CÂU CHUYÊN TÌNH BÁO 52
(ĐC sưu tầm tên NET)
Ngày 27 tháng 9 năm 1947, Tổng thống Mỹ H. Truman đã ký Đạo luật An
ninh Quốc gia, theo đó Cục Tình báo Trung ương Mỹ CIA đã được thành lập.
Ngoài nhiệm vụ lãnh đạo CIA, Giám đốc CIA còn điều phối hoạt động của
tất cả các cơ quan, đơn vị trong cộng đồng tình báo Mỹ, giữ vai trò cố
vấn thứ nhất của tổng thống về các vấn đề tình báo và bảo đảm thông tin
về nước ngoài cho lãnh đạo tối cao của Mỹ.
Trong thành phần của CIA có bốn cục (directorate). Cục lớn nhất là Cục Hoạt động phụ trách tiến hành các chiến dịch tình báo và các hoạt động lật đổ ngầm ở nước ngoài. Cục Phân tích thông tin đảm nhiệm phân tích, chuẩn bị và báo cáo các tin tức do tất cả các thành viên của cộng đồng tình báo Mỹ thu thập đưọc. Cục Khoa học kỹ thuật thực hiện các dự án nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực tình báo bằng phương tiện kỹ thuật, duy trì quan hệ với các hãng công nghiệp quân sự thực hiện đơn đặt hàng chế tạo phương tiện kỹ thuật tình báo mới. Cuối cùng, Cục Hành chính, ngoài các chức năng chung, “hàng ngày” như hậu cần, tài chính, y tế, còn thâu tóm các chức năng an ninh, liên lạc và huấn luyện.
Dĩ nhiên, một cơ quan tình báo hùng mạnh như thế không thể bỏ qua tình báo vô tuyến điện tử.
Một trong những chiến dịch tình báo vô tuyến điện tử quy mô lớn đầu tiên của CIA bắt đầu vào năm 1953. Chính thời đó, đại bản doanh CIA ở Washington đã nhận được tin nói rằng, ở Berlin, trên lãnh thổ Cộng hoà Dân chủ Đức, có một trạm điện thoại lớn ngầm dưới đất hoạt động, thông qua đó có một bộ phận đáng kể lưu lượng liên lạc điện thoại của các cơ quan nhà nước của Cộng hoà Dân chủ Đức. Sự quan tâm của người Mỹ đối với Berlin không phải là tình cờ. Thủ đô Cộng hoà Dân chủ Đức là đầu mối thông tin liên lạc quan trọng thứ hai ở Đông Âu. Điều đó có nghĩa là chẳng hạn khi Tư lệnh Quân quản Liên Xô ở Bucarest hay Varsava liên lạc với Moskva thì cuộc gọi bắt buộc phải đi qua Berlin.
Cuối năm 1954, được sự đồng ý của xếp CIA A. Dulles, các nhân viên ở trung tâm CIA tại Berlin đã bắt tay vào một việc khác thường đối với họ là đào một đường ngầm dưới đất. Chưa ai từng làm việc tương tự, nhưng người Mỹ cho rằng, đào đường hầm là cách duy nhất để xâm nhập vào trạm điện thoại của Đông Berlin. Các cơ quan tình báo Anh có đôi chút kinh nghiệm đào đường ngầm thẳng đứng. Chính vì vậy, người Mỹ đã tin tưởng giao phó cho họ việc nghiên cứu biện pháp đào thẳng đứng mà không làm biến dạng bề mặt lớp đất trên cùng. Họ cũng phải viện đến sự giúp đỡ của người Anh khi lắp đặt máy móc nghe lén trong đường hầm.
Công việc được tiến hành bằng các phương tiện kỹ thuật xây dựng hiện đại nhất và kéo dài gần bốn tháng. Tại Tây Berlin, bên cạnh đường biên giới, Không quân Mỹ đã vội vã lắp đặt một đài radar mới. Để đánh lạc hướng chú ý, xung quanh đài đã xây dựng nhiều toà nhà khác bao quanh bằng hàng rào với các vọng gác. Đường hầm cũng được đào từ vị trí đó. Từ bên trong tầng hầm rộng lớn của đài radar, các máy khoan công suất lớn bắt đầu đào đường hầm ở độ sâu 7 m dưới mặt con đường nhựa nối Tây Berlin với thủ đô Cộng hoà Dân chủ Đức. Một số lượng lớn đất sét được moi ra từ đường hầm, ban đầu đổ tạm ra tầng hầm đài radar, sau đó được bí mật chở đi trong những contenơ lớn. Trên các contenơ có ghi các hàng chữ hoàn toàn vô hại để đánh lừa những kẻ tò mò nhất. Việc thi công được tiến hành thông tầm, suốt 24/24 giờ.
Họ đã xây dựng nên một công trình kiên cố đặc thù kiểu Mỹ. Đường hầm có đường kính gần hai mét và gồm những khẩu bêtông nối nhau, bên trong xếp bao cát. Không khí được điều hoà, các máy bơm được dùng để bơm nước ngầm phun lên. Các bảng công tắc được đấu với các máy tăng âm. Tổng cộng, họ đã triển khai 400 máy tăng tâm - mỗi kênh liên lạc lắp một máy - và từng đấy máy nghe lén và ghi âm. ở đầu kia đường hầm có lắp hai cánh cửa thép và các đường dây đi qua đó. Các đường dây được nối với những đường cáp điện thoại ở Đông Đức và được đấu sao cho không làm đứt đoạn lấy một giây liên lạc qua trạm điện thoại. Không lâu sau đã đến ngày ăn mừng khi 400 máy ghi âm đồng thời bước vào hoạt động.
Trong suốt gần một năm, chính quyền Mỹ đã sử dụng đường hầm này để nghe lén các cuộc điện đàm giữa Moskva và Berlin. Băng ghi âm các cuộc điện đàm được gửi đi London để một nhóm dân Nga lưu vong luôn sẵn sàng dịch ngay lập tức. Các nội dung chặn thu điện báo cần giải mã thì được gửi đến Nuremberg. Tại đó, có một nhóm đặc biệt nữa gồm năm chuyên gia mã thám. Tại Washington, một nhóm lớn nhân viên CIA trong nhiều tháng trời sẽ tiến hành phân tích và hệ thống hoá thông tin thu được trong đường hầm để chuyển cho các cơ quan chính phủ tương ứng. Tuy vậy, các văn bản đánh giá thông tin này rất khác nhau. Một số thì khẳng định đường hầm này đã cứu mạng không ít điệp viên Mỹ vì nhờ các tin tức thu được, các điệp viên này đã kịp thay đổi phương pháp và kế hoạch hoạt động. Các văn bản đánh giá khác thì nói đường hầm cung cấp được rất ít tài liệu loại một. Và quả thực, nói một cách nhẹ ra thì phần lớn tin tức thu được có giá trị đáng ngờ. Chẳng hạn, Mỹ đã chặn thu được thông tin nói phía Liên Xô có kế hoạch bắt giữ Tư lệnh Quân quản Tây Berlin của Mỹ, tướng Descher khi ông ta đi thăm hội chợ Leipzig. Người Mỹ không hề băn khoăn về tính không tưởng của tin này nên trong một thời gian dài, họ đã tìm đủ lý do để huỷ bỏ chuyến thăm hội chợ của Descher mà không để lộ nguồn tin. Vấn đề tự nó giải quyết khi mà Descher bất ngờ ốm vì viêm phổi.
Để giữ thể diện, sau này người ta có thể nhắc đi nhắc lại bao nhiêu tuỳ thích về “chiến dịch tuyệt vời về sự táo bạo và sáng tạo” đã tạo cơ hội cho CIA trong cả năm trời “bắt được mạch của Liên Xô” để cảnh báo kịp thời cho chính phủ Mỹ về cuộc tấn công đang chuẩn bị của Liên Xô. Nhưng kể cả những kẻ biện giải bênh vực CIA cũng buộc phải thú nhận rằng, nói cho cùng chi phí của đường hầm gián điệp cao hơn nhiều giá trị thông tin thu được nhờ nó.
Một câu hỏi dĩ nhiên nảy sinh: nếu người Mỹ trong một năm đã nghe lén được một số lượng lớn các cuộc gọi điện thoại trên 400 kênh thì chả lẽ tất cả đều là nguồn tin hạng hai? Còn việc khám phá chiến dịch của CIA - có thực là nó đã xảy ra như người ta đã thông báo chính thức cho công luận thế giới? Giả thuyết của người Mỹ về điều đã xảy ra ngày 22 tháng 4 năm 1956 như sau.
Một đêm tháng 4, bốn quân nhân Mỹ đã được huấn luyện đặc biệt như mọi khi vẫn ngồi bên các máy mócđược đấu với các kênh điện thoại chính phủ và quân sự của Cộng hoà Dân chủ Đức. ở trong một boongke tiện nghi đối với họ là chuyện hoàn toàn bình thường. Họ thấy thoải mái như đang làm việc trong đơn vị mình. Nỗi lo sợ đeo đẳng họ trong những tuần trực đầu trong boongke đã qua đi từ lâu. Các trang bị kỹ thuật hoạt động rất tốt, các nhân viên vận hành có thể thư giãn, thậm chí cười đùa. Điểm mà họ khoái nói đến nhất là người Nga sẽ nói gì một khi biết các cuộc gọi điện thoại của mình bị nghe lén. Nhưng lần này, chuyện đùa đã tắc nghẹn trong họng những kẻ hóm hỉnh. Vấn đề là việc bộ đội thông tin Liên Xô tiến hành kiểm tra định kỳ trạm điện thoại. Một người lính đã đụng phải những đường dây không rõ công dụng, sau đó là một cánh cửa thép với dòng chữ tiếng Nga đầy hăm doạ “Cấm vào trừ phi được Bộ Chỉ huy Tối cao cho phép!” Sau một chút dao động, các chiến sĩ thông tin Liên Xô đi sâu vào đường hầm cách âm này. Tại đó, họ không thấy ai. Ngay lúc có ai đó chạm vào một dây dẫn nào đó thì một thiết bị tự động sẽ phát tín hiệu báo động cho nhân viên của đài radar Mỹ đang là bình phong của đường hầm gián điệp này. Nhưng trong đường hầm đèn vẫn sáng, máy điều hoà nhiệt độ vẫn làm việc, tất cả các máy móc vẫn bật, các máy bơm nước vẫn chạy vo vo như không hề có chuyện gì xảy ra, một trong các điện thoại dã chiến vẫn réo chuông không ngớt.
Liên Xô đã gửi công hàm kịch liệt phản đối Mỹ. Đường hầm với tư cách bằng chứng hoạt động gián điệp của Mỹ đã được hàng ngàn khách tham quan đến thăm. Và mặc dù Mỹ giữ im lặng tuyệt đối nhưng chẳng ai trên thế giới mảy may nghi ngờ về tác giả của việc này. Người ta thừa hiểu nếu khách tham quan đi xa hơn nữa theo đường hầm thì sẽ nhanh chóng có mặt trên lãnh thổ Tây Berlin, ngay trong toà nhà có thiết bị radar Mỹ trên nóc. Lời mời đến tham quan đường hầm đã được gửi cho Tư lệnh Quân quản Mỹ ở Tây Berlin Descher, đáp lại ông ta nói đây là lần đầu tiên được nghe thấy nói về về những chuyện này và nhất quyết từ chối đến thăm. Phải 14 năm sau khi phát hiện đường hầm thì câu chuyện chân thực về nó mới được biết đến đầy đủ nhờ con trai một người Do Thái Hà Lan giàu có từng cùng gia đình chạy nạn từ Hà Lan sang Anh khi Đức chiếm đóng Hà Lan. Tại Anh, gia đình này đã đổi từ họ Behar không may sang họ Blake quen thuộc hơn với cái tai của người Anh.
Kết cục của chiến dịch Gold
Ngày 22 tháng 10 năm 1966, trước một bệnh viện của London có một cảnh rất nhộn nhịp. Giờ thăm bệnh nhân đã bắt đầu. Trên bãi đậu xe của bệnh viện không còn đủ chỗ. Lúc đó, các đường phố cũng đang tắc nghẽn nên không ai để ý đến một chiếc ôtô đang đỗ bên cạnh bức tường gạch đỏ trước toà nhà gần bệnh viện, đối diện nhà tù. Từ chiếc xe bước xuống một người đàn ông tay cầm bó hoa cúc. Người ta vẫn thường mang hoa đến bệnh viện nên chả ai chú ý đến anh ta. Thêm vào đó, trời lại mưa lâm thâm. Hai giờ sau, tất cả đã thay đổi. Còi báo động rú inh ỏi, xe ôtô cảnh sát rầm rập lao đến. Trong sân nhà tù đang tiến hành lục soát vì tù nhân George Blake, cựu sĩ quan tình báo Anh bị án tù dài nhất trong lịch sử tư pháp Anh vào năm 1961 vì hoạt động tình báo cho Liên Xô, đã biến khỏi buồng giam.
Năm 1952, nhận thấy đường lối chính nghĩa và cơ cấu nhà nước nhân đạo của Liên Xô nên sĩ quan tình báo Anh lỗi lạc này đã tự nguyện đề nghị cộng tác với tình báo Liên Xô. Trong nhiều năm dài, ông đã làm việc không vụ lợi cho Liên Xô hoàn toàn vì động cơ lý tưởng. Tuy vậy, các tài liệu mà nhân viên tình báo Ba Lan Mikhail Goleniewski phản bội chạy sang phương Tây đem theo đã giúp người Anh lần ra Blake.
Theo bản án, Blake phải ngồi tù không dưới 2/3 thời hạn tù mà toà đã tuyên, có nghĩa là may ra ông chỉ có thể được tự do vào tuổi 66. Ngồi tù được bốn năm và hết hy vọng được Bộ An ninh Quốc gia Liên Xô (MGB) hỗ trợ cứu ra khỏi tù, Blake quyết định tự sắp xếp cuộc chạy trốn. Ông đã tìm được một người tiếp tay trong số tù nhân - một người Ireland có tên Sean Bourke đang sẵn sàng làm mọi việc chỉ để gây phiền toái cho chính quyền Anh. Bourke sắp được thả. Blake đã kịp thống nhất đại thể với ông ta về kế hoạch chạy trốn sắp tới của mình. Sau khi Bourke ra tù, họ đã bàn bạc chi tiết với nhau bằng cách liên hệ trực tiếp qua các máy vô tuyến điện xách tay. Chỉ máy định vị cơ động bố trí riêng trong khu vực nhà tù mới có thể chặn thu được các cuộc đàm thoại của họ. Tuy vậy, tình báo vô tuyến điện tử Anh hoàn toàn tập trung cho việc chặn thu các điện tín liên lạc gửi ra nước ngoài, chứ họ chẳng quan tâm đến các máy phát công suất nhỏ có bán kính hoạt động 10 m.
Kế hoạch chạy trốn được suy tính từng ly từng tý. Thậm chí, số điện thoại mà Blake cần gọi sau khi thoát được khỏi nhà tù, được ghi trên mẩu giấy và đặt tại chỗ quy định cũng được người tiếp tay mã hoá. Còn khoá mã thì Blake chỉ biết được khi đã ở trong chiếc ôtô đợi đón ông ở gần nhà tù vào giờ chạy trốn đã định.
Bốn năm sau, trong một căn hộ ấm cúng ở Moskva, các cán bộ của toà báo Izvestya (Tin tức) đã trò chuyện với Blake. Vì công lao đối với Liên Xô, ông đã được tặng thưởng hai huân chương cao quý nhất. Khi trò chuyện, Blake đã hồi tưởng cả những sự kiện đã diễn ra hơn 15 năm trước - đó là chiến dịch Gold. Tháng 12 năm 1953, các quan chức cao cấp CIA đã đến London bàn bạc với các đồng nghiệp Anh kế hoạch phối hợp tiến hành một hành động đặc biệt. Đó là về đường hầm gián điệp trên lãnh thổ Cộng hoà Dân chủ Đức. Trong các cuộc trao đổi, về phía Anh có cả Blake tham gia vì anh là phó trưởng phòng phụ trách và bảo đảm các điệp vụ kỹ thuật.
Họ đã lập biên bản ghi nhận kết quả đàm phán của hai cơ quan tình báo và lúc rỗi rãi Blake cũng đã nó cẩn thận. Sau đó, vì tầm quan trọng và tính khẩn cấp của vấn đề, ông đã xin gặp khẩn cấp liên lạc viên của tình báo Liên Xô. Đưa ra quyết định đó không phải là dễ dàng vì tất cả các cuộc gặp với liên lạc viên đều mạo hiểm, kể cả khi có thời gian chuẩn bị. Dù sao thì cuộc gặp của Blake với liên lạc viên cũng đã diễn ra xuôn xẻ.
Như vậy, trong khi người Mỹ còn đang cặm cụi thực hiện dự án đài radar và rất lâu trước khi họ chở chiếc contenơ đựng đất đầu tiên ra khỏi tầng hầm đài radar thì ở Moskva người ta đã biết tỏng tất cả. Còn lúc này, vào năm 1970, Blake tươi cười kể cho các nhà báo Liên Xô những thông tin “cực kỳ giá trị” nào mà người Mỹ đã nhận được cho đến khi phản gián Liên Xô ấn định ngày 22 tháng 4 năm 1956 để “khám phá” hành động tình báo vô tuyến điện tử này của CIA. Chiến dịch Gold mà lúc mới đầu đã làm những người tổ chức nó tràn trề hy vọng và bị định đoạt trở thành một trong những thất bại lớn nhất của CIA trong lĩnh vực tình báo vô tuyến điện tử đã chấm dứt như vậy đấy. Việc khám phá ra nó đã được thực hiện rất tinh tế nên các uỷ ban đặc biệt của CIA được thành lập để điều tra vụ này đều đã nhất trí kết luận rằng, Liên Xô đã “tình cờ” phát hiện ra đường ngầm gián điệp này. Hơn nữa, phần lớn các cuộc đàm thoại bị người Mỹ nghe lén trong quá trình chiến dịch Gold quả thực là có các thông tin tin cậy.
Tin cậy nhưng giá trị thấp bởi vì phía Liên Xô đã được Blake cảnh báo kịp thời nên đã chuyển tất cả những cuộc đàm thoại quan trọng nhất sang các kênh liên lạc khác được triển khai để đi vòng qua tổng đài điện thoại Berlin. Còn thông tin vẫn đi qua tổng đài này bị hy sinh để kéo sự nghi ngờ khỏi điệp viên quý giá là Blake.
Mãi sau này, người Mỹ mới biết uỷ ban đặc biệt của CIA đã nhầm, còn CIA thì vẫn say sưa với những thành công ảo tưởng lại tiếp tục xếp đặt nền móng cho một thất bại đau đớn tai tiếng không kém nữa.
Đến năm 1938, các bức điện ngoại giao mật nhất của Nhật được mã bằng
hệ mã mà các chuyên gia mã thám Mỹ gọi là mã “màu vàng da cam” (Orange)
- trong các tài liệu chính thức, các kế hoạch quân sự và trong thư tín
trao đổi riêng của các sĩ quan cao cấp, nước Nhật được gọi như vậy. Khi
xuất hiện các hệ mã hoàn thiện hơn dùng để bảo mật các điện tín quan
trọng nhất của Bộ Ngoại giao Nhật, chúng được đặt quy ước theo màu đậm
hơn: ban đầu là “màu đỏ” (Red), sau đó là “màu huyết dụ” (Purple).
Những thành công đối với mã Red và các hệ mã kém vững chắc hơn đã cho phép người Mỹ nghiên cứu những tập hợp từ hay dùng nhất và phong cách viết thư tín liên lạc ngoại giao của Nhật. Họ đã có thể phỏng đoán những từ nào sẽ được sử dụng để soạn các bức điện. Những câu mở đầu và kết thúc của các bức điện như “Rất vinh hạnh được thông báo với quý ngài” hay “Phúc đáp bức điện của Ngài” là những chỗ dựa chính.
Các bài báo cung cấp thêm thông tin về nội dung có thể của các bức điện mã chặn thu được của Nhật.
Bộ Ngoại giao Nhật thường gửi cùng một điện văn bằng điện báo đến mấy sứ quán của mình mà không phải sứ quán nào trong số này cũng có máy mã Purple. Nhân viên cơ yếu Nhật do sơ suất có thể gửi bức điện được mã trên máy Purple đến sứ quán còn chưa được trang bị máy mã này. Dĩ nhiên là sứ quán đó sẽ yêu cầu gửi lại bức điện mã đó. Khi sực nhớ ra, nhân viên cơ yếu liền tìm cách sửa lỗi lầm. Anh ta lại gửi bức điện đó được mã bằng hệ mã kiểu cũ có trong tay sứ quán này vốn đã bị Mỹ giải phá. Sự hiện diện đồng thời của cả bản rõ và bản mã giúp người Mỹ dễ dàng hơn nhiều trong việc giải phá mã Purple.
Bởi thế mà đến tháng 8 năm 1940, các chuyên gia Cục Mã thám Lục quân Mỹ đã tái thiết kế được một máy mã Purple và chế tạo một số máy khác. Máy đầu tiên họ để lại dùng, máy thứ hai gửi cho các đồng nghiệp bên Hải quân, máy thứ ba gửi cho người Anh, còn máy thứ tư để dự phòng. Một tình huống oái oăm đã nảy sinh : người Mỹ đọc được các bức điện quan trọng nhất của Nhật nhanh và dễ hơn nhiều so với các bức điện kém bí mật hơn của Nhật. Họ cũng học được rất nhanh cách giải phá các hệ mã hai bậc, trong đó máy mã Purple đóng vai trò như phương tiện mã lặp các bức điện đã mã sơ bộ.
Say sưa với thắng lợi
Các chỉ huy các cơ quan tình báo Lục quân và Hải quân Mỹ đã có một thoả thuận đặc biệt quy định những người được nhận tin Magic. 10 người được liệt kê trong danh sách này là bộ phận tinh hoa của bộ máy nhà nước Mỹ thời đó: tổng thống, ngoại trưởng, bộ trưởng chiến tranh, tham mưu trưởng Lục quân, tham mưu trưởng Hải quân, các cục trưởng kế hoạch tác chiến của các bộ tham mưu Lục quân và Hải quân. Trên thực tế, còn có nhiều người nữa được biết nội dung các bức điện giải mã của Nhật như các cục trưởng thông tin liên lạc của các bộ tham mưu Lục quân và Hải quân nắm giữ các cơ quan mã thám quân sự thuộc quyền, bản thân các chuyên gia mã thám và phiên dịch viên của các cơ quan này, cũng như những người ngoài không nằm trong danh sách người nhận và không tham gia vào việc thu nhận thông tin. Giao thông viên chuyên đưa các bức điện giải mã đến cho các quan chức cao cấp tất nhiên là không thể lúc nào cũng đứng sau lưng họ khi họ đọc bản rõ của các bức điện mã. Cặp đựng các bức điện Magic nói chung đều được để lại một đêm tại Bộ Ngoại giao Mỹ. Hậu quả của việc không chấp hành đầy đủ yêu cầu an toàn đã nhanh chóng xuất hiện.
Ban đầu, Bộ Ngoại giao Mỹ đã mất một bản ghi nhớ có thông tin thu được từ Magic. Sau đó, trong sọt rác của viên sĩ quan tuỳ tùng của tổng thống Mỹ đột nhiên tìm thấy một bản ghi nhớ Magic khác. Tại Boston, các nhân viên FBI đã bắt giữ một người định bán thông tin mã thám có liên quan đến Magic.
Một chuyện không thể sửa chữa suýt nữa đã xảy ra vào mùa xuân năm 1941. Hiroshi Oshima, đại sứ Nhật ở Đức, ngày 3 tháng 5 đã gửi về Tokyo một bức điện thông báo Bộ Ngoại giao Mỹ đang có khoá mã của hệ mã Nhật. Các nhân viên Bộ Ngoại giao Mỹ đã giải mã các bức điện gửi từ Tokyo cho đại sứ Nomura ở Washington liên quan đến các báo cáo mà đại sứ Oshima từ Berlin gửi về Tokyo. Thông tin này Oshima nhận được từ Bộ Ngoại giao Đức, sau khi nó được tham tán sứ quán Đức ở Washington gửi về qua điện báo.
Trả lời yêu cầu sau đó của Tokyo, Nomura đã nói: bất chấp “các biện pháp phòng ngừa nghiêm ngặt nhất được tất cả những người nắm giữ các mật mã, áp dụng Mỹ đã giải phá được một vài loại mã của chúng ta, mặc dù chưa biết đích xác cụ thể là những loại nào”. Việc thay đổi mật mã xem chừng không tránh khỏi.
Tuy vậy, tính sĩ diện đã không cho phép người Nhật thừa nhận sự yếu kém của các loại mã vững chắc nhất của họ. Họ không tin những đồn đại về việc Mỹ đã giải phá được chúng. Họ đã không thay thế các hệ mã. Và nếu như các sự kiện này không dạy cho người Nhật mấy thì người Mỹ, sau khi suýt mất một nguồn tin quý giá nhất, liền áp dụng ngay các biện pháp hiệu quả nhằm giảm phạm vi đối tượng được biết nội dung điện mã của Nhật và kiểm soát việc lưu hành chúng trong giới quan chức cao cấp nhất của bộ máy nhà nước Mỹ.
Nhưng điều khiến các chuyên gia mã thám quân đội Mỹ đau đầu không chỉ có thái độ cẩu thả của giới lãnh đạo Mỹ đối với việc bảo mật nguồn tin quý giá này. Họ buộc phải theo dõi sát để báo cáo kịp thời nội dung bức điện mã nào đó cho người quan tâm. Các nhà lãnh đạo các cơ quan mã thám luôn lo sợ nảy sinh tình huống như tham mưu trưởng Lục quân muốn thảo luận tin tức thu được từ nguồn Magic với tham mưu trưởng Hải quân khi mà ông này vẫn chưa nhận được chúng.
Lau bụi cho các máy mã không phải là việc của các võ sĩ đạo Nhật Bản
Trong khi Bộ Ngoại giao Nhật phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa gắt gao nhất và các chuyên gia mã thám Mỹ bị vắt kiệt sức bởi công việc nhức đầu nhức óc để giải phá hệ mã Purple thì tại sứ quán Nhật tại Mỹ lại xảy ra một tình huống tức cười: một công dân Mỹ đang tửng từng tưng dùng giẻ lau bụi trên những chiếc bàn đặt các cỗ máy tinh vi vốn là đối tượng của cuộc chiến thầm lặng này. Cuối thập niên 1930, trong một hành động gây tổn hại đến an ninh của chính mình, sứ quán Nhật ở Washington đã thuê một người da đen luống tuổi tên là Robert vào làm việc. Trong phạm vi chức trách của người này có việc lau bụi ở các bàn và máy móc liên lạc tuyệt mật trong phòng cơ yếu. Các nhân viên cơ yếu, ở mức độ nào đó, cũng nhớ đến các quy tắc an ninh nên không cho phép người quét dọn ở một mình trong phòng. Nhưng người Nhật rõ ràng đã không suy nghĩ nghiêm túc về khả năng Robert là gián điệp. Còn người Mỹ thì lại không tính đến chuyện cài cắm điệp viên vào sứ quán Nhật. Bởi lẽ, phát giác ra một gián điệp ở đó cũng có nghĩa là phía Nhật tất yếu sẽ thay đổi mật mã, tuy rằng chúng dù có khó nhưng vẫn bị giải phá.
Tuy vậy, sẽ là không đúng nếu cho rằng, Mỹ hoàn toàn bỏ qua khả năng mã thám ứng dụng vì lo ngại nó sẽ xoá sạch những thành công trong việc đọc điện mã nước ngoài có được nhờ các nghiên cứu lý thuyết. Ví dụ, ở Lisbon, người ta đã lấy được ở chỗ vị tuỳ viên Nhật bản sao các bức điện được mã bằng loại mã sơ đẳng. Các bản sao này được lấy từ sọt rác. Sau điệp vụ ở Lisbon, cường độ liên lạc vô tuyến có sử dụng mật mã này không giảm nên người Mỹ nghĩ rằng, Nhật vẫn chưa bị phát hiện các tài liệu này bị mất.
Đến mùa thu năm 1941, nhu cầu đối với các bức điện Magic còn bức xúc hơn nữa ở cấp lãnh đạo cao cấp nước Mỹ. Chúng đã biến thành một yếu tố quan trọng sống còn để hoạch định chính sách quốc gia. Các quan chức cao cấp đã thảo luận các bức điện này tại các cuộc họp và căn cứ vào chúng để đưa ra các quyết định, biện pháp. Chẳng hạn, quyết định thành lập bộ chỉ huy quân Mỹ tại Viễn Đông đã ra đời trực tiếp do ảnh hưởng của các bức điện giải mã vào đầu năm 1941, trong đó nước Đức hối thúc Nhật Bản tấn công các thuộc địa của Anh ở châu á với hy vọng bằng cách đó để lôi kéo Mỹ tham chiến.
Chiến tranh mở màn vào lúc 1 giờ trưa
Lập tức sau nửa đêm ngày 7 tháng 12 năm 1941, cái tai linh mẫn của một đài vô tuyến điện hải quân Mỹ trên đảo Bainbridge, cách không xa thành phố Seattle ở Mỹ đã bắt được các tín hiệu trên làn sóng. Bức điện này được phát theo kênh liên lạc ngoại giao từ Tokyo đến Washington. Bức điện được phát trong vòng 9 phút và được gửi cho sứ quán Nhật.
Tại đài vô tuyến điện, điện văn bức điện chặn thu được in ra băng đục lỗ, rồi người ta quay số trạm điện báo đánh chữ-điện báo ở Washington và khi kênh liên lạc đã thông, người ta cho băng đục lỗ được chuẩn bị sẵn vào máy đọc cơ khí để chạy qua máy đọc với tốc độ 60 từ/phút. Sau đó, bức điện này xuất hiện ở máy đánh chữ trong phòng số 1649 của toà nhà Bộ Hải quân Mỹ.
Máy đánh chữ đặt trên bàn sĩ quan trực của Ban OP-20-G, thiếu uý Francis Brotherhood. Máy này in lại và nhân bản điện văn của các bức điện đến. Qua các dấu hiệu đặc biệt trên bức điện mã chặn thu (các dấu hiệu này được đánh để lưu ý các nhân viên cơ yếu Nhật), sĩ quan trực ban lập tức xác định được điện này được mã bằng hệ mã bí mật nhất và vững chắc nhất - mã Purple.
Một năm rưỡi trước các sự kiện được mô tả, Cục Mã thám Lục quân Mỹ đã hoàn tất tốt đẹp việc giải phá mã Purple và chế tạo mấy máy mã Purple. Một trong các máy đó đặt tại phòng số 1649 của toà nhà Bộ Hải quân Mỹ. Sĩ quan trực ban mang bức điện Nhật chặn thu được tới chính phòng đó.
Brotherhood đặt máy theo khoá mã Nhật dùng để mã hoá các bức điện mà Mỹ đã giải phá được, và gửi lên làn sóng vào cái ngày định mệnh 7 tháng 12 đó rồi gõ phím đánh máy điện văn bức điện mật mã chặn thu được trên đảo Banebridge. Các xung điện chạy trong các dây dẫn để làm ngược lại quy trình giải mã phức tạp. Không lâu sau, trước mặt sĩ quan trực ban đã có bản rõ của bức điện mã bằng tiếng Nhật. Tại bộ phận dịch thuật của Ban “G”, quy ước gọi là OP-20-GZ, vào lúc muộn như thế thì chẳng còn ma nào nữa. Bởi vậy, sau khi đóng dấu thượng khẩn lên bức điện, Brotherhood đích thân giao nó cho đại diện của Cục Mã thám Lục quân vì các phiên dịch viên của cơ quan này trực suốt ngày đêm. Lúc đó là đúng 5 giờ sáng giờ Washington.
Tại Cục Mã thám Lục quân, người ta đã dịch từ tiếng Nhật bức điện có nội dung như sau: “Đại sứ phải trao câu trả lời của chúng ta cho chính phủ Mỹ (cho ngoại trưởng nếu có thể) vào lúc 01giờ 00 ngày 7 tháng 12 theo múi giờ của chúng ta”. “Câu trả lời” được nhắc đến trong bức điện này được người Nhật gửi từ Tokyo đến Washington trong vòng 18 giờ rưỡi trước và Brotherhood vừa mới giải mã nó trên máy Purple. “Câu trả lời” bằng tiếng Anh và có câu cuối như sau: “Chính phủ Nhật lấy làm tiếc thông báo cho chính phủ Mỹ là do lập trường của chính phủ Mỹ, chính phủ Nhật không thể không cho rằng, không hề có bất kỳ cơ hội nào đạt được thoả thuận bằng tiếp tục đàm phán”.
Vào lúc 7 giờ 30, chuyên gia tiếng Nhật, thiếu tá Elwin Cramer, người đứng đầu OP-20GZ và chuyên gửi các bức điện giải mã cho những người nhận ở Mỹ, xuất hiện ở nơi làm việc. Khi thấy đã có được cái quan trọng nhất là đoạn kết của công hàm ngoại giao Nhật dài lê thê và sau khi biên tập lại lời văn công hàm, ông hạ lệnh in thêm 14 bản nữa, giữ lại 2 bản trong đó vào hồ sơ lưu, số còn lại gửi đi.
Lúc 9 giờ 30 sáng, Cramer mang phần cuối của bức công hàm Nhật đến Nhà Trắng gặp Đô đốc Harold R. Stark, Tổng tư lệnh Hải quân và Bộ trưởng Hải quân Frank Knox. Knox phải tham gia một cuộc họp ấn định vào lúc 10 giờ 00 buổi sáng chủ nhật này tại toà nhà Bộ Ngoại giao Mỹ với ngoại trưởng Cordell Hull (1871-1955) và Bộ trưởng Chiến tranh Henry Lewis Stimson (1867-1950). Họ phải thảo luận về tính nguy kịch của cuộc đàm phán Mỹ-Nhật mà theo bức công hàm vừa nhận được, họ biết là đã đi vào ngõ cụt. Nhưng cả Stark và Knox, lẫn Hull và Stimson vẫn chưa biết lúc nào người Nhật tuyên bố chính thức việc này.
Biết được thời điểm phía Nhật định tuyên bố chấm dứt đàm phán là cực kỳ quan trọng: ngày 3 tháng 11, Cục Mã thám Lục quân đã giải mã bức điện do Tokyo gửi đi ra lệnh cho các cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự quán Nhật ở Washington, Hongkong, Honolulu, London, Manila và Singapore bắt đầu tiêu huỷ mật mã. Nếu chấm dứt đàm phán trong điều kiện bình thường thì không nhất thiết phải tiêu huỷ các quyển mã. Các nhà ngoại giao có thể lên đường về nước và mang mật mã của mình cùng các tư trang khác. Đồng thời, quan hệ lãnh sự thường không bị cắt đứt, các tổng lãnh sự vẫn ở tại chỗ của mình cùng với đồ đạc và mật mã. Một khi có lệnh cho các sứ quán và lãnh sự quán tiêu huỷ mật mã thì việc từ chối đàm phán tiếp chỉ có thể có một ý nghĩa - đó là chiến tranh sắp xảy ra đến nơi.
Nhân đây cũng phải nói rằng, lệnh tiêu huỷ mã sau khi Trân Châu Cảng bị tấn công đã được người Nhật thực hiện thuận lợi ở khắp nơi, ngoại trừ lãnh sự quán ở Honolulu. Tại đó, các cảnh sát bảo vệ lãnh sự quán Nhật đã phát hiện thấy khói toả ra từ các cánh cửa và ngửi thấy mùi giấy cháy. Do sợ xảy ra hoả hoạn, họ đã xông vào toà nhà lãnh sự quán và bắt gặp một nhân viên lãnh sự quán đang tiêu huỷ tài liệu trong buồng tắm. Cảnh sát Mỹ đã tịch thu một xấp điện và năm bao tải tài liệu đã xé vụn. Cùng ngày, các chiến lợi phẩm này đã chuyển đến địa chỉ cần thiết.
Cramer trở lại vị trí làm việc của mình vào lúc 10 giờ 20. Trong khi ông đi vắng, người ta đã có được bản dịch một bức điện ngắn về thời gian trao công hàm - đó là vào lúc 1 giờ chiều ngày chủ nhật. Mười phút sau, Cramer lại lên đường.
Một giờ trước khi các nhân viên cơ yếu còn ngái ngủ ở sứ quán Nhật
giải mã bức điện mật mã từ Tokyo mà Mỹ đã chặn thu được, còn máy bay
Nhật thì đang gầm rú cất cánh từ các tàu sân bay để tấn công quân Mỹ,
Cramer đang hộc tốc lao trên các đường phố vắng lặng của Washington vừa
ghì chặt vào người chiếc cặp với những thông tin tối quan trọng về ý đồ
của Nhật, những thông tin có thể ảnh hưởng lớn lao đến toàn bộ tiến
trình chiến tranh thế giới thứ II.
Trong lúc đó, các đồng bào của ông ta vẫn ngon giấc điệp và không hề nghĩ gì đến chiến tranh vì họ những mong nó sẽ bỏ qua họ. Các cơ quan mã thám Mỹ vào ngày quốc nhục đó đã đạt đến đỉnh cao cảnh giác và thiện nghệ mà không một cơ quan tình báo nào khác của Mỹ sánh được.
Nhưng tại sao lúc đó người ta không ngăn chặn được nỗi ô nhục Trân Châu Cảng, nơi mà do bị tấn công bất ngờ, họ tổn thất đến 30 nhân mạng lính và sĩ quan trong một phút? Vấn đề là ở chỗ, mặc dù qua nhiều bức điện mã chặn thu và giải mã, họ thấy phía Nhật có sự quan tâm đối với sự di chuyển của các chiến hạm Mỹ ở khu vực Trân Châu Cảng, tất cả các bức điện đó đã được nghiên cứu và đánh giá bởi những người có thẩm quyền giống như với một số lượng lớn các bức điện khác của Nhật về di chuyển của tàu Mỹ ở tất cả các cảng và qua kênh Panama. Ngoài ra, người Nhật cũng chưa bao giờ gửi một bức điện nào có ý nói là “chúng tôi sắp tấn công Trân Châu Cảng”.
Vậy các sự kiện đã tiến triển ra sao sau khi bức điện về việc trao công hàm ngoại giao Nhật xuất hiện trên bàn của Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ Marshall?
Gần 11 giờ 30, Marshall đến trụ sở Bộ Chiến tranh. Trên bàn của ông đã có một tập điện Magic. Bức điện trên cùng là công hàm ngoại giao của Nhật, bên dưới nó là bức điện về thời gian trao công hàm này. Marshall bắt đầu xem kỹ nội dung công hàm, đọc đi đọc lại vài phần của nó. Khi đọc đến bức điện Magic cuối, ông đã sửng sốt chả khác gì Cramer. Marshall lập tức lượng định được ý nghĩa của nó và soạn ngay điện cảnh báo gửi cho bộ chỉ huy quân Mỹ trong khu vực: “Hôm nay, vào lúc 1 giờ chiều theo giờ chuẩn địa phương, người Nhật sẽ trao cho chúng ta một cái gì đó giống như tối hậu thư. Họ cũng đã nhận lệnh huỷ lập tức tất cả các máy mã. Chúng ta còn chưa biết chính xác cái gì đang chờ đợi chúng ta trong thời gian sắp tới, nhưng chúng ta cần phải ở trạng thái sẵn sàng”. Vào lúc đó, cách quần đảo Hawaii 600 kilômet về phía Bắc, thê đội máy bay Nhật đầu tiên đang gầm rú cất cánh từ các tàu sân bay.
Trên bàn Marshall có một chiếc máy điện thoại, song ông rất không tin tưởng điện thoại mà thích dùng cách mã các bức điện viết tuy chậm nhưng tin cậy hơn. Người ta mất 3 phút để mã, 8 phút để phát điện đi và 20 phút sau điện của Marshall đến được tay những người nhận. Thê đội máy bay Nhật đầu tiên lúc đó đã chỉ còn cách mục tiêu 60 kilômet.
Các thư ký toà đại sứ Nhật ở Washington bước vào làm việc lúc gần 10 giờ sáng và đã bắt đầu giải trước tiên các điện mã dài vì theo kinh nghiệm của họ, chúng là những bức điện quan trọng nhất. Chỉ đến 11 giờ 30, nhân viên cơ yếu Nhật mới kinh hoàng phát hiện ra lệnh trao bức công hàm còn chưa giải mã xong vào lúc 1 giờ chiều. Để giải mã hết bức công hàm và đánh máy lại nghiêm chỉnh bằng máy chữ phải mất 1 giờ rưỡi nữa. Cho đến lúc đó, sức mạnh không quân Nhật đã kịp biến Trân Châu Cảng thành địa ngục đối với lính Mỹ. Hy vọng của giới quân sự Nhật rút ngắn tối đa thời gian cảnh báo đối với phía Mỹ về sự khởi đầu chiến sự đúng là đã thành hiện thực trong khói lửa của cuộc tấn công. Sau này, cuộc tấn công bất ngờ không tuyên chiến của Nhật vào Mỹ đã là một trong các mục chính buộc tội các tội phạm chiến tranh Nhật.
Nguyên nhân gây ra sự tàn phá Trân Châu Cảng có nhiều, vào những thời gian khác nhau đã có 8 uỷ ban chính thức tiến hành điều tra các nguyên nhân này, trong đó có cả một uỷ ban của quốc hội Mỹ, “các công trình” của uỷ ban này là 45 tập báo cáo. Đánh giá của họ về điều đã xảy ra không hoàn toàn khách quan vì trong số các nguyên nhân thất bại, họ không nêu rõ ra chiến lược của giới quân sự trước khi Mỹ tham gia chiến tranh thế giới thứ II là cố hướng cuộc xâm lược của Nhật vào Liên Xô. Nhưng chưa bao giờ có ai có mảy may ý định đổ lỗi về điều đã xảy ra cho Cục Mã thám Lục quân hay OP-20-G. Uỷ ban quốc hội Mỹ nghiên cứu các bối cảnh cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng đã phán quyết công bằng rằng, các cơ quan này “xứng đáng sự khen ngợi nhiệt liệt nhất” và tỏ lời cảm ơn cnhân viên của các cơ quan đó.
Australia có thể ngủ yên
Không lâu sau cuộc tấn công của Nhật vào Mỹ, các kế hoạch chiến tranh của Nhật đã hoàn thành về cơ bản. Nhật không định xâm lăng nước Mỹ mà chỉ muốn càng nhanh càng tốt tạo ra một vành đai công trình phòng ngự kiên cố xung quanh các lãnh thổ chiếm được. Tuy nhiên, bộ chỉ huy cao cấp Nhật do loá mắt với những thắng lợi giành được và khao khát những thắng lợi mới đã quyết định tiếp tục tấn công. Tổn thất ước tính sơ bộ là 1/4 binh lính và kỹ thuật chiến đấu của Hải quân Nhật là quá nhỏ và không đáng kể. Lực lượng còn lại quá đủ cho cuộc tấn công mới. Ngoài ra, các chiến lược gia quân sự Nhật khẳng định các lãnh thổ chiếm được sẽ được bảo vệ tốt hơn nếu chu vi phòng thủ tăng lên.
Bởi vậy, Nhật đã bắt tay vào thực hiện hai kế hoạch đầy tham vọng. Một kế hoạch trù định tấn công bằng lính đổ bộ ở hướng Nam nhằm uy hiếp Australia. Kế hoạch thứ hai nhằm vào Midway, hòn đảo san hô tý hon ở giữa Thái Bình Dương, đứng giữa đường đến quần đảo Hawaii như một lính gác. Kế hoạch này gồm hai phần. Phần thứ nhất bao gồm việc đánh chiếm hòn đảo có ý nghĩa chiến lược này. Mục đích của phần thứ hai, quan trọng hơn, là lừa vào bẫy và tiêu diệt lực lượng Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ còn lại sau thất bại mà nay dĩ nhiên sẽ cố để bảo vệ đảo san hô Midway.
Nhưng Đơn vị tình báo kỹ thuật của Mỹ bố trí trong tầng hầm dài, hẹp của toà nhà hành chính tại khu căn cứ hải quân Trân Châu Cảng đã đóng vai trò định mệnh đối với Nhật. Đơn vị này phục vụ cho Hạm đội Thái Bình Dương. Trước khi chiến tranh bắt đầu, Đơn vị tình báo kỹ thuật gồm 30 sĩ quan và binh sĩ. Họ có nhiệm vụ giải phá hệ mã hải quân Nhật, gọi tắt là JaW-25A. Cái tên này do OP-20-G đặt. JaW-25A là mật mã không dùng bảng chữ cái, có dùng mã lặp. Hệ mã phổ dụng và được sử dụng tích cực nhất này khi đó của Hải quân Nhật được cả OP-20-G và nhóm mã thám Anh ở Singapore đồng thời nghiên cứu giải phá.
Trong khi đó, người Nhật tuy không hề biết gì về hoạt động mã thám ráo riết này nhưng đã bắt đầu mơ hồ lo lắng về việc mã JaW-25A được sử dụng trong một thời gian quá dài. Nhật dự định đưa phiên bản mới của nó là JaW-25B vào sử dụng ngày 1 tháng 4 năm 1942. Nhưng do khó đưa các quyển mã đến các tàu đang di chuyển nên họ đã phải đình hoãn việc thay mã cho đến ngày 1 tháng 5.
Chính nhờ sự trì hoãn này mà đến trước ngày 17 tháng 4, trong số điện mã liên lạc của Nhật mà Mỹ chặn thu được chỉ còn có vài phần là vẫn chưa đọc được. Những phần lớn ở bản rõ đã giúp Mỹ hiểu được thực chất các kế hoạch tấn công của Nhật về hướng Australia. Các đối sách do Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ Nimitz đưa ra đã đập tan các kế hoạch này. Nhưng việc Nhật bị chặn bước về hướng Nam không hề làm thay đổi ý đồ của họ giành thắng lợi trong cuộc chiến với Mỹ.
Ngày 1 tháng 5 đã bắt đầu mà việc thay đổi mã Jaw-25A vẫn chưa xảy ra. Cũng vì những nguyên nhân như trước nên người Nhật lại phải hoãn việc thay thế thêm một tháng, cho đến ngày 1 tháng 6. Rõ ràng là người Nhật nghĩ mật mã của họ không bị giải phá nên không nhất thiết thay thế. Nếu việc thay thế xảy ra vào ngày 1 tháng 5 đúng như dự định thì nó có thể đã làm cho các chuyên gia mật mã Mỹ không thể đọc được điện mã của Nhật ít ra là trong vài tuần, một quãng thời gian có ý nghĩa quyết định.
Chiến thắng thuộc về các nhà mã thám
Ngày 20 tháng 5 năm 1942, Tổng Tư lệnh Hạm đội thống nhất, Đô đốc Yamamoto đã soạn và gửi cho các cấp dưới mệnh lệnh tác chiến có nói rõ chi tiết các thủ đoạn chiến thuật cần sử dụng để tấn công đảo Midway. Mệnh lệnh này đã bị các trạm nghe lén của Mỹ chặn thu được. Độ dài bức điện mã cho thấy tầm quan trọng của nó. Trong hơn một tuần, các chuyên gia mã thám Mỹ đánh vật với phần thứ mười của bức điện mà không tài nào đọc được. Chính phần này chứa thông tin quan trọng nhất - ngày tháng, thời gian bắt đầu và địa điểm tiến hành các chiến dịch quân sự. Các chuyên gia mã thám Mỹ chỉ có thể phỏng đoán về những vấn đề đó dựa trên những số liệu gián tiếp.
Do thông tin nhận được chỉ có tính giả thuyết nên giới lãnh đạo quân sự cao cấp Mỹ ngày càng thêm lo lắng. Cả tiến trình sắp tới của chiến dịch quân sự trên Thái Bình Dương cũng như bản thân sự tồn tại của hạm đội Mỹ đều phụ thuộc vào độ chính xác khi giải mã bức điện của Yamamoto. Bởi vậy, công tác kiểm tra những phỏng đoán liên quan đến phần quan trọng nhất của mệnh lệnh của Yamamoto đã được giao cho các cơ quan tình báo khác của Hải quân Mỹ, còn Đơn vị tình báo kỹ thuật tập trung chính vào việc giải mã 9/10 văn bản mã còn lại của mệnh lệnh này.
Đại uý Joseph Rochefort, Chỉ huy Đơn vị tình báo kỹ thuật, đã quyết định dùng một thủ đoạn tinh quái để buộc người Nhật phải khẳng định hoặc bác bỏ các phỏng đoán của các chuyên gia mã thám Mỹ. Rochefort đã soạn một báo cáo thông báo cho đồn binh Midway rằng, máy lọc nước ngọt từ nước biển đã bị hỏng. Báo cáo này đã được gửi đi bằng bản rõ. Hai ngày sau, trong vô số các bức điện của Nhật chặn thu được có một bức điện trong đó có nói AF đang thiếu nước ngọt. Như vậy, người Mỹ đã khám phá ra được từ lóng mà người Nhật dùng để chỉ đảo san hô Midway. Thông tin mà người Mỹ có trong tay về cuộc tấn công dự định của Nhật vào Midway đã được xác nhận. Chỉ còn phải tìm hiểu khi nào việc đó diễn ra.
Ngày 27 tháng 5 năm 1942, bộ tham mưu của Tổng Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ Nimitz đã phỏng đoán chiến dịch của Nhật sẽ mở màn ngày 3 tháng 6. Lập luận bảo vệ ngày dự đoán này rất thuyết phục, nhưng không được các chuyên gia mã thám xác nhận. Thế là lại có thắng lợi tiếp theo của Đơn vị tình báo kỹ thuật khi họ giải phá được mật mã dùng để bảo mật ngày tháng và thời gian trong mệnh lệnh của Yamamoto. Nimitz đã phỏng đoán đúng. Việc Nhật thay đổi mật mã vào tháng 6 năm 1942 đã không ảnh hưởng đến tiến trình các sự kiện ở đảo Midway bởi lẽ tất cả các kế hoạch đã được soạn thảo xong, chiến dịch quân sự của Nhật đã bắt đầu bị phá vỡ. Sau này, trong hồi ký của mình, Nimitz đã viết: “Midway chủ yếu là thắng lợi của tình báo vô tuyến điện tử. Trong khi lăm le tấn công bất ngờ, chính người Nhật đã ăn đòn bất ngờ”. Marshall nói cụ thể hơn: “Nhờ hoạt động mã thám, chúng ta đã có thể tập trung binh lực hạn chế của mình để đối phó với cuộc tấn công của Hải quân Nhật vào Midway, nếu không thì chúng ta có thể còn ở xa địa điểm cần thiết nhiều ngàn kilômet”.
Cần phải nói rằng, người Nhật nhiều khi đã tạo điều kiện thuận lợi
cho các chuyên gia mã thám Mỹ vì thái độ cẩu thả đối với công tác an
ninh thông tin liên lạc của họ. Ta hãy chỉ nhắc lại dù chỉ một câu
chuyện về việc thay đổi mật mã vào mùa xuân năm 1942.
Nỗ lực của Hải quân Nhật chế tạo loại mực in có thể tan trong nước biển để khi quẳng chúng xuống nước hay khi tàu đắm thì nội dung in sẽ biến mất cũng không được thực hiện đến cùng. Khi phòng thí nghiệm khoa học kỹ thuật thông báo không thể chế tạo loại mực có thể tan toàn hoàn khi rơi vào nước biển nhưng lại bền vững với nước mưa, bụi nước và hơi nước biển thì họ đã phải từ bỏ ý định sáng suốt này. Điều đó cũng vô ích thôi.
Đêm 29 tháng 1 năm 1943, một chiếc tàu ngầm Nhật cùng hàng hoá đã không may khi nổi lên gần tàu chống ngầm Kiwi của New Zealand. Phát hiện thấy tàu ngầm Nhật, thuyền trưởng tàu Kiwi hạ lệnh “chạy hết tốc lực về phía trước” để tông vào tàu ngầm mặc dù chiếc tàu ngầm lớn gấp rưỡi tàu Kiwi và có hoả lực mạnh hơn nhiều. Sau bốn lần đâm, chiếc tàu ngầm Nhật phải bỏ chạy và mấy giờ sau đã mất lái nên mắc cạn ở mũi nhô phía Tây Bắc đảo Guadalcanal.
Chiếc tàu ngầm Nhật này có chở theo 200 quyển mã trong số các hàng hoá. Thuỷ thủ đoàn của tàu đã chôn giấu một phần số sách này trên bờ biển do đối phương chiếm giữ. Khi biết tin này, bộ tham mưu Nhật đã hạ lệnh cho không quân ném bom và tàu ngầm phóng ngư lôi để huỷ các tài liệu này. Nhưng người Mỹ đã nhanh tay chiếm được các quyển mã, trong số đó có cả những quyển đang được sử dụng và những quyển dự phòng. Mấy tháng sau, người Nhật đã trả giá cho thất bại này bằng mạng sống của vị tư lệnh của mình.
Mùa xuân của cái năm đáng nhớ ấy trong lịch sử tình báo vô tuyến điện tử, Đô đốc Yamamoto quyết định đi thanh tra các căn cứ hải quân Nhật ở bắc quần đảo Solomon. Đô đốc Yamamoto, 59 tuổi là một nhân vật kiệt xuất của Hải quân Nhật. Chính ông đã đưa ra ý tưởng tấn công Trân Châu Cảng và từng huênh hoang sẽ áp đặt điều kiện đình chiến cho người Mỹ trong Nhà Trắng. Các cơ quan tình báo Mỹ mô tả ông như một con người cực kỳ tài ba, kiên quyết và nhanh trí và cho rằng bất kỳ người kế tục nào của ông cũng thua kém Yamamoto cả về phẩm chất cá nhân và phẩm chất công việc. Cái chết của vị tư lệnh kiêm chiến lược gia lỗi lạc nhất của đối phương hiển nhiên sẽ làm mất tinh thần các binh sĩ dưới quyền, những người mà theo truyền thống Nhật Bản vốn tôn kính các vị chỉ huy của mình hơn người Mỹ.
Thông thường, các căn cứ Nhật đã được báo trước về chuyến thăm của vị tư lệnh để họ chuẩn bị cho việc thanh tra. Bởi vậy, ngày 13 tháng 4 năm 1943, hành trình chuyến đi của Yamamoto ấn định vào ngày 18 tháng 4 đã được gửi cho các đơn vị và binh đoàn mà ông dự định đến thăm. Do có quá nhiều địa chỉ và do cần phải bảo đảm an ninh cho vị Tổng tư lệnh Hải quân Nhật, nên báo vụ viên Nhật đã buộc phải chọn phiên bản mật mã JaW-25 hiện dụng phổ biến và vững chắc nhất để bảo mật thông tin này bằng “vỏ thép” của mật mã.
Thật không may cho người Nhật là “lớp vỏ thép” của các kênh liên lạc của họ đã bị “hoà tan” bởi “axit” ăn mòn của mã thám Mỹ. Các chuyên gia mã thám quân sự Mỹ sử dụng các tài liệu lấy được từ chiếc tàu ngầm Nhật đã đọc được bức điện mã có chứa dữ liệu về hành trình chuyến đi của Yamamoto.
Bản án tử hình của Yamamoto mà Nimitz tuyên án vào ngày 17 tháng 4 đã được in và gửi đến các phi công tiêm kích của Không quân Mỹ - các đao phủ tương lai của vị Tổng tư lệnh Nhật. Lợi ích thu được từ chiến dịch diệt trừ thành công Yamamoto còn lớn hơn những lo ngại về khả năng làm cho người Nhật nghi ngờ mật mã của họ đã bị giải phá và mất đi khả năng thu tin tình báo từ các kênh liên lạc của Nhật trong tương lai. Ngày 18 tháng 4, bản án đã được thi hành. Trên không phận đảo Bougainville ở Thái Bình Dương, máy bay chở Yamamoto đã bị người Mỹ bắn rơi.
Đúng như tiên đoán của Nimitz, cái chết của Yamamoto đã làm rung chuyển cả nước Nhật. Trong khung cảnh cực kỳ long trọng, thi thể bị cháy thành than của Yamamoto đã được chôn cất tại một công viên ở Tokyo. Cái chết của vị anh hùng với uy tín to lớn đã làm binh lính, thuỷ binh và người dân Nhật buồn rầu.
Các đại diện quân đội Mỹ, nghe theo lời khuyên của Nimitz, đã kiên quyết bác bỏ dư luận nói rằng, họ đã biết chi tiết nào đó về điều đã xảy ra. Có tin đồn là đã xảy ra một tai nạn máy bay vô vị nào đó hay là Yamamoto trong cơn tuyệt vọng đã thực hiện harakiri (nghi lễ tự sát bằng mổ bụng của người Nhật). Tuy vậy, sự thật về điều đã xảy ra đã ngày càng lan rộng trong các tầng lớp công chúng Mỹ.
Nguy cơ từ bên trong
Đoạn thứ ba trong bốn đoạn in trên tất cả các bìa các hồ sơ mật Magic nhất thiết phải có nội dung: “Không được thực hiện hành động nào dựa trên các thông tin thông báo ở đây dù điều đó có thể mang lại lợi ích tạm thời nếu các hành động đó có thể làm cho đối phương biết được sự tồn tại của nguồn tin”.
Ngày 7 tháng 6 năm 1942, khi trận đánh ở đảo san hô Midway đang hồi ác liệt, tờ báo Mỹ Chicago Tribune đã đăng một bài báo, trong đó nói trắng ra là Bộ Hải quân Mỹ đang nắm trong tay thông tin về các kế hoạch tác chiến của bộ chỉ huy Nhật. Hơn nữa, bài báo còn mô tả chi tiết cơ cấu biên chế và đặc điểm các binh đoàn hải quân Nhật đã tham gia vào trận đánh này. Trong quá trình điều tra sau đó, Hải quân Mỹ đã từ chối đưa ra lời buộc tội tờ báo về việc tiết lộ bí mật nhà nước chỉ vì không muốn thu hút sự chú ý của Nhật. Hy vọng đã được thoả mãn vì người Nhật vẫn không chịu thừa nhận là các bức điện mã của họ bị đối phương giải được.
Người Nhật cũng không phát hiện ra bài phát biểu của hạ nghị sĩ Holland, bang Pensylvania. Ông này mở đầu bằng việc phê bình tờ Chicago Tribune về việc lạm dụng quyền tự do báo chí. “Các thanh niên Mỹ sẽ tiếp tục chết bởi sự giúp đỡ mà tờ báo này giành cho quân thù”, - Holland nói. Sau đó, ông ta giải thích cho những người không hiểu về bản chất sự giúp đỡ ấy là gì: “Chicago Tribune đã ba hoa về việc “bằng cách nào đó, Hải quân Mỹ đã lấy được mật mã bí mật của Hải quân Nhật”.
Mùa thu năm 1944, trong cái nồi hơi của nền chính trị Mỹ đã nảy sinh một tình huống nguy hiểm chết người. Đảng Cộng hoà chuẩn bị đưa ứng cử viên Thomas Edmund Dewey ra tranh cử tổng thống. Một trong những lập luận chính của phe Cộng hoà trong chiến dịch tranh cử là cáo buộc chính phủ Mỹ về sự chây ỳ không thể tha thứ đã khiến cho người Nhật tấn công thắng lợi vào Trân Châu Cảng. Họ còn bóng gió rằng, Tổng thống Roosevelt, xét đến thái độ mạnh mẽ của xã hội Mỹ ủng hộ chủ nghĩa biệt lập, đã cố tình tạo điều kiện cho cuộc tấn công để lôi cuốn nước Mỹ vào cuộc chiến. Để khẳng định những lời buộc tội, người ta đã loan truyền những tin tức nói rằng, Mỹ đã giải phá được các mật mã của Nhật từ trước trận Trân Châu Cảng. Từ đó, phe Cộng hoà đã kết luận rằng, các bức điện mã giải được của Nhật đã cảnh báo Roosevelt về cuộc tấn công sắp tới, nhưng ông này với sự tắc trách đầy tội ác đã không làm gì để giáng trả đích đáng người Nhật. Cùng với cuộc tranh cử quyết liệt lên, trong các bài diễn văn của các chính trị gia Mỹ các cấp bắt đầu xuất hiện những lời ám chỉ lộ liễu về Magic.
Lo lắng trước diễn biến tình hình, Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ Marshall đã viết cho Dewey lá thư, trong đó chỉ ra mối nguy hiểm trầm trọng của việc tiết lộ thông tin về Magic. Trong khổ thứ hai của lá thư này, có viết: “Điều mà tôi phải thông báo cho ngài dưới đây là một điều bí mật lớn lao mà tôi cho là mình phải yêu cầu ngài hoặc là tiếp nhận lá thư với điều kiện ngài sẽ không tiết lộ cho ai nội dung của nó và gửi lại nó, hoặc là ngài đừng đọc tiếp”.
Khi đọc đoạn 3, trước mắt Dewey xuất hiện từ “mật mã”. Ông ta lập tức dừng đọc, trả lại lá thư cho viên sĩ quan Clark của Cục Mã thám Lục quân đã mang thư tới và nói rằng, ông ta “không thể đưa ra những cam kết bộp chộp”.
Khi bàn bạc về lời từ chối của Dewey, Marshall và Clark đã quyết định thử vận may một lần nữa. Họ viết lại một phần lá thư và gọi điện cho vị ứng cử viên tổng thống. Ông kia đồng ý đọc lá thư với điều kiện cố vấn của mình phải có mặt. Dewey muốn có sự xác nhận cho việc đọc thư phòng khi có điều gì đó xảy ra với Marshall. Cũng vì lý do đó, ông ta yêu cầu để lại lá thư cho ông ta cất giữ.
Lá thư thứ hai có sức thuyết phục hơn. Trong đó, Marshall trình bày rõ những hậu quả thảm khốc có thể xảy ra nếu từ những cuộc đấu khẩu chính trị mà kẻ thù đoán ra các nguồn thông tin tối quan trọng của người Mỹ. Dewey cân nhắc kỹ lưỡng các lập luận của Marshall, người mà bản thân ông ta coi là một con người chân chính và đáng kính. Một mặt, cả đường công danh, quyền lãnh đạo một đất nước hùng mạnh bị đặt cược, mặt khác là hàng trăm người Mỹ có thể sẽ chết. Sau hai ngày suy nghĩ, vị ứng cử viên tổng thống quyết định không nhắc đến việc phá giải mật mã của Nhật trong các bài phát biểu công khai của mình.
Dewey đã thất cử. Sau này, ông và Marshall đã hết lời tâng bốc nhau. Marshall đã gửi cho Dewey một danh mục bản sao các bức điện Magic để ông ta có thể tận mắt chứng kiến những thông tin trong đó đã hỗ trợ cho việc tiến hành các chiến dịch ở Thái Bình Dương. Dewey về phần mình lại thông báo cho Marshall rằng, hình như tại quốc hội sẽ có các cuộc tranh luận về Trân Châu Cảng và tự đề nghị được tham gia hỗ trợ ngăn cản các cuộc tranh luận này. Marshall trả lời là ông đã một lần đặt Dewey vào tình thế khó khăn bằng những yêu cầu của mình và chúng đã ảnh hưởng đến kết quả bầu cử của Deway. Dewey đáp lại với tuyên bố ông làm thế vì thắng lợi của cuộc chiến. Thế là mối đe doạ nghiêm trọng nhất đối với sự an toàn của Magic đã không còn nữa, điều trớ trêu thay lại xuất phát từ nội bộ, từ những chính trị gia của Mỹ chứ không phải từ người Nhật.
Vụ làm ăn bí mật
Trong chiến tranh thế giới thứ II, Mỹ phải bảo vệ các bí mật của mình không chỉ với kẻ thù, mà cả với Liên Xô. Như sau này đã rõ, họ đã có các lý do nặng ký để làm thế.
Tháng 11 năm 1944, Donovan, Cục trưởng Cục Hoạt vụ Chiến lược OSS của Mỹ, cơ quan tình báo chủ yếu của Mỹ thời chiến tranh thế giới thứ II, đã mua của Phần Lan 1,5 ngàn trang sách mã cháy dở của NKGB. Phần Lan chiếm được số tài liệu này trên chiến trường trong cuộc chiến Liên Xô-Phần Lan năm 1939-1940. Để không phá vỡ chiến dịch dự kiến nhằm phát hiện các điệp viên Liên Xô ở Mỹ, chiến dịch một phần lớn dựa vào việc sử dụng các quyển mã mua được, Donovan không muốn mạo hiểm nên đã giấu kín vụ mua bán này với ban lãnh đạo Mỹ, kể cả ngoại trưởng Edward Reilly Jr. Stettinius (1900-1949). Các quan chức OSS khác cũng hành động thận trọng như vậy ở khúc quanh sự kiện này. Tức giận về việc Mỹ bí mật mua bán tài sản của một nước mà chính phủ Roosevel đang rất trông mong sự giúp đỡ trong cuộc chiến chống Nhật, Stetinius đã thuyết phục tổng thống Mỹ không nên vì chút lợi nhất thời mà gây tổn hại cho quan hệ với các đồng minh.
Donovan đã được lệnh trả lại các quyển mã cho chủ nhân hợp pháp của chúng, điều ông ta phải làm mà lòng thì đầy tiếc rẻ. Donovan tất nhiên đã che giấu động cơ thực mà ông ta theo đuổi khi làm ăn với Phần Lan. Thay vào đó, ông ta nói vì là một đồng minh trung thực nên ông ta đơn thuần phải trả khoản tiền mà Phần Lan đòi khi biết họ bán mật mã của Liên Xô. Donovan còn đạo đức giả nói thêm rằng, các nhân viên của ông ta không nghiên cứu các tài liệu lọt vào tay họ nên không biết giá trị của chúng, nhưng họ làm thế là vì phỏng đoán rằng, Liên Xô rất quan tâm tới các tài liệu đó. Các quyển mã cháy dở này đã được trao trả tận tay đại sứ Liên Xô ở Mỹ A.A. Gromyko.
Tháng 5 năm 1945, NKGB đã thay đổi mật mã. Nhưng bản sao các quyển mã mà Donovan cho chụp lại “làm kỷ niệm” đã được các chuyên gia mã thám Mỹ, Anh sử dụng trong gần 2 thập kỷ nữa để giải các bức điện mã của các điệp viên NKGB mà họ chặn thu được trước tháng 5 năm 1945. Giá như giấu kín được vụ mua các quyển mã của Phần Lan năm 1944 thì giá trị của chúng đối với tình báo vô tuyến điện tử Mỹ, Anh còn lớn hơn nhiều.
Người ta biết rằng, tình báo Liên Xô đã biết người Mỹ đã đọc được điện tín liên lạc quân sự và ngoại giao của Nhật vào tháng 2 năm 1945 khi cuối cùng tình báo Liên Xô cũng nối lại được liên lạc với điệp viên lâu năm của mình là Rupert, một binh sĩ Mỹ mà NKVD tuyển mộ từ năm 1939. Điệp viên này trong một thời gian dài không thể bắt được liên lạc vì anh ta giỏi các thứ tiếng phương Đông nên đã bị thuyên chuyển sang Cục Mã thám Lục quân và bị phái đi công tác mấy tháng tại các quần đảo trên Thái Bình Dương.
Khi gặp gỡ, Rupert báo cáo với liên lạc viên rằng, trong một thời gian các chuyên gia mã thám Mỹ đã đặc biệt chú ý đến các bức điện mã của đại sứ Nhật ở Liên Xô, người đã thường xuyên gặp Molotov và lôi kéo được Moskva ký kết hiệp ước không tấn công lẫn nhau Xô-Nhật. Bằng cách đọc điện tín liên lạc của ông ta, Mỹ muốn tin chắc là Liên Xô hành xử trung thực đối với các đồng minh và không định làm bất kỳ động tác “đi đêm” hậu trường nào sau lưng họ.
Ngoài ra, Rupert đã báo cho tình báo Liên Xô biết Cục Mã thám Lục quân Mỹ đã bỏ nhiều công sức ra để đọc điện tín liên lạc giữa các cơ quan Liên Xô ở Mỹ với Moskva trong những năm 1941-1942. Các chuyên gia mã thám Mỹ đã giải mã được khoảng 70% một bức điện do Amtorg gửi về Moskva. Kết quả là họ có hy vọng dần dần đọc được phần lớn điện tín ngoại giao giữa Moskva với Washington và New York. Rupert đã nhớ lại ngày tháng của bức điện mã của Amtorg mà người Mỹ đã đọc được, rồi báo cáo theo trí nhớ nội dung đại ý của bản rõ. Sau này, nhờ thông tin do Rupert cung cấp, các chuyên gia cơ yếu Liên Xô đã biết được rằng, bức điện này đã bị giải mã chỉ vì những sai sót cực kỳ thô thiển của khâu mã hoá.
Tình báo vô tuyến điện tử đứng trên luật pháp
Trong những năm đầu sau chiến tranh, trong quân đội Mỹ, tình báo vô tuyến điện tử do các cục thông tin liên lạc của cả ba quân chủng tiến hành. Để khắc phục tình trạng đó và bảo đảm cho tình báo vô tuyến điện tử Mỹ có được ưu thế của lãnh đạo tập trung, vào năm 1949, Bộ Quốc phòng Mỹ đã thành lập Cục An ninh Quân đội AFSA (Armed Forces Security Agency). Nó đảm nhiệm các chức năng tình báo vô tuyến điện tử chiến lược và phụ trách điều phối hoạt động của các cục cơ yếu thuộc ba quân chủng. AFSA vẫn để lại cho các cục này các chức năng được thực hiện hiệu quả nhất ở gần khu vực chiến sự (nghĩa là tiến hành tình báo vô tuyến điện tử chiến thuật), cũng như trách nhiệm bảo đảm an ninh thông tin liên lạc ở cấp thấp.
Cơ sở pháp lý cho hoạt động của AFSA đã được hình thành trước khi cơ quan này được thành lập một năm. Năm 1948, theo sắc lệnh đặc biệt của hội đồng thống nhất gồm các đại diện của Bộ Ngoại giao, quân đội và các cơ quan tình báo Mỹ, hoạt động của các cơ quan tình báo Mỹ liên quan đến thu thập thông tin từ các kênh liên lạc nước ngoài được giải phóng khỏi sự kiểm soát của mọi đạo luật và quy định của chính quyền hành pháp nếu như trong đó không nêu rõ các đơn vị thực hiện loại hoạt động đó.
Việc lựa chọn các kênh liên lạc nước ngoài để chặn thu diễn ra như thế nào? Một nhóm đại diện các cơ quan tình báo, Bộ Ngoại giao và các đơn vị tình báo Hải, Lục, Không quân Mỹ đã được tập hợp. Mỗi tháng một lần, nhóm này nhận được một tấm bản đồ thế giới có đánh dấu các mục tiêu có thể để tiến hành chặn thu. Các bộ ngành hữu quan Mỹ phải đánh giá tầm quan trọng của các mục tiêu bằng các con số từ 1 đến 5. Tuy vậy, với hệ thống này, các nhiệm vụ chặn thu được nêu ra quá rộng. Họ cũng chưa có cơ cấu nhằm xác định các kênh liên lạc cụ thể để đạt được các mục đích đặt ra.
Các nhược điểm đã bộc lộ rõ vào đầu thập niên 1950 trong cuộc chiến Triều Tiên khi Mỹ không xác định rõ các kênh liên lạc của Triều Tiên cần chặn thu nên đã bỏ qua những thông tin quý báu. Vì thế Mỹ đã tiến hành một loạt cải cách các cơ quan tình báo vô tuyến điện tử, trong quá trình đó đã thành lập NSA. Tuy vậy, trong thập kỷ đầu tiên tồn tại của NSA, vị trí trung tâm trong cộng đồng tình báo Mỹ vẫn do CIA nắm giữ.
Tình báo điện tử Mỹ: Đại bại - Chiến dịch Gold (1)
VietnamDefence -
Một trong những chiến dịch tình
báo vô tuyến điện tử quy mô lớn đầu tiên của CIA bắt đầu vào năm 1953.
Chính thời đó, đại bản doanh CIA ở Washington đã nhận được tin nói rằng,
ở Berlin, trên lãnh thổ Cộng hoà Dân chủ Đức, có một trạm điện thoại
lớn ngầm dưới đất hoạt động, thông qua đó có một bộ phận đáng kể lưu
lượng liên lạc điện thoại của các cơ quan nhà nước của Cộng hoà Dân chủ
Đức.
Đừng cắt tất cả nhưng cái mọc được.
K. Prutkov. “Những trước tác”
K. Prutkov. “Những trước tác”
“Cấm vào trừ phi được Bộ Chỉ huy Tối cao cho phép”
![]() |
| George Blake giúp tình báo Liên Xô phá tan chiến dịch Gold |
Trong thành phần của CIA có bốn cục (directorate). Cục lớn nhất là Cục Hoạt động phụ trách tiến hành các chiến dịch tình báo và các hoạt động lật đổ ngầm ở nước ngoài. Cục Phân tích thông tin đảm nhiệm phân tích, chuẩn bị và báo cáo các tin tức do tất cả các thành viên của cộng đồng tình báo Mỹ thu thập đưọc. Cục Khoa học kỹ thuật thực hiện các dự án nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực tình báo bằng phương tiện kỹ thuật, duy trì quan hệ với các hãng công nghiệp quân sự thực hiện đơn đặt hàng chế tạo phương tiện kỹ thuật tình báo mới. Cuối cùng, Cục Hành chính, ngoài các chức năng chung, “hàng ngày” như hậu cần, tài chính, y tế, còn thâu tóm các chức năng an ninh, liên lạc và huấn luyện.
Dĩ nhiên, một cơ quan tình báo hùng mạnh như thế không thể bỏ qua tình báo vô tuyến điện tử.
Một trong những chiến dịch tình báo vô tuyến điện tử quy mô lớn đầu tiên của CIA bắt đầu vào năm 1953. Chính thời đó, đại bản doanh CIA ở Washington đã nhận được tin nói rằng, ở Berlin, trên lãnh thổ Cộng hoà Dân chủ Đức, có một trạm điện thoại lớn ngầm dưới đất hoạt động, thông qua đó có một bộ phận đáng kể lưu lượng liên lạc điện thoại của các cơ quan nhà nước của Cộng hoà Dân chủ Đức. Sự quan tâm của người Mỹ đối với Berlin không phải là tình cờ. Thủ đô Cộng hoà Dân chủ Đức là đầu mối thông tin liên lạc quan trọng thứ hai ở Đông Âu. Điều đó có nghĩa là chẳng hạn khi Tư lệnh Quân quản Liên Xô ở Bucarest hay Varsava liên lạc với Moskva thì cuộc gọi bắt buộc phải đi qua Berlin.
Cuối năm 1954, được sự đồng ý của xếp CIA A. Dulles, các nhân viên ở trung tâm CIA tại Berlin đã bắt tay vào một việc khác thường đối với họ là đào một đường ngầm dưới đất. Chưa ai từng làm việc tương tự, nhưng người Mỹ cho rằng, đào đường hầm là cách duy nhất để xâm nhập vào trạm điện thoại của Đông Berlin. Các cơ quan tình báo Anh có đôi chút kinh nghiệm đào đường ngầm thẳng đứng. Chính vì vậy, người Mỹ đã tin tưởng giao phó cho họ việc nghiên cứu biện pháp đào thẳng đứng mà không làm biến dạng bề mặt lớp đất trên cùng. Họ cũng phải viện đến sự giúp đỡ của người Anh khi lắp đặt máy móc nghe lén trong đường hầm.
Công việc được tiến hành bằng các phương tiện kỹ thuật xây dựng hiện đại nhất và kéo dài gần bốn tháng. Tại Tây Berlin, bên cạnh đường biên giới, Không quân Mỹ đã vội vã lắp đặt một đài radar mới. Để đánh lạc hướng chú ý, xung quanh đài đã xây dựng nhiều toà nhà khác bao quanh bằng hàng rào với các vọng gác. Đường hầm cũng được đào từ vị trí đó. Từ bên trong tầng hầm rộng lớn của đài radar, các máy khoan công suất lớn bắt đầu đào đường hầm ở độ sâu 7 m dưới mặt con đường nhựa nối Tây Berlin với thủ đô Cộng hoà Dân chủ Đức. Một số lượng lớn đất sét được moi ra từ đường hầm, ban đầu đổ tạm ra tầng hầm đài radar, sau đó được bí mật chở đi trong những contenơ lớn. Trên các contenơ có ghi các hàng chữ hoàn toàn vô hại để đánh lừa những kẻ tò mò nhất. Việc thi công được tiến hành thông tầm, suốt 24/24 giờ.
Họ đã xây dựng nên một công trình kiên cố đặc thù kiểu Mỹ. Đường hầm có đường kính gần hai mét và gồm những khẩu bêtông nối nhau, bên trong xếp bao cát. Không khí được điều hoà, các máy bơm được dùng để bơm nước ngầm phun lên. Các bảng công tắc được đấu với các máy tăng âm. Tổng cộng, họ đã triển khai 400 máy tăng tâm - mỗi kênh liên lạc lắp một máy - và từng đấy máy nghe lén và ghi âm. ở đầu kia đường hầm có lắp hai cánh cửa thép và các đường dây đi qua đó. Các đường dây được nối với những đường cáp điện thoại ở Đông Đức và được đấu sao cho không làm đứt đoạn lấy một giây liên lạc qua trạm điện thoại. Không lâu sau đã đến ngày ăn mừng khi 400 máy ghi âm đồng thời bước vào hoạt động.
Trong suốt gần một năm, chính quyền Mỹ đã sử dụng đường hầm này để nghe lén các cuộc điện đàm giữa Moskva và Berlin. Băng ghi âm các cuộc điện đàm được gửi đi London để một nhóm dân Nga lưu vong luôn sẵn sàng dịch ngay lập tức. Các nội dung chặn thu điện báo cần giải mã thì được gửi đến Nuremberg. Tại đó, có một nhóm đặc biệt nữa gồm năm chuyên gia mã thám. Tại Washington, một nhóm lớn nhân viên CIA trong nhiều tháng trời sẽ tiến hành phân tích và hệ thống hoá thông tin thu được trong đường hầm để chuyển cho các cơ quan chính phủ tương ứng. Tuy vậy, các văn bản đánh giá thông tin này rất khác nhau. Một số thì khẳng định đường hầm này đã cứu mạng không ít điệp viên Mỹ vì nhờ các tin tức thu được, các điệp viên này đã kịp thay đổi phương pháp và kế hoạch hoạt động. Các văn bản đánh giá khác thì nói đường hầm cung cấp được rất ít tài liệu loại một. Và quả thực, nói một cách nhẹ ra thì phần lớn tin tức thu được có giá trị đáng ngờ. Chẳng hạn, Mỹ đã chặn thu được thông tin nói phía Liên Xô có kế hoạch bắt giữ Tư lệnh Quân quản Tây Berlin của Mỹ, tướng Descher khi ông ta đi thăm hội chợ Leipzig. Người Mỹ không hề băn khoăn về tính không tưởng của tin này nên trong một thời gian dài, họ đã tìm đủ lý do để huỷ bỏ chuyến thăm hội chợ của Descher mà không để lộ nguồn tin. Vấn đề tự nó giải quyết khi mà Descher bất ngờ ốm vì viêm phổi.
Để giữ thể diện, sau này người ta có thể nhắc đi nhắc lại bao nhiêu tuỳ thích về “chiến dịch tuyệt vời về sự táo bạo và sáng tạo” đã tạo cơ hội cho CIA trong cả năm trời “bắt được mạch của Liên Xô” để cảnh báo kịp thời cho chính phủ Mỹ về cuộc tấn công đang chuẩn bị của Liên Xô. Nhưng kể cả những kẻ biện giải bênh vực CIA cũng buộc phải thú nhận rằng, nói cho cùng chi phí của đường hầm gián điệp cao hơn nhiều giá trị thông tin thu được nhờ nó.
Một câu hỏi dĩ nhiên nảy sinh: nếu người Mỹ trong một năm đã nghe lén được một số lượng lớn các cuộc gọi điện thoại trên 400 kênh thì chả lẽ tất cả đều là nguồn tin hạng hai? Còn việc khám phá chiến dịch của CIA - có thực là nó đã xảy ra như người ta đã thông báo chính thức cho công luận thế giới? Giả thuyết của người Mỹ về điều đã xảy ra ngày 22 tháng 4 năm 1956 như sau.
Một đêm tháng 4, bốn quân nhân Mỹ đã được huấn luyện đặc biệt như mọi khi vẫn ngồi bên các máy mócđược đấu với các kênh điện thoại chính phủ và quân sự của Cộng hoà Dân chủ Đức. ở trong một boongke tiện nghi đối với họ là chuyện hoàn toàn bình thường. Họ thấy thoải mái như đang làm việc trong đơn vị mình. Nỗi lo sợ đeo đẳng họ trong những tuần trực đầu trong boongke đã qua đi từ lâu. Các trang bị kỹ thuật hoạt động rất tốt, các nhân viên vận hành có thể thư giãn, thậm chí cười đùa. Điểm mà họ khoái nói đến nhất là người Nga sẽ nói gì một khi biết các cuộc gọi điện thoại của mình bị nghe lén. Nhưng lần này, chuyện đùa đã tắc nghẹn trong họng những kẻ hóm hỉnh. Vấn đề là việc bộ đội thông tin Liên Xô tiến hành kiểm tra định kỳ trạm điện thoại. Một người lính đã đụng phải những đường dây không rõ công dụng, sau đó là một cánh cửa thép với dòng chữ tiếng Nga đầy hăm doạ “Cấm vào trừ phi được Bộ Chỉ huy Tối cao cho phép!” Sau một chút dao động, các chiến sĩ thông tin Liên Xô đi sâu vào đường hầm cách âm này. Tại đó, họ không thấy ai. Ngay lúc có ai đó chạm vào một dây dẫn nào đó thì một thiết bị tự động sẽ phát tín hiệu báo động cho nhân viên của đài radar Mỹ đang là bình phong của đường hầm gián điệp này. Nhưng trong đường hầm đèn vẫn sáng, máy điều hoà nhiệt độ vẫn làm việc, tất cả các máy móc vẫn bật, các máy bơm nước vẫn chạy vo vo như không hề có chuyện gì xảy ra, một trong các điện thoại dã chiến vẫn réo chuông không ngớt.
Liên Xô đã gửi công hàm kịch liệt phản đối Mỹ. Đường hầm với tư cách bằng chứng hoạt động gián điệp của Mỹ đã được hàng ngàn khách tham quan đến thăm. Và mặc dù Mỹ giữ im lặng tuyệt đối nhưng chẳng ai trên thế giới mảy may nghi ngờ về tác giả của việc này. Người ta thừa hiểu nếu khách tham quan đi xa hơn nữa theo đường hầm thì sẽ nhanh chóng có mặt trên lãnh thổ Tây Berlin, ngay trong toà nhà có thiết bị radar Mỹ trên nóc. Lời mời đến tham quan đường hầm đã được gửi cho Tư lệnh Quân quản Mỹ ở Tây Berlin Descher, đáp lại ông ta nói đây là lần đầu tiên được nghe thấy nói về về những chuyện này và nhất quyết từ chối đến thăm. Phải 14 năm sau khi phát hiện đường hầm thì câu chuyện chân thực về nó mới được biết đến đầy đủ nhờ con trai một người Do Thái Hà Lan giàu có từng cùng gia đình chạy nạn từ Hà Lan sang Anh khi Đức chiếm đóng Hà Lan. Tại Anh, gia đình này đã đổi từ họ Behar không may sang họ Blake quen thuộc hơn với cái tai của người Anh.
Kết cục của chiến dịch Gold
Ngày 22 tháng 10 năm 1966, trước một bệnh viện của London có một cảnh rất nhộn nhịp. Giờ thăm bệnh nhân đã bắt đầu. Trên bãi đậu xe của bệnh viện không còn đủ chỗ. Lúc đó, các đường phố cũng đang tắc nghẽn nên không ai để ý đến một chiếc ôtô đang đỗ bên cạnh bức tường gạch đỏ trước toà nhà gần bệnh viện, đối diện nhà tù. Từ chiếc xe bước xuống một người đàn ông tay cầm bó hoa cúc. Người ta vẫn thường mang hoa đến bệnh viện nên chả ai chú ý đến anh ta. Thêm vào đó, trời lại mưa lâm thâm. Hai giờ sau, tất cả đã thay đổi. Còi báo động rú inh ỏi, xe ôtô cảnh sát rầm rập lao đến. Trong sân nhà tù đang tiến hành lục soát vì tù nhân George Blake, cựu sĩ quan tình báo Anh bị án tù dài nhất trong lịch sử tư pháp Anh vào năm 1961 vì hoạt động tình báo cho Liên Xô, đã biến khỏi buồng giam.
Năm 1952, nhận thấy đường lối chính nghĩa và cơ cấu nhà nước nhân đạo của Liên Xô nên sĩ quan tình báo Anh lỗi lạc này đã tự nguyện đề nghị cộng tác với tình báo Liên Xô. Trong nhiều năm dài, ông đã làm việc không vụ lợi cho Liên Xô hoàn toàn vì động cơ lý tưởng. Tuy vậy, các tài liệu mà nhân viên tình báo Ba Lan Mikhail Goleniewski phản bội chạy sang phương Tây đem theo đã giúp người Anh lần ra Blake.
Theo bản án, Blake phải ngồi tù không dưới 2/3 thời hạn tù mà toà đã tuyên, có nghĩa là may ra ông chỉ có thể được tự do vào tuổi 66. Ngồi tù được bốn năm và hết hy vọng được Bộ An ninh Quốc gia Liên Xô (MGB) hỗ trợ cứu ra khỏi tù, Blake quyết định tự sắp xếp cuộc chạy trốn. Ông đã tìm được một người tiếp tay trong số tù nhân - một người Ireland có tên Sean Bourke đang sẵn sàng làm mọi việc chỉ để gây phiền toái cho chính quyền Anh. Bourke sắp được thả. Blake đã kịp thống nhất đại thể với ông ta về kế hoạch chạy trốn sắp tới của mình. Sau khi Bourke ra tù, họ đã bàn bạc chi tiết với nhau bằng cách liên hệ trực tiếp qua các máy vô tuyến điện xách tay. Chỉ máy định vị cơ động bố trí riêng trong khu vực nhà tù mới có thể chặn thu được các cuộc đàm thoại của họ. Tuy vậy, tình báo vô tuyến điện tử Anh hoàn toàn tập trung cho việc chặn thu các điện tín liên lạc gửi ra nước ngoài, chứ họ chẳng quan tâm đến các máy phát công suất nhỏ có bán kính hoạt động 10 m.
Kế hoạch chạy trốn được suy tính từng ly từng tý. Thậm chí, số điện thoại mà Blake cần gọi sau khi thoát được khỏi nhà tù, được ghi trên mẩu giấy và đặt tại chỗ quy định cũng được người tiếp tay mã hoá. Còn khoá mã thì Blake chỉ biết được khi đã ở trong chiếc ôtô đợi đón ông ở gần nhà tù vào giờ chạy trốn đã định.
Bốn năm sau, trong một căn hộ ấm cúng ở Moskva, các cán bộ của toà báo Izvestya (Tin tức) đã trò chuyện với Blake. Vì công lao đối với Liên Xô, ông đã được tặng thưởng hai huân chương cao quý nhất. Khi trò chuyện, Blake đã hồi tưởng cả những sự kiện đã diễn ra hơn 15 năm trước - đó là chiến dịch Gold. Tháng 12 năm 1953, các quan chức cao cấp CIA đã đến London bàn bạc với các đồng nghiệp Anh kế hoạch phối hợp tiến hành một hành động đặc biệt. Đó là về đường hầm gián điệp trên lãnh thổ Cộng hoà Dân chủ Đức. Trong các cuộc trao đổi, về phía Anh có cả Blake tham gia vì anh là phó trưởng phòng phụ trách và bảo đảm các điệp vụ kỹ thuật.
Họ đã lập biên bản ghi nhận kết quả đàm phán của hai cơ quan tình báo và lúc rỗi rãi Blake cũng đã nó cẩn thận. Sau đó, vì tầm quan trọng và tính khẩn cấp của vấn đề, ông đã xin gặp khẩn cấp liên lạc viên của tình báo Liên Xô. Đưa ra quyết định đó không phải là dễ dàng vì tất cả các cuộc gặp với liên lạc viên đều mạo hiểm, kể cả khi có thời gian chuẩn bị. Dù sao thì cuộc gặp của Blake với liên lạc viên cũng đã diễn ra xuôn xẻ.
Như vậy, trong khi người Mỹ còn đang cặm cụi thực hiện dự án đài radar và rất lâu trước khi họ chở chiếc contenơ đựng đất đầu tiên ra khỏi tầng hầm đài radar thì ở Moskva người ta đã biết tỏng tất cả. Còn lúc này, vào năm 1970, Blake tươi cười kể cho các nhà báo Liên Xô những thông tin “cực kỳ giá trị” nào mà người Mỹ đã nhận được cho đến khi phản gián Liên Xô ấn định ngày 22 tháng 4 năm 1956 để “khám phá” hành động tình báo vô tuyến điện tử này của CIA. Chiến dịch Gold mà lúc mới đầu đã làm những người tổ chức nó tràn trề hy vọng và bị định đoạt trở thành một trong những thất bại lớn nhất của CIA trong lĩnh vực tình báo vô tuyến điện tử đã chấm dứt như vậy đấy. Việc khám phá ra nó đã được thực hiện rất tinh tế nên các uỷ ban đặc biệt của CIA được thành lập để điều tra vụ này đều đã nhất trí kết luận rằng, Liên Xô đã “tình cờ” phát hiện ra đường ngầm gián điệp này. Hơn nữa, phần lớn các cuộc đàm thoại bị người Mỹ nghe lén trong quá trình chiến dịch Gold quả thực là có các thông tin tin cậy.
Tin cậy nhưng giá trị thấp bởi vì phía Liên Xô đã được Blake cảnh báo kịp thời nên đã chuyển tất cả những cuộc đàm thoại quan trọng nhất sang các kênh liên lạc khác được triển khai để đi vòng qua tổng đài điện thoại Berlin. Còn thông tin vẫn đi qua tổng đài này bị hy sinh để kéo sự nghi ngờ khỏi điệp viên quý giá là Blake.
Mãi sau này, người Mỹ mới biết uỷ ban đặc biệt của CIA đã nhầm, còn CIA thì vẫn say sưa với những thành công ảo tưởng lại tiếp tục xếp đặt nền móng cho một thất bại đau đớn tai tiếng không kém nữa.
Tình báo điện tử Mỹ: Khúc dạo đầu (2)
VietnamDefence -
Đến năm 1938, các bức điện ngoại
giao mật nhất của Nhật được mã bằng hệ mã mà các chuyên gia mã thám Mỹ
gọi là mã “màu vàng da cam” (Orange) - trong các tài liệu chính thức,
các kế hoạch quân sự và trong thư tín trao đổi riêng của các sĩ quan cao
cấp, nước Nhật được gọi như vậy.
Các loại mật mã Orange, Red và Purple![]() |
Những thành công đối với mã Red và các hệ mã kém vững chắc hơn đã cho phép người Mỹ nghiên cứu những tập hợp từ hay dùng nhất và phong cách viết thư tín liên lạc ngoại giao của Nhật. Họ đã có thể phỏng đoán những từ nào sẽ được sử dụng để soạn các bức điện. Những câu mở đầu và kết thúc của các bức điện như “Rất vinh hạnh được thông báo với quý ngài” hay “Phúc đáp bức điện của Ngài” là những chỗ dựa chính.
Các bài báo cung cấp thêm thông tin về nội dung có thể của các bức điện mã chặn thu được của Nhật.
Bộ Ngoại giao Nhật thường gửi cùng một điện văn bằng điện báo đến mấy sứ quán của mình mà không phải sứ quán nào trong số này cũng có máy mã Purple. Nhân viên cơ yếu Nhật do sơ suất có thể gửi bức điện được mã trên máy Purple đến sứ quán còn chưa được trang bị máy mã này. Dĩ nhiên là sứ quán đó sẽ yêu cầu gửi lại bức điện mã đó. Khi sực nhớ ra, nhân viên cơ yếu liền tìm cách sửa lỗi lầm. Anh ta lại gửi bức điện đó được mã bằng hệ mã kiểu cũ có trong tay sứ quán này vốn đã bị Mỹ giải phá. Sự hiện diện đồng thời của cả bản rõ và bản mã giúp người Mỹ dễ dàng hơn nhiều trong việc giải phá mã Purple.
Bởi thế mà đến tháng 8 năm 1940, các chuyên gia Cục Mã thám Lục quân Mỹ đã tái thiết kế được một máy mã Purple và chế tạo một số máy khác. Máy đầu tiên họ để lại dùng, máy thứ hai gửi cho các đồng nghiệp bên Hải quân, máy thứ ba gửi cho người Anh, còn máy thứ tư để dự phòng. Một tình huống oái oăm đã nảy sinh : người Mỹ đọc được các bức điện quan trọng nhất của Nhật nhanh và dễ hơn nhiều so với các bức điện kém bí mật hơn của Nhật. Họ cũng học được rất nhanh cách giải phá các hệ mã hai bậc, trong đó máy mã Purple đóng vai trò như phương tiện mã lặp các bức điện đã mã sơ bộ.
Say sưa với thắng lợi
Các chỉ huy các cơ quan tình báo Lục quân và Hải quân Mỹ đã có một thoả thuận đặc biệt quy định những người được nhận tin Magic. 10 người được liệt kê trong danh sách này là bộ phận tinh hoa của bộ máy nhà nước Mỹ thời đó: tổng thống, ngoại trưởng, bộ trưởng chiến tranh, tham mưu trưởng Lục quân, tham mưu trưởng Hải quân, các cục trưởng kế hoạch tác chiến của các bộ tham mưu Lục quân và Hải quân. Trên thực tế, còn có nhiều người nữa được biết nội dung các bức điện giải mã của Nhật như các cục trưởng thông tin liên lạc của các bộ tham mưu Lục quân và Hải quân nắm giữ các cơ quan mã thám quân sự thuộc quyền, bản thân các chuyên gia mã thám và phiên dịch viên của các cơ quan này, cũng như những người ngoài không nằm trong danh sách người nhận và không tham gia vào việc thu nhận thông tin. Giao thông viên chuyên đưa các bức điện giải mã đến cho các quan chức cao cấp tất nhiên là không thể lúc nào cũng đứng sau lưng họ khi họ đọc bản rõ của các bức điện mã. Cặp đựng các bức điện Magic nói chung đều được để lại một đêm tại Bộ Ngoại giao Mỹ. Hậu quả của việc không chấp hành đầy đủ yêu cầu an toàn đã nhanh chóng xuất hiện.
Ban đầu, Bộ Ngoại giao Mỹ đã mất một bản ghi nhớ có thông tin thu được từ Magic. Sau đó, trong sọt rác của viên sĩ quan tuỳ tùng của tổng thống Mỹ đột nhiên tìm thấy một bản ghi nhớ Magic khác. Tại Boston, các nhân viên FBI đã bắt giữ một người định bán thông tin mã thám có liên quan đến Magic.
Một chuyện không thể sửa chữa suýt nữa đã xảy ra vào mùa xuân năm 1941. Hiroshi Oshima, đại sứ Nhật ở Đức, ngày 3 tháng 5 đã gửi về Tokyo một bức điện thông báo Bộ Ngoại giao Mỹ đang có khoá mã của hệ mã Nhật. Các nhân viên Bộ Ngoại giao Mỹ đã giải mã các bức điện gửi từ Tokyo cho đại sứ Nomura ở Washington liên quan đến các báo cáo mà đại sứ Oshima từ Berlin gửi về Tokyo. Thông tin này Oshima nhận được từ Bộ Ngoại giao Đức, sau khi nó được tham tán sứ quán Đức ở Washington gửi về qua điện báo.
Trả lời yêu cầu sau đó của Tokyo, Nomura đã nói: bất chấp “các biện pháp phòng ngừa nghiêm ngặt nhất được tất cả những người nắm giữ các mật mã, áp dụng Mỹ đã giải phá được một vài loại mã của chúng ta, mặc dù chưa biết đích xác cụ thể là những loại nào”. Việc thay đổi mật mã xem chừng không tránh khỏi.
Tuy vậy, tính sĩ diện đã không cho phép người Nhật thừa nhận sự yếu kém của các loại mã vững chắc nhất của họ. Họ không tin những đồn đại về việc Mỹ đã giải phá được chúng. Họ đã không thay thế các hệ mã. Và nếu như các sự kiện này không dạy cho người Nhật mấy thì người Mỹ, sau khi suýt mất một nguồn tin quý giá nhất, liền áp dụng ngay các biện pháp hiệu quả nhằm giảm phạm vi đối tượng được biết nội dung điện mã của Nhật và kiểm soát việc lưu hành chúng trong giới quan chức cao cấp nhất của bộ máy nhà nước Mỹ.
Nhưng điều khiến các chuyên gia mã thám quân đội Mỹ đau đầu không chỉ có thái độ cẩu thả của giới lãnh đạo Mỹ đối với việc bảo mật nguồn tin quý giá này. Họ buộc phải theo dõi sát để báo cáo kịp thời nội dung bức điện mã nào đó cho người quan tâm. Các nhà lãnh đạo các cơ quan mã thám luôn lo sợ nảy sinh tình huống như tham mưu trưởng Lục quân muốn thảo luận tin tức thu được từ nguồn Magic với tham mưu trưởng Hải quân khi mà ông này vẫn chưa nhận được chúng.
Lau bụi cho các máy mã không phải là việc của các võ sĩ đạo Nhật Bản
Trong khi Bộ Ngoại giao Nhật phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa gắt gao nhất và các chuyên gia mã thám Mỹ bị vắt kiệt sức bởi công việc nhức đầu nhức óc để giải phá hệ mã Purple thì tại sứ quán Nhật tại Mỹ lại xảy ra một tình huống tức cười: một công dân Mỹ đang tửng từng tưng dùng giẻ lau bụi trên những chiếc bàn đặt các cỗ máy tinh vi vốn là đối tượng của cuộc chiến thầm lặng này. Cuối thập niên 1930, trong một hành động gây tổn hại đến an ninh của chính mình, sứ quán Nhật ở Washington đã thuê một người da đen luống tuổi tên là Robert vào làm việc. Trong phạm vi chức trách của người này có việc lau bụi ở các bàn và máy móc liên lạc tuyệt mật trong phòng cơ yếu. Các nhân viên cơ yếu, ở mức độ nào đó, cũng nhớ đến các quy tắc an ninh nên không cho phép người quét dọn ở một mình trong phòng. Nhưng người Nhật rõ ràng đã không suy nghĩ nghiêm túc về khả năng Robert là gián điệp. Còn người Mỹ thì lại không tính đến chuyện cài cắm điệp viên vào sứ quán Nhật. Bởi lẽ, phát giác ra một gián điệp ở đó cũng có nghĩa là phía Nhật tất yếu sẽ thay đổi mật mã, tuy rằng chúng dù có khó nhưng vẫn bị giải phá.
Tuy vậy, sẽ là không đúng nếu cho rằng, Mỹ hoàn toàn bỏ qua khả năng mã thám ứng dụng vì lo ngại nó sẽ xoá sạch những thành công trong việc đọc điện mã nước ngoài có được nhờ các nghiên cứu lý thuyết. Ví dụ, ở Lisbon, người ta đã lấy được ở chỗ vị tuỳ viên Nhật bản sao các bức điện được mã bằng loại mã sơ đẳng. Các bản sao này được lấy từ sọt rác. Sau điệp vụ ở Lisbon, cường độ liên lạc vô tuyến có sử dụng mật mã này không giảm nên người Mỹ nghĩ rằng, Nhật vẫn chưa bị phát hiện các tài liệu này bị mất.
Đến mùa thu năm 1941, nhu cầu đối với các bức điện Magic còn bức xúc hơn nữa ở cấp lãnh đạo cao cấp nước Mỹ. Chúng đã biến thành một yếu tố quan trọng sống còn để hoạch định chính sách quốc gia. Các quan chức cao cấp đã thảo luận các bức điện này tại các cuộc họp và căn cứ vào chúng để đưa ra các quyết định, biện pháp. Chẳng hạn, quyết định thành lập bộ chỉ huy quân Mỹ tại Viễn Đông đã ra đời trực tiếp do ảnh hưởng của các bức điện giải mã vào đầu năm 1941, trong đó nước Đức hối thúc Nhật Bản tấn công các thuộc địa của Anh ở châu á với hy vọng bằng cách đó để lôi kéo Mỹ tham chiến.
Chiến tranh mở màn vào lúc 1 giờ trưa
Lập tức sau nửa đêm ngày 7 tháng 12 năm 1941, cái tai linh mẫn của một đài vô tuyến điện hải quân Mỹ trên đảo Bainbridge, cách không xa thành phố Seattle ở Mỹ đã bắt được các tín hiệu trên làn sóng. Bức điện này được phát theo kênh liên lạc ngoại giao từ Tokyo đến Washington. Bức điện được phát trong vòng 9 phút và được gửi cho sứ quán Nhật.
Tại đài vô tuyến điện, điện văn bức điện chặn thu được in ra băng đục lỗ, rồi người ta quay số trạm điện báo đánh chữ-điện báo ở Washington và khi kênh liên lạc đã thông, người ta cho băng đục lỗ được chuẩn bị sẵn vào máy đọc cơ khí để chạy qua máy đọc với tốc độ 60 từ/phút. Sau đó, bức điện này xuất hiện ở máy đánh chữ trong phòng số 1649 của toà nhà Bộ Hải quân Mỹ.
Máy đánh chữ đặt trên bàn sĩ quan trực của Ban OP-20-G, thiếu uý Francis Brotherhood. Máy này in lại và nhân bản điện văn của các bức điện đến. Qua các dấu hiệu đặc biệt trên bức điện mã chặn thu (các dấu hiệu này được đánh để lưu ý các nhân viên cơ yếu Nhật), sĩ quan trực ban lập tức xác định được điện này được mã bằng hệ mã bí mật nhất và vững chắc nhất - mã Purple.
Một năm rưỡi trước các sự kiện được mô tả, Cục Mã thám Lục quân Mỹ đã hoàn tất tốt đẹp việc giải phá mã Purple và chế tạo mấy máy mã Purple. Một trong các máy đó đặt tại phòng số 1649 của toà nhà Bộ Hải quân Mỹ. Sĩ quan trực ban mang bức điện Nhật chặn thu được tới chính phòng đó.
Brotherhood đặt máy theo khoá mã Nhật dùng để mã hoá các bức điện mà Mỹ đã giải phá được, và gửi lên làn sóng vào cái ngày định mệnh 7 tháng 12 đó rồi gõ phím đánh máy điện văn bức điện mật mã chặn thu được trên đảo Banebridge. Các xung điện chạy trong các dây dẫn để làm ngược lại quy trình giải mã phức tạp. Không lâu sau, trước mặt sĩ quan trực ban đã có bản rõ của bức điện mã bằng tiếng Nhật. Tại bộ phận dịch thuật của Ban “G”, quy ước gọi là OP-20-GZ, vào lúc muộn như thế thì chẳng còn ma nào nữa. Bởi vậy, sau khi đóng dấu thượng khẩn lên bức điện, Brotherhood đích thân giao nó cho đại diện của Cục Mã thám Lục quân vì các phiên dịch viên của cơ quan này trực suốt ngày đêm. Lúc đó là đúng 5 giờ sáng giờ Washington.
Tại Cục Mã thám Lục quân, người ta đã dịch từ tiếng Nhật bức điện có nội dung như sau: “Đại sứ phải trao câu trả lời của chúng ta cho chính phủ Mỹ (cho ngoại trưởng nếu có thể) vào lúc 01giờ 00 ngày 7 tháng 12 theo múi giờ của chúng ta”. “Câu trả lời” được nhắc đến trong bức điện này được người Nhật gửi từ Tokyo đến Washington trong vòng 18 giờ rưỡi trước và Brotherhood vừa mới giải mã nó trên máy Purple. “Câu trả lời” bằng tiếng Anh và có câu cuối như sau: “Chính phủ Nhật lấy làm tiếc thông báo cho chính phủ Mỹ là do lập trường của chính phủ Mỹ, chính phủ Nhật không thể không cho rằng, không hề có bất kỳ cơ hội nào đạt được thoả thuận bằng tiếp tục đàm phán”.
Vào lúc 7 giờ 30, chuyên gia tiếng Nhật, thiếu tá Elwin Cramer, người đứng đầu OP-20GZ và chuyên gửi các bức điện giải mã cho những người nhận ở Mỹ, xuất hiện ở nơi làm việc. Khi thấy đã có được cái quan trọng nhất là đoạn kết của công hàm ngoại giao Nhật dài lê thê và sau khi biên tập lại lời văn công hàm, ông hạ lệnh in thêm 14 bản nữa, giữ lại 2 bản trong đó vào hồ sơ lưu, số còn lại gửi đi.
Lúc 9 giờ 30 sáng, Cramer mang phần cuối của bức công hàm Nhật đến Nhà Trắng gặp Đô đốc Harold R. Stark, Tổng tư lệnh Hải quân và Bộ trưởng Hải quân Frank Knox. Knox phải tham gia một cuộc họp ấn định vào lúc 10 giờ 00 buổi sáng chủ nhật này tại toà nhà Bộ Ngoại giao Mỹ với ngoại trưởng Cordell Hull (1871-1955) và Bộ trưởng Chiến tranh Henry Lewis Stimson (1867-1950). Họ phải thảo luận về tính nguy kịch của cuộc đàm phán Mỹ-Nhật mà theo bức công hàm vừa nhận được, họ biết là đã đi vào ngõ cụt. Nhưng cả Stark và Knox, lẫn Hull và Stimson vẫn chưa biết lúc nào người Nhật tuyên bố chính thức việc này.
Biết được thời điểm phía Nhật định tuyên bố chấm dứt đàm phán là cực kỳ quan trọng: ngày 3 tháng 11, Cục Mã thám Lục quân đã giải mã bức điện do Tokyo gửi đi ra lệnh cho các cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự quán Nhật ở Washington, Hongkong, Honolulu, London, Manila và Singapore bắt đầu tiêu huỷ mật mã. Nếu chấm dứt đàm phán trong điều kiện bình thường thì không nhất thiết phải tiêu huỷ các quyển mã. Các nhà ngoại giao có thể lên đường về nước và mang mật mã của mình cùng các tư trang khác. Đồng thời, quan hệ lãnh sự thường không bị cắt đứt, các tổng lãnh sự vẫn ở tại chỗ của mình cùng với đồ đạc và mật mã. Một khi có lệnh cho các sứ quán và lãnh sự quán tiêu huỷ mật mã thì việc từ chối đàm phán tiếp chỉ có thể có một ý nghĩa - đó là chiến tranh sắp xảy ra đến nơi.
Nhân đây cũng phải nói rằng, lệnh tiêu huỷ mã sau khi Trân Châu Cảng bị tấn công đã được người Nhật thực hiện thuận lợi ở khắp nơi, ngoại trừ lãnh sự quán ở Honolulu. Tại đó, các cảnh sát bảo vệ lãnh sự quán Nhật đã phát hiện thấy khói toả ra từ các cánh cửa và ngửi thấy mùi giấy cháy. Do sợ xảy ra hoả hoạn, họ đã xông vào toà nhà lãnh sự quán và bắt gặp một nhân viên lãnh sự quán đang tiêu huỷ tài liệu trong buồng tắm. Cảnh sát Mỹ đã tịch thu một xấp điện và năm bao tải tài liệu đã xé vụn. Cùng ngày, các chiến lợi phẩm này đã chuyển đến địa chỉ cần thiết.
Cramer trở lại vị trí làm việc của mình vào lúc 10 giờ 20. Trong khi ông đi vắng, người ta đã có được bản dịch một bức điện ngắn về thời gian trao công hàm - đó là vào lúc 1 giờ chiều ngày chủ nhật. Mười phút sau, Cramer lại lên đường.
Tình báo điện tử Mỹ: Khúc dạo đầu (3)
VietnamDefence -
Một giờ trước khi các nhân viên
cơ yếu còn ngái ngủ ở sứ quán Nhật giải mã bức điện mật mã từ Tokyo mà
Mỹ đã chặn thu được, còn máy bay Nhật thì đang gầm rú cất cánh từ các
tàu sân bay để tấn công quân Mỹ,...
Đỉnh cao cảnh giác và thiện nghệ![]() |
Trong lúc đó, các đồng bào của ông ta vẫn ngon giấc điệp và không hề nghĩ gì đến chiến tranh vì họ những mong nó sẽ bỏ qua họ. Các cơ quan mã thám Mỹ vào ngày quốc nhục đó đã đạt đến đỉnh cao cảnh giác và thiện nghệ mà không một cơ quan tình báo nào khác của Mỹ sánh được.
Nhưng tại sao lúc đó người ta không ngăn chặn được nỗi ô nhục Trân Châu Cảng, nơi mà do bị tấn công bất ngờ, họ tổn thất đến 30 nhân mạng lính và sĩ quan trong một phút? Vấn đề là ở chỗ, mặc dù qua nhiều bức điện mã chặn thu và giải mã, họ thấy phía Nhật có sự quan tâm đối với sự di chuyển của các chiến hạm Mỹ ở khu vực Trân Châu Cảng, tất cả các bức điện đó đã được nghiên cứu và đánh giá bởi những người có thẩm quyền giống như với một số lượng lớn các bức điện khác của Nhật về di chuyển của tàu Mỹ ở tất cả các cảng và qua kênh Panama. Ngoài ra, người Nhật cũng chưa bao giờ gửi một bức điện nào có ý nói là “chúng tôi sắp tấn công Trân Châu Cảng”.
Vậy các sự kiện đã tiến triển ra sao sau khi bức điện về việc trao công hàm ngoại giao Nhật xuất hiện trên bàn của Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ Marshall?
Gần 11 giờ 30, Marshall đến trụ sở Bộ Chiến tranh. Trên bàn của ông đã có một tập điện Magic. Bức điện trên cùng là công hàm ngoại giao của Nhật, bên dưới nó là bức điện về thời gian trao công hàm này. Marshall bắt đầu xem kỹ nội dung công hàm, đọc đi đọc lại vài phần của nó. Khi đọc đến bức điện Magic cuối, ông đã sửng sốt chả khác gì Cramer. Marshall lập tức lượng định được ý nghĩa của nó và soạn ngay điện cảnh báo gửi cho bộ chỉ huy quân Mỹ trong khu vực: “Hôm nay, vào lúc 1 giờ chiều theo giờ chuẩn địa phương, người Nhật sẽ trao cho chúng ta một cái gì đó giống như tối hậu thư. Họ cũng đã nhận lệnh huỷ lập tức tất cả các máy mã. Chúng ta còn chưa biết chính xác cái gì đang chờ đợi chúng ta trong thời gian sắp tới, nhưng chúng ta cần phải ở trạng thái sẵn sàng”. Vào lúc đó, cách quần đảo Hawaii 600 kilômet về phía Bắc, thê đội máy bay Nhật đầu tiên đang gầm rú cất cánh từ các tàu sân bay.
Trên bàn Marshall có một chiếc máy điện thoại, song ông rất không tin tưởng điện thoại mà thích dùng cách mã các bức điện viết tuy chậm nhưng tin cậy hơn. Người ta mất 3 phút để mã, 8 phút để phát điện đi và 20 phút sau điện của Marshall đến được tay những người nhận. Thê đội máy bay Nhật đầu tiên lúc đó đã chỉ còn cách mục tiêu 60 kilômet.
Các thư ký toà đại sứ Nhật ở Washington bước vào làm việc lúc gần 10 giờ sáng và đã bắt đầu giải trước tiên các điện mã dài vì theo kinh nghiệm của họ, chúng là những bức điện quan trọng nhất. Chỉ đến 11 giờ 30, nhân viên cơ yếu Nhật mới kinh hoàng phát hiện ra lệnh trao bức công hàm còn chưa giải mã xong vào lúc 1 giờ chiều. Để giải mã hết bức công hàm và đánh máy lại nghiêm chỉnh bằng máy chữ phải mất 1 giờ rưỡi nữa. Cho đến lúc đó, sức mạnh không quân Nhật đã kịp biến Trân Châu Cảng thành địa ngục đối với lính Mỹ. Hy vọng của giới quân sự Nhật rút ngắn tối đa thời gian cảnh báo đối với phía Mỹ về sự khởi đầu chiến sự đúng là đã thành hiện thực trong khói lửa của cuộc tấn công. Sau này, cuộc tấn công bất ngờ không tuyên chiến của Nhật vào Mỹ đã là một trong các mục chính buộc tội các tội phạm chiến tranh Nhật.
Nguyên nhân gây ra sự tàn phá Trân Châu Cảng có nhiều, vào những thời gian khác nhau đã có 8 uỷ ban chính thức tiến hành điều tra các nguyên nhân này, trong đó có cả một uỷ ban của quốc hội Mỹ, “các công trình” của uỷ ban này là 45 tập báo cáo. Đánh giá của họ về điều đã xảy ra không hoàn toàn khách quan vì trong số các nguyên nhân thất bại, họ không nêu rõ ra chiến lược của giới quân sự trước khi Mỹ tham gia chiến tranh thế giới thứ II là cố hướng cuộc xâm lược của Nhật vào Liên Xô. Nhưng chưa bao giờ có ai có mảy may ý định đổ lỗi về điều đã xảy ra cho Cục Mã thám Lục quân hay OP-20-G. Uỷ ban quốc hội Mỹ nghiên cứu các bối cảnh cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng đã phán quyết công bằng rằng, các cơ quan này “xứng đáng sự khen ngợi nhiệt liệt nhất” và tỏ lời cảm ơn cnhân viên của các cơ quan đó.
Australia có thể ngủ yên
Không lâu sau cuộc tấn công của Nhật vào Mỹ, các kế hoạch chiến tranh của Nhật đã hoàn thành về cơ bản. Nhật không định xâm lăng nước Mỹ mà chỉ muốn càng nhanh càng tốt tạo ra một vành đai công trình phòng ngự kiên cố xung quanh các lãnh thổ chiếm được. Tuy nhiên, bộ chỉ huy cao cấp Nhật do loá mắt với những thắng lợi giành được và khao khát những thắng lợi mới đã quyết định tiếp tục tấn công. Tổn thất ước tính sơ bộ là 1/4 binh lính và kỹ thuật chiến đấu của Hải quân Nhật là quá nhỏ và không đáng kể. Lực lượng còn lại quá đủ cho cuộc tấn công mới. Ngoài ra, các chiến lược gia quân sự Nhật khẳng định các lãnh thổ chiếm được sẽ được bảo vệ tốt hơn nếu chu vi phòng thủ tăng lên.
Bởi vậy, Nhật đã bắt tay vào thực hiện hai kế hoạch đầy tham vọng. Một kế hoạch trù định tấn công bằng lính đổ bộ ở hướng Nam nhằm uy hiếp Australia. Kế hoạch thứ hai nhằm vào Midway, hòn đảo san hô tý hon ở giữa Thái Bình Dương, đứng giữa đường đến quần đảo Hawaii như một lính gác. Kế hoạch này gồm hai phần. Phần thứ nhất bao gồm việc đánh chiếm hòn đảo có ý nghĩa chiến lược này. Mục đích của phần thứ hai, quan trọng hơn, là lừa vào bẫy và tiêu diệt lực lượng Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ còn lại sau thất bại mà nay dĩ nhiên sẽ cố để bảo vệ đảo san hô Midway.
Nhưng Đơn vị tình báo kỹ thuật của Mỹ bố trí trong tầng hầm dài, hẹp của toà nhà hành chính tại khu căn cứ hải quân Trân Châu Cảng đã đóng vai trò định mệnh đối với Nhật. Đơn vị này phục vụ cho Hạm đội Thái Bình Dương. Trước khi chiến tranh bắt đầu, Đơn vị tình báo kỹ thuật gồm 30 sĩ quan và binh sĩ. Họ có nhiệm vụ giải phá hệ mã hải quân Nhật, gọi tắt là JaW-25A. Cái tên này do OP-20-G đặt. JaW-25A là mật mã không dùng bảng chữ cái, có dùng mã lặp. Hệ mã phổ dụng và được sử dụng tích cực nhất này khi đó của Hải quân Nhật được cả OP-20-G và nhóm mã thám Anh ở Singapore đồng thời nghiên cứu giải phá.
Trong khi đó, người Nhật tuy không hề biết gì về hoạt động mã thám ráo riết này nhưng đã bắt đầu mơ hồ lo lắng về việc mã JaW-25A được sử dụng trong một thời gian quá dài. Nhật dự định đưa phiên bản mới của nó là JaW-25B vào sử dụng ngày 1 tháng 4 năm 1942. Nhưng do khó đưa các quyển mã đến các tàu đang di chuyển nên họ đã phải đình hoãn việc thay mã cho đến ngày 1 tháng 5.
Chính nhờ sự trì hoãn này mà đến trước ngày 17 tháng 4, trong số điện mã liên lạc của Nhật mà Mỹ chặn thu được chỉ còn có vài phần là vẫn chưa đọc được. Những phần lớn ở bản rõ đã giúp Mỹ hiểu được thực chất các kế hoạch tấn công của Nhật về hướng Australia. Các đối sách do Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ Nimitz đưa ra đã đập tan các kế hoạch này. Nhưng việc Nhật bị chặn bước về hướng Nam không hề làm thay đổi ý đồ của họ giành thắng lợi trong cuộc chiến với Mỹ.
Ngày 1 tháng 5 đã bắt đầu mà việc thay đổi mã Jaw-25A vẫn chưa xảy ra. Cũng vì những nguyên nhân như trước nên người Nhật lại phải hoãn việc thay thế thêm một tháng, cho đến ngày 1 tháng 6. Rõ ràng là người Nhật nghĩ mật mã của họ không bị giải phá nên không nhất thiết thay thế. Nếu việc thay thế xảy ra vào ngày 1 tháng 5 đúng như dự định thì nó có thể đã làm cho các chuyên gia mật mã Mỹ không thể đọc được điện mã của Nhật ít ra là trong vài tuần, một quãng thời gian có ý nghĩa quyết định.
Chiến thắng thuộc về các nhà mã thám
Ngày 20 tháng 5 năm 1942, Tổng Tư lệnh Hạm đội thống nhất, Đô đốc Yamamoto đã soạn và gửi cho các cấp dưới mệnh lệnh tác chiến có nói rõ chi tiết các thủ đoạn chiến thuật cần sử dụng để tấn công đảo Midway. Mệnh lệnh này đã bị các trạm nghe lén của Mỹ chặn thu được. Độ dài bức điện mã cho thấy tầm quan trọng của nó. Trong hơn một tuần, các chuyên gia mã thám Mỹ đánh vật với phần thứ mười của bức điện mà không tài nào đọc được. Chính phần này chứa thông tin quan trọng nhất - ngày tháng, thời gian bắt đầu và địa điểm tiến hành các chiến dịch quân sự. Các chuyên gia mã thám Mỹ chỉ có thể phỏng đoán về những vấn đề đó dựa trên những số liệu gián tiếp.
Do thông tin nhận được chỉ có tính giả thuyết nên giới lãnh đạo quân sự cao cấp Mỹ ngày càng thêm lo lắng. Cả tiến trình sắp tới của chiến dịch quân sự trên Thái Bình Dương cũng như bản thân sự tồn tại của hạm đội Mỹ đều phụ thuộc vào độ chính xác khi giải mã bức điện của Yamamoto. Bởi vậy, công tác kiểm tra những phỏng đoán liên quan đến phần quan trọng nhất của mệnh lệnh của Yamamoto đã được giao cho các cơ quan tình báo khác của Hải quân Mỹ, còn Đơn vị tình báo kỹ thuật tập trung chính vào việc giải mã 9/10 văn bản mã còn lại của mệnh lệnh này.
Đại uý Joseph Rochefort, Chỉ huy Đơn vị tình báo kỹ thuật, đã quyết định dùng một thủ đoạn tinh quái để buộc người Nhật phải khẳng định hoặc bác bỏ các phỏng đoán của các chuyên gia mã thám Mỹ. Rochefort đã soạn một báo cáo thông báo cho đồn binh Midway rằng, máy lọc nước ngọt từ nước biển đã bị hỏng. Báo cáo này đã được gửi đi bằng bản rõ. Hai ngày sau, trong vô số các bức điện của Nhật chặn thu được có một bức điện trong đó có nói AF đang thiếu nước ngọt. Như vậy, người Mỹ đã khám phá ra được từ lóng mà người Nhật dùng để chỉ đảo san hô Midway. Thông tin mà người Mỹ có trong tay về cuộc tấn công dự định của Nhật vào Midway đã được xác nhận. Chỉ còn phải tìm hiểu khi nào việc đó diễn ra.
Ngày 27 tháng 5 năm 1942, bộ tham mưu của Tổng Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ Nimitz đã phỏng đoán chiến dịch của Nhật sẽ mở màn ngày 3 tháng 6. Lập luận bảo vệ ngày dự đoán này rất thuyết phục, nhưng không được các chuyên gia mã thám xác nhận. Thế là lại có thắng lợi tiếp theo của Đơn vị tình báo kỹ thuật khi họ giải phá được mật mã dùng để bảo mật ngày tháng và thời gian trong mệnh lệnh của Yamamoto. Nimitz đã phỏng đoán đúng. Việc Nhật thay đổi mật mã vào tháng 6 năm 1942 đã không ảnh hưởng đến tiến trình các sự kiện ở đảo Midway bởi lẽ tất cả các kế hoạch đã được soạn thảo xong, chiến dịch quân sự của Nhật đã bắt đầu bị phá vỡ. Sau này, trong hồi ký của mình, Nimitz đã viết: “Midway chủ yếu là thắng lợi của tình báo vô tuyến điện tử. Trong khi lăm le tấn công bất ngờ, chính người Nhật đã ăn đòn bất ngờ”. Marshall nói cụ thể hơn: “Nhờ hoạt động mã thám, chúng ta đã có thể tập trung binh lực hạn chế của mình để đối phó với cuộc tấn công của Hải quân Nhật vào Midway, nếu không thì chúng ta có thể còn ở xa địa điểm cần thiết nhiều ngàn kilômet”.
Tình báo điện tử Mỹ: Khúc dạo đầu (4)
VietnamDefence -
Mùa xuân của cái năm đáng nhớ ấy
trong lịch sử tình báo vô tuyến điện tử, Đô đốc Yamamoto quyết định đi
thanh tra các căn cứ hải quân Nhật ở bắc quần đảo Solomon. Đô đốc
Yamamoto, 59 tuổi là một nhân vật kiệt xuất của Hải quân Nhật. Cái chết
của ông sẽ làm mất tinh thần các binh sĩ dưới quyền...
“Vỏ thép” mật mã chống lại “axit” mã thám![]() |
Nỗ lực của Hải quân Nhật chế tạo loại mực in có thể tan trong nước biển để khi quẳng chúng xuống nước hay khi tàu đắm thì nội dung in sẽ biến mất cũng không được thực hiện đến cùng. Khi phòng thí nghiệm khoa học kỹ thuật thông báo không thể chế tạo loại mực có thể tan toàn hoàn khi rơi vào nước biển nhưng lại bền vững với nước mưa, bụi nước và hơi nước biển thì họ đã phải từ bỏ ý định sáng suốt này. Điều đó cũng vô ích thôi.
Đêm 29 tháng 1 năm 1943, một chiếc tàu ngầm Nhật cùng hàng hoá đã không may khi nổi lên gần tàu chống ngầm Kiwi của New Zealand. Phát hiện thấy tàu ngầm Nhật, thuyền trưởng tàu Kiwi hạ lệnh “chạy hết tốc lực về phía trước” để tông vào tàu ngầm mặc dù chiếc tàu ngầm lớn gấp rưỡi tàu Kiwi và có hoả lực mạnh hơn nhiều. Sau bốn lần đâm, chiếc tàu ngầm Nhật phải bỏ chạy và mấy giờ sau đã mất lái nên mắc cạn ở mũi nhô phía Tây Bắc đảo Guadalcanal.
Chiếc tàu ngầm Nhật này có chở theo 200 quyển mã trong số các hàng hoá. Thuỷ thủ đoàn của tàu đã chôn giấu một phần số sách này trên bờ biển do đối phương chiếm giữ. Khi biết tin này, bộ tham mưu Nhật đã hạ lệnh cho không quân ném bom và tàu ngầm phóng ngư lôi để huỷ các tài liệu này. Nhưng người Mỹ đã nhanh tay chiếm được các quyển mã, trong số đó có cả những quyển đang được sử dụng và những quyển dự phòng. Mấy tháng sau, người Nhật đã trả giá cho thất bại này bằng mạng sống của vị tư lệnh của mình.
Mùa xuân của cái năm đáng nhớ ấy trong lịch sử tình báo vô tuyến điện tử, Đô đốc Yamamoto quyết định đi thanh tra các căn cứ hải quân Nhật ở bắc quần đảo Solomon. Đô đốc Yamamoto, 59 tuổi là một nhân vật kiệt xuất của Hải quân Nhật. Chính ông đã đưa ra ý tưởng tấn công Trân Châu Cảng và từng huênh hoang sẽ áp đặt điều kiện đình chiến cho người Mỹ trong Nhà Trắng. Các cơ quan tình báo Mỹ mô tả ông như một con người cực kỳ tài ba, kiên quyết và nhanh trí và cho rằng bất kỳ người kế tục nào của ông cũng thua kém Yamamoto cả về phẩm chất cá nhân và phẩm chất công việc. Cái chết của vị tư lệnh kiêm chiến lược gia lỗi lạc nhất của đối phương hiển nhiên sẽ làm mất tinh thần các binh sĩ dưới quyền, những người mà theo truyền thống Nhật Bản vốn tôn kính các vị chỉ huy của mình hơn người Mỹ.
Thông thường, các căn cứ Nhật đã được báo trước về chuyến thăm của vị tư lệnh để họ chuẩn bị cho việc thanh tra. Bởi vậy, ngày 13 tháng 4 năm 1943, hành trình chuyến đi của Yamamoto ấn định vào ngày 18 tháng 4 đã được gửi cho các đơn vị và binh đoàn mà ông dự định đến thăm. Do có quá nhiều địa chỉ và do cần phải bảo đảm an ninh cho vị Tổng tư lệnh Hải quân Nhật, nên báo vụ viên Nhật đã buộc phải chọn phiên bản mật mã JaW-25 hiện dụng phổ biến và vững chắc nhất để bảo mật thông tin này bằng “vỏ thép” của mật mã.
Thật không may cho người Nhật là “lớp vỏ thép” của các kênh liên lạc của họ đã bị “hoà tan” bởi “axit” ăn mòn của mã thám Mỹ. Các chuyên gia mã thám quân sự Mỹ sử dụng các tài liệu lấy được từ chiếc tàu ngầm Nhật đã đọc được bức điện mã có chứa dữ liệu về hành trình chuyến đi của Yamamoto.
Bản án tử hình của Yamamoto mà Nimitz tuyên án vào ngày 17 tháng 4 đã được in và gửi đến các phi công tiêm kích của Không quân Mỹ - các đao phủ tương lai của vị Tổng tư lệnh Nhật. Lợi ích thu được từ chiến dịch diệt trừ thành công Yamamoto còn lớn hơn những lo ngại về khả năng làm cho người Nhật nghi ngờ mật mã của họ đã bị giải phá và mất đi khả năng thu tin tình báo từ các kênh liên lạc của Nhật trong tương lai. Ngày 18 tháng 4, bản án đã được thi hành. Trên không phận đảo Bougainville ở Thái Bình Dương, máy bay chở Yamamoto đã bị người Mỹ bắn rơi.
Đúng như tiên đoán của Nimitz, cái chết của Yamamoto đã làm rung chuyển cả nước Nhật. Trong khung cảnh cực kỳ long trọng, thi thể bị cháy thành than của Yamamoto đã được chôn cất tại một công viên ở Tokyo. Cái chết của vị anh hùng với uy tín to lớn đã làm binh lính, thuỷ binh và người dân Nhật buồn rầu.
Các đại diện quân đội Mỹ, nghe theo lời khuyên của Nimitz, đã kiên quyết bác bỏ dư luận nói rằng, họ đã biết chi tiết nào đó về điều đã xảy ra. Có tin đồn là đã xảy ra một tai nạn máy bay vô vị nào đó hay là Yamamoto trong cơn tuyệt vọng đã thực hiện harakiri (nghi lễ tự sát bằng mổ bụng của người Nhật). Tuy vậy, sự thật về điều đã xảy ra đã ngày càng lan rộng trong các tầng lớp công chúng Mỹ.
Nguy cơ từ bên trong
Đoạn thứ ba trong bốn đoạn in trên tất cả các bìa các hồ sơ mật Magic nhất thiết phải có nội dung: “Không được thực hiện hành động nào dựa trên các thông tin thông báo ở đây dù điều đó có thể mang lại lợi ích tạm thời nếu các hành động đó có thể làm cho đối phương biết được sự tồn tại của nguồn tin”.
Ngày 7 tháng 6 năm 1942, khi trận đánh ở đảo san hô Midway đang hồi ác liệt, tờ báo Mỹ Chicago Tribune đã đăng một bài báo, trong đó nói trắng ra là Bộ Hải quân Mỹ đang nắm trong tay thông tin về các kế hoạch tác chiến của bộ chỉ huy Nhật. Hơn nữa, bài báo còn mô tả chi tiết cơ cấu biên chế và đặc điểm các binh đoàn hải quân Nhật đã tham gia vào trận đánh này. Trong quá trình điều tra sau đó, Hải quân Mỹ đã từ chối đưa ra lời buộc tội tờ báo về việc tiết lộ bí mật nhà nước chỉ vì không muốn thu hút sự chú ý của Nhật. Hy vọng đã được thoả mãn vì người Nhật vẫn không chịu thừa nhận là các bức điện mã của họ bị đối phương giải được.
Người Nhật cũng không phát hiện ra bài phát biểu của hạ nghị sĩ Holland, bang Pensylvania. Ông này mở đầu bằng việc phê bình tờ Chicago Tribune về việc lạm dụng quyền tự do báo chí. “Các thanh niên Mỹ sẽ tiếp tục chết bởi sự giúp đỡ mà tờ báo này giành cho quân thù”, - Holland nói. Sau đó, ông ta giải thích cho những người không hiểu về bản chất sự giúp đỡ ấy là gì: “Chicago Tribune đã ba hoa về việc “bằng cách nào đó, Hải quân Mỹ đã lấy được mật mã bí mật của Hải quân Nhật”.
Mùa thu năm 1944, trong cái nồi hơi của nền chính trị Mỹ đã nảy sinh một tình huống nguy hiểm chết người. Đảng Cộng hoà chuẩn bị đưa ứng cử viên Thomas Edmund Dewey ra tranh cử tổng thống. Một trong những lập luận chính của phe Cộng hoà trong chiến dịch tranh cử là cáo buộc chính phủ Mỹ về sự chây ỳ không thể tha thứ đã khiến cho người Nhật tấn công thắng lợi vào Trân Châu Cảng. Họ còn bóng gió rằng, Tổng thống Roosevelt, xét đến thái độ mạnh mẽ của xã hội Mỹ ủng hộ chủ nghĩa biệt lập, đã cố tình tạo điều kiện cho cuộc tấn công để lôi cuốn nước Mỹ vào cuộc chiến. Để khẳng định những lời buộc tội, người ta đã loan truyền những tin tức nói rằng, Mỹ đã giải phá được các mật mã của Nhật từ trước trận Trân Châu Cảng. Từ đó, phe Cộng hoà đã kết luận rằng, các bức điện mã giải được của Nhật đã cảnh báo Roosevelt về cuộc tấn công sắp tới, nhưng ông này với sự tắc trách đầy tội ác đã không làm gì để giáng trả đích đáng người Nhật. Cùng với cuộc tranh cử quyết liệt lên, trong các bài diễn văn của các chính trị gia Mỹ các cấp bắt đầu xuất hiện những lời ám chỉ lộ liễu về Magic.
Lo lắng trước diễn biến tình hình, Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ Marshall đã viết cho Dewey lá thư, trong đó chỉ ra mối nguy hiểm trầm trọng của việc tiết lộ thông tin về Magic. Trong khổ thứ hai của lá thư này, có viết: “Điều mà tôi phải thông báo cho ngài dưới đây là một điều bí mật lớn lao mà tôi cho là mình phải yêu cầu ngài hoặc là tiếp nhận lá thư với điều kiện ngài sẽ không tiết lộ cho ai nội dung của nó và gửi lại nó, hoặc là ngài đừng đọc tiếp”.
Khi đọc đoạn 3, trước mắt Dewey xuất hiện từ “mật mã”. Ông ta lập tức dừng đọc, trả lại lá thư cho viên sĩ quan Clark của Cục Mã thám Lục quân đã mang thư tới và nói rằng, ông ta “không thể đưa ra những cam kết bộp chộp”.
Khi bàn bạc về lời từ chối của Dewey, Marshall và Clark đã quyết định thử vận may một lần nữa. Họ viết lại một phần lá thư và gọi điện cho vị ứng cử viên tổng thống. Ông kia đồng ý đọc lá thư với điều kiện cố vấn của mình phải có mặt. Dewey muốn có sự xác nhận cho việc đọc thư phòng khi có điều gì đó xảy ra với Marshall. Cũng vì lý do đó, ông ta yêu cầu để lại lá thư cho ông ta cất giữ.
Lá thư thứ hai có sức thuyết phục hơn. Trong đó, Marshall trình bày rõ những hậu quả thảm khốc có thể xảy ra nếu từ những cuộc đấu khẩu chính trị mà kẻ thù đoán ra các nguồn thông tin tối quan trọng của người Mỹ. Dewey cân nhắc kỹ lưỡng các lập luận của Marshall, người mà bản thân ông ta coi là một con người chân chính và đáng kính. Một mặt, cả đường công danh, quyền lãnh đạo một đất nước hùng mạnh bị đặt cược, mặt khác là hàng trăm người Mỹ có thể sẽ chết. Sau hai ngày suy nghĩ, vị ứng cử viên tổng thống quyết định không nhắc đến việc phá giải mật mã của Nhật trong các bài phát biểu công khai của mình.
Dewey đã thất cử. Sau này, ông và Marshall đã hết lời tâng bốc nhau. Marshall đã gửi cho Dewey một danh mục bản sao các bức điện Magic để ông ta có thể tận mắt chứng kiến những thông tin trong đó đã hỗ trợ cho việc tiến hành các chiến dịch ở Thái Bình Dương. Dewey về phần mình lại thông báo cho Marshall rằng, hình như tại quốc hội sẽ có các cuộc tranh luận về Trân Châu Cảng và tự đề nghị được tham gia hỗ trợ ngăn cản các cuộc tranh luận này. Marshall trả lời là ông đã một lần đặt Dewey vào tình thế khó khăn bằng những yêu cầu của mình và chúng đã ảnh hưởng đến kết quả bầu cử của Deway. Dewey đáp lại với tuyên bố ông làm thế vì thắng lợi của cuộc chiến. Thế là mối đe doạ nghiêm trọng nhất đối với sự an toàn của Magic đã không còn nữa, điều trớ trêu thay lại xuất phát từ nội bộ, từ những chính trị gia của Mỹ chứ không phải từ người Nhật.
Vụ làm ăn bí mật
Trong chiến tranh thế giới thứ II, Mỹ phải bảo vệ các bí mật của mình không chỉ với kẻ thù, mà cả với Liên Xô. Như sau này đã rõ, họ đã có các lý do nặng ký để làm thế.
Tháng 11 năm 1944, Donovan, Cục trưởng Cục Hoạt vụ Chiến lược OSS của Mỹ, cơ quan tình báo chủ yếu của Mỹ thời chiến tranh thế giới thứ II, đã mua của Phần Lan 1,5 ngàn trang sách mã cháy dở của NKGB. Phần Lan chiếm được số tài liệu này trên chiến trường trong cuộc chiến Liên Xô-Phần Lan năm 1939-1940. Để không phá vỡ chiến dịch dự kiến nhằm phát hiện các điệp viên Liên Xô ở Mỹ, chiến dịch một phần lớn dựa vào việc sử dụng các quyển mã mua được, Donovan không muốn mạo hiểm nên đã giấu kín vụ mua bán này với ban lãnh đạo Mỹ, kể cả ngoại trưởng Edward Reilly Jr. Stettinius (1900-1949). Các quan chức OSS khác cũng hành động thận trọng như vậy ở khúc quanh sự kiện này. Tức giận về việc Mỹ bí mật mua bán tài sản của một nước mà chính phủ Roosevel đang rất trông mong sự giúp đỡ trong cuộc chiến chống Nhật, Stetinius đã thuyết phục tổng thống Mỹ không nên vì chút lợi nhất thời mà gây tổn hại cho quan hệ với các đồng minh.
Donovan đã được lệnh trả lại các quyển mã cho chủ nhân hợp pháp của chúng, điều ông ta phải làm mà lòng thì đầy tiếc rẻ. Donovan tất nhiên đã che giấu động cơ thực mà ông ta theo đuổi khi làm ăn với Phần Lan. Thay vào đó, ông ta nói vì là một đồng minh trung thực nên ông ta đơn thuần phải trả khoản tiền mà Phần Lan đòi khi biết họ bán mật mã của Liên Xô. Donovan còn đạo đức giả nói thêm rằng, các nhân viên của ông ta không nghiên cứu các tài liệu lọt vào tay họ nên không biết giá trị của chúng, nhưng họ làm thế là vì phỏng đoán rằng, Liên Xô rất quan tâm tới các tài liệu đó. Các quyển mã cháy dở này đã được trao trả tận tay đại sứ Liên Xô ở Mỹ A.A. Gromyko.
Tháng 5 năm 1945, NKGB đã thay đổi mật mã. Nhưng bản sao các quyển mã mà Donovan cho chụp lại “làm kỷ niệm” đã được các chuyên gia mã thám Mỹ, Anh sử dụng trong gần 2 thập kỷ nữa để giải các bức điện mã của các điệp viên NKGB mà họ chặn thu được trước tháng 5 năm 1945. Giá như giấu kín được vụ mua các quyển mã của Phần Lan năm 1944 thì giá trị của chúng đối với tình báo vô tuyến điện tử Mỹ, Anh còn lớn hơn nhiều.
Người ta biết rằng, tình báo Liên Xô đã biết người Mỹ đã đọc được điện tín liên lạc quân sự và ngoại giao của Nhật vào tháng 2 năm 1945 khi cuối cùng tình báo Liên Xô cũng nối lại được liên lạc với điệp viên lâu năm của mình là Rupert, một binh sĩ Mỹ mà NKVD tuyển mộ từ năm 1939. Điệp viên này trong một thời gian dài không thể bắt được liên lạc vì anh ta giỏi các thứ tiếng phương Đông nên đã bị thuyên chuyển sang Cục Mã thám Lục quân và bị phái đi công tác mấy tháng tại các quần đảo trên Thái Bình Dương.
Khi gặp gỡ, Rupert báo cáo với liên lạc viên rằng, trong một thời gian các chuyên gia mã thám Mỹ đã đặc biệt chú ý đến các bức điện mã của đại sứ Nhật ở Liên Xô, người đã thường xuyên gặp Molotov và lôi kéo được Moskva ký kết hiệp ước không tấn công lẫn nhau Xô-Nhật. Bằng cách đọc điện tín liên lạc của ông ta, Mỹ muốn tin chắc là Liên Xô hành xử trung thực đối với các đồng minh và không định làm bất kỳ động tác “đi đêm” hậu trường nào sau lưng họ.
Ngoài ra, Rupert đã báo cho tình báo Liên Xô biết Cục Mã thám Lục quân Mỹ đã bỏ nhiều công sức ra để đọc điện tín liên lạc giữa các cơ quan Liên Xô ở Mỹ với Moskva trong những năm 1941-1942. Các chuyên gia mã thám Mỹ đã giải mã được khoảng 70% một bức điện do Amtorg gửi về Moskva. Kết quả là họ có hy vọng dần dần đọc được phần lớn điện tín ngoại giao giữa Moskva với Washington và New York. Rupert đã nhớ lại ngày tháng của bức điện mã của Amtorg mà người Mỹ đã đọc được, rồi báo cáo theo trí nhớ nội dung đại ý của bản rõ. Sau này, nhờ thông tin do Rupert cung cấp, các chuyên gia cơ yếu Liên Xô đã biết được rằng, bức điện này đã bị giải mã chỉ vì những sai sót cực kỳ thô thiển của khâu mã hoá.
Tình báo vô tuyến điện tử đứng trên luật pháp
Trong những năm đầu sau chiến tranh, trong quân đội Mỹ, tình báo vô tuyến điện tử do các cục thông tin liên lạc của cả ba quân chủng tiến hành. Để khắc phục tình trạng đó và bảo đảm cho tình báo vô tuyến điện tử Mỹ có được ưu thế của lãnh đạo tập trung, vào năm 1949, Bộ Quốc phòng Mỹ đã thành lập Cục An ninh Quân đội AFSA (Armed Forces Security Agency). Nó đảm nhiệm các chức năng tình báo vô tuyến điện tử chiến lược và phụ trách điều phối hoạt động của các cục cơ yếu thuộc ba quân chủng. AFSA vẫn để lại cho các cục này các chức năng được thực hiện hiệu quả nhất ở gần khu vực chiến sự (nghĩa là tiến hành tình báo vô tuyến điện tử chiến thuật), cũng như trách nhiệm bảo đảm an ninh thông tin liên lạc ở cấp thấp.
Cơ sở pháp lý cho hoạt động của AFSA đã được hình thành trước khi cơ quan này được thành lập một năm. Năm 1948, theo sắc lệnh đặc biệt của hội đồng thống nhất gồm các đại diện của Bộ Ngoại giao, quân đội và các cơ quan tình báo Mỹ, hoạt động của các cơ quan tình báo Mỹ liên quan đến thu thập thông tin từ các kênh liên lạc nước ngoài được giải phóng khỏi sự kiểm soát của mọi đạo luật và quy định của chính quyền hành pháp nếu như trong đó không nêu rõ các đơn vị thực hiện loại hoạt động đó.
Việc lựa chọn các kênh liên lạc nước ngoài để chặn thu diễn ra như thế nào? Một nhóm đại diện các cơ quan tình báo, Bộ Ngoại giao và các đơn vị tình báo Hải, Lục, Không quân Mỹ đã được tập hợp. Mỗi tháng một lần, nhóm này nhận được một tấm bản đồ thế giới có đánh dấu các mục tiêu có thể để tiến hành chặn thu. Các bộ ngành hữu quan Mỹ phải đánh giá tầm quan trọng của các mục tiêu bằng các con số từ 1 đến 5. Tuy vậy, với hệ thống này, các nhiệm vụ chặn thu được nêu ra quá rộng. Họ cũng chưa có cơ cấu nhằm xác định các kênh liên lạc cụ thể để đạt được các mục đích đặt ra.
Các nhược điểm đã bộc lộ rõ vào đầu thập niên 1950 trong cuộc chiến Triều Tiên khi Mỹ không xác định rõ các kênh liên lạc của Triều Tiên cần chặn thu nên đã bỏ qua những thông tin quý báu. Vì thế Mỹ đã tiến hành một loạt cải cách các cơ quan tình báo vô tuyến điện tử, trong quá trình đó đã thành lập NSA. Tuy vậy, trong thập kỷ đầu tiên tồn tại của NSA, vị trí trung tâm trong cộng đồng tình báo Mỹ vẫn do CIA nắm giữ.




Nhận xét
Đăng nhận xét