CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ 56
(ĐC sưu tầm trên NET)
Sức mạnh khủng khiếp của kỵ binh Hetairoi Macedonia - Đội quân 'tất thắng' trong lịch sử cổ đại
Không chỉ nổi tiếng với đội quân bộ binh Phalanx hùng mạnh nhất lịch sử
cổ đại, đội kỵ binh Hetairoi là lực lượng kỵ binh mạnh mẽ thành công
nhất trong thế giới cổ đại dưới sự lãnh đạo của vua Philiops II và sau
đó là con trai ông - Alexandros Đại đế.
Theo bình chọn của nhiều website lớn về
quân sự trên thế giới như Military.com, Military.discovery.com,
Guardian.co.uk, Defence.pk, Kỵ binh Macedonia - Đội quân kỵ binh mạnh nhất trong lịch sử thế giới.
![]() |
Đội kỵ binh Hetairoi hùng mạnh nhất trong lịch sử cổ đại. |
Kỵ binh Hetairoi: Đội quân hùng mạnh bậc nhất thế giới cổ đại
Quân đội Macedonia hay Quân đội của Macedon ở đây được hiểu là đội quân của Vương quốc Macedon cổ đại. Nó được coi là một trong những lực lượng quân sự mạnh nhất của thế giới cổ đại, đặc biệt giai đoạn dưới sự lãnh đạo của vua Philipos II của Macedonia và sau đó con trai ông, Alexandros Đại đế.
Các phát kiến mới nhất về vũ khí được áp
dụng trong quân đội cùng với chiến thuật, cùng với sự kết hợp duy nhất
của quân đội dưới sự chỉ huy của Philipos II, đã dẫn đến những chiến
thắng hình thành nên một đế chế lớn.
![]() |
Alexander Đại đế là một trong những nhà chiến lược quân sự vĩ đại nhất trong lịch sử. |
Bằng việc quy định nghề lính trở thành
nghề nghiệp chính, Philipos đã có thể rèn luyện những người lính của
mình thường xuyên, đảm bảo sự đoàn kết trong hàng ngũ của mình, chỉ
trong một thời gian ngắn, dẫn đến hình thành một đội quân mà Hy Lạp và
châu Á chưa bao giờ gặp.
Nếu nghĩ Macedonia chỉ có bộ binh
Phalanx (bộ binh đội hình phương trận) là mạnh nhất thì các bạn đã đánh
giá quá thấp lực lượng khinh kỵ mạnh mẽ và quy củ bậc nhất thế giới.
![]() |
Đội quân bộ binh Phalanx. |
Hetairoi (có nghĩa là Chiến hữu kỵ binh) là
tên gọi lực lượng kỵ binh chủ chốt trong quân đội Macedonia và được
đánh giá là lực lượng kỵ binh mạnh mẽ thành công nhất trong thế giới cổ
đại dưới sự lãnh đạo của vua Philiops II và sau đó là con trai ông -
Alexandros đại đế.
Ngoài ra Alexandros cũng sử dụng kỵ binh
như một lực lượng trợ chiến cho bộ binh Phalanx (phương trận) vốn chậm
chạp , dù là chiến thuật nào kỵ binh Hetairoi cũng hoàn thành xuất sắc
và biến Alexandros đại đế thành một vị tướng đánh đâu thắng đó. Mười mấy
năm thân chinh cầm quân chưa 1 lần thất bại, ông qua đời vì bệnh số rét
hoặc thương hàn.
![]() |
Kỵ binh Hetairoi luôn dũng mãnh trên chiến trường. |
Vũ khí của Kỵ binh Hetairoi Macedonia:
- Xyston : một loại giáo nặng có chiều dài hơn 3 mét.
- Kopis : một loại gươm ngắn và nhẹ
- Mũ trụ
- Áo giáp bằng đồng và giáp vai bằng da hoặc bằng kim loại.
- Giáp bảo vệ cho ngựa ở phần ngực và đầu.
Chiến thuật của kỵ binh Hetairoi
Bằng việc coi nghề lính là một nghề
chính thống, có hệ thống trường đào tạo và luyện tập rất bài bản.
Alexandros Đại đế đã tạo ra cho mình một lực lượng kỵ binh hoàn hảo, kỵ
binh Hetairoi luôn chú trọng phát triển những ưu điểm của mình và không
quên khắc phục những nhược điểm vốn có.
![]() |
Đội hình mũi dùi của kỵ binh Macedonia. |
Kỵ binh Hetairoi luôn rất thành công với
chiến thuật đánh thọc sườn chớp nhoáng gây rối loạn đội hình chiến
thuật đối phương sau đó là rút lui an toàn.
Lực lượng kỵ binh Hetairoi luôn được chú
trọng phát triển do những ưu điểm của nó, thuận tiện ứng dụng chiến
thuật trong cả hành quân cơ động chớp nhoáng lẫn gây rối loạn cho đội
hình chiến thuật của đối phương.
Chiến thuật này do người Macedonia sao
chép từ người Thrace, vốn được phát huy từ người Scythia. Mặc dù vậy,
dường như Alexandros đã rất thận trọng với việc sử dụng kị binh Hetairoi
chống lại bộ binh, như theo sách của Arrian viết về cuộc chiến chống
lại người Malli, một bộ tộc Ấn Độ mà Alexandros phải đối mặt sau trận
Hydaspes.
Theo đó, Alexandros đã không mạo hiểm
dùng kỵ binh Hetairoi tấn công thẳng vào đội hình bộ binh dày đặc của
người Malli, mà thay vào đó, quấy nhiễu bên cánh của họ, chờ cho lực
lượng bộ binh của mình đến nơi tấn công công phá.
Lực lượng kỵ binh Hetairoi theo Alexandros đến châu Á có khoảng 1.800 người.
Một kinh kỵ binh tiêu chuẩn. |
Thông thường, họ được nố trí bên cánh
phải, vị trí được coi là vinh quang trong quân đội Hy Lạp, nơi đội quân
xuất sắc nhất có vinh dự này, và thường thực hiện các quyết định cơ
động/tấn công trong các trận chiến dưới sự chỉ huy trực tiếp của
Alexandros Đại đế.
Trang Ly (T/h)
Những đế chế hùng mạnh nhất, hưng thịnh nhất trong lịch sử
Đế chế Ba Tư, Nhà Hán, Đế chế La Mã… là 3 trong những đế chế hùng mạnh nhất và hưng thịnh nhất trong lịch sử.
Những đế chế hùng mạnh nhất, hưng thịnh
lâu nhất trong lịch sử dưới đây được liệt kê theo trình tự thời gian từ
khi hình thành đến kết thúc của từng đế chế:
Đế chế Macedonia
800 TCN – 146 TCN
Đế chế Macedonia là tên một vương quốc
cổ ở phía bắc của Hy Lạp, có biên giới phía tây với vương quốc Epirus và
lãnh thổ Thrace ở phía đông.
Vương quốc này đã từng là một cường quốc
trong lịch sử ở khu vực Cận Đông sau khi mà Alexandros Đại đế chinh
phục hầu hết các nước lớn trên thế giới, bắt đầu hình thành Thời kỳ Hy
Lạp hoá trong lịch sử Hy Lạp.
![]() |
Vua xứ Macedonia Alexandros Đại đế được đánh giá là một trong những nhà chiến lược quân sự vĩ đại nhất lịch sử. |
Alexandre III của
Đế chế Macedonia, được biết đến với tên Alexander Đại đế, Alexander hay
Alexandros, (sinh vào tháng 7/356 TCN - mất ngày 11/6/323 TCN) là Quốc
vương thứ 14 của nhà Argead ở vương quốc Macedonia (thời kỳ 336 TCN -
323 TCN) và được xem là một trong những vị tướng thành công nhất trong
lịch sử, người đã chinh phạt gần như toàn bộ thế giới mà ông biết trước
khi qua đời. Ông thường được xem là một trong những nhà chiến lược quân
sự vĩ đại nhất trong lịch sử.
Tiếp
sau khi thống nhất các thành bang Hy Lạp ( Greek ) cổ đại dưới sự cai
trị của vua cha Philipos 2. Alexandre chinh phục đế chế Ba Tư (Persian) ,
bao gồm cả Tiểu Á, Syria, Phoenician, Egyptian và toàn bộ vùng Lưỡng Hà
cổ đại và mở rộng biên cương đế chế của ông đến xa tận vùng Punjap.
Alexandre III của
Đế chế Macedonia, được biết đến với tên Alexander Đại đế, Alexander hay
Alexandros, (sinh vào tháng 7/356 TCN - mất ngày 11/6/323 TCN) là Quốc
vương thứ 14 của nhà Argead ở vương quốc Macedonia (thời kỳ 336 TCN -
323 TCN) và được xem là một trong những vị tướng thành công nhất trong
lịch sử, người đã chinh phạt gần như toàn bộ thế giới mà ông biết trước
khi qua đời. Ông thường được xem là một trong những nhà chiến lược quân
sự vĩ đại nhất trong lịch sử.
Tiếp
sau khi thống nhất các thành bang Hy Lạp ( Greek ) cổ đại dưới sự cai
trị của vua cha Philipos 2. Alexandre chinh phục đế chế Ba Tư (Persian) ,
bao gồm cả Tiểu Á, Syria, Phoenician, Egyptian và toàn bộ vùng Lưỡng Hà
cổ đại và mở rộng biên cương đế chế của ông đến xa tận vùng Punjap.
Đế quốc Ba Tư
550 TCN – 1979 SCN
Toàn bộ các đế chế Babylon, Akkadians,
Assyria, Sumer, Hitites, Bactrians, Scythia, Parthia, Mê-đi, Elamites,
Ai Cập, Ethiopia ...trước khi bị người La Mã xâm chiếm đều là lãnh thổ
thuộc về đế quốc Ba Tư.
Họ về cơ bản thống nhất toàn bộ Trung Á
trong đó bao gồm rất nhiều nền văn hóa khác nhau, các vương quốc, đế
quốc và các bộ tộc. Đế chế Ba Tư là đế quốc lớn nhất trong lịch sử cổ
đại.
Ở đỉnh cao quyền lực của mình dưới thời
Cyrus Đại Đế, đế chế bao trùm khoảng 8.000.000 km2 và kéo dài ba châu
lục: châu Á, châu Phi và châu Âu.
![]() |
Vào thời kỳ huy hoàng năm 480 trước công nguyên, đế chế Ba Tư chiếm tới 44% dân số thế giới |
Nhà Hán
206 TCN – 220 SCN
Nhà Hán là triều đại kế tục nhà Tần (221
TCN - 207 TCN), và được tiếp nối bởi thời kỳ Tam Quốc (220-280). Triều
đại này được thành lập bởi Lưu Bang, một lãnh tụ khởi nghĩa chống lại sự
cai trị của nhà Tần.
![]() |
Lãnh thổ Nhà Hán thời cực thịnh (các mảng màu) |
Đối với nhiều người Trung Quốc, thời
gian trị vì của nhà Hán, kéo dài 400 năm, là một trong những giai đoạn
vĩ đại nhất trong toàn bộ lịch sử Trung Quốc.
Có nhiều ý kiến cho rằng, hai đế chế cùng thời với nhau là nhà Hán và Đế quốc La Mã là hai siêu cường của thế giới.
Đế chế La Mã
27 TCN – 1453 SCN
Đế chế La Mã không chỉ là một trong
những đế chế nổi tiếng nhất mà còn tồn tại lâu đời nhất trong lịch sử.
Nó kéo dài từ năm 27 trước công nguyên - năm 1453 sau công nguyên. Tổng
cộng, triều đại này tồn tại trong khoảng thời gian 1.480 năm.
Đế chế này mở rộng lãnh thổ ra cả vùng đất của Italy hiện nay và phần lớn khu vực Địa Trung Hải.
![]() |
Vào thời kỳ đỉnh cao, đế chế La Mã trải dài trên diện tích 2,51 triệu dặm vuông. Đây là đế chế lớn thứ 19 trong lịch sử |
Đế chế Tây La Mã bước vào thời kỳ đỉnh
cao nhất là năm 476 trước công nguyên khi lật đổ được ách thống trị của
Hoàng đế Romulus Augustus.
Đế chế Đông La Mã tiếp tục bước vào thời
kỳ hào quang kể từ sau năm 476 sau công nguyên. Nó được các sử gia ngày
nay gọi là Đế chế Byzantine. Trong khoảng thời gian từ năm 1341 trước
công nguyên - 1347 trước công nguyên. Sau đó, đế chế Ottoman đã lật đổ
được đế chế La Mã vào năm 1453 trước công nguyên.
Đế quốc Khmer
802 - 1431
Có rất ít thông tin về đế chế Khmer tuy
nhiên thành phố ở Angkor được cho là đầy cảm hứng và là một phần dẫn đến
ngôi đền nổi tiếng Angkor Wat - một trong những di tích tôn giáo lớn
nhất thế giới. Công trình này được xây dựng trong thời kỳ đỉnh cao của
đế chế Khmer.
Đế chế Khmer bắt đầu vào khoảng năm 802
trước công nguyên khi Jayavarman II tuyên bố bản thân là quốc vương
trong khu vực mà bây giờ gọi là Campuchia. Đế chế này tồn tại suốt 629
năm và bị lụi tàn vào năm 1431.
![]() |
Công trình Angkor Wat được xây dựng trong thời kỳ đỉnh cao của đế chế Khmer |
Hầu hết, các triều đại của đế chế này
đều thực hiện những cuộc chiến tranh để bảo vệ và mở rộng lãnh thổ.
Angkor trở thành nơi đóng thành trì của đế chế này vào nửa cuối triều
đại. Sau đó, những nền văn minh lân cận đã chiến đấu để kiểm soát Angkor
khi quyền lực của đế chế Khmer bắt đầu suy yếu.
Người ta đưa ra nhiều giả thuyết khác
nhau về việc suy tàn của đế chế Khmer. Một số người cho rằng, một vị vua
đã thông qua Phật giáo tiểu thừa để thống trị đất nước, dẫn đến sự suy
yếu của hệ thống quản lý, khiến đế chế này bị diệt vong. Số khác lại cho
rằng, vương quốc Thái Lan Sukhothai đã chinh phục Angkor vào những năm
1400.
Đế chế La Mã Thần thánh
962 – 1806
Đế chế La Mã thần thánh (Holy Roman) tồn
tại từ năm 962 trước công nguyên - 1806 trước công nguyên. Lãnh thổ của
đế chế này chủ yếu bao gồm khu vực trung tâm châu Âu, đặc biệt là phần
lớn nước Đức. Đế chế này được khai sinh kể từ khi Otto I tuyên bố là vua
của nước Đức. Sau này, ông được mọi người biết đến là vị vua đầu tiên
của Đế chế La Mã thần thánh.
![]() |
Otton I Wittelsbach là vị vua đầu tiên của Đế chế La Mã thần thánh |
Đế chế La Mã thần thánh được tạo thành
từ khoảng 300 vùng lãnh thổ. Sau “cuộc chiến tranh 30 năm” diễn ra vào
năm 1648, đế chế này bị phân chia và tách ra thành nhiều quốc gia độc
lập. Năm 1792, Pháp cũng nổi dậy.
Năm 1806, Napoleon Bonaparte đã lật đổ
hoàng đế cuối cùng của Đế chế La Mã thần thánh là Francis II khiến ông
phải thoái vị. Sau đó, khu vực này được tổ chức lại giống như Liên bang
sông Rhine.
Đế quốc Ottoman
1299 – 1923
Ở thời kỳ đỉnh cao quyền lực ở thế kỷ
XVI và thế kỷ XVII, các lãnh thổ của Đế quốc Ottoman gồm các vùng Tiểu
Á, Trung Đông, nhiều phần ở Bắc Phi, và đa phần đông nam châu Âu với
diện tích khoảng 5,6 triệu km vuông và nhiều nền văn hóa, tôn giáo, ngôn
ngữ.
Mặc dù có những khác biệt nhưng đế chế này quản lý các vùng thuộc địa phát triển thịnh vượng trong suốt 624 năm.
![]() |
Tổng lãnh thổ của Đế chế Ottoman từ năm 1359 đến 1856 |
Khởi phát của đế chế Ottoman là một quốc gia nhỏ bé sau khi Đế chế Byzantine suy yếu và rút khỏi khu vực này.
Sau đó, đế chế Ottoman ngày càng mở rộng
lãnh thổ thông qua hệ thống tư pháp, giáo dục, quân sự mạnh mẽ cũng như
sở hữu phương pháp chuyển giao quyền lực độc đáo. Lạm phát, cạnh tranh
và thất nghiệp là những nhân tố then chốt khiến đế chế Ottoman sụp đổ.
Đế chế Mông Cổ
Thế kỉ 13 – Thế kỉ 14
Đế quốc Mông Cổ tồn tại trong các thế kỷ
13 và 14, và là đế quốc có lãnh thổ liền nhau lớn nhất trong lịch sử
nhân loại. Khởi đầu bằng những cuộc thống nhất các bộ lạc Mông Cổ rải
rác của Thành Cát Tư Hãn. Sau đó ông đã phóng tầm nhìn của mình đến
Trung Quốc và các vùng đất phía Tây.
![]() |
Thành Cát Tư Hãn là người sáng lập ra Đế quốc Mông Cổ sau khi hợp nhất các bộ lạc độc lập ở vùng đông bắc châu Á năm 1206 |
Khởi đầu trên các thảo nguyên Trung Á,
đế quốc cuối cùng đã trải dài từ Đông Âu đến biển Nhật Bản, bao gồm
nhiều phần rộng lớn của Siberi ở phía bắc và khuếch trương về phía nam
đến Đông Nam Á, tiểu lục địa Ấn Độ, cao nguyên Iran, và Trung Đông.
Ở thời kỳ cự thịnh, đế quốc Mông Cổ trải
dài 9.700 km, diện tích lãnh thổ lên tới 24.000.000 km2 (tương đương
16% diện tích đất liền của Trái Đất), và thống trị 100 triệu thần dân.
Vào thời kỳ đại cực thịnh, đế quốc Mông Cổ có diện tích lên tới
24.000.000 km2.
![]() |
Lãnh thổ của Đế chế Mông cổ vào cuối thế kỷ 13 |
Kỵ binh Mông Cổ thời đó được coi là một
lực lượng chiến đấu vô cùng dũng cảm và tàn nhẫn, hình ảnh của người
Mông Cổ được khắc họa tàn bạo và man rợ nổi tiếng trong lịch sử. Đế quốc
Mông Cổ suy yếu không lâu sau đó vì những yếu kém trong việc quản lý
một vùng lãnh thổ quá rộng lớn và đa văn hóa.
Đế quốc Bồ Đào Nha
1415 - 1999
Đế quốc Bồ Đào Nha là đế quốc ra đời sớm
nhất và kéo dài nhất trong lịch sử những đế quốc thực dân Châu Âu, kéo
dài gần 6 thế kỉ, bắt đầu từ vụ chiếm Ceuta năm 1415 đến cuộc giao trả
Ma Cao cho Trung Quốc Đại Lục năm 1999.
Đây là đế chế “phủ sóng” toàn cầu đầu
tiên trong lịch sử, trải dài 4 châu lục (bắt đầu vào năm 1415 khi người
Bồ Đào Nha chinh phục được Cueta - một thành phố Hồi giáo ở Bắc Phi. Sau
đó, họ tiếp tục mở rộng lãnh thổ ở châu Phi, Ấn Độ, châu Á và cuối cùng
là châu Mỹ).
![]() |
Lãnh thổ của Đế quốc Bồ Đào Nhà trải rộng khắp 4 châu |
Lực lượng hải quân thuộc Đế chế Bồ Đào Nha được xem là lực lượng mạnh hàng đầu thế giới.
Sau Chiến tranh thế giới II, nhiều nước
châu Âu đấu tranh thoát khỏi sự cai trị của đế chế Bồ Đào Nha. Mãi cho
đến năm 1999, Bồ Đào Nha đã mất quyền kiểm soát Macau về tay Trung Quốc,
báo hiệu sự kết thúc của đế chế hùng mạnh này.
Trang Ly (T/h)Biệt tài dụng quân của những vị tướng giỏi nhất mọi thời đại
Alexander Đại đế, Thành Cát Tư Hãn, Napoléon Bonaparte, Tướng Võ Nguyên
Giáp.... là bốn trong những vị tướng tài giỏi có biệt tài quân sự đỉnh
cao trong lịch sử.
Thời Cổ đại
Alexandros Đại đế (356 – 323 TCN)
Alexander Đại đế còn gọi là Alexandre III của Đế chế Macedonia, được biết đến với tên Alexander hay Alexandros, (sinh vào tháng 7/356 TCN - mất ngày 11/6/323 TCN) là Quốc vương thứ 14 của nhà Argead ở vương quốc Macedonia (thời kỳ 336 TCN - 323 TCN) và được xem là một trong những vị tướng thành công nhất trong lịch sử, người đã chinh phạt gần như toàn bộ thế giới mà ông biết trước khi qua đời.![]() |
Alexander Đại đế là một trong những nhà chiến lược quân sự vĩ đại nhất trong lịch sử |
Ông thường được đứng trong cùng một danh
sách với Napoléon Bonaparte, Julius Caesar và Thành Cát Tư Hãn như là
một trong những nhà chiến lược quân sự vĩ đại nhất trong lịch sử.
Biệt tài:
Alexandros Đại đế đã chiến đấu 17 trận mà không một trận thua với tổn thất quân đội của ông không quá 16%.
Ông đã sử dụng chiến thuật mà hcoj giả ngày nay gọi là “Bẫy chuột của Alexander” trong trận với vua Darius III nhà Achaemenes.
Hannibal Barca (247 – 183 TCN)
Hannibal Barca vị tướng lĩnh quân sự
người Carthage (thuộc Tunisia ngày nay) từng 2 lần đánh thắng quân La Mã
ở Trebia và Lake Trasimene.
Biệt tài:
Với phát minh ra đội hình giàn quân hình
bậc thang thay cho đội hình phalanx được áp dụng từ thời Hy Lạp cổ đại,
ông được đánh giá là chiến lược gia quân sự xuất sắc.
![]() |
Tượng Hannibal Barca |
Ở trận Cannae, ông đã sử dụng chiến
thuật gọng kìm bằng cách bố trí quân lính kém tinh nhuệ vào trung tâm,
còn những kỵ binh tinh nhuệ nhất được bố trí ở 2 cánh.
Julius Caesar (100 – 44 TCN)
Sự nghiệp quân sự rất thành công của
Caesar, lãnh tụ chính trị quân sự và chính trị của La Mã, khiến ông đuợc
xếp vào ngang hàng với Alexander Đại đế, Hannibal, Thành Cát Tư Hãn và
Napoléon Bonaparte.
![]() |
Tượng Julius Caesar |
Biệt tài:
Caesar không phải là vị tướng bách chiến
bách thắng, nhưng mưu lược tài tình của ông vẫn được nhiều người đánh
giá cao qua việc đắp lũy bao vây để cô lập đối phương ở Alesia (trong
trận chiến xứ Gaule) vào năm 52 TCN, chiến thắng trước đội quân đông hơn
nhiều lần của Pompey ở Pharsalus, và sự tận diệt đội quân của vua
Pharnaces xứ Pontos trong trận đánh tại Zela.
Thời Phong kiến
Thành Cát Tư Hãn (1162 – 1227)
Thành Cát Tư Hãn là người có công sáng
lập ra Đế quốc Mông Cổ sau khi hợp nhất các bộ lạc độc lập ở vùng đông
bắc châu Á vào năm 1206.
![]() |
Thành Cát Tư Hãn nổi tiếng với lối đánh chiến tranh tâm lý |
Biệt tài:
Ông đã phát minh ra chiến thuật tấn công
linh hoạt. Những kỵ binh trong đội quân của ông được huấn luyện bắn
cung cực kì chính xác khi đang phi ngựa nước đại. Ông còn nổi tiếng với
lối đánh chiến tranh tâm lý.
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1232 – 1300)
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là một nhà chính trị, nhà quân sự kiệt xuất, một vị danh tướng anh hùng của dân tộc Việt Nam.
![]() |
Tượng Đài Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn |
Biệt tài:
Ông đã từng đánh bại đạo quân thiện
chiến vô địch của con cháu Thành Cát Tư Hãn. Sau chiến thắng 1288, đế
chế Mông Cổ bắt đầu suy yếu và tan rã trên phạm vi toàn thế giới. Hoàng
gia Anh đã tặng đức Thánh Trần danh hiệu Người đánh bại đế chế Mông Cổ.
Thời Cận đại
Napoléon Bonaparte (1769 – 1821)
Napoléon Bonaparte là một nhà quân sự và
nhà chính trị kiệt xuất người Pháp. Ông là Hoàng đế Pháp trị vì từ năm
1804 đến năm 1815.
![]() |
Napoléon Bonaparte rất giỏi trong việc sử dụng gián điệp |
Biệt tài:
Áp dụng những ý tưởng quân sự thông
thường vào các tình huống thực tế đã làm nên những vinh quang quân sự
của ông, chẳng hạn như việc sử dụng sáng tạo pháo binh như một lực lượng
linh hoạt để hỗ trợ cho bộ binh.
Ông rất giỏi trong việc sử dụng gián
điệp và có thể thắng trận bằng cách che đậy việc triển khai quân và tập
trung quân vào điểm mấu chốt của mặt trận bị suy yếu của đối phương.
Thời Hiện đại
Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1911 – 2013)
Tướng Võ Nguyên Giáp là một nhà chỉ huy
quân sự và nhà hoạt động chính trị Việt Nam. Là Đại tướng đầu tiên, Tổng
tư lệnh tối cao của Quân đội Nhân dân Việt Nam, và là chỉ huy chính
trong Chiến tranh Đông Dương, chiến tranh Việt Nam.
![]() |
Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1911 – 2013) được Viện Hàn Lâm hoàng gia Anh vinh danh là bậc thầy của chiến tranh du kích |
Không được đào tạo tại bất kỳ trường
quân sự nào trước đó, không phải trải qua các cấp bậc quân hàm trong
quân đội, Võ Nguyên Giáp được phong quân hàm Đại tướng vào ngày 28 tháng
5 năm 1948 theo sắc lệnh 110/SL ký ngày 20 tháng 1 năm 1948, Người trở
thành Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam khi 37 tuổi.
Đại tướng được cả thế giới biết đến như
một trong những danh tướng của thế kỷ 20 - người đã đánh bại nhiều viên
tướng quân đội Pháp trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và lần
lượt đọ sức với 7 danh tướng của quân đội Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam
cho tới khi Mỹ rút quân ra khỏi bán đảo Đông Dương sau Hiệp định Paris
(1973).
Viện Hàn Lâm hoàng gia Anh vinh danh Đại
tướng Võ Nguyên Giáp là người đánh đổ hai chế độ thực dân cũ và mới,
bậc thầy của chiến tranh du kích.
Trang Ly (T/h)






















Nhận xét
Đăng nhận xét