nó là lớp tàu ngầm chạy động cơ diesel-điện êm nhất thế giới với khả năng phát hiện đối phương ở khoảng cách xa từ 3-4 lần so với khoảng cách tàu ngầm khác phát hiện ra nó.

Hải quân Mỹ đã gọi các tàu ngầm Kilo là ‘Hố đen’ do khả năng lẩn trốn
và tẩu thoát cực kì khủng khiếp của nó. Được phủ một lớp vật liệu chống
dội âm trên thân, Kilo có khả năng hấp thụ, làm méo và giảm cường độ
tín hiệu phản lại đồng thời giúp nó chạy êm hơn để có thể giảm khoảng
cách bị phát hiện bằng sóng sonar thụ động từ các tàu đối phương.
Tàu ngầm gồm 6 khoang chống nước được ngăn cách nhau bởi những vách ngăn trong một lớp vỏ kép chịu áp lực cao. Thiết kế này có thể tăng khả năng sống sót cho thủy thủ đoàn, khi một khoang thường hay 2 buồng chứa nước kề nhau bị ngập thì tàu vẫn hoạt động được.
So với thế hệ cũ là 877EKM, Kilo đã được nâng cấp sức mạnh của các động cơ nhưng đồng thời vận tốc quay của chân vịt cũng được giảm xuống để giảm tối đa tiếng ồn gây ra khi di chuyển.

Tàu ngầm Kilo có khả năng lặn sâu 300m, di chuyển với tốc độc 20km/h khi nổi, gần 40km/h khi ngập nước.
Kilo có tầm hoạt động vào khoảng 12.000 km khi lặn với ống thông hơi và 650 km khi ngập nước hoàn toàn.
Vũ khí của Kilo cũng rất đáng chú ý với khả năng chiến đấu đa mục tiêu, hệ thống chỉ huy có khả năng cung cấp thông tin đầy đủ để điều khiển tàu và bắn ngư lôi hiệu quả nhất.
Các máy tính tốc độ cao trang bị trong tàu giúp nó có thể xử lí các thông tin từ những thiết bị giám sát và hiển thị trên màn hình.

Từ đó, các thông số về địa hình, độ sâu ngập nước, thông số về mục
tiêu, tham số khi khai hỏa, khả năng tự bắn và triển khai vũ khí sẽ được
hỗ trợ tối đã cho các thủy thủ.

Hỏa lực trên tàu Kilo
Các tàu Kilo còn có thể được trang bị hệ thống tên lửa hành trình Novator Club-S, phóng ra các tên lửa diệt tàu 3M-54E1 với đầu đạn nổ 450kg và tầm bắn 220km.
Club-S là hệ thống tên lửa dành cho tàu Ngầm, do Nga nghiên cứu và phát triển bao gồm tên lửa chống hạm 3M-54E1 và tên lửa ngầm đối đất 3M-14E.

Hiện nay, Club-S được Nga trang bị cho các tàu ngầm lớp Kilo. Trong
đó, 3M-54E1 được trang bị phổ biến còn với loại 3M-14E ngoài Hải quân
Nga, chỉ có 3 quốc gia được trang bị tổ hợp tên lửa này cho tàu ngầm mua
của Nga, gồm: Ấn Độ, Algieria và Việt Nam.
Các tên lửa sau khi được nạp vào tàu sẽ bắn đi từ các ống phóng ngư lôi tiêu chuẩn, từ độ sâu khoảng 35 – 40m, hành trình tự chủ trong một quỹ đạo đã được chọn trước với tốc độ lên đến 240m/s.

Khi mới được phóng ra tên lửa sẽ bay ở cao độ 20m nhưng đến gần mục
tiêu sẽ chuyển sang dạng lướt nước với cao độ chỉ còn từ 5-10m.
Mỗi tên lửa mang theo một đầu đạn 400kg và một trong những điểm mạnh nhất của các tên lửa Club-S đó là radar chủ động của nó, Args 14e do Công ty Radar MMS ở St. Petersburg thiết kế.
Với khối lượng 40kg, hệ thống radar này được kích hoạt ở đầu giai đoạn bay cuối của tên lửa. Khi còn cách mục tiêu khoảng 20km, nó sẽ quét, phát hiện mục tiêu, lựa chọn các phương án bay sau đó đưa ra quỹ đạo chính xác cho tên lửa.
Chuyên gia vũ khí Nga Viktor Litovkin cho rằng điểm khác biệt ở các tàu ngầm Kilo 636 của Việt Nam là vũ khí vượt trội nhất đối với mọi loại tàu chiến hiện nay.
“Tổ hợp tên lửa Club-S trang bị cho tàu ngầm Kilo 636 của Việt Nam là vũ khí rất đa năng và độc đáo. Nó có thể bắn các tên lửa hành trình chống tàu mặt nước hoặc được sử dụng để tấn công các mục tiêu trên bờ. Tổ hợp này sử dụng những tên lửa siêu âm, có sức công phá lớn, hoàn toàn có thể vô hiệu hóa một chiếc tàu sân bay chỉ bằng 1 quả đạn tên lửa.

Và quan trọng nhất là, đến thời điểm hiện nay, việc đánh chặn các tên
lửa này bằng các phương tiện phòng thủ chống tên lửa là không thể,” –
chuyên gia Viktor Litovkin cho biết.
Tổ hợp Club-S có thể phóng cùng lúc 2 tên lửa. Chúng có quỹ đạo bay phức tạp có thể tránh được hệ thống phòng thủ tên lửa đa tầng của đối phương, có khả năng phân biệt và phối hợp tác chiến với nhau: hoặc là cùng lao vào tấn công tiêu diệt hoàn toàn một mục tiêu lớn quan trọng như tàu sân bay, hoặc là chia ra để tiêu diệt từng mục tiêu.

Cả hai loại tên lửa này có khả năng tấn công các mục tiêu hải quân và trên cạn rất chính xác trong khoảng cách 275km.
Phía đầu tàu có 6 ống phóng ngư lôi 533mm, bên hông là 6 phóng ống ngư lôi với 18 quả ngư lôi trong ống và 12 quả dự trữ.

Các ống phóng ngư lôi này cũng được sử dụng để bắn các loại mìn chống tàu chuyên dụng với 24 quả chuẩn bị sẵn trong khoang.
Hai hệ thống phóng ngư lôi được điều khiển bằng các máy tính tốc độ cao giúp nó định vị nhanh chóng và chính xác mục tiêu.
Lần bắn đầu tiên có thể thực hiện trong 2 phút, mỗi loạt tiếp theo cần tất cả 5 phút để chuẩn bị và khai hỏa.

Tàu ngầm Kilo của Việt Nam nói riêng và các tàu ngầm khác sẽ “nghe” và “nhìn” như thế nào?
Đôi mắt cổ xưa nhất và không thể thiếu của các loại tàu ngầm là kính tiềm vọng. Kính tiềm vọng là dụng cụ quang học cho phép những người trên tàu ngầm có được bức tranh tuy khá hạn chế nhưng vô cùng quan trọng về thế giới bên ngoài chiếc tàu thép không có cửa sổ của mình. Trước đây kính tiềm vọng chỉ cung cấp cho một chiếc tàu ngầm đang lặn những hình ảnh thoáng qua về những gì đang xảy ra ở bên ngoài.
Hiện nay kính tiềm vọng vẫn là công cụ rất hữu dụng trên tàu ngầm, mặc dù các tàu ngầm hiện đại đều được trang bị các cảm ứng điện tử và hệ thống thủy âm. Kính tiềm vọng có thể được tích hợp camera hoặc các phương tiện thu thập dữ liệu khác.

Tuy nhiên, khi sử dụng kính tiềm vọng, tàu ngầm thường nổi lên ngay
sát mặt nước nên chúng dễ dàng bị đối phương phát hiện. Bởi vậy, để
tránh bị phát hiện, kính tiềm vọng thường được sử dụng không thường
xuyên và trong thời gian càng ngắn càng tốt.

Với đặc thù hoạt động trong lòng biển sâu mênh mông vô định, việc xác
định phương hướng cũng là một yêu cầu nữa buộc tàu ngầm phải nổi lên
sát mặt nước.
Hiện nay hải quân một số nước đã phát triển hệ thống định vị quán tính (SINS) cho phép tàu ngầm có thể định hướng ở dưới nước bằng cách theo dõi chuyển động tương đối của nó so với một vật chuẩn xuất phát. Tuy nhiên trong thực tế vẫn luôn phát sinh sai sót, thế nên tàu ngầm bắt buộc phải nổi lên sát mặt nước để định kỳ cập nhật thông tin từ các vật chuẩn bên ngoài bằng cách sử dụng kính tiềm vọng.
Trước thập niên 1980, các tàu ngầm của hải quân một số nước thường nhận được những thông tin cập nhật này qua các trạm vô tuyến đạo hàng xa (loran). Hiện nay loran đã được thay thế bằng hệ thống định vị toàn cầu (GPS), một mạng lưới định vị từ các vệ tinh trong vũ trụ với các trạm kiểm soát và xử lý dữ liệu trên mặt đất.
Tuy nhiên có mắt thôi là chưa đủ, tàu ngầm muốn tác chiến hiệu quả phải trang bị cho mình một “đôi tai” thật thính nhạy để kịp thời phát hiện đối phương cũng như tận dụng được địa hình trong lòng biển. “Đôi tai” này chính là các thiết bị thủy âm của tàu ngầm.

Nguồn thông tin chủ yếu về thế giới bên ngoài của chiếc tàu ngầm là
những âm thanh do các thiết bị thu được và được máy tính giải mã thành
dữ liệu hình ảnh. Thiết bị định hướng bằng âm thanh thủy âm cho phép các
thủy thủ bên trong tàu ngầm có thể định vị và theo dõi các mục tiêu,
xác định các nguy cơ tiềm tàng và biết được vị trí của chính tàu ngầm
mình.
Các tàu ngầm hiện đại ngày nay thường được trang bị vòm thủy âm. Vòm thủy âm là một quả cầu với hàng trăm cảm biến âm thanh được gắn ở gần mũi tàu ngầm và thường được bổ sung thêm một chuỗi cảm biến âm thanh được gắn trên một sợi cáp phía sau đuôi tàu ngầm.
Tàu ngầm thường được trang bị 2 loại thiết bị thủy âm, đó là thủy âm chủ động và thủy âm bị động. Thiết bị thủy âm chủ động sẽ phát sóng âm hướng vào mục tiêu và thu tín hiệu dội lại, tuy nhiên nó ít khi được sử dụng vì dễ bị đối phương phát hiện ra. Thiết bị thủy âm thụ động sẽ dò tìm những âm thanh do đối phương phát ra, chẳng hạn như tiếng va chạm của máy móc hoặc tiếng ồn của động cơ. Thiết bị thủy âm có thể được sử dụng ở bất cứ độ sâu nào.

Tất cả các thiết bị quan sát và liên lạc khác đều nguy hiểm hơn vì
chúng đòi hỏi tàu ngầm phải nổi lên gần sát mặt nước, nơi tàu ngầm trở
thành mục tiêu dễ bị tấn công nhất, bởi vậy hệ thống thủy âm trở thành
một yếu tố sống còn đối với tàu ngầm trong tác chiến hiện đại.
Các âm thanh bên ngoài mà tàu ngầm thu được sẽ được chuyển đổi thành hình ảnh gọi là hình ảnh “thác nước”. Chúng được so sánh với các hình ảnh lưu trữ trong thư viện âm thanh đặc trưng để xác định các đặc điểm của mục tiêu tiềm tàng.
Âm thanh đặc trưng là âm thanh độc nhất lặp đi lặp lại do máy móc của từng con tàu phát ra, chẳng hạn như tiếng động cơ, chân vịt hay bơm nước. Các kỹ thuật viên thủy âm của tàu ngầm sẽ phân tích và ghi lại những âm thanh đặc trưng này vào thư viện âm thanh. Họ cũng ghi lại các âm thanh nền của hệ sinh thái xung quanh như âm thanh của những con tôm, cá voi, các loài cá phục vụ cho mục đích so sánh đối chiếu.
Tàu ngầm còn sử dụng một công nghệ khác để quan sát thế giới xung quanh trong lòng đại dương và phát hiện mục tiêu, đó chính là radar. Hệ thống radar trên tàu ngầm phát đi một chùm sóng radio và sau đó thu lại và phân tích chùm sóng dội lại từ mục tiêu, từ đó thu được thông tin về phương hướng và khoảng cách của mục tiêu.
Tuy nhiên, cũng giống như kính tiềm vọng và ăng-ten radio, các cột radar cũng phải nhô lên khỏi mặt nước để có được những thông tin quan trọng, đổi lại tàu ngầm sẽ phải hứng chịu nguy cơ bị phát hiện cao hơn. Hiện nay tàu ngầm thường chỉ sử dụng radar trên mặt nước khi vào hoặc ra cảng.
Một yếu tố rất quan trọng nữa để tàu ngầm có thể hoàn thành được nhiệm vụ chiến đấu trong lòng đại dương của mình là khả năng liên lạc với sở chỉ huy ở trên bờ, với các tàu ngầm khác và với lực lượng bạn.

Trong trận hải chiến Midway cuối Thế chiến 2, hải quân Nhật Bản đã bỏ
lỡ thời cơ vàng tiêu diệt hạm đội hải quân Mỹ đang trên đường đến ứng
cứu quần đảo Midway chỉ vì lực lượng tàu ngầm của nước này nhận được tín
hiệu liên lạc sai từ sở chỉ huy nên đã đến nhầm vị trí tập kết. Bởi
vậy, có thể nói khả năng liên lạc chính xác là một trong những yếu tố
sống còn đối với tàu ngầm.
Tàu ngầm có thể nhận sóng radio ở tần số cực thấp (VLF/ELF) vốn có thể truyền được rất sâu dưới biển, và hình thức liên lạc một chiều này giúp tàu ngầm duy trì liên lạc liên tục với thế giới bên ngoài. Khả năng nhận sóng VLF/ELF vẫn đang là điều rất quan trọng đối với các tàu ngầm hiện đại ngày nay, đặc biệt là trong việc phối hợp, hiệp đồng tác chiến với các lực lượng khác.
Trọng Nam (Tổng hợp)
(An Ninh Quốc Phòng) - Trong thế trận chung phòng thủ biển đảo, lực lượng pháo tên lửa bờ biển có điểm đặc thù là tác chiến trong điều kiện có sự hỗ trợ chi viện của các lực lượng kỹ thuật đảm bảo – lực lượng trinh sát, cảnh báo sớm và dẫn đường, chỉ thị mục tiêu. Những đặc trưng chiến thuật chủ yếu của lực lượng pháo binh, tên lửa phòng thủ biển – đảo được thể hiện rõ trong biên chế tổ chức, các hình thức tác chiến phòng ngự cơ động.
Là lực lượng hỏa lực thê đội 1 trong thế trận phòng ngự bờ biển, hải đảo: lực lượng pháo binh – tên lửa, trong đó chủ lực là lực lượng tên lửa bờ biển có nhiệm vụ tiêu diệt các chiến hạm, các đoàn vận tải quân sự, các cụm chiến hạm đổ bộ đường biển; tiêu diệt các trận địa hỏa lực của đối phương, các mục tiêu trên bờ biển của hạm đội đối phương, tấn công các tuyến đường vận tải biển, các cụm binh lực đối phương tập trung trên hướng biến từ những cụm tàu nổi của đối phương; trong tầm hỏa lực, tấn công các căn cứ đóng quân và các hải cảng của đối phương.
Lực lượng pháo binh có nhiệm vụ tấn công các chiến hạm nổi của đối phương hoạt động ven biển, tấn công tiêu diệt các cụm binh lực địch triển khai các hoạt động đổ bộ, tiêu diệt và chế áp binh lực, sinh lực và các trận địa hỏa lực đối phương trên bờ biển.

*Tổ hợp tên lửa bờ 4K51 Rubezh
Tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển 4K51 Rubezh (NATO định danh là SSC-3) do Liên Xô phát triển và đưa vào phục vụ cuối những năm 1980.
Tổ hợp 4K51 gồm một xe mang bệ giá phóng 3P51 (cải tiến dựa trên xe vận tải hạng nặng MAZ-543), sử dụng để đặt radar điều khiển hỏa lực cùng cụm ống phóng KT-161.

KT-161 chứa hai tên lửa hành trình đối hạm P-15M. Tên lửa có chiều
dài 6,5m, đường kính thân 0,76m, trọng lượng phóng 2,5 tấn. Nó lắp một
động cơ rocket nhiên liệu lỏng, tốc độ hành trình cận âm thanh, tầm bắn
tối đa 80km, lắp đầu đạn thuốc nổ nặng 513kg.
Khi phóng, động cơ rocket sẽ đưa P-15M rời bệ, đạt độ cao ổn định động cơ chính sẽ kích hoạt đưa tên lửa tới mục tiêu. Trong hành trình, tên lửa bay cách mặt nước 25-50m.
Ở pha giữa, tên lửa được điều khiển bằng hệ dẫn đường quán tính và ở pha cuối dùng radar chủ động.

Ngày nay, P-15M có kiểu dáng khá lớn, tốc độ chậm, khó có khả năng
xuyên phá được chiến hạm hiện đại có hệ thống phòng thủ tiên tiến. Nhưng
nó vẫn rất hữu hiệu đối với tàu vận tải, tàu đổ bộ vốn không có khả
năng tự bảo vệ cao đối với các cuộc tiến công từ trên không.

P-15M cũng là loại tên lửa chủ lực được trang bị cho nhiều chiến hạm
của Hải quân Việt Nam như: tàu cao tốc tên lửa Osa II, project 1241.1
Tarantul.
*Tổ hợp tên lửa bờ 4K44B Redut
Tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển 4K44B Redut (NATO định danh SSC-1) do Liên Xô phát triển và đưa vào sử dụng từ những năm 1960.
Thành phần của 4K44 gồm: xe radar điều khiển và xe bệ giá phóng (mang 1 quả tên lửa) dựa trên khung thân xe vận tải ZIL-135K. Thông thường, một tổ hợp bố trí một xe radar và 3 xe mang tên lửa.

4K44 sử dụng tên lửa hành trình đối hạm tầm xa P-35. Đây là loại tên
lửa cỡ lớn, dài gần 10m, đường kính thân 1,5m, trọng lượng phóng 4,2
tấn. P-35 lắp đầu đạn thuốc nổ mạnh 800 – 1.000kg đem lại sức công phá
mạnh đủ sức đánh chìm chiến hạm cỡ lớn.
P-35 dùng động cơ đẩy nhiên liệu rắn 4L44, tốc độ hành trình cận âm thanh. Tên lửa dùng hệ dẫn đường quán tính kết hợp radar chủ động dẫn pha cuối. Đặc biệt, ở pha giữa nó có thể tiếp nhận thông tin mục tiêu từ trực thăng săn ngầm Ka-25 hoặc máy bay tuần thám biển Tu-95RT.

4K44 là tổ hợp tên lửa bờ có tầm bắn xa nhất của Hải quân Việt Nam, bao quát tiêu diệt mục tiêu trong cự ly tối đa gần 500km.

*Tổ hợp tên lửa bờ Bastion
Tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển 3K55 Bastion (NATO định danh SSC-5) do Nga phát triển đầu những năm 1990 để thay thế tổ hợp 4K44.
Một tổ hợp Bastion thường biên chế: 4 xe mang bệ giá phóng, một xe chỉ huy, một xe radar (hệ thống radar Monolit B) và xe vận chuyển, bảo dưỡng khác.

Xe phóng đặt trên khung thân xe vận tải MZKT-7930, ba tên lửa được
bảo quản trong ống phóng đặt ở thùng sau, khi triển khai chiến đấu ống
phóng sẽ dựng lên. Việc phóng tên lửa theo phương thẳng đứng đảm bảo bao
quát mục tiêu 360 độ mà không mất thời gian xoay hướng bắn.

Bastion sử dụng tên lửa hành trình đối hạm 3M55 Oniks. Tên lửa có
chiều dài 8,9m, đường kính thân 0,67m, trọng lượng phóng 3 tấn.
3M55 trang bị hai động cơ, một động cơ nhiên liệu rắn để đưa lên tửa rời bệ phóng và một động cơ phản lực dòng thẳng cho hành trình bay. Đặc biệt, 3M55 đạt tốc độ hành trình gấp hơn 2 lần vận tốc âm thanh, do vậy mà việc đánh chặn quả tên lửa này không dễ.

Tên lửa dùng hệ dẫn quán tính ở pha giữa và đầu tự dẫn radar chủ
động/bị động ở pha cuối. Ở hành trình bay cuối tiếp cận mục tiêu, nó bay
cách mặt nước 5-15m và có thể cơ động lẩn tránh hỏa lực phòng thủ đối
phương. 3M55 lắp đầu đạn xuyên giáp thuốc nổ mạnh nặng 250kg đủ sức công
phá các chiến hạm cỡ lớn, tầm bắn tối đa 300km.
Ở tầm gần thì Việt Nam thường dùng hỏa lực pháo mặt đất (pháo 85 mm, 105 mm, 152 mm, pháo không giật DKZ, pháo cối) kiêm nhiệm nhiệm vụ bảo vệ bờ biển chống tàu, xuồng đổ bộ đối phương.



Trọng Nam (tổng hợp)
Sức mạnh Thủy quân Việt 'từ cổ chí kim' (kỳ 1)![]()
Thủy quân là một trong những lực lượng quan trọng; ra đời rất sớm và lớn mạnh nhanh chóng trước
yêu cầu bảo vệ Tổ quốc. Kỳ 1: Lục sử… tìm hiểu Thủy quân Việt cổ Lực lượng thủy quân Việt Nam có lịch sử lâu đời, được phát triển gắn liền với tài bơi lặn của người Việt cổ. Vì thế, quá trình hình thành nhà nước Văn Lang từ ba bốn nghìn năm trước đây có thể chính là quá trình hình thành những cơ sở đầu tiên của thủy quân Việt cổ. Minh chứng là thuyền chiến được khắc trên các trống đồng thời Hùng Vương là hình tượng tiêu biểu cho thủy quân buổi bình minh đó. Từ truyền thuyết Lạc Long Quân… Việt Nam là đất nước của sông ngòi và biển. Truyền thuyết từ xa xưa, ông Tổ Lạc Long quân vốn dòng dõi của Rồng, từ biển tới, từ sông lên, diệt Ngư tinh, Mộc tinh, Hồ tinh, khai sáng miền châu thổ sông Hồng... ![]()
Thuyền chiến của Thủy quân thời Hùng Vương.
Lạc
Long Quân lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ, sinh hạ một bọc trăm trứng, nở
thành trăm người con. Một ngày, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ: "Ta là
giống Rồng, mình là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, không ở cùng nhau
được". Thế là, hai người chia con ở riêng. Năm chục người theo cha
xuống biển, được coi là thủy tổ của nhóm Bách Việt. Năm chục người
theo mẹ về núi, trong đó con cả lên Phong Châu, được tôn làm vua, gọi
là Hùng Vương, lập ra nước Văn Lang.
Vậy, Lạc Long Quân - nhân vật thần thoại lớn nhất Việt Nam - có thể xem là Thủy tổ thủy quân Việt cổ? … Đến Thủy quân thời Hùng Vương Trải qua nhiều triều đại hoàng kim trong lịch sử, nước ta đã từng có những đội hải thuyền hùng mạnh nổi tiếng. Từ thế kỷ 3 trước Công nguyên, sử sách thường nhắc đên quân thủy của các nước Văn Lang, Âu Lạc, Chăm Pa, Phù Nam... Đây được coi là những nước có đội quân thủy hùng mạnh của phương Đông thời bấy giờ. Từ thời vua Hùng, người dân Văn Lang đã biết cưỡi sóng đạp gió ra khơi trên những con thuyền độc mộc, có khi dài trên 20 m, chở hàng chục chiến binh xung trận theo nhịp trống đồng trên thuyền. Vua Hùng lại biết dạy dân vẽ mắt thuyền để tránh thủy quái làm hại; mũi thuyền gắn ngà voi hoặc tạc hình đầu chim, thú. Chưa hết, những cánh buồm đan bằng lá dứa dại giúp cho thuyền lèo lái nhanh nhẹn, vượt sóng đón gió hết sức tài tình… Do vậy, con thuyền đã rất gắn liền với người Việt cổ, cụ thể: trên mái nhà sàn cũng có hình thuyền, cối gỗ chân vuông cũng có hình thuyền, quan tài để mai táng người chết luôn luôn có hình thuyền lòng máng, và đặc biệt trên các trống đồng đều có hình ảnh thuyền chiến… Đến cuối thời đại Hùng Vương, nhất là thời kỳ nước Âu Lạc của An Dương Vương Thục Phán, thủy quân của nước Việt cổ được tổ chức quy mô hơn. Các công trình nghiên cứu về thành Cổ Loa cho thấy, bao quanh thành có ba con hào ăn thông với nhau và thông với sông Hoàng Giang. Nhờ vậy, thuyền bè có thể đi lại xung quanh cả ba vòng thành và có thể ra sông Hoàng Giang, sông Hồng, sông Cầu, sông Lục Đầu để tiến ra biển Đông. Do vậy, liệu Cổ Loa ngoài là căn cứ bộ binh, có thêm chức năng thủy binh? Có thể nói, từ con thuyền độc mộc trải qua hàng ngàn năm, người Việt xưa không ngừng cải tiến sáng tạo trong việc đóng mới thuyền bè, luyện tập thủy quân trở thành một trong những lực lượng quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Cụ thể, cho đến thế kỷ thứ 10 (năm 938), Ngô Quyền đã đánh tan cả đạo quân Nam Hán hùng mạnh trên sông Bạch Đằng - là tiếng trống mở màn, báo hiệu cho hàng loạt thắng lợi về sau này qua những trận chiến trên sông nước, đánh bại nhiều đạo quân xâm lược khác của thủy quân Đại Việt.
Vĩnh Khang
Bảo tàng Lịch sử VN |
Sức mạnh thủy quân qua các vương triều Đại Việt (kỳ 2)![]()
Trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, vị vua chúa nào cũng rất chú trọng xây dựng và phát
triển một đội thủy quân hùng mạnh, thiện chiến và có tổ chức… Nếu lực lượng thủy quân thời Hùng Vương còn sơ khai, thì đến đời vua Đinh và vua Lê Đại Hành, chiến thuyền đã được tổ chức quy củ, lập thành đội ngũ hẳn hoi, thao luyện thủy trận trên sông ngòi ở ghềnh Tháp, ngòi Sào Khế, hang Luồn thuộc kinh đô Hoa Lư. Nhờ có đội chiến thuyền tinh nhuệ, Đinh Bộ Lĩnh đã tiêu diệt được cánh quân mạnh nhất của sứ quân Phạm Bạch Hổ ở Dục Thúy (núi Non Nước), thống nhất giang sơn, lập nên nhà Đinh… Vì thế, càng mỗi triều đại tiếp theo, các hoàng đế nước Việt càng không ngừng quan tâm phát triển và “bành trướng” sức mạnh quân thủy. Ở đây, Đất Việt đề cập đến thủy quân nhà Lý, Trần. Việc xây dựng một quân đội hùng mạnh, thiện chiến và có tổ chức phải kể đến nhà Lý, gồm những binh chủng: bộ, thủy, kỵ và tượng binh. Vũ khí lúc ấy chỉ có kiếm, dáo, mác, khiên và máy bắn đá… Quân đội, trong đó có sự đóng góp đáng kể của thủy binh, đã "bình Chiêm, đánh Tống, chống Khmer" một cách xứng đáng lưu danh sử sách. Theo sử sách, thời Lý, Trần có nhiều loại thuyền chiến và rất giỏi thủy chiến. Cụ thể: Về chiến thuyền, lúc bấy giờ, lực lượng thủy binh triều Lý đã có thuyền Mông Đồng (hai đáy), Lưỡng Phúc (hai lòng), Ngự (thuyền chỉ huy), Lâu thuyền (thuyền lầu) và Trường Quang. Việt sử lược chép: "Tháng 11 (năm 1106), vua sắp có việc lôi thôi với nhà Tống, sai đóng thuyền Vĩnh Long hai đáy và đóng chiến hạm". Đại Việt sử ký toàn thư ghi: "Năm 1124, đóng thuyền Trường Quang kiểu hai lòng"... Loại thuyền chiến phổ biến là Mông Đồng và Lưỡng Phúc, có hai đáy an toàn và tiện lợi. Trên thực tế, thuyền Mông Đồng đã có từ những thế kỷ trước. Từ thế kỷ IX, ở nước ta đã đóng loại thuyền này và sau đó, được sử dụng phổ biến. Quân thuỷ thời Ngô Quyền ngoài các thuyền nhỏ như thuyền độc mộc, thuyền thúng, cũng đã sử dụng Mông Đồng. Theo Việt sử lược, mỗi chiếc có 25 chiến thủ, 23 tay chèo, thuyền chèo ngược xuôi, nhanh như gió; đó là thứ thuyền hẹp và dài, dùng để xông đánh thuyền giặc". Đến thời Lý, thuyền Mông Đồng đã được cải tiến, có hiệu quả hơn trong vận tải cũng như khi chiến đấu. Ngoài ra, còn có thuyền chỉ huy của vua, mang tên Kim Phượng, Thanh Lan, Cảnh Hưng, Vĩnh Xuân... Không kém cạnh, thậm chí hiện đại hơn, nhà Trần - vốn xuất thân từ vùng ven biển, lại ưa chuộng nghề võ - càng chú trọng phát triển thuỷ quân, chế tạo nhiều thuyền chiến hơn nữa. như: thuyền Châu Kiều, Đinh Sắt, Trung tàu tải thương hay Cổ lâu thuyền... Sử sách chép rằng, Trần Quốc Tuấn luôn chủ trương giữ quân số ở mức cần thiết, nhưng đối với thuyền chiến và thuyền vận tải thì vẫn thường xuyên sắm sửa và được tăng thêm. Mỗi lần chuẩn bị đánh quân Mông - Nguyên, vua Trần đều ra lệnh các lộ, các vương hầu đóng thuyền, ghe. Sứ thần nhà Tống, nhà Nguyên đều tận mắt chứng kiến sức mạnh của thuỷ quân Đại Việt. Sứ giả Trần Phu không chỉ thán phục tài bơi lội của thuỷ thủ nhà Trần, mà còn khâm phục kỹ thuật đóng thuyền Mông Đồng… Theo An Nam tức sự, thuyền Mông Đồng thời đó được mô tả: “đuôi như cánh uyên ương. Hai bên mạn thuyền cao hẳn lên, mỗi chiếc có tới 30 tay chèo, nhiều thì đến hàng trăm. Thuyền đi như bay"… Về tài thủy chiến, năm 1077, trong cuộc kháng chiến chống quân Tống, Lý Thường Kiệt đã xây dựng phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu) để chặn giặc, cử Lý Kế Nguyên đánh địch ngoài cửa biển. Tiếp đến, ông cũng xây dựng chốt thủy quân vững chắc tại Vạn Xuân (Lục Đầu), có 500 thuyền chiến lớn do hai hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu Văn chỉ huy. Đội quân Hoằng Chân và Chiêu Văn có 2 nhiệm vụ chính: Một là, hỗ trợ cho quân ta ở phòng tuyến sông Cầu đánh địch khi chúng vượt sông và đố bộ tập kích bờ bắc trong trường hợp cần thiết. Hai là, chặn không cho thủy quân Tống vào tiếp ứng quân bộ vượt sông nếu chúng vượt qua tuyến phòng ngự của Lý Kế Nguyên. Chốt đường thuỷ của Hoằng Chân và Chiêu Văn đặc biệt có ý nghĩa trong việc chặn các hướng chính từ biển Đông vào nước ta. Lý Thường Kiệt đặc biệt coi trọng vị trí chiến lược của sông Lục Đầu, coi đây là phòng tuyến thứ hai nếu quân Tống chọc thủng phòng tuyến thứ nhất của Lý Kế Nguyên. Sau chiến thắng của Ngô Quyền năm 938, chiến thắng của Lê Hoàn năm 981, trên miền đất thiên hiểm này lại diễn ra trận chiến chặn đứng quân thù, không cho chúng vào sâu lãnh thổ của Đại Việt. Thực tế trận chiến năm 1077 là quân thủy Tống không thể vượt qua phòng tuyến của viên tướng dày dạn kinh nghiệm trận mạc Lý Kế Nguyên. Phòng tuyến trên sông Thái Bình, Kinh Thầy vào tới Lục Đầu với 500 chiến thuyền lớn do Hoằng Chân và Chiêu Văn chỉ huy đã tham gia tổng công kích quân Tống tại núi Nham Biền, tiêu diệt 5.000 quân kỵ binh Tống, góp phần bảo đảm thắng lợi cho cuộc kháng chiến chống quân Tống. Trước đó, vào năm Ất Mão 1075, khi thái sư Lý Thường Kiệt đem 10 vạn quân thủy bộ sang vây đánh Khâm Châu, Liêm Châu (Quảng Đông) và Ung Châu (Quảng Tây), phá tan thành quách, triệt hạ bọn quan binh, rồi rút quân an toàn về nước, khiến nhà Tống không kịp trở tay. Điều này tỏ rõ tài thủy chiến cùng binh thuyền nhà Lý đã hết sức lợi hại. Bước sang triều Trần, Quốc Công tiết chế Trần Hưng Đạo lại noi gương Ngô Quyền, đánh tan quân Nguyên Mông trên sông Bạch Đằng; Trần Khánh Dư đốt thuyền lương giặc ở biển Vân Đồn; Trần Nhật Duật phá thủy trận của Toa Đô ở bến Hàm Tử; Trần Quang Khải và Trần Quốc Toản đánh tan hạm thuyền giặc ở bến Chương Dương… Tất cả đều nhờ vào thủy quân tinh nhuệ và chiến thuyền đa dạng, tính năng chiến đấu cao… (còn nữa)
Vĩnh Khang_baotanglichsu.vn
|
Chỉ tồn tại 7 năm, Thủy quân nhà Hồ vẫn mạnh vượt thời đại (kỳ 3)

Trước họa đe dọa xâm lược nghiêm trọng của nhà Minh ở
phía Bắc, Hồ Quý Ly càng dốc sức tập trung xây dựng lực lượng quân
đội, đặc biệt là quân thủy.
Đời nhà Hồ, chiến truyền được đóng mới to lớn hơn, có nhiều tầng lát ván sàn tiện cho việc đi lại, chiến đấu; còn vũ khí thì ra đời nhiều loại mới và hiện đại hơn.
Vũ khí tiến bộ vượt bậc
Sử sách chép rằng, Hồ Quý Ly đã ra lệnh mở xưởng đúc vũ khí, phát hành tiền giấy, thu hồi tiền đồng để đúc súng, tuyển thợ giỏi vào làm việc trong các công xưởng quân sự. Vì thế, vũ khí, thiết bị quân sự vào thời kỳ này đã có những bước tiến quan trọng về mặt kỹ thuật và tính năng quân sự. Thủy binh đã được trang bị thuyền chiến lớn hơn trước và có khả năng thủy chiến khá tốt.
Cụ thể, bên cạnh kế thừa các chiến thuyền của các triều đại trước, như: Mông Đồng (hai đáy), Lưỡng Phúc (hai lòng), Ngự (thuyền chỉ huy), Lâu thuyền (thuyền lầu), Trường Quang, Châu Kiều và Đinh Sắt… Năm 1404, Hồ Hán Thương cho đóng Trung tàu tải lương, Cổ lâu thuyền tải lương - một loại thuyền chiến lớn đóng đinh sắt, có hai tầng boong với hàng chục tay chéo và hai người điều khiển một mái chèo, để chở lương nhưng cũng sẵn sàng chiến đấu.
Theo mô
tả, nếu thuyền bình thường có một đáy, thì thuyền loại này làm thêm
một “đáy” nữa, tức một tầng sàn ở trên, chia bụng thuyền làm hai phần:
phần dưới để lính chèo thuyền, phần trên giấu lính chiến đấu. Hiện,
tài liệu về những con thuyền Cổ Lâu còn lại rất hiếm hoi, nhưng nó
luôn được coi là chiến thuyền tiêu biểu cho quân thủy Đại Việt.
Chưa dừng ở đó, với tài năng kiệt suất của Hồ Nguyên Trừng (con trai Hồ Quý Ly), nhà Hồ đã chế ra súng thần cơ - có sức công phá mạnh mẽ, hơn hẳn các loại khí giới đương thời, và các hạm đội, chiến thuyền cũng được trang bị thần cơ pháo khiến thủy binh của giặc Minh lắm phen khiếp đảm kinh hồn, tổn thất đáng kể.
Công trình phòng ngự quy mô lớn
Năm 1405, nhà Hồ lệnh cho những nơi đầu nguồn ở các trấn nộp gỗ làm cọc. Châu Vũ Ninh thì cho lấy gỗ ô mễ ở lăng Cổ Pháp đưa đến cho quân đóng cọc ở các cửa biển và những nơi xung yếu trên sông Cái (sông Hồng) để phòng giặc phương Bắc. Tháng 6, đặt bốn kho quân khí. Không kể là quân hay dân, hễ khéo nghề đều sung vào làm việc.
Vào tháng 7 cùng năm, Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương đi tuần tra xem xét núi sông và các cửa biển, ở kinh lộ, để kiểm tra xem xét thế hiểm yếu của các nơi. Tháng 9 tổ chức lại quân đội. Định quân Nam ban và Bắc ban chia thành 12 vệ; quân Điện hậu đông và tây chia thành 8 vệ; mỗi vệ 18 đội, mỗi đội 18 người; đại quân thì 30 đội, trung quân thì 20 đội, mỗi doanh là 15 đội, mỗi đoàn là 10 đội; cấm vệ đô thì 5 đội. Đại tướng quân thống lĩnh cả.
Tiếp sau đó, Hồ Quý Ly sai Hoàng Hối Khanh đốc quân vệ Đông Đô đóng cọc chặn cửa sông Bạch Hạc (ngã ba sông Hồng chảy qua thành phố Việt Trì ngày nay) để chống thủy quân giặc từ Tuyên Quang xuống.
Tháng 7 năm 1406, Hồ Hán Thương ra lệnh cho các lộ tiếp tục đóng cọc gỗ ở bờ phía nam sông Cái, từ thành Đa Bang (Sơn Tây - Hà Tây ngày nay), và dựng cả một hệ thống công trình phòng thủ có quy mô lớn, dài gần 400km kéo dài từ núi Tản Viên, men theo sông Đà, sông Hồng, sông Luộc đến cửa sông Thái Bình. Đó là một hệ thống chướng ngại vật gồm những bãi cọc, những xích sắt cùng các đồn quân chốt chặn khắp các cửa sông, cửa nguồn, quan ải...
Có thể khẳng định, đối với lịch sử quân sự, đây là thời kỳ mà nước ta đã xây dựng được một công trình phòng ngự có quy mô lớn nhất, trên một chính diện rộng, chiều sâu lớn và đồ sộ gấp nhiều lần phòng tuyến Như Nguyệt thời Lý chống giặc Tống. Thế nhưng, do yểu mệnh, nhà Hồ chỉ tồn tại được 7 năm.
Chiều ngày 27/6 vừa qua, tại Hội
nghị lần thứ 35 của Ủy ban Di sản văn hóa Thế giới (UNESCO) diễn ra tại
Paris, Pháp, Thành nhà Hồ tại huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã được
công nhận là Di sản văn hóa thế giới.Chưa dừng ở đó, với tài năng kiệt suất của Hồ Nguyên Trừng (con trai Hồ Quý Ly), nhà Hồ đã chế ra súng thần cơ - có sức công phá mạnh mẽ, hơn hẳn các loại khí giới đương thời, và các hạm đội, chiến thuyền cũng được trang bị thần cơ pháo khiến thủy binh của giặc Minh lắm phen khiếp đảm kinh hồn, tổn thất đáng kể.
Công trình phòng ngự quy mô lớn
Năm 1405, nhà Hồ lệnh cho những nơi đầu nguồn ở các trấn nộp gỗ làm cọc. Châu Vũ Ninh thì cho lấy gỗ ô mễ ở lăng Cổ Pháp đưa đến cho quân đóng cọc ở các cửa biển và những nơi xung yếu trên sông Cái (sông Hồng) để phòng giặc phương Bắc. Tháng 6, đặt bốn kho quân khí. Không kể là quân hay dân, hễ khéo nghề đều sung vào làm việc.
Vào tháng 7 cùng năm, Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương đi tuần tra xem xét núi sông và các cửa biển, ở kinh lộ, để kiểm tra xem xét thế hiểm yếu của các nơi. Tháng 9 tổ chức lại quân đội. Định quân Nam ban và Bắc ban chia thành 12 vệ; quân Điện hậu đông và tây chia thành 8 vệ; mỗi vệ 18 đội, mỗi đội 18 người; đại quân thì 30 đội, trung quân thì 20 đội, mỗi doanh là 15 đội, mỗi đoàn là 10 đội; cấm vệ đô thì 5 đội. Đại tướng quân thống lĩnh cả.
Tiếp sau đó, Hồ Quý Ly sai Hoàng Hối Khanh đốc quân vệ Đông Đô đóng cọc chặn cửa sông Bạch Hạc (ngã ba sông Hồng chảy qua thành phố Việt Trì ngày nay) để chống thủy quân giặc từ Tuyên Quang xuống.
Tháng 7 năm 1406, Hồ Hán Thương ra lệnh cho các lộ tiếp tục đóng cọc gỗ ở bờ phía nam sông Cái, từ thành Đa Bang (Sơn Tây - Hà Tây ngày nay), và dựng cả một hệ thống công trình phòng thủ có quy mô lớn, dài gần 400km kéo dài từ núi Tản Viên, men theo sông Đà, sông Hồng, sông Luộc đến cửa sông Thái Bình. Đó là một hệ thống chướng ngại vật gồm những bãi cọc, những xích sắt cùng các đồn quân chốt chặn khắp các cửa sông, cửa nguồn, quan ải...
Có thể khẳng định, đối với lịch sử quân sự, đây là thời kỳ mà nước ta đã xây dựng được một công trình phòng ngự có quy mô lớn nhất, trên một chính diện rộng, chiều sâu lớn và đồ sộ gấp nhiều lần phòng tuyến Như Nguyệt thời Lý chống giặc Tống. Thế nhưng, do yểu mệnh, nhà Hồ chỉ tồn tại được 7 năm.

Một đoạn thành nhà Hồ tại huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Thành nhà Hồ được đặt nền móng xây dựng vào năm 1397. Đây là công trình kiến trúc đồ sộ được xây dựng bằng đá độc nhất vô nhị ở Việt Nam, với 4 bên được bao quanh bằng tường đá, tổng khối lượng đá được sử dụng để xây thành khoảng 20.000m3 và gần 100.000m3 đất được đào đắp. Trong lòng đất của khu di tích này còn lưu giữ các dấu tích cung điện, đền đài, đường sá và nghệ thuật trang trí, các làng cổ cùng toàn bộ cảnh quan đồi núi, sông hồ mang đậm chất phong thủy điển hình.
Di sản Thành nhà Hồ còn thể hiện sự giao thoa văn hóa giữa Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Thành nhà Hồ được công nhận di tích quốc gia từ năm 1962. Sau 6 năm xây dựng hồ sơ và đệ trình UNESCO (từ năm 2006 đến năm 2011), Thành nhà Hồ đã chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hoá của nhân loại.
Vĩnh Khang
Quân thủy hùng mạnh và chủ quyền biển đảo triều Lê (kỳ 4)

Sau khi quét sạch quân Minh khỏi bờ cõi, Lê Lợi lên
ngôi hoàng đế, triều Lê (1427-1789) được dựng lên. Từ đây, để trấn áp
nội loạn, bảo vệ và mở rộng lãnh thổ, vua Lê rất chú trọng cải tổ
quân đội. Thủy quân trở thành một binh chủng riêng, độc lập với bộ
binh, tượng binh và kỵ binh.
Theo đó, trang trí vẽ thuyền trở thành nghi lễ quốc gia. Thủy quân chia thành nhiều phiên hiệu rạch ròi, như: Thiện Hải thuyền của vua chúa khi xuất trận; còn Đấu thuyền, Lâu thuyền Tẩu Kha thuyền, Khai lãng thuyền, Hải Cốt thuyền...có hình dáng, cấu trúc, chạm khắc, màu sắc, vương huy, vương hiệu khác nhau…
Cải tổ thủy quân
Ngay trong năm đầu tiên ở ngôi vua, Lê Thái Tổ đã ban hành quy chế cụ thể cho lực lượng thủy quân cũng như vũ khí cho binh lính. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Vào ngày mồng 10 tháng 8 năm Mậu Thân (1428), vua định các khí vật như cờ xí, nghi trượng cho các quân, chiến khí và thuyền ghe: trung đội cờ vàng, thượng đội cờ đỏ, hạ đội cờ trắng. Mỗi vệ một lá cờ lớn của chủ tướng. Mỗi quân một lá cờ hạng trung, 10 lá cờ đội và 40 lá cờ nhỏ. Thuyền chiến có hỏa công 10 chiếc, thuyền nhỏ đi tuần thám hai chiếc… Ngoài trang phục chung giống như các lực lượng khác, thủy quân thời Lê sơ đội nón thủy ma và nón sơn đỏ để có sự phân biệt”.
Từ tiền đề trên, sau đó không bao lâu, nhà Lê đã có một lực lượng thủy quân khá mạnh. Đến năm 1435, Lê Thái Tông sau khi xem bộ binh diễn tập, đã xem thủy quân diễn tập ở sông Hồng. Tiếp đó, vào năm 1438, Lê Thái Tông lại sai chiến thuyền của năm đạo quân diễn tập thủy chiến. Rồi khi thấy Chiêm thành hay cho quân xâm phạm biên giới, năm 1446, vua Lê Nhân Tôn sai Lê Thụ, Lê Khả đem thủy quân đánh Chiêm Thành, quân Đại Việt đánh chiếm cửa biển Thi Nại, rồi tiến lên đánh chiếm thành Cha Bàn, bắt được vua Chiêm Bí Cái...
Đến thời Lê Thánh Tông, thủy quân của Đại Việt ngày càng hùng mạnh và lập được nhiều chiến công. Nhà Lê có nhiều loại chiến thuyền lớn nhỏ, có chiến thuyền được trang bị bằng hỏa khí. Năm 1964, vua ban hành phép duyệt trận đồ thủy chiến của thủy binh như: Trung hư, Thường sơn xà, Mãn thiên tinh, Nhạn hàng, Liên châu, Ngư đội, Tam tài hành, Thất môn, Yến nguyệt... Mỗi loại trận đồ có hàng trăm thuyền chiến tham gia tập trận. Nhà vua còn định ra quân lệnh về thủy trận gồm 31 điều - đây là "Điều lệ thủy binh" bằng văn bản đầu tiên của quân thủy Việt Nam.
Cũng nhờ sự quan tâm đến xây dựng quân đội, trong đó có thủy binh nên thời Lê Thánh Tông, đội chiến thuyền lớn nhất lịch nước ta đã được thành lập. Vào năm Kỷ Sửu (1469), Lê Thánh Tông đã huy động một phần trong số đó đi chinh phạt Chiêm Thành. Theo sử sách, ngoài lực lượng bộ binh thì có tới 25 vạn thủy quân và 5.000 chiến thuyền do nhà vua đích thân chỉ huy trong cuộc Nam chinh đó.
Như vậy, với quân bộ, quân thủy dưới thời vua Lê Thánh Tông dần được hoàn thiện về tổ chức; thủy quân được chia làm 4 đội: Hải hồng quân, Hải mã quân, Hải kình quân và Hải điểu quân; được trang bị hàng vạn chiến thuyền có ống phun lửa (còn gọi là hỏa đồng), bố trí ở tất cả các cửa sông, cửa cửa biển xung yếu, góp phần quan trọng bảo vệ giang sơn, đất nước.
Đưa Hoàng Sa, Trường Sa vào bản đồ Đại Việt
Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thời xưa được cha ông ta thường coi là một dải đảo dài nên gọi chung bằng các tên khác nhau như Bãi Cát Vàng, Cồn Vàng, Vạn lý Hoàng Sa, Vạn lý Trường Sa, Đại Trường Sa…
Tư liệu từ triều nhà Hồ trở về trước đã bị mất mát, phá hoại rất nhiều vào thời giặc Minh xâm lược nước ta nhưng việc Lê Thánh Tông cho lập bản đồ toàn quốc gọi chung là Hồng Đức bản đồ vào năm Canh Tuất (1490), trong đó có cả Hoàng Sa và Trường Sa, điều này cho thấy trước đó hai quần đảo này đã thuộc chủ quyền Đại Việt và nhà Hậu Lê sau khi chiến thắng quân Minh, đã hết sức quan tâm tới việc xác lập biên giới quốc gia, khẳng định chủ quyền lãnh thổ trong đó có vùng biển, đảo.
Căn cứ vào Hồng Đức bản đồ, nho sinh Đỗ Bá (tự Công Đạo) đã soạn ra bộ sách Toàn tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư (1630 – 1653), ở quyển 1 có thể hiện địa mạo phủ Quảng Ngãi, phần chú thích trên bản đồ có nói tới Bãi Cát Vàng tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày nay: “Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, dựng đứng giữa biển” và có một bản đồ vẽ nhóm đảo thuộc Quảng Ngãi, phủ Thăng Hoa với chú thích chữ Nôm là “Bãi Cát Vàng”.
Toàn tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư theo lệnh của Chúa Trịnh những năm Chính Hòa (1689-1705) là văn kiện chính thức của Nhà nước phong kiến bấy giờ. "Bãi Cát Vàng” được ghi chú trong bản đồ phản ánh việc thực thi chủ quyền của Nhà nước phong kiến Việt Nam trên biển Đông trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa - muộn nhất là vào thế kỷ thứ XV.
Cũng theo Thiên nam lộ đồ, bản đồ xứ Quảng Nam đời Lê, được vẽ lại năm 1741 (bản sao chép của Dumoutier), có “Bãi cát vàng” - tức Hoàng Sa ngày nay.
Vĩnh Khang
Sức mạnh quân đội nhân dân Việt Nam trên thế trận Biển Đông (Kì 1)
Thứ ba, 25/02/2014, 18:30 (GMT+7)(An Ninh Quốc Phòng) - Nhiều năm trở lại đây nhận thấy được sự biến động rất lớn về tình hình an ninh trong khu vực đặc biệt là vấn đề trên Biển Đông. Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng đầu tư và nâng cấp trang thiết bị khí tài cho lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam nói chung và lực lượng hải quân Việt Nam nói riêng không ngừng lớn mạnh. Sau đây nhằm cung cấp thông tin chi tiết cho bạn đọc nắm rõ hơn nữa về lực lượng tàu chiến Việt Nam hiện có, BBT xin giới thiệu đến quý độc giả loạt bài này.
1.Chiến hạm đầu tiên của Việt Nam: Tàu tuần dương Petya II – III
Petya II và III là lớp chiến hạm hiện đại đầu tiên được hải quân Việt Nam nhận về sau khi giải phóng miền nam, năm 1978-1979 đã tham chiến trong cuộc chiến với Khmer đỏ. Hiện nay Petya vẫn còn phục vụ trong lực lượng HQ Việt Nam.
Loại chiến hạm Petya II này có độ giãn nước 1077 tấn, kích thước 81.8 x 9.2 x 2.85 m. Sức đẩy 3 trục, 6000bhp với hai động cơ đẩy Turbines khí 30.000 shp. Tốc độ của loại tàu này lf 29 hải lý/giờ.

Hai trong số 5 tàu Petya của Hải quân Nhân dân Việt Nam.
Còn loại tàu Petya III có độ giãn nước 1.040 tấn, kích thước 81.8 x 9.2 x 2.72 m. Sức đẩy 3 trục gồm một động cơ diesel, 6000 bhp với hai động cơ đẩy turbines khí 30.000 shp. Tốc độ tương đương với tàu tuần dương Petya II là 29 hải lý/giờ.
Petya III được trang bị radar Fut-N/Strut Curve 2-D. Hơn nữa tàu còn được lắp đặt hệ thống định vị siêu âm Titan hull mounted MF có thể phát hiện tàu ngầm và hệ thống định vị Herkules lắp trên thân.

Giàn phóng rocket săn ngầm RBU trên tàu Petya.
Petya-III còn có 2 dàn Rocket RBU-6000 chống ngầm với 12 ống phóng mỗi dàn, sử dụng rocket cỡ 213 mm RGB-60 không điều khiển có khả năng bắn xuống mặt nước sâu từ 10-500m với tốc độ 11,5 m/s, tầm xa từ 350 – 5800 m. RBU-6000 được điều khiển bởi hệ thống Burya, ngoài nhiệm vụ chính là chống tàu ngầm và tàu chiến khác, RBU-6000 còn dùng để oanh kích các mục tiêu bờ biển. Ngoài ra Petya-III còn có 10 trái ngư lôi cỡ 400 mm.

Tàu Petya phóng rocket săn ngầm RBU trong diễn tập bắn đạn thật.
2. Tàu hỏa tiễn cỡ nhỏ lớp BPS 500
Đây là loại tàu được Nga thiết kế nhưng các công việc sản xuất và lắp ráp tại Việt Nam. Tàu có kích thước 62 x 11 x 2.5 m, độ giãn nước 517 tấn. Sức đẩy của tàu gồm hai động cơ diesel, 2 động cơ phản lực waterjets với 19.600bhp. Tốc độ đi của tàu khá nhanh 32 hải lý/giờ.

Tàu hộ tống tên lửa cỡ nhỏ BPS-500 mang số hiệu HQ-381 tại quân cảng Cam Ranh

Tàu BPS-500 HQ-381 phóng tên lửa hành trình Uran-E.
3.Tàu tên lửa Tarantul I
Tàu phóng tên lửa lớp Tarantul I (Molniya) đã có mặt tại Việt Nam vào năm 1999. Và Việt Nam mua bản quyền đóng loại tàu này trong nước. Hiện Việt Nam có khoảng 4 chiếc Tarantul 1, và 2 chiếc Tarantul thế hệ mới thuộc project 1412.8. Trong tương lai sẽ đóng thêm 20 chiếc Tarantul nữa
Tàu chiến Tarantul dùng để tác chiến tại các vùng cửa biển và ven bờ. Tàu Tarantul trang bị nhiều loại vũ khí hiện đại và các khí tài tiên tiến, có khả năng độc lập tác chiến và chiến đấu hiệp đồng trong đội hình biên đội.

– Tàu tên lửa Tarantul được phát triển theo dự án số 12421 của Nga, bao gồm: Tàu chiến đấu, tàu bổ trợ và tàu tuần tra tại các vùng cửa biển, ven bờ. Tàu tên lửa Tarantul trang bị đầy đủ các thiết bị trinh sát và truyền tin, các hệ thống ra-đa trinh sát và kiểm soát xạ kích. Ra-đa có tầm bao quát toàn bộ vùng tác chiến trong tầm bắn của tên lửa, bám tín hiệu 15 mục tiêu và khoá tới 6 mục tiêu trong môi trường tác chiến điện tử. Hệ thống ra-đa kiểm soát bắn của pháo và tên lửa trên tàu có khả năng phát hiện các mục tiêu trên không, trên biển, tự động dò tìm các tín hiệu đặc trưng của mục tiêu và xử lý các tín hiệu đó chuyển thành dữ liệu tác xạ trên máy tính.

* Vũ khí chính trang bị trên tàu Tarantul gồm:
Vũ khí chính trang bị trên tàu Tarantul gồm: hệ thống tên lửa đối hạm với giàn phóng tên lửa U-ran phóng tên lửa hành trình KH-35 sắp xếp thành hai hàng, mỗi hàng 8 ống phóng (16 tên lửa). Tên lửa hành trình KH-35 dẫn bằng ra-đa chủ động giai đoạn cuối. Trên hành trình bay, tên lửa bay cách mặt nước 15 mét, ở giai đoạn cuối chúng hạ thấp độ cao và tiêu diệt mục tiêu chỉ ở độ cao từ 3 mét đến 5 mét. Tên lửa Kh-35 có cự ly tác chiến 130km, tốc độ tối đa khoảng 300 m/s, đầu nổ HE nặng 145 kg. 12 tên lửa phòng không Igla-1M. Một pháo hạm 76mm AK-176M (với 316 viên đạn), tầm xa 15km, hai pháo phòng không 30mm AK-630M.

– Hoặc tên lửa hành trình đối hạm Moskit – SS-N-22 với 2 giàn phóng (tổng cộng có 4 tên lửa), tầm xa 90 – 120 km, tốc độ siêu âm. Tầm bắn tối đa 250km, tốc độ mach 3, trần bay cách mặt nước biển 20m, đầu nổ 320 kg.

– Hoặc tên lửa hành trình đối hạm P-15 Termit “SS-N-2C” với 2 giàn phóng (tổng cộng có 4 tên lửa), tầm xa 80 km, tốc độ March 0.9.
– 12 tên lửa phòng không Igla-1M;
– 1 pháo hạm 76mm AK-176M (với 316 viên đạn), tầm xa 15 km.

– Hai pháo phòng không 30mm AK-630M.
Hệ thống ra-đa trên tàu có: Ra-đa trinh sát băng HF, UHF, ra-đa nhận biết mục tiêu không-biển, ra-đa điều khiển, kiểm soát xạ kích cho tên lửa. 2 hệ thống phóng mồi bẫy và mồi bẫy nhiệt PK-10 cỡ 120 mm hoặc PK – 16 dùng để chống ra-đa và hệ thống trinh sát quang học của các hệ thống vũ khí của đối phương. Đạn mồi bẫy PK-16 cỡ 82mm, tầm hoạt động từ 200 mét đến 1800 mét.

Tàu tên lửa Tarantul có lượng giãn nước 550 tấn, trang bị máy chính 2 trục, động cơ tua-bin khí 32.000 sức ngựa, 3 động cơ Diesel, công suất 500kW mỗi động cơ. Tàu có tầm hoạt động 2400 hải lý, hoạt động liên tục trong thời gian 10 ngày. Toàn bộ thuỷ thủ đoàn trên tàu 44 người. Tàu còn trang bị các thiết bị điều hoà không khí, hệ thống thông gió tiên tiến nhất, bảo đảm cho tàu hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết.
Việt Nam đã mua bản quyền đóng loại tàu này trong nước. Sẽ có khoảng 20 chiếc sẽ ra đời tại Việt Nam.
(còn tiếp)
Sức mạnh quân đội nhân dân Việt Nam trên thế trận Biển Đông (Kì 2)
Thứ hai, 03/03/2014, 19:14 (GMT+7)(An Ninh Quốc Phòng) - Phần lớn các loại vũ khí được trang bị cho hải quân Việt Nam đều có xuất xứ từ Liên Xô trước đây và bây giờ là Nga. Một số loại đã lạc hậu đang dần được loại bỏ và thay thế bởi những loại vũ khí hiện đại hơn.
4. Tàu tên lửa lớp Osa-II: Ong bắp cày
Sức mạnh quân đội nhân dân Việt Nam trên thế trận Biển Đông (Kì 1)
“Ong bắp cày” là biệt danh tàu cao tốc tên lửa lớp Osa II trang bị cho Hải quân Nhân dân Việt Nam. Trước khi có sự xuất hiện của các tàu tên lửa hiện đại 1241RE và 1241.8, đóng vai trò chủ lực trong Hải quân Nhân dân Việt Nam là tàu cao tốc tên lửa lớp Osa II (project 205U) do Liên Xô thiết kế, sản xuất. Đầu những năm 1980, Việt Nam nhận viện trợ 8 tàu tên lửa Osa II (project 205U) và trang bị cho hải quân.

Lớp tàu Osa II mang số hiệu HQ-359 trong cuộc diễn tập hiệp đồng với không quân.

Tên lửa được trang bị trên tàu (ảnh minh họa nước ngoài).

Tàu Osa II phóng tên lửa

Pháo phòng không được trang bị trên tàu
Là loại tàu được coi là “tiền bối” của tàu phóng lôi lớp Shershen nhập khẩu của Liên Xô, có kích thước 39.6 x 9.6 x 4. Độ giãn nước của tàu này là 250 tấn. Sức đẩy lên tới 15000 bhp với ba động cơ diesel và ba trục. Con tàu còn được gắn thủy phi cơ phía trước để gia tăng tốc độ, có thể đi từ 37-40 hải lý/giờ.

Tàu phóng lôi cao tốc lớp Turya Project 206M
Hiện tại Việt Nam có 4 chiếc tàu này đang phục vụ trong lực lượng Hải quân.

Tàu phóng lôi Turya trang bị 4 ống phóng ngư lôi
6. Tàu tuần tra lớp SO 1
Đây là loại tàu cỡ nhỏ có kích thước 41.9 x 6.1 x 1.8 m, tốc độ 28 hải lý/giờ. Tàu SO 1 có độ giãn nước 213 tấn, sức đẩy 6000 bhp với 3 động cơ diesel 3 trục.

Tàu tuần tra lớp SO 1 (ảnh minh họa tàu nước ngoài)
7. Tàu phóng lôi lớp Shershen
Được nâng cấp dựa trên tàu lớp Turya, giá thành rẻ và dễ bảo dưỡng. Động cơ tương tự như Turya hay Osa gồm 3 động cơ diesel M503A, 3 trục, 3 chân vịt. Độ giãn nước là 161 tấn. Kích thước 34.60 x 6.74 x 1.72 m. Sức đẩy là 12000 bhp. Tốc độ 42 – 45 hải lý/giờ.

Tàu phóng lôi lớp Shershen
Sức mạnh quân đội nhân dân Việt Nam trên thế trận Biển Đông (Kì 1)
Nhiều
năm trở lại đây nhận thấy được sự biến động rất lớn về tình hình an
ninh trong khu vực đặc biệt là vấn đề trên Biển Đông. Đảng và Nhà nước
ta đã không ngừng đầu tư...

Đội hình tàu Shershen tại Lữ đoàn 171, Vùng 1 Hải quân
Dựa theo thiết kế cua tàu quét mìn lớp T-43 của Liên Xô, nhưng có một số cải biến về việc chống mìn và hệ thống bảo vệ chống mìn nổ. Thân tàu được làm từ thép có từ tính thấp.
Yurka có độ giãn nước là 560 tấn, kích thước nhỏ gọn 52.1 x 9.6 x 2.65 m. Tàu sử dụng hai động cơ diesel, hai trục với sức đẩy 5000bhp. Vận tốc trung bình của tàu là 16 hải lý/giờ.

Tàu quét mìn lớp Yurka trang bị trong Hải quân Việt Nam

Mìn AMD-1000
10. Tàu tuần tra lớp Svetlyak
Tàu tuần tra Svetlyak được thiết kế để thực hiện nhiều nhiệm vụ. Từ nhiệm vụ tuần tra để ngăn bạo lực ở khu vực biên giới bờ biển, để bảo vệ tàu thuyền lớn và vật tư trên mặt nước và trên không.

Tàu tuần tra lớp Svetlyak trang bị trong Hải quan Việt Nam

Tàu tuần tra lớp Svetlyak trang bị trong Hải quan Việt Nam neo đậu tại cảng

Tháp pháo tự động Ak-630 6 nòng cỡ 30mm.
Súng máy phòng không 14,5mm;
Sức mạnh quân đội nhân dân Việt Nam trên thế trận Biển Đông (Kì 3)
Thứ hai, 10/03/2014, 18:57 (GMT+7)(An Ninh Quốc Phòng) - Trong những năm gần đây lực lượng hải quân luôn được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm. Cho nên lưc lượng này không ngừng ngày một lớn mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng.
11. Tàu chiến đấu Molnya
Thế hệ tàu tên lửa chiến đấu Molnya dùng để tác chiến tại các vùng cửa biển và ven bờ. Loại tàu này trang bị nhiều loại vũ khí hiện đại và các khí tài tiên tiến, có khả năng độc lập tác chiến và chiến đấu hiệp đồng trong đội hình biên đội.

Tàu tên lửa Molnya dự án 12418 số hiệu HQ-375 của Hải quân Việt Nam tại quân cảng Cam Ranh.
Tàu tên lửa Molnya trang bị hệ thống với giàn phóng tên lửa Uran phóng tên lửa hành trình KH-35 gồm hai hàng, mỗi hàng tám ống phóng, như vậy tàu có thể phóng cùng một lúc 16 quả tên lửa. Tên lửa KH-35 sẽ được dẫn bằng radar chủ động giai đoạn cuối. Trên hành trình bay, tên lửa cách mặt nước 15 m, khi đến gần mục tiêu chúng hạ thấp độ cao và tiêu diệt mục tiêu ở độ cao 3-5m. Loại tên lửa KH-35 có cự ly 130km, tốc độ 300m/s, đầu nổ HE nặng 145kg.

Hệ thống radar trên tàu tên lửa dự án 12418 của Hải quân Việt Nam.
Sức mạnh quân đội nhân dân Việt Nam trên thế trận Biển Đông (Kì 1)
Nhiều
năm trở lại đây nhận thấy được sự biến động rất lớn về tình hình an
ninh trong khu vực đặc biệt là vấn đề trên Biển Đông. Đảng và Nhà nước
ta đã không ngừng đầu tư...
Hệ thống radar gồm các radar trinh sát băng HF, UHF, radar nhận biết mục tiêu trên không- biển, radar điều khiển, kiểm soát bắn cho tên lửa. 2 hệ thống phóng mồi bẫy và mồi bẫy nhiệt PK-10 cỡ 120 mm hoặc PK – 16 dùng để chống radar và hệ thống trinh sát quang học của các hệ thống vũ khí của đối phương. Đạn mồi bẫy PK-16 cỡ 82mm, tầm hoạt động từ 200 m đến 1800 m.

Hệ thống tên lửa Uran-E trên tàu tên lửa dự án 12418 của Hải quân Việt Nam.
12. Tàu quét mìn lớp Yevgenya
Tàu do Liên Xô sản xuất, có kích thước 26,13 x 5,90 x 1,30, độ giãn nước 90 tấn, tầm hoạt động 300 dặm. Động cơ tàu gồm 2 động cơ diesel, 2 trục với sức đẩy 850 bhp. Tốc độ tối đa của tàu là 11 hải lý/giờ.
Hệ thống định vị gồm radar MG-7 gắn phía đuôi tàu.

(Ảnh minh họa tàu quân sự nước ngoài)
13. Tàu tuần tra cao tốc Mirage
Hiện Hải quân Việt Nam có 4 chiếc tàu cao tốc này. Với hai động cơ diesl M520B, 2 trục, 2 động cơ waterjets kết hợp cùng thiết kế nhỏ gọn 35.45 x 6.79 x 2.76 m, sức đẩy của tàu lên tới 10.800 bhp, vận tốc khá nhanh là 50 hải lý/giờ.

(Ảnh minh họa tàu quân sự nước ngoài)
Sức mạnh quân đội nhân dân Việt Nam trên thế trận Biển Đông (Kì 2)
Phần
lớn các loại vũ khí được trang bị cho hải quân Việt Nam đều có xuất xứ
từ Liên Xô trước đây và bây giờ là Nga. Một số loại đã lạc hậu đang dần
được loại bỏ và thay...
Vào năm 2006, Việt Nam đã đặt mua của Nga 2 tàu hộ vệ tên lửa lớp “Gepard-3.9″. Cặp tàu hộ vệ tên lửa đầu tiên này đã được bàn giao cho Việt Nam trong năm 2011.
Cả 2 chiếc “Gepard-3.9″ đều đã được đưa vào biên chế của Hải quân Nhân dân Việt Nam, trong đó chiếc đầu tiên mang tên Đinh Tiên Hoàng (số hiệu HQ-011) và chiếc thứ hai mang tên Lý Thái Tổ (số hiệu HQ-012) được biên chế lần lượt vào tháng 3/2011 tháng 8/2011.
Tàu hộ vệ tên lửa lớp “Gepard-3.9″ được thiết kế hiện đại, có khả năng tàng hình, có thể theo dõi, tìm kiếm và tiêu diệt các mục tiêu tàu nổi, tàu ngầm; đồng thời phòng không, hộ tống, tuần tra bảo vệ lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế một cách độc lập hoặc tác chiến theo biên đội.

Biên đội tàu Đinh Tiên Hoàng (trước) và Lý Thái Tổ (sau) đang trên đường tuần tra - Ảnh: Trọng Thiết
Trên tàu được trang bị hệ thống vũ khí phòng vệ và tấn công tân tiến như tên lửa chống tàu Uran-E (Kh35) có khả năng tìm diệt các tàu mặt nước của đối phương từ xa ở cự ly đến 130 km; pháo hạm đa năng AK-176 tốc độ bắn 60-120 phát/phút, có thể tiêu diệt các mục tiêu trên biển, ven bờ và trên không với tầm bắn 15 km, độ cao 11,5 km; tổ hợp pháo – tên lửa phòng không đa năng Palma tốc độ bắn 10.000 phát/phút với tầm bắn 8.000 m; ống phóng ngư lôi 533 mm…

Tên lửa Uran-E (trái) và pháo AK-176 trên tàu Lý Thái Tổ - Ảnh: Hoàng Hà
15. Tàu bắn pháo Made-in-Vietnam đầu tiên TT400 TP
Đây là chiếc tàu bắn pháo đầu tiên do chính kĩ sư, công nhân Việt Nam thiết kế và chế tạo ngay trên đất nước mình. Giúp quân đội tăng uy thế trên thế giới.
Con tàu được các kĩ sư, chuyên gia nước ngoài đánh giá cao về mặt kĩ – mỹ thuật, và độ chuẩn xác cao.

Tàu pháo TT400TP
Chiều dài dài nhất 54,16m, chiều rộng rộng nhất 9,16m, tốc độ tối đa 32 hải lý/giờ. Tàu hoạt động liên tục trên biển 30 ngày đêm, có khả năng tác chiến trong điều kiện gió cấp 9, 10 và sóng cấp 8, tầm hoạt động 2.500 hải lý.

Cận cảnh buồng lái hiện đại và tiện nghi trên tàu TT400TP.

Hệ thống radar trên tàu TT400TP.

Pháo hạm Ak-176 lắp pháo 76,2mm có thể tiêu diệt mục tiêu trên biển, trên không, mặt đất.

Súng máy phòng không 14,5mm.
Trọng Nam (tổng hợp)
Sức mạnh quân đội nhân dân Việt Nam trên thế trận Biển Đông (Kì 4)
Chủ nhật, 23/03/2014, 16:50 (GMT+7)(An Ninh Quốc Phòng) - Hôm 22/3 vừa qua Việt Nam đã lai dắt cập cảng Cam Ranh thành công tàu ngầm Kilo TP.Hồ Chí Minh trong hợp đồng 6 chiếc Kilo kí kết với Nga năm 2009. Nhằm cung cấp thông tin cho bạn đọc hiểu rõ hơn về lớp tàu ngầm này, BBT xin giới thiệu bài viết. Kilo là lớp tàu ngầm diesel êm nhất thế giới với khả năng ẩn nấp, biến mất và săn ngầm cực kì hiệu quả trong tác chiến ở vùng biển xa bờ.
Tàu ngầm lớp Kilo được đưa vào phục vụ trong Hải quân Nga vào đầu những năm 1980. Nó được thiết kế bởi Cục thiết kế hàng hải trung ương Rubin tại St Petersburg.
Các phiên bản của nó bao gồm Kiểu 877EKM – lớp Turbot và Kiểu 636 – lớp Kilo. Ngoài ra còn có một phiên bản hiện đại hơn là Kiểu 677 – lớp Lada được đưa vào chạy thử nghiệm tháng 11-2004.
Các kỹ sư của Rubin đã phát triển hệ thống động cơ đẩy không khí độc lập có thể dùng cho Kilo và vài lớp tàu ngầm khác.
Sức mạnh quân đội nhân dân Việt Nam trên thế trận Biển Đông (Kì 1)
Nhiều
năm trở lại đây nhận thấy được sự biến động rất lớn về tình hình an
ninh trong khu vực đặc biệt là vấn đề trên Biển Đông. Đảng và Nhà nước
ta đã không ngừng đầu tư...
Kilo là lớp tàu ngầm được thiết kế với nhiệm vụ săn tàu ngầm, tàu chiến, tuần tra và trinh sát đối phương. Nó là lớp tàu ngầm chạy động cơ diesel-điện êm nhất thế giới với khả năng phát hiện đối phương ở khoảng cách xa từ 3-4 lần so với khoảng cách tàu ngầm khác phát hiện ra nó.

Tàu Kilo TP.Hồ Chí Minh đang lai dắt vào quân cảng Cam Ranh
Tàu ngầm gồm 6 khoang chống nước được ngăn cách nhau bởi những vách ngăn trong một lớp vỏ kép chịu áp lực cao. Thiết kế này có thể tăng khả năng sống sót cho thủy thủ đoàn, khi một khoang thường hay 2 buồng chứa nước kề nhau bị ngập thì tàu vẫn hoạt động được.
So với thế hệ cũ là 877EKM, Kilo đã được nâng cấp sức mạnh của các động cơ nhưng đồng thời vận tốc quay của chân vịt cũng được giảm xuống để giảm tối đa tiếng ồn gây ra khi di chuyển.

Các ống phóng ngư lôi 553mm phía trước mũi tàu
Kilo có tầm hoạt động vào khoảng 12.000 km khi lặn với ống thông hơi và 650 km khi ngập nước hoàn toàn.
Vũ khí của Kilo cũng rất đáng chú ý với khả năng chiến đấu đa mục tiêu, hệ thống chỉ huy có khả năng cung cấp thông tin đầy đủ để điều khiển tàu và bắn ngư lôi hiệu quả nhất.
Các máy tính tốc độ cao trang bị trong tàu giúp nó có thể xử lí các thông tin từ những thiết bị giám sát và hiển thị trên màn hình.
Sức mạnh quân đội nhân dân Việt Nam trên thế trận Biển Đông (Kì 2)
Phần
lớn các loại vũ khí được trang bị cho hải quân Việt Nam đều có xuất xứ
từ Liên Xô trước đây và bây giờ là Nga. Một số loại đã lạc hậu đang dần
được loại bỏ và thay...

Trung tâm điều khiển máy móc của tàu ngầm Kilo
Các tàu Kilo còn có thể được trang bị hệ thống tên lửa hành trình Novator Club-S, phóng ra các tên lửa diệt tàu 3M-54E1 với đầu đạn nổ 450kg và tầm bắn 220km.
Club-S là hệ thống tên lửa dành cho tàu Ngầm, do Nga nghiên cứu và phát triển bao gồm tên lửa chống hạm 3M-54E1 và tên lửa ngầm đối đất 3M-14E.

Tên lửa hành trình chống hạm 3M-54E với tầm bắn tối đa 220km, tốc độ tối đa lên đến Mach 2,9, đầu đạn nặng 200kg.
Các tên lửa sau khi được nạp vào tàu sẽ bắn đi từ các ống phóng ngư lôi tiêu chuẩn, từ độ sâu khoảng 35 – 40m, hành trình tự chủ trong một quỹ đạo đã được chọn trước với tốc độ lên đến 240m/s.

Tên lửa chống hạm Club-S 3M-54E1 dành cho tàu ngầm của Nga
Mỗi tên lửa mang theo một đầu đạn 400kg và một trong những điểm mạnh nhất của các tên lửa Club-S đó là radar chủ động của nó, Args 14e do Công ty Radar MMS ở St. Petersburg thiết kế.
Với khối lượng 40kg, hệ thống radar này được kích hoạt ở đầu giai đoạn bay cuối của tên lửa. Khi còn cách mục tiêu khoảng 20km, nó sẽ quét, phát hiện mục tiêu, lựa chọn các phương án bay sau đó đưa ra quỹ đạo chính xác cho tên lửa.
Chuyên gia vũ khí Nga Viktor Litovkin cho rằng điểm khác biệt ở các tàu ngầm Kilo 636 của Việt Nam là vũ khí vượt trội nhất đối với mọi loại tàu chiến hiện nay.
“Tổ hợp tên lửa Club-S trang bị cho tàu ngầm Kilo 636 của Việt Nam là vũ khí rất đa năng và độc đáo. Nó có thể bắn các tên lửa hành trình chống tàu mặt nước hoặc được sử dụng để tấn công các mục tiêu trên bờ. Tổ hợp này sử dụng những tên lửa siêu âm, có sức công phá lớn, hoàn toàn có thể vô hiệu hóa một chiếc tàu sân bay chỉ bằng 1 quả đạn tên lửa.

Tên lửa ngầm đối đất, đánh các mục tiêu trên cạn Club-S 3M-14E của Nga
Tổ hợp Club-S có thể phóng cùng lúc 2 tên lửa. Chúng có quỹ đạo bay phức tạp có thể tránh được hệ thống phòng thủ tên lửa đa tầng của đối phương, có khả năng phân biệt và phối hợp tác chiến với nhau: hoặc là cùng lao vào tấn công tiêu diệt hoàn toàn một mục tiêu lớn quan trọng như tàu sân bay, hoặc là chia ra để tiêu diệt từng mục tiêu.
Sức mạnh quân đội nhân dân Việt Nam trên thế trận Biển Đông (Kì 3)
Trong
những năm gần đây lực lượng hải quân luôn được Đảng và nhà nước đặc
biệt quan tâm. Cho nên lưc lượng này không ngừng ngày một lớn mạnh cả về
số lượng lẫn chất lượng.
11....
Phía đầu tàu có 6 ống phóng ngư lôi 533mm, bên hông là 6 phóng ống ngư lôi với 18 quả ngư lôi trong ống và 12 quả dự trữ.

Trên tàu ngầm Kilo, tên lửa Club-S được bố trí ở khoang vũ khí và phóng ra từ các ống phóng ngư lôi cỡ 533mm.
Hai hệ thống phóng ngư lôi được điều khiển bằng các máy tính tốc độ cao giúp nó định vị nhanh chóng và chính xác mục tiêu.
Lần bắn đầu tiên có thể thực hiện trong 2 phút, mỗi loạt tiếp theo cần tất cả 5 phút để chuẩn bị và khai hỏa.

Nạp tên lửa chống tàu 3M-54E1 lên tàu ngầm Kilo đề án 877EKM của Hải quân Ấn Độ.
Đôi mắt cổ xưa nhất và không thể thiếu của các loại tàu ngầm là kính tiềm vọng. Kính tiềm vọng là dụng cụ quang học cho phép những người trên tàu ngầm có được bức tranh tuy khá hạn chế nhưng vô cùng quan trọng về thế giới bên ngoài chiếc tàu thép không có cửa sổ của mình. Trước đây kính tiềm vọng chỉ cung cấp cho một chiếc tàu ngầm đang lặn những hình ảnh thoáng qua về những gì đang xảy ra ở bên ngoài.
Hiện nay kính tiềm vọng vẫn là công cụ rất hữu dụng trên tàu ngầm, mặc dù các tàu ngầm hiện đại đều được trang bị các cảm ứng điện tử và hệ thống thủy âm. Kính tiềm vọng có thể được tích hợp camera hoặc các phương tiện thu thập dữ liệu khác.

Tàu ngầm Kilo Hà Nội

Một tàu ngầm nổi lên sát mặt nước để sử dụng kính tiềm vọng
Hiện nay hải quân một số nước đã phát triển hệ thống định vị quán tính (SINS) cho phép tàu ngầm có thể định hướng ở dưới nước bằng cách theo dõi chuyển động tương đối của nó so với một vật chuẩn xuất phát. Tuy nhiên trong thực tế vẫn luôn phát sinh sai sót, thế nên tàu ngầm bắt buộc phải nổi lên sát mặt nước để định kỳ cập nhật thông tin từ các vật chuẩn bên ngoài bằng cách sử dụng kính tiềm vọng.
Trước thập niên 1980, các tàu ngầm của hải quân một số nước thường nhận được những thông tin cập nhật này qua các trạm vô tuyến đạo hàng xa (loran). Hiện nay loran đã được thay thế bằng hệ thống định vị toàn cầu (GPS), một mạng lưới định vị từ các vệ tinh trong vũ trụ với các trạm kiểm soát và xử lý dữ liệu trên mặt đất.
Tuy nhiên có mắt thôi là chưa đủ, tàu ngầm muốn tác chiến hiệu quả phải trang bị cho mình một “đôi tai” thật thính nhạy để kịp thời phát hiện đối phương cũng như tận dụng được địa hình trong lòng biển. “Đôi tai” này chính là các thiết bị thủy âm của tàu ngầm.

Tàu ngầm có thể xác định được mục tiêu nhanh chóng bằng thiết bị thủy âm
Các tàu ngầm hiện đại ngày nay thường được trang bị vòm thủy âm. Vòm thủy âm là một quả cầu với hàng trăm cảm biến âm thanh được gắn ở gần mũi tàu ngầm và thường được bổ sung thêm một chuỗi cảm biến âm thanh được gắn trên một sợi cáp phía sau đuôi tàu ngầm.
Tàu ngầm thường được trang bị 2 loại thiết bị thủy âm, đó là thủy âm chủ động và thủy âm bị động. Thiết bị thủy âm chủ động sẽ phát sóng âm hướng vào mục tiêu và thu tín hiệu dội lại, tuy nhiên nó ít khi được sử dụng vì dễ bị đối phương phát hiện ra. Thiết bị thủy âm thụ động sẽ dò tìm những âm thanh do đối phương phát ra, chẳng hạn như tiếng va chạm của máy móc hoặc tiếng ồn của động cơ. Thiết bị thủy âm có thể được sử dụng ở bất cứ độ sâu nào.

Một thiết bị thủy âm phát hiện tàu ngầm gắn trên trực thăng săn ngầm của Mỹ
Các âm thanh bên ngoài mà tàu ngầm thu được sẽ được chuyển đổi thành hình ảnh gọi là hình ảnh “thác nước”. Chúng được so sánh với các hình ảnh lưu trữ trong thư viện âm thanh đặc trưng để xác định các đặc điểm của mục tiêu tiềm tàng.
Âm thanh đặc trưng là âm thanh độc nhất lặp đi lặp lại do máy móc của từng con tàu phát ra, chẳng hạn như tiếng động cơ, chân vịt hay bơm nước. Các kỹ thuật viên thủy âm của tàu ngầm sẽ phân tích và ghi lại những âm thanh đặc trưng này vào thư viện âm thanh. Họ cũng ghi lại các âm thanh nền của hệ sinh thái xung quanh như âm thanh của những con tôm, cá voi, các loài cá phục vụ cho mục đích so sánh đối chiếu.
Tàu ngầm còn sử dụng một công nghệ khác để quan sát thế giới xung quanh trong lòng đại dương và phát hiện mục tiêu, đó chính là radar. Hệ thống radar trên tàu ngầm phát đi một chùm sóng radio và sau đó thu lại và phân tích chùm sóng dội lại từ mục tiêu, từ đó thu được thông tin về phương hướng và khoảng cách của mục tiêu.
Tuy nhiên, cũng giống như kính tiềm vọng và ăng-ten radio, các cột radar cũng phải nhô lên khỏi mặt nước để có được những thông tin quan trọng, đổi lại tàu ngầm sẽ phải hứng chịu nguy cơ bị phát hiện cao hơn. Hiện nay tàu ngầm thường chỉ sử dụng radar trên mặt nước khi vào hoặc ra cảng.
Một yếu tố rất quan trọng nữa để tàu ngầm có thể hoàn thành được nhiệm vụ chiến đấu trong lòng đại dương của mình là khả năng liên lạc với sở chỉ huy ở trên bờ, với các tàu ngầm khác và với lực lượng bạn.

Tàu ngầm còn có thể sử dụng radar để phát hiện mục tiêu
Tàu ngầm có thể nhận sóng radio ở tần số cực thấp (VLF/ELF) vốn có thể truyền được rất sâu dưới biển, và hình thức liên lạc một chiều này giúp tàu ngầm duy trì liên lạc liên tục với thế giới bên ngoài. Khả năng nhận sóng VLF/ELF vẫn đang là điều rất quan trọng đối với các tàu ngầm hiện đại ngày nay, đặc biệt là trong việc phối hợp, hiệp đồng tác chiến với các lực lượng khác.
Trọng Nam (Tổng hợp)
Sức mạnh quân đội nhân dân Việt Nam trên thế trận Biển Đông (Kì 5)
Chủ nhật, 30/03/2014, 14:48 (GMT+7)(An Ninh Quốc Phòng) - Trong thế trận chung phòng thủ biển đảo, lực lượng pháo tên lửa bờ biển có điểm đặc thù là tác chiến trong điều kiện có sự hỗ trợ chi viện của các lực lượng kỹ thuật đảm bảo – lực lượng trinh sát, cảnh báo sớm và dẫn đường, chỉ thị mục tiêu. Những đặc trưng chiến thuật chủ yếu của lực lượng pháo binh, tên lửa phòng thủ biển – đảo được thể hiện rõ trong biên chế tổ chức, các hình thức tác chiến phòng ngự cơ động.
Là lực lượng hỏa lực thê đội 1 trong thế trận phòng ngự bờ biển, hải đảo: lực lượng pháo binh – tên lửa, trong đó chủ lực là lực lượng tên lửa bờ biển có nhiệm vụ tiêu diệt các chiến hạm, các đoàn vận tải quân sự, các cụm chiến hạm đổ bộ đường biển; tiêu diệt các trận địa hỏa lực của đối phương, các mục tiêu trên bờ biển của hạm đội đối phương, tấn công các tuyến đường vận tải biển, các cụm binh lực đối phương tập trung trên hướng biến từ những cụm tàu nổi của đối phương; trong tầm hỏa lực, tấn công các căn cứ đóng quân và các hải cảng của đối phương.
Lực lượng pháo binh có nhiệm vụ tấn công các chiến hạm nổi của đối phương hoạt động ven biển, tấn công tiêu diệt các cụm binh lực địch triển khai các hoạt động đổ bộ, tiêu diệt và chế áp binh lực, sinh lực và các trận địa hỏa lực đối phương trên bờ biển.
Sức mạnh quân đội nhân dân Việt Nam trên thế trận Biển Đông (Kì 1)
Nhiều
năm trở lại đây nhận thấy được sự biến động rất lớn về tình hình an
ninh trong khu vực đặc biệt là vấn đề trên Biển Đông. Đảng và Nhà nước
ta đã không ngừng đầu tư...
Tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển 4K51 Rubezh (NATO định danh là SSC-3) do Liên Xô phát triển và đưa vào phục vụ cuối những năm 1980.
Tổ hợp 4K51 gồm một xe mang bệ giá phóng 3P51 (cải tiến dựa trên xe vận tải hạng nặng MAZ-543), sử dụng để đặt radar điều khiển hỏa lực cùng cụm ống phóng KT-161.

Tổ hợp 4K51 Rubezh phóng tên lửa hành trình chống tàu P-15M trong một cuộc diễn tập bắn đạn thật.
Khi phóng, động cơ rocket sẽ đưa P-15M rời bệ, đạt độ cao ổn định động cơ chính sẽ kích hoạt đưa tên lửa tới mục tiêu. Trong hành trình, tên lửa bay cách mặt nước 25-50m.
Ở pha giữa, tên lửa được điều khiển bằng hệ dẫn đường quán tính và ở pha cuối dùng radar chủ động.

Các kỹ thuật viên Hải quân Việt Nam đang nạp đạn P-15M lên xe mang phóng 3P51.
Sức mạnh quân đội nhân dân Việt Nam trên thế trận Biển Đông (Kì 2)
Phần
lớn các loại vũ khí được trang bị cho hải quân Việt Nam đều có xuất xứ
từ Liên Xô trước đây và bây giờ là Nga. Một số loại đã lạc hậu đang dần
được loại bỏ và thay...
*Tổ hợp tên lửa bờ 4K44B Redut
Tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển 4K44B Redut (NATO định danh SSC-1) do Liên Xô phát triển và đưa vào sử dụng từ những năm 1960.
Thành phần của 4K44 gồm: xe radar điều khiển và xe bệ giá phóng (mang 1 quả tên lửa) dựa trên khung thân xe vận tải ZIL-135K. Thông thường, một tổ hợp bố trí một xe radar và 3 xe mang tên lửa.

Các xe mang phóng tự hành của tổ hợp 4K44B Việt Nam.
P-35 dùng động cơ đẩy nhiên liệu rắn 4L44, tốc độ hành trình cận âm thanh. Tên lửa dùng hệ dẫn đường quán tính kết hợp radar chủ động dẫn pha cuối. Đặc biệt, ở pha giữa nó có thể tiếp nhận thông tin mục tiêu từ trực thăng săn ngầm Ka-25 hoặc máy bay tuần thám biển Tu-95RT.
Sức mạnh quân đội nhân dân Việt Nam trên thế trận Biển Đông (Kì 3)
Trong
những năm gần đây lực lượng hải quân luôn được Đảng và nhà nước đặc
biệt quan tâm. Cho nên lưc lượng này không ngừng ngày một lớn mạnh cả về
số lượng lẫn chất lượng.
11....

Tổ hợp 4K44B Redut đang khai hỏa tấn công mục tiêu (ảnh minh họa nước ngoài).
Tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển 3K55 Bastion (NATO định danh SSC-5) do Nga phát triển đầu những năm 1990 để thay thế tổ hợp 4K44.
Một tổ hợp Bastion thường biên chế: 4 xe mang bệ giá phóng, một xe chỉ huy, một xe radar (hệ thống radar Monolit B) và xe vận chuyển, bảo dưỡng khác.

Tổ hợp tên lửa bờ hiện đại nhất Bastion của Hải quân Việt Nam
Sức mạnh quân đội nhân dân Việt Nam trên thế trận Biển Đông (Kì 4)
Hôm
22/3 vừa qua Việt Nam đã lai dắt cập cảng Cam Ranh thành công tàu ngầm
Kilo TP.Hồ Chí Minh trong hợp đồng 6 chiếc Kilo kí kết với Nga năm 2009.
Nhằm cung cấp thông tin cho bạn đọc hiểu...
3M55 trang bị hai động cơ, một động cơ nhiên liệu rắn để đưa lên tửa rời bệ phóng và một động cơ phản lực dòng thẳng cho hành trình bay. Đặc biệt, 3M55 đạt tốc độ hành trình gấp hơn 2 lần vận tốc âm thanh, do vậy mà việc đánh chặn quả tên lửa này không dễ.

Tổ hợp tên lửa Bastion
Ở tầm gần thì Việt Nam thường dùng hỏa lực pháo mặt đất (pháo 85 mm, 105 mm, 152 mm, pháo không giật DKZ, pháo cối) kiêm nhiệm nhiệm vụ bảo vệ bờ biển chống tàu, xuồng đổ bộ đối phương.

Khẩu đội pháo 105mm của Trung đoàn pháo binh 368 (quân khu 5) khai hỏa trong cuộc diễn tập phòng thủ bờ biển tháng 5/2012

Khẩu
đội pháo 85 mm (trung đoàn pháo binh 6) khai hỏa tấn công mục tiêu
trong cuộc diễn tập đánh địch đột nhập đường biển đổ bộ vào đất liền của
quân khu 9 tháng 8/2012.

Pháo phản lực phóng loạt BM-14 (trung đoàn pháo binh 6) tấn công mục tiêu trên biển trong cuộc diễn tập tháng 8/2012.



Nhận xét
Đăng nhận xét