ĐỊA LINH NHÂN KIỆT 63

(ĐC sưu tầm trên NET)

Đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư
Nằm trên đỉnh núi Đền, bao quanh là rừng thông xanh tốt, đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư thuộc thôn Hiền Lương, xã Phù Lương, huyện Quế Võ, có cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, là nơi tôn vinh phụng thờ một danh nhân khoa bảng có công lao lớn với dân với nước, không những được sử sách lưu danh, mà còn được nhân dân tôn thờ, ca ngợi, truyền tụng.
Thôn Hiền Lương thuộc xã Phù Lương là vùng đất của những làng cổ nằm trải dài trên các mỏm núi có tên như: núi Trọc, núi Chùa, núi Tụng, núi đền, núi Vĩnh, núi Giữa… thuộc dãy núi Châu Sơn hùng vĩ chạy dài ở phía đông nam huyện Quế Võ. Theo văn bia, văn chuông của thôn Hiền Lương thì xưa làng có tên là Minh Lương, đến thời vua Minh Mệnh vì kiêng tên húy nhà vua làng đổi tên là Hiền Lương và từng nổi tiếng là quê hương của Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư.
Theo nhân dân địa phương, đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư còn có tên nôm là đền “Quan Trạng” vốn xưa nằm ở cánh đồng Tổ Mối ở phía đông nam thôn Hiền Lương, đến nay vẫn còn dấu tích của nền móng. Ngôi đền cổ bị phá trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nhưng dân làng vẫn bảo lưu được tượng thờ và một số đồ thờ tự khác, cùng với những tục lệ tín ngưỡng của ngôi đền. Để tôn vinh và tri ân với một danh nhân của quê hương, năm 2004 dân làng Hiền Lương đã cùng nhau công đức xây dựng lại ngôi đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư trên đỉnh núi Đền.
Bản “Thần tích Thần sắc” của thôn Hiền Lương được kê khai năm 1938 cho biết rõ thôn Hiền Lương thờ Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư bằng tượng gỗ sơn ở đền gọi là đền Quan Trạng, có đoạn như sau: “Tên làng tôi là Hiền Lương thuộc tổng Phù Lương, huyện Quế Dương, tỉnh Bắc Ninh… Thành hoàng làng là Tam Giang khước địch thượng đẳng thần và thờ các vị thần khác: Các vị nhiên thần (sơn thần, thủy thần), các vị nhân thần (Tôn linh công chúa, Đống Bính uy linh, Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư, đức Tiên chúa… Thờ hai vị Tam Giang bằng khám gỗ sơn, Quan Trạng bằng tượng gỗ…”. Hiện tại đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư còn bảo lưu được nhiều tài liệu cổ vật quý giá như: Tượng thày trò Quan Trạng, Thần tích Thần sắc, hoành phi câu đối; đặc biệt là tượng Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư là chứng tích của ngôi đền và người được thờ từng nổi tiếng trong lịch sử.
 
 
Tượng Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư tại đền Quan Trạng thôn Hiền Lương, huyện Quế Võ.
 
Theo sử liệu và tư liệu của thôn Hiền Lương: Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư có tên húy là Nguyễn Trư, hiệu là Tùng Khê, người thôn Minh Lương, nay là thôn Hiền Lương. Ông là người thông minh sáng dạ kỳ lạ, nhưng bị mồ côi cha mẹ từ nhỏ, phải đi ở làm thuê cho một nhà giàu ở thôn Đông Sơn, xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du. Tại thôn Đông Sơn, ông được Tiến sĩ Vũ Mộng Nguyên làm quan triều Lê sơ đón về nuôi dạy vì quý mến sự thông minh hiếu học của mình. Không phụ công nuôi dạy của thày, Vũ Mộng Nguyên đã đỗ Trạng nguyên khoa thi Mậu Thìn niên hiệu Thái Hòa 6 (1448) đời vua Lê Nhân Tông.
Tương truyền, khi vào triều để gặp vua, để thử tài Quan Trạng, trước mặt quần thần văn võ, nhà vua ra một vế câu đối: “Long tại đỉnh long nhi bất tẩu” và yêu cầu sau khi vua bước đi bảy bước quan Trạng phải đối lại: Chẳng ngờ, vua mới bước đi ba bước, quan Trạng đã có vế đối lại: “Yến cư thượng yến hà vô phi”, cả triều đình gật đầu thán phục. Sau đấy, ông được bổ chức Hàn lâm trực học sĩ. Năm 1459, ông được cử đi sứ sang nhà Minh, khi về được phong chức Lại bộ Thượng thư, Trưởng lục bộ Thượng thư. Cuộc đời khoa cử và làm quan của ông để lại nhiều giai thoại nổi tiếng, đặc biệt là tài ngoại giao đi sứ.
Truyền rằng, khi vua Lê Nghi Dân giết vua tiếm ngôi, sai ngài đi sứ cầu phong, nhà Minh hoạch rằng: “Sao lại giám giết em tranh ngôi vua”. Quan Trạng trả lời rằng: “Đường Thái Tông giết cả anh là Kiên Thành. Em là Nguyên Cát là việc cũ của thiên triều, thì ngày nay việc nước tôi có gì là lạ”. Thấy sứ thần nước Việt trả lời quá sắc sảo, vua Minh đành nhận phong vương. Khi đoàn sứ giả đến ải Nam Quan, vua quan coi cửa ải nhà Minh cậy thế nước lớn, ngạo mạn liền treo lên cửa đi một chữ “Thập” bằng gỗ rất lớn mà không mở cửa ra đón tiếp. Quan Trạng liền cho quân lấy dây lụa tết một vòng tròn rất lớn mắc lên chữ Thập, cả chữ Thập nằm gọn lỏn trong vòng tròn của dây, với nghĩa rằng: “Các ngươi cậy là nước lớn từng tung hoành vũ trụ, thì nay nước Việt ta bao quát càn khôn”. Thấy vậy, viên quan coi ải quá khiếp sợ bởi tài của Quan Trạng liền phải mở cửa để đón tiếp đoàn đi sứ của nước ta.
Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư, không chỉ là một nhà ngoại giao xuất sắc, mà còn là một nhà thơ lớn của dân tộc, có nhiều sáng tác, hiện còn 2 bài thơ chép trong “Toàn Việt thi lục”. Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư còn là người có công lớn với dân làng quê hương: Truyền kể khi về già ông về quê sinh sống, dạy dân học hành và nhiều điều lễ nghĩa, lại cấp cho ruộng học gọi là “ruộng học điền” để khuyến khích dân học. Quan trạng mất năm 89 tuổi, dân làng kính phục và biết ơn tài năng đức độ của ông đã lập đền thờ gọi là “Đền Quan Trạng” và tôn ngài làm Phúc Thần, được vua phong sắc mĩ tự là “Long đức phổ hộ phù bồng đại vương”. Hàng năm cứ đến ngày 5 tháng 8 (âm lịch) là ngày mất của Quan Trạng, dân làng lại tổ chức tế lễ tại đền thờ ông để tôn vinh tri ân với một danh nhân đã có công lớn với dân với nước và quý khách thập phương đến rất đông.
Tên tuổi công trạng của Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư, không những được sử sách ghi danh, các triều vua ghi khắc lưu danh ở văn bia Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội), Văn Miếu Bắc Ninh, mà còn được dân gian ca ngợi truyền tụng, lập đền thờ phụng. Đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư thuộc thôn Hiền Lương, xã Phù Lương, huyện Quế Võ là một trong những di tích thờ danh nhân khoa bảng tiêu biểu của đất học Kinh Bắc-Bắc Ninh.
Với những giá trị trên, đền thờ Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư thuộc thôn Hiền Lương, xã Phù Lương, huyện Quế Võ, đã được UBND tỉnh Bắc Ninh xếp hạng là Di tích lịch sử-văn hóa Quyết định số 1160/QĐ-UBND ngày 30-8-2012.
Bài, ảnh: Đỗ Thị Thủy
Trạng “Lợn” - Nguyễn Nghiêu Trư
Ông hiệu là Tùng Khê người xã Phù Lương, huyện Võ Giàng, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc.
Tương truyền lúc nhỏ theo cha làm nghề thịt lợn, lại đẻ vào tháng 10 tức tháng Hợi nên đặt tên là Nguyễn Văn Trư và thường gọi là cậu Lợn (chữ Hán “Trư” nghĩa là lợn).Ông bản tính nhanh nhẹn, thông minh, lúc nhỏ có lần cùng bố đi bắt lợn, gặp kiệu ông Nghè vinh quy, Trư hỏi:- Ông gì thế bố?Người cha đáp:- Ông Trạng!Trư nói:- Lớn lên con cũng làm ông Trạng!Từ đó đi chơi với trẻ trong làng, ông đều khoe:- Tao là quan Trạng!Có người khách lỡm:- Trạng dở hay trạng nguyên?Ông buột miệng:- Khách quen hóa khách lạ!Hai câu ứng khẩu hợp thành câu đối khá hay.Cạnh làng ông là làng Yên Đinh đất học, có cụ đồ sang chơi ra cho trạng vế đối, mang đề tài lợn, nghề sinh sống của nhà này:- Lợn cấn ăn cám tốn (ý là lợn có chửa ăn hết nhiều cám nhưng Cấn và Tốn là hai quẻ trong bát quái).Trạng đối ngay:- Chó khôn chớ cắn càn.Câu đối xấc xược làm cụ đồ cay đắng, song vế đối chỉnh quá, chó khôn đừng cắn bậy, mà Khôn và Càn cũng là hai quẻ trong bát quái. Cụ đồ khuyên bố mẹ Trư cho Trư đi học.Chính cụ đồ bị ông đối xược ấy dạy ông năm mới 8 tuổi, ông học rất giỏi, nghe một biết mười, lễ phép, chuyên cần, bạn học có người gấp rưỡi, gấp đôi tuổi đều thương mến. Những ngày trời mưa bạn thường cõng ông qua chỗ lội.Khi ở nhà lúc nào ông cũng chăm lo đèn sách, khi ra ao rửa bèo, ra vườn hái rau, tay vẫn cầm cái que nhọn vạch xuống đất hoặc vào lá chuối, lá khoai những chữ khó nhớ.Đến khi “biết chữ”, thầy đồ gửi ông ra học cụ Vũ Mộng Nguyên người xã Đông Sơn, huyện Tiên Du, đỗ Thái học sinh không làm quan nhà Hồ về dạy học.Ông là học trò tiêu biểu nhất của cụ Vũ Mộng Nguyên, đỗ Trạng nguyên khoa Mậu Thìn (1448) niên hiệu Thái Hòa năm thứ 6 đời vua Lê Nhân Tông.Tương truyền đêm trước ngày thi đình vua Nhân tông nằm mơ thấy lợn đỗ trạng, vua sai xa giá xem bảng thấy trạng tân khoa là Nguyễn Văn Trư, dân gian coi yết bảng cứ kháo thành vè “Long đầu lợn-Nguyễn Văn Trư”, vua liền đổi tên cho Trạng là Nguyễn Nghiêu Tư.Ông làm quan đến chức An phủ sứ Hàn lâm Trực học sỹ, đi sứ nhà Minh lại phong Lại bộ thượng thư, về phong Chưởng lục bộ thượng thư.Khi vinh quy bái tổ, dân làm nghè ở Phù Lương thị (chợ làng Phù Lương), tức làng Giùng, chợ Giùng để đón, nghè còn đến thời kháng chiến chống Pháp dân vẫn gọi là Nghè quan Trạng. Khi về hưu vua phong “Thượng quốc công chí sỹ” và vợ được hàm “nhất phẩm phu nhân”.Năm 1459 Lê Nghi Dân giết vua tiếm vị, sai ông đi sứ cầu phong, nhà Minh hoạch:- Sao lại dám giết em mà tranh ngôi vua?Nghiêu Tư trả lời:- Đường Thái tông giết cả anh là Kiên Thành, em là Nguyên Cát là việc cũ của thiên triều, thì việc nước tôi ngày nay có gì là lạ?Thấy sứ thần Đại Việt trả lời rất đúng lý nhà Minh đành nhận phong vương.Khi đoàn sứ thần ta tới ải Nam Quan, viên coi cửa ải nhà Minh ỷ thế nước lớn, ngạo mạn treo lên cửa quan một chữ thập lớn bằng gỗ mà không mở cửa đón tiếp.Trạng nói:- ý các người muốn coi người Minh là “tung hoành vũ trụ”. Đã vậy thì Đại Việt ta đây “bao quát càn khôn”, sai người bện một cái vòng tròn lớn bằng lụa tết mắc lên đầu chữ thập, cả chữ thập lọt trong vòng tròn ấy. Viên quan coi ải khiếp phục, mở cửa quan nghênh tiếp sứ giả.Vào đến Yên Kinh, Trạng vào yết kiến vua Minh.Nhà vua muốn thử tài sứ giả, ngầm sai trong hoàng cung quán lịch sự, đề hai chữ Kính Thiên treo ở giữa, bầy đôi sập thất bảo rất cao, xung quanh đặt nghi vệ sang trọng như chỗ giường ngủ của thiên tử, để xem Trạng có dám ngồi đó không.Khi sắp yến tiệc họ đưa trạng và phó sứ dạo thăm cung điện rồi mới đưa đến đấy. Trạng bèn bảo phó sứ cùng ngồi lên sập thất bảo. Thấy vậy, quan Minh ra hoạch:- Cớ sao sứ thần lại ngược ngạo, vô lễ đến như vậy? Không trông lên trên kia xem, chỗ này là chỗ gì?Trạng ta bình thản:- Dám thưa, ngài lấy cớ gì cho sứ thần tôi là ngạo? Biển đề hai chữ Kính Thiên, chiết tự ra là kính nhị nhân (chữ thiên là giời, tách ra là hai chữ nhị nhân là hai người) thực hẳn là ý bản quốc muốn đem cái ngôi này mà hậu đãi sứ thần xa lại. Ngài dạy thế chúng tôi quyết không chịu. Vả nghe cổ nhân có nói: “Đãi người phương xa cốt lấy bụng thực”. Tôi nghe Thánh triều lấy thành tín đãi người ngoại quốc. Thế mà sứ giả nước xa tới lại đem cái bụng trí thuật làm oai. Tôi sợ người ta nghe tiếng dẫu có lòng thực hướng mộ, cũng sinh nghi mà không lại nữa.Viên quan nhà Minh thấy trạng nói chẻ hoe như đã rõ gan một từ trước, vội vàng:- Xin quý ngài xá lỗi. Nghĩ là buổi ban đầu, thử xem ngài có phải là bậc tài giỏi không thôi. Nhưng quý ngài quả là bậc thông minh, đã giỏi mà biết trước được như thế còn hề chi?Trong thời gian ở Trung Quốc ông lập được nhiều công lớn, nhất là việc dạy hoàng tử học, được vua Minh rất đỗi quý phục phong ông là Lưỡng quốc Trạng nguyên.Song vì ông sinh ra trong nhà bán thịt lợn, tên là Trư và gọi là Lợn, đã là lợn thì phải học dốt. Dân mới bịa ra chuyện rằng thày dạy “Thiên tích thông minh, thánh phù công dụng”, ông đọc ra “thiên tích thong manh, thánh nằm chỏng gọng”...Thế mà đỗ Trạng nên mọi chuyện gặp may được bịa ra như bia “hạ mã” ông đọc là “bất yên” thì tự dưng trong làng có đám cháy, con gái Bùi tướng công tên là Phấn ra vế đối “bát đao phân mễ phấn” ông không đối được mới chép vào bảo lúc thi đỗ sẽ đối, vào triều đề thi là “thiên lý trọng kim chung”, ông đem đối vào rồi lại đem vế ấy về đối ở nhà Bùi tướng công, hay tuyệt vừa đỗ Trạng vừa được vợ, rồi chuyện cầu mưa, xử kiện, xem bói, đối chữ ở Trung Quốc... thảy đều gặp những sự may mắn, trùng hợp đến lạ lùng.Nghệ sỹ dân gian nào đó đã chép thành chuyện Trạng Lợn mà ta thường đọc. Cực đoan hơn nữa, ở Hà Nam có hẳn sách Trạng Lợn dài 18 hồi theo kiểu chương hồi Tam Quốc chí.
Trạng Lường Lương Thế Vinh

  



Trạng nguyên Lương Thế Vinh tên tự là Cảnh Nghị, tên hiệu là Thụy Hiên sinh ngày 1 tháng 8 năm Tân Dậu 1441 tại làng Cao Hương, nay là thôn Cao Phương xã Liên Bảo huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định. Từ nhỏ Lương Thế Vinh đã nổi tiếng là thần đồng, thông minh, nhanh trí. Lớn lên ông học rất giỏi, chưa đầy hai mươi tuổi tài học của ông đã vang danh khắp vùng Sơn Nam. Lương Thế Vinh đỗ Trạng nguyên vào khoa thi năm Quý Mùi 1463 niên hiệu Quang Thuận thứ 4 dưới triều Lê Thánh Tông khi ông mới 23 tuổi. Sau khi đỗ Trạng nguyên, ông được bổ làm quan ở Hàn lâm viện, thăng đến chức Hàn Lâm Thị thư chưởng Hàn lâm Viện sự, đứng đầu viện Hàn lâm.
Trạng nguyên Lương Thế Vinh là một danh nhân lớn của Việt Nam và cũng chính là nhà toán học đầu tiên của đất nước ta. Chính vì thế, nên dù ông còn là một nhà Phật học, một nhà thơ xuất sắc trong 28 nhà thơ của Hội Tao Đàn do Vua Lê Thánh Tông lập năm 1495, dân gian thường gọi ông là Trạng Lường vì ông rất giỏi trong việc tính toán và đo lường. Cùng với những sự kiện đã được lưu danh trong chính sử, rất nhiều câu chuyện được lưu truyền trong dân gian đã thể hiện tài toán học hiếm có của ông như ngay từ thuở nhỏ, trong lúc học, thần đồng Lương Thế Vinh luôn biết kết hợp rất khéo giữa chơi và học, vừa thoải mái nhưng lại đạt kết quả cao. Lúc thả diều, thì rung dây diều để tính toán, ước lượng chiều dài, chiều cao. Khi câu cá, tìm hiểu đời sống các sinh vật, ước tính đo lường chiều sâu ao hồ, chiều rộng sông ngòi và kiểm tra lại bằng thực nghiệm. Cậu bé Lương Thế Vinh còn nghĩ ra cách đo bóng cây mà suy ra chiều dài của cây. Về sự sáng tạo của Lương Thế Vinh hồi nhỏ, có giai thoại kể rằng một lần trong lúc đang chơi bóng với các bạn, quả bóng lăn xuống một hố hẹp và sâu, tưởng như không lấy lên được. Lương Thế Vinh đã nghĩ ra cách lấy bóng lên bằng việc đổ nước vào hố và lợi dụng việc bóng nổi trên nước để lấy lại quả bóng.
Sự sáng tạo khoa học của Lương Thế Vinh còn được truyền khẩu qua câu chuyện ông tiếp đón sứ nhà Minh là Chu Hy. Hy đã nghe nói về Lương Thế Vinh, không những nổi tiếng về văn chương âm nhạc, mà còn tinh thông toán học, nên thách đố Vinh cân một con voi. Lương Thế Vinh đưa voi lên một chiếc thuyền rồi đánh dấu mép nước bên thuyền, sau đó dắt voi lên. Tiếp theo, ông ra lệnh đổ đá hộc xuống thuyền, cho đến lúc thuyền chìm xuống đến đúng dấu cũ. Việc còn lại là đưa từng viên đá lên cân và cộng kết quả. Chu Hy thán phục ông nhưng tiếp tục đố ông đo bề dày của một tờ giấy xé ra từ một quyển sách. Khi nghe ông nói chỉ cần đo bề dày cả cuốn sách rồi chia đều cho số tờ là ra ngay kết quả, Chu Hy ngửa mặt lên trời than: “Nước Nam quả có lắm người tài!”.
Nổi tiếng với tài tính toán nhanh và chính xác, Lương Thế Vinh đã để lại cho đời sau bộ sách “Đại thành Toán pháp” (bộ sách được sử dụng trong giáo dục Việt Nam từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX) và chế ra thước đo ruộng, diện tích tính đất đai. Lương Thế Vinh đã viết đề tựa, nêu mục đích của cuốn sách như sau: “ Trước thời cho biết cách đo lường. Tính toán bình phân ở cửu chương. Thông hay mọi nhẽ điều vinh hiển. Học lấy cho tinh giúp thánh vương!”
Với niềm tiếc thương một tài hoa, một nhân cách lớn nên  ngay đầu thế kỷ XVI, sau khi ông mất một thời gian, Đền thờ Trạng nguyên Lương Thế Vinh, còn gọi là Đền Ông Trạng đã được xây dựng trên nền nhà cũ gia đình ông trước đây. Di tích chính ở đây có ba lớp nối tiếp nhau, phía ngoài cùng đối diện với sân gạch là cung đệ tam. Công trình có ba gian, bốn mái với các góc đao uốn cong mềm mại tạo nên một sự thanh thoát cho kiến trúc. Toàn bộ cung đệ tam không có tường để trống bốn mặt làm cho công trình rất thoáng đãng. Hai dãy giải vũ nằm trước cung đệ tam, đối diện với sân đền và quay mặt vào nhau. Mỗi dãy có ba gian, phía sau và hai bên xây tường bít đốc, đằng trước không có cửa, kết cấu rất đơn giản và thoáng mát. Cung đệ nhất và đệ nhị tiếp liền mái với nhau, mỗi cung cũng gồm có ba gian. Các kiến trúc ngôi đền không lớn nhưng mỗi bộ phận đã tạo nên sự hoàn chỉnh cho cả tổng thể công trình. Suốt năm thế kỷ qua, kể từ khi xây dựng cho đến nay, ngôi đền đã được sửa chữa nhiều lần nhưng vẫn bảo lưu và giữ được những phong cách kiến trúc truyền thống của dân tộc. Ngôi đền đã được nhiều nhà khoa bảng đến thăm viếng, đề thơ ca ngợi, làm câu đối cúng. Từ thời Lê đến thời Nguyễn đã có nhiều vị đại khoa như Tiến sĩ Đỗ Quang Dần, Tiến sĩ Phạm Đạo Phú, Hoàng giáp Tam Đăng Phạm Văn Nghị, Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyễn đã đến và bày tỏ niềm tiếc thương, tưởng nhớ. Ngày nay, không chỉ trong dịp lễ hội tháng tám âm lịch kỷ niệm ngày sinh và ngày mất của Quan Trạng mà quanh năm thường xuyên có nhiều đoàn khách suốt từ Nam tới Bắc đến viếng thăm.
Niềm tiếc thương, ngưỡng vọng của nhân dân chính là sự tôn vinh cao nhất về cuộc đời, nhân cách, sự nghiệp của Trạng Lường. Trong lịch sử nước Nam, nhân tài không bao giờ thiếu, mỗi thời kì đều có hiền tài xuất hiện phò tá những bậc minh quân, có thể là quan văn hoặc quan võ, nhưng một đặc điểm chung ở họ là ý chí vươn lên trong học tập và lòng trung quân ái quốc. Trạng Lường Lương Thế Vinh là một bậc kỳ tài hiếm có và lòng ham học, tinh thần say mê, học hỏi không ngừng của ông mãi mãi là gương sáng cho đời đời con cháu nối tiếp. Hình ảnh của cậu bé ham thả diều trên cánh đồng làng, sau trở thành một vị đại quan, rồi được tôn vinh là Phúc Thần làng Hương sẽ luôn là động lực, chắp cánh ước mơ cho tất cả con cháu họ Lương nói riêng, thế hệ trẻ thôn Cao Phương cũng như toàn thể đất nước Việt Nam nói chung. Những câu chuyện về thần đồng đất Việt Lương Thế Vinh, những giai thoại về Trạng Lường vốn truyền miệng qua nhiều đời trong dân gian, nay vẫn tiếp tục được các bậc cha mẹ, thầy cô giáo kể hàng ngày, cũng như xuất bản trong nhiều sách, truyện, để có triệu triệu trẻ em Việt Nam được đọc, được học và từ đó không ngừng học hỏi, phấn đấu, để cùng nhau viết tiếp một ước mơ: đưa trí tuệ Việt tỏa sáng khắp năm châu.
          Cuộc đời, sự nghiệp của Trạng Lường Lương Thế Vinh đã trở thành niềm tự hào sâu sắc của nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân Nam Định nói riêng. Tại xứ Nam đất học, đất văn có nhiều con đường, ngôi trường, quỹ khuyến học, giải thưởng được tự hào vinh danh bậc kỳ tài đất Việt. Đó chính là cách để thể hiện sự tưởng nhớ đến ông, cũng là thế hệ sau tự nhắc nhở mình phải sống, học tập và cống hiến sao cho xứng đáng với truyền thống tổ tông.                                                                                                                                                                                                                                                                                       T/h: Lê Trang
Giai thoại về Lương Thế Vinh (Trạng Lường)


Thần đồng- Thần chú
Lương Thế Vinh tên tự là Cảnh Nghị, tên hiệu là Thuỵ Hiên, ông sinh năm 1411 tại Cao Hương, huyện Thiên Bản (nay là huyện Vụ Bản - Nam Định).
Từ bé Lương Thế Vinh đã nổi tiếng trong việc học, việc chơi. Vinh học rất mau thuộc, mau hiểu, mà chơi cũng rất tài tình. Cậu rất thích thả diều, câu cá, bẫy chim cùng với các trẻ chăn trâu. Khi thả diều, diều của Vinh thường vẫn lên cao hơn, có hình dáng khác lạ và có tiếng kêu trầm bổng, rất du dương vui tai, người lớn cũng say mê lắng nghe.
Cùng đi câu cá với bạn bè, nhưng bao giờ cậu cũng được nhiều cá hơn. Nhìn chiếc bẫy người lớn bẫy chuột, cậu liền nghĩ ra chiếc bẫy nhỏ xíu để bẫy chim chả khá tinh vi làm người lớn phải ngạc nhiên, thán phục.
Người thời đó gọi cậu là "thần đồng", tiếng dùng để chỉ những người giỏi như thần ở tuổi nhi đồng. Nhưng bọn trẻ chả hiểu "thần đồng" là gì. Chúng ngỡ Lương Thế Vinh hay câu cá, thả diều, bẫy chim, chăn trâu ngoài đồng nên người ta gọi là "thần" ở ngoài "đồng". Rồi một chuyện sau đây xảy ra, khiến bọn trẻ tưởng cậu là "thần thánh" thực sự.
Hôm đó, cậu đem một trái bưởi ra bãi tha ma (chỗ bạn bè thả trâu) làm quả bóng để các bạn cùng chơi. Bỗng quả bưởi lăn xuống một trong những cái hố bên mép bãi người ta đào để ngăn trâu bò khỏi phá lúa. Cái hố rất hẹp lại rất sâu không xuống mà cũng không với tay lấy lên được. Bọn trẻ tưởng thế là mất đồ chơi. Nhưng Lương Thế Vinh nghĩ một lát, rồi mới hớn hở rủ bạn đi mượn vài chiếc gầu giai đi múc nước đổ xuống hố. Bọn trẻ không hiểu Vinh làm thế để làm gì. Nhưng lát sau thấy Vinh cúi xuống cầm quả bưởi lên, chúng rất sửng sốt phục tài Vinh.
Từ đó trẻ con trong làng truyền nhau rằng Lương Thế Vinh là thần, có một câu "thần chú" hay lắm, có thể gọi được những vật vô tri như quả bưởi lại với mình.
Thực ra thì Vinh trèo cây hái bưởi bên bờ ao, sẩy tay cậu làm rơi quả bưởi xuống nước tưởng mất. Nhưng khi nhìn thấy bưởi nổi trên mặt ao, Vinh đã lấy cành tre khều vào và đem ra bãi chơi. Lúc quả bưởi lăn xuống hố, cậu đã chợt nhớ lại và nghĩ ra cách lấy nước đổ xuống cho bưởi nổi lên. Vốn thích thơ ca, hò, vè nên trong khi cúi xuống chờ bưởi, cậu vui miệng đọc lẩm nhẩm:
Bưởi ơi bưởi
Nghe tao gọi
Lên đi nào
Đừng quên lối
Đừng bỏ tao...
Và bọn trẻ cứ nghĩ rằng Vinh đọc "thần chú".
Chơi mà học - học mà chơi
Lương Thế Vinh là người biết kết hợp rất khéo giữa chơi và học, nên từ nhỏ Vinh học rất thoải mái và lại đạt kết quả cao.
Khác với những người khá "dùi mài kinh sử", học như con vẹt chỉ biết thuộc nhiều, không cần hiểu, không cần sáng tạo. Vinh học đến đâu, hiểu đến đấy, học một mà biết mười. Khi đã ngồi học thì tập trung tư tưởng rất cao, luôn muốn thực nghiệm những điều đã học vào đời sống. Trong khi vui chơi như câu cá, thả diều, bẫy chim, Vinh luôn kết hợp với việc học. Lúc thả diều, Vinh rung dây diều để tính toán, ước lượng chiều dài, chiều cao. Khi câu cá, Vinh tìm hiểu đời sống các sinh vật, ước tính đo lường chiều sâu ao hồ, chiều rộng sông ngòi... và kiểm tra lại bằng thực nghiệm. Vinh nghĩ ra cách đo bóng cây mà suy ra chiều dài của cây.
Người đời còn truyền lại câu chuyện sau đây:
Dạo đó, Lương Thế Vinh và Quách Đình Bảo là hai người nổi tiếng vùng Sơn Nam (Thái Bình- Nam Định bây giờ) về thông minh, học giỏi. Một hôm, sắp đến kỳ thi, Lương Thế Vinh tìm sang làng Phúc Khê bên Sơn Nam hạ để thăm Quách Đình Bảo, toan bàn chuyện cùng lên kinh ứng thí.
Đến làng, Vinh ghé một quán nước nghỉ chân. Tại đây Vinh nghe người ta nói là Quách Đình Bảo đang ngày đêm dùi mài kinh sử quên ngủ, quên ăn. Chắc chắn kỳ này Bảo phải đứng đầu bảng vàng. Vinh cười nói:
- Kỳ thi đến nơi mà còn chúi đầu vào quyển sách, cố tụng niệm thêm vài chữ. Vậy cũng gọi là biết học ư? Ta có đến thăm cũng chẳng có gì để bàn bạc - Vinh nói thế rồi bỏ ra về.
Quách Đình Bảo nghe được chuyện trên, gật gù:
- Người đó hẳn là Lương Thế Vinh, ta phải đi tìm mới được!
Thế là Bảo chuẩn bị khăn gói, tìm đến Cao Hương thăm Vinh. Chắc mẩm đến nhà sẽ gặp ngay Vinh đang đọc sách, nhưng Vinh đi vắng, người nhà bảo Vinh đang chơi ngoài bãi.
Quách Đình Bảo ra bãi tìm, quả thấy Vinh đang thả diều, chạy chơi cùng bạn bè, rất ung dung thư thái. Bảo phục lắm tự nói với mình: "Người này khôi ngô tuấn tú, phong thái ung dung, ta có học mấy cũng không thể theo kịp".
Quả nhiên sau đó, khoa Quý Mùi năm Quang Thuận thứ tư, đời vua Lê Thánh Tông (1463) Lương Thế Vinh đỗ Trạng nguyên (đỗ đầu), Quách Đình Bảo đỗ Thám hoa (đỗ thứ 3). Năm ấy Lương Thế Vinh mới hăm hai tuổi.
Cân Voi to - đo giấy mỏng
Ngày xưa, vua quan Trung Quốc thường cậy thế nước lớn, coi thường nước ta, cho nước ta là man di, mọi rợ. Về tinh thần bất khuất của cha ông ta thì chúng đã được nhiều bài học. Nhưng về mặt khoa học thì chúng chưa phục lắm.
Một lần sứ nhà Thanh là Chu Hy sang nước ta, vua Thánh Tông sai Lương Thế Vinh ra tiếp. Hy nghe đồn Lương Thế Vinh không những nổi tiếng về văn chương âm nhạc, mà còn tinh thông cả toán học nên mới hỏi:
- Có phải ông làm sách Đại thành toán pháp, định thước đo ruộng đất, chế ra bàn tính của nước Nam đó không?
Lương Thế Vinh đáp:
- Dạ, đúng thế!
Nhân có con voi rất to đang kéo gỗ trên sông, Chu Hy bảo:
- Trạng thử cân xem con voi kia nặng bao nhiêu!
- Xin vâng!
Dứt lời, Vinh xăm xăm cầm cân đi cân voi.
- Tôi xem chiếc cân của ông hơi nhỏ so với con voi đấy! - Hy cười nói.
- Thì chia nhỏ voi ra! Vinh thản nhiên trả lời!
- Ông định mổ thịt voi à? Cho tôi xin một miếng gan nhé!
Lương Thế Vinh tỉnh khô không đáp. Đến bến sông, trạng chỉ chiếc thuyền bỏ không, sai lính dắt voi xuống. Thuyền đang nổi, do voi nặng nên đầm sâu xuống. Lương Thế Vinh cho lính lội xuống đánh dấu mép nước bên thuyền rồi dắt voi lên. Kế đó trạng ra lệnh đổ đá hộc xuống thuyền, thuyền lại đầm xuống dần cho tới đúng dấu cũ thì ngưng đổ đá.
Thế rồi trạng bắc cân lên cân đá. Trạng cho bảo sứ nhà Thanh:
- Ông ra mà xem cân voi!
Sứ Tàu trông thấy cả sợ, nhưng vẫn tỏ ra bình tĩnh coi thường. Khi xong việc, Hy nói:
- Ông thật là giỏi! Tiếng đồn quả không ngoa! Ông đã cân được voi to, vậy ông có thể đo được tờ giấy này dày bao nhiêu không?
Sứ nói rồi xé một tờ giấy bản rất mỏng từ một cuốn sách dày đưa cho Lương Thế Vinh, Hy lại đưa luôn một chiếc thước.
Giấy thì mỏng mà li chia ở thước lại quá thô, Vinh nghĩ giây lát rồi nói:
- Ngài cho tôi mượn cuốn sách!
- Sứ đưa ngay sách cho Lương Thế Vinh với vẻ không tin tưởng lắm.
Lương Thế Vinh lấy thước đo cuốn sách, tính nhẩm một lát rồi nói bề dày tờ giấy.
Kết quả rất khớp với con số đã viết sẵn ở nhà. Nhưng sứ chưa tin tài Lương Thế Vinh, cho là ông đoán mò. Khi nghe Vinh nói việc đo này rất dễ, chỉ cần đo bề dày cả cuốn sách rồi chia đều cho số tờ là ra ngay kết quả thì sứ ngửa mặt lên trời than: "Danh đồn quả không sai. Nước Nam quả có lắm người tài!"
Lương Thế Vinh quả là kỳ tài! Ông nghĩ ra cách cân đo tài tình ngay cả trong lúc bất ngờ, cần ứng phó nhanh chóng. Gặp vật to thì ông chia nhỏ, gặp vật nhỏ thì ông gộp lại. Phải chăng ý tưởng của Lương Thế Vinh chính là mầm mống của phép tính vi phân (chia nhỏ) và tích phân (gộp lại) mà ngày nay là những công cụ không thể thiếu được của toán học hiện đại.
Nên mừng hay nên lo
Lương Thế Vinh là một ông quan tài giỏi, thông thạo văn chương, giỏi giang âm nhạc, tinh tường toán pháp. Ông còn nổi tiếng về lòng mến dân và đức tính thẳng thắn, trung thực. Ngay đối với vua, ông cũng hay châm biếm khôi hài, không chịu câu thúc. Ông thường mượn việc để răn dạy từ vua đến quan.
Một hôm, lúc chầu trong triều, vua hớn hở nói với Vinh:
- Trẫm có nhiều con trai, việc thiên hạ không việc gì phải lo ngại nữa!
Lương Thế Vinh tâu:
- Lắm con trai là lắm giặc. Không lo sao được!
Vua lấy làm lạ hỏi:
- Ta không rõ sao lại thế?
Trạng tâu không úp mở:
- Ngôi báu chỉ có một. Bệ hạ có nhiều con trai càng có nhiều sự tranh giành ngôi báu. Như vậy phải lo lắm chứ!
Đúng như �sấm� của trạng. Sau đó con cháu nhà vua tranh giành ngôi thứ, chém giết lẫn nhau, gây cảnh �nồi da nấu thịt, cốt nhục tương tàn�, làm cho triều chính đổ nát, trăm họ lầm than. Chỉ ba chục năm sau khi Thánh Tông mất, Mạc Đăng Dung đã nhân cơ hội mà cướp ngôi nhà Lê.
Quan trạng hầu quan huyện
Lương Thế Vinh rất ghét những viên quan hống hách, hà hiếp nhân dân. Ông có nhiều học trò giỏi đỗ cao, làm quan lớn. Với học trò nào ông cũng dạy về lòng yêu dân, đức khiêm tốn. Có lần, một viên quan huyện hách dịch đã bị ông cho một bài học, làm trò cười cho thiên hạ.
Bữa ấy, ông đi thăm bạn bè, ngồi nghỉ chân ở quán nước bên đường. Bỗng thấy một đoàn rước quan huyện đi qua. Dân trong vùng đều biết viên quan này thường hay bắt người dọc đường khiêng cáng, bèn bảo nhau trốn chạy cả. Vì không biết lệ đó nên ông cứ ung dung ngồi nghỉ đến khi tên lính hầu của quan huyện bắt ra khiêng cáng.
Lương Thế Vinh khúm núm bước lại ghé vai khiêng cáng. Khi cáng quan đi đến chỗ bùn lội, ông làm như vô tình trượt chân văng cáng, hất quan huyện ngã chỏng gọng giữa vũng, áo, mũ, cân đai bê bết bùn.
Quan huyện đỏ tím mặt mày vì giận, đang toan định đổ cơn thịnh nộ lên đầu kẻ hầu hạ mình thì trạng vẫy người đi đường, nói lớn:
- Bác gọi hộ anh học trò tôi là thám hoa Văn Cát ra khiêng hầu võng quan huyện thay thầy.
Quan huyện xanh xám mặt mày, cuống quýt quỳ mọp xuống bùn lạy như bổ củi, xin quan trạng tha tội cho.
Lương Thế Vinh nhẹ nhàng lấy lời răn dạy, từ đó viên quan huyện chừa thói hống hách với dân.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32