ĐỊA LINH NHÂN KIỆT 63

(ĐC sưu tầm trên NET)

Trạng nguyên Đào Sư Tích
Ngày đăng: 

Trạng nguyên Đào Sư Tích là nhà khoa bảng tiêu biểu của nước ta dưới thời phong kiến, nhưng đến nay vẫn còn có những ý kiến bất đồng về quê hương và cuộc đời sự nghiệp của ông.
Trong các thư tịch cổ đã ghi chép rằng: “Đào Sư Tích người xã Cổ Lễ, huyện Tây Chân - nay là thị trấn Cổ Lễ, huyện Nam Ninh, tỉnh Hà Nam”. Có tài liệu nói ông người Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, trú quán xã Lý Hải, huyện Yên Lãng, nay là thôn Lý Hải, xã Phú Xuân, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Cha là Đào Toàn Mân giữ chức Tri thẩm hình viện sự (1387), Trạng nguyên khoa Giáp Dần niên hiệu Long Khánh 2 (1374) đời Trần Duệ Tông. Từ thi Hương đến thi Đình ông đều đỗ đầu, làm quan đến chức Nhập nội hành khiển. Dưới thời Hồ Quý Ly ông bị giáng chức Trung Thư thị lang, Đồng tri thẩm hình viện sự. Sau khi mất được phong phúc thần, gia phả ghi thọ 47 tuổi. Trước tác của ông có bài tựa sách Bảo hòa điện dư bút (của Trần Nhân Tông soạn, đã mất và một bài phú chép Quần hiền phú tập).
Trong quá trình sưu tầm, tập hợp tư liệu về các danh nhân khoa bảng của tỉnh Bắc Giang chúng tôi đã được tiếp xúc với một số tài liệu Hán Nôm liên quan đến Trạng nguyên Đào Sư Tích như sau:
Trong bia đá “Kim bảng lưu phương” dựng ở Văn miếu Bắc Ninh ghi danh 33 vị đỗ đạt từ khoa thi Hán học đầu tiên (1075) đến khoa thi Kỷ Sửu niên hiệu Quang Thuận thứ 10 (1469), Trạng nguyên Đào Sư Tích được ghi như sau: “Trạng nguyên Đào Sư Tích người xã Song Khê, huyện Yên Dũng, làm quan đến chức nhập nội hành khiển”.
Cũng ở Văn miếu Bắc Ninh, tấm bia phụ số 11 ghi danh các nhà khoa bảng của Kinh Bắc mà các tấm bia trước chép thiếu. Theo thứ tự Tiến sỹ Đào Toàn Mân (cha Trạng Nguyên Đào Sư Tích) được ghi như sau: “Tiến sỹ triều Trần Đào Toàn Mân, người xã Song Khê, huyện Yên Dũng. Cha của Trạng nguyên Đào Sư Tích, nhà ở xã Cổ Lễ, huyện Nam Chân. Làm quan chức tri thẩm hình viện. Thấy quốc sử ghi có đền thờ ở Nam Chân... thi đỗ Đệ giáp tiến sỹ khoa Đại Tỷ”.
Trong cuốn Gia phả Đào Văn xã Song Khê hiện do ông Đào Văn Bội, vị cao niên của dòng họ Đào ở Song Khê bảo quản có ghi như sau: “ngày tốt đầu tháng Giêng năm Ất Dậu niên hiệu Tự Đức, triều vua nhà Nguyễn (1885). Cháu đời thứ 6 là Đào Đức Bình kính cẩn ghi gia phả họ Đào, xã Song Khê, tổng Phúc Tằng, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang, tỉnh Bắc Ninh”. Và vị tổ được tính từ tiến sỹ Đào Toàn Mân: “Thượng thượng tổ có tên húy là Đào Toàn Mân thi đỗ Đệ nhị giáp tiến sỹ dưới triều Trần. Làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lễ, Tham tri thẩm hình viện sự. (Cụ) sinh ra Đào Công húy là Sư Tích, thi đỗ Đệ nhất giáp đệ nhất danh tiến sỹ cập đệ khoa thi Giáp Dần niên hiệu Long Khánh triều Trần (1374). Làm quan tới chức Thượng thư Bộ Lễ, Tư đồ đại hành khiển, sau được phong tước Mậu quốc công. Các cụ đều là bậc có sự nghiệp khoa danh từng được ghi trên bảng vàng bia đá để lưu truyền cho thế hệ sau...”.
Trong gia phả cũng ghi chép về mộ phần và ngày kỵ của Đào Toàn Mân và Đào Sư Tích: “Đời thứ 10, Cao cao tổ Đào công, húy tự là Toàn Mân, giỗ vào ngày mồng Mười tháng Mười hàng năm. Nay mộ táng tại xứ Đồng Mối địa phận xã Lịm Xuyên (cùng xã Song Khê ngày nay). Mộ nằm chỗ cao, vuông rộng chừng hơn một sào.
Đời thứ 9, Cao cao tằng tổ Đào công, húy tự là Sư Tích, giỗ ngày mồng Bốn tháng Chín hàng năm. Nay mộ táng tại xã Cổ Lễ, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định và vẫn còn một tòa văn từ ở đó”
Trong nhà thờ của dòng họ Đào Văn ở làng Song Khê, xã Song Khê, huyện Yên Dũng còn lưu hai câu đối:
- Song Khê miếu đường lưu vạn đại
Trần triều khoa giáp đệ nhất môn
- Khoa giáp thiên thu, gia phụ tử
Thanh danh vạn cổ, quốc quân thần
Con cháu họ Đào Song Khê còn được truyền lại nhiều mẩu chuyện về tổ tiên mình. Tư liệu dòng họ ghi lại rằng: cụ Đào Toàn Mân còn có tên là Đào Toàn Phú sinh năm 1380 tại làng Song Khê. Năm Giáp Tý (1324) thi đậu kỳ thi Hương. Khi đã 44 tuổi mới dự kỳ thi Thái học sinh khoa Đại Tỷ năm Nhâm Thìn, niên hiệu Thiệu Phong thứ 12 (1352) và đã đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ. Năm 1384 khi đang làm quan ở phủ Thiên Trường đã qua đời, thọ 76 tuổi.
Cụ Đào Sư Tích sinh năm 1348 tại làng Song Khê, khi cụ Đào Toàn Mân đỗ đạt ra làm quan ở phủ Thiên Trường (1352) một thời gian mới cho cụ Đào Sư Tích theo học. Cả ba kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình ông đều đỗ đầu. Năm 1381 được thăng làm quan chức Nhập nội hành khiển. Năm 1342 Hồ Quý Ly chuyên quyền, ông lại là trụ cột của triều đình lúc bấy giờ mà không phục họ Hồ nên bị giáng xuống làm quan Trung thư thị lang. Cũng năm ấy, triều Trần nắm bắt được âm mưu chuyên quyền của họ Hồ nên đã cử Đào Sư Tích lên vùng sơn địa xây dựng căn cứ để lánh nạn tại núi Tam Đảo (nay thuộc xã Lý Hải, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1394 ông được cử đi sứ nhà Nguyên. Hai năm sau (1496) ông mất tại đất Nguyên khi đang là sứ thần Đại Việt, thọ 49 tuổi. Sau khi mất nhà Nguyên cùng triều đình đưa thi hài ông về an táng ở xã Cổ Lễ, huyện Nam Ninh, Nam Định.
Dòng họ Đào còn lưu truyền một giai thoại rất thú vị về Tiến sỹ Đào Toàn Mân và Trạng Nguyên Đào Sư Tích. Chuyện kể rằng chính cụ Đào Toàn Mân từng được nhà giáo lỗi lạc Chu Văn An đề tặng là “Đại sư vô nhị” (Bậc thày có một không hai). Khi cụ Đào Sư Tích thi đỗ Trạng Nguyên, được vào bái yết hoàng thượng. Hoàng thượng hỏi rằng: Trần Trạng nguyên do ai dạy bảo? Sư Tích thưa rằng: Dạ do chính cha thần dạy dỗ... Hoàng thượng bèn cho vời cụ Đào Toàn Mân vào triều và khen là: “Phụ giáo tự đăng khoa” (Cha dạy con thi đỗ) rồi ra vế đối thử tài:
- Viên ngoại ba tiêu, vô phu quân, tứ thời hữu kết
(Cây chuối ngoài vườn, không có chồng, mà bốn mùa kết trái)
Tiến sỹ Đào Toàn Mân ứng đối ngay:
- Mộc tại nguyệt thiên, vô thổ bồi, bát nguyệt giai xuân

(Cây mọc ở cung trăng, không đất bồi, mà vẫn cứ tươi tốt).
Nghe xong, hoàng thượng hết sức ngợi khen và ban cho bức trướng đề 5 chữ: “Phụ tử đồng đăng khoa”. Cũng chính vì thế mà người đời vẫn gọi cụ Đào Toàn Mân là Trạng nguyên cũng vì sự kiện này. Bởi khoa thi ấy Sư Tích đỗ Trạng nguyên, mà vua ban cho con cùng thi đỗ nên mọi người hiểu rằng cụ Toàn Mân được phong danh vị ấy./.


Lưu Thúc Kiệm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lưu Thúc Kiệm (chữ Hán: 劉叔儉, ? - ?), người làng Trạm Lệ, huyện Gia Bình, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc (nay thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh), đỗ Trạng nguyên khoa tháng 8, Canh Thìn, năm Thánh Nguyên thứ 1 (1400), đời Hồ Quý Ly cùng 20 người khác đỗ thái học sinh, trong đó có Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên, Hoàng Hiến, Nguyễn Thành v.v. Những người đỗ thái học sinh có nêu tên này sau đều làm quan dưới triều đại Hậu Lê. Sử sách ghi chép rất ít về ông, chỉ biết rằng ông làm quan đến Hàn lâm trực học sĩ. Do giỏi văn từ biện bạch nên Hồ Quý Ly giao cho ông việc thảo các văn từ bang giao với các nước láng giềng.
Trạng nguyên Nguyễn Trực


Trong lịch sử khoa cử nước ta, số trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa kể tới hàng ngàn. Nhưng thật đáng tiếc, nhiều dấu tích của các trí thức lớn ấy lại mai một theo thời gian. May thay, từ đường của Trạng nguyên Nguyễn Trực - Trạng nguyên được ghi danh đầu tiên trên bia đá đề danh tiến sĩ tại văn miếu Quốc Tử Giám vẫn còn.
Câu nổi tiếng nhất đánh giá về kẻ sĩ Việt Nam có lẽ thuộc về Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung khi viết: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và vươn cao. Nguyên khí suy thì thế nước yếu và xuống thấp. Bởi vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ có mối quan hệ thật là quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Vì thế cái ý tôn trọng họ thật là vô cùng, nên đã ban ân sủng bằng khoa danh, lại gia thêm bằng tước trật, ơn ban cho đã lớn, vẫn còn cho là chưa đủ”. Đó là câu khắc trên bia đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại bảo thứ ba đời vua Lê Thánh Tông. Tại khoa thi năm 1442 này, tên tuổi của Trạng nguyên Nguyễn Trực được ghi đầu tiên.
Và cũng vẻ vang thời đại vua sáng sinh tôi hiền. Vua Lê Thánh Tông nổi tiếng là một trong những vị vua sáng nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam về việc xây dựng văn hoá dân tộc. Thời đại vua Lê Thánh Tông, Nho giáo phát triển thịnh trị. Luật Hồng Đức - một bộ luật khoa học và đầy tính nhân bản ra đời. Hiền tài liên tiếp nảy nở. Cùng với các văn thần vua cho lập Tao Đàn cùng xướng hoạ, luận bàn văn chương. Ở vào thời đại như vậy, Trạng nguyên Nguyễn Trực rất được trọng dụng, vì vậy, ông có điều kiện trổ tài kinh bang tế thế.


 Từ đường Trạng nguyên Nguyễn Trực ở làng Bối Khê
Trạng nguyên Nguyễn Trực tên chữ là Công Dĩnh, hiệu Hu Liêu. Ông sinh năm 1417, trong một dòng họ nối đời khoa bảng. Cụ nội ông là Nguyễn Tử Hữu từng giữ chức Hàn lâm viện thị giảng kiểm Thẩm hình viện sự triều Trần. Ông nội là Nguyễn Bính - Huấn đạo phủ Ứng Thiên, một người nổi tiếng tài ba đức độ. Thân sinh Trạng nguyên là Nguyễn Thời (Thì) Trung, một nhà thơ khá nổi tiếng đầu thời Lê, từng làm quan trong triều, nổi tiếng thanh liêm đạo đức... Phu nhân trạng nguyên Nguyễn Trực là bà Đỗ Thị Chừng - người làng Nghĩa Bang, phủ Quốc Oai.
Tương truyền, Nguyễn Trực từ bé đã nổi tiếng thần đồng. Mười tuổi đã đọc thông viết thạo Hán văn. Mười hai tuổi chỉ ham thích việc học. Mười tám tuổi đi thi Hương đã đỗ đầu. Năm 26 tuổi đỗ đầu thi Đình (Đệ nhất giáp, đệ nhất danh tiến sĩ) đứng đầu 33 tiến sĩ cùng khoá - cuộc thi do đích thân vua ra đề và chấm. Đến nay, bài thi đình của Nguyễn Trực được đánh giá là một trong những bài thi Đình hay nhất.
Làm quan, kinh qua nhiều chức vụ lớn, Nguyễn Trực luôn giữ được phẩm cách nhà Nho. Ông thanh cao đến nỗi vua Lê Nhân Tông sai vẽ hình ông để bên cạnh ngai vàng để tỏ ý không lúc nào quên. Còn vua Lê Thánh Tông thì kính trọng sai văn thần đem bộ sách “Thiên Nam dư hạ” đến tận nơi ở của ông để tiện “biên tập”...
Về danh vị “Lưỡng quốc trạng nguyên”, chuyện kể rằng: Khi đi sứ, bằng tài thơ phú và đối đáp, ông được vua Minh mến mộ và mời dự kỳ thi Đình. Không ngờ, ông lại đỗ đầu. Vì thế nên được vua nhà Minh phong “Lưỡng quốc trạng nguyên”. Lúc được vua giao tiếp sứ thần nhà Minh là Hoàng Gián, Nguyễn Trực đối đáp như thần, lại hạ bút họa ngay một lúc 50 vần thơ lưu biệt khiến sứ thần phương Bắc vô cùng thán phục... Dù làm quan to trong triều nhưng Nguyễn Trực mấy lần cáo quan muốn lui về vui thú điền viên nhưng không được. Đến khi ông mất, vua Lê Thánh Tông điếu rằng: “Đời dõi nho tông phát ấp bang; Trong đạo đức, có từ chương; Nối dòng thi lễ nhà truyền báu; Tranh giải khôi nguyên bảng chói vàng; Nam - Bắc hai triều danh vang; Phong lưu một cửa họ sang; Từ đường ở đấy niềm tây lạnh; Dấu cũ càng thơm xạ có hương”.
Tài năng và sự uyên bác của Nguyễn Trực được bộc lộ rõ nét trong những tác phẩm văn chương mà ông để lại. Những áng văn thơ của ông thường bộc lộ rõ những hoài bão và tình yêu thiết tha với quê hương đất nước. Khi tuổi đã xế chiều, ông có những bài thơ thể hiện niềm thương nhớ rất mực với đồng quê nơi ông đã sinh ra và khôn lớn.
Những tác phẩm Nguyễn Trực để lại cho hậu thế có thể kể đến: Sư Liêu tập, Ngu nhàn tập, Kinh nghĩa chư văn tân tập, Văn bia Mục Lăng, một số bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục, bài phú thi Hội mang tên Xuân đài phú và bài văn sách thi Đình (Đình đối sách văn).
Dưới thời Lê, đất nước thanh bình, thịnh trị. Nguyễn Trực bày tỏ ước mong một xã hội tốt đẹp có vua sáng tôi hiền như với thời vua Nghiêu, vua Thuấn. Trong Xuân đài phú (Bài phú đài xuân), Nguyễn Trực dùng biểu tượng Đài xuân để thể hiện niềm vui mừng trước cảnh thanh bình của đất nước. Theo ông, “đài này không nền, không móng, không dựng, không xây”, không cần phí công nện đắp, không cần muôn vàn của cải tiền tài. Nguyễn Trực cho rằng cơ sở để xây dựng Đài xuân cho đất nước, để có một nền thịnh trị lâu bền cần có vua sáng tôi hiền, “trăm quan tề tựu quanh vua đều có phong thái của bậc sĩ quân tử”. Trong bài luận thi Đình, ông cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc sử dụng nhân tài, phân biệt rạch ròi giữa kẻ tiểu nhân và bậc chính nhân quân tử.
“Ôi! quân tử và tiểu nhân luôn luôn tương phản. Đạo quân tử lớn mạnh thì đạo tiểu nhân tiêu hao, đạo quân tử tiêu hao thì đạo tiểu nhân lớn mạnh. Hai đạo đó như âm với dương, như ngày với đêm, không thể cùng vận hành; như băng trong với tro bụi, như hương thơm với uế khí, không thể chứa chung trong một vật. Cho nên người ở ngôi cao trong khi dùng người phải trung hòa, phải chuyên nhất, phải thử thách, phải thận trọng, như vậy mới có thể được”.
Sau này, khi về già, Nguyễn Trực thể hiện niềm mong muốn rất mực là được quay về thôn quê sống cuộc đời giản dị, tránh xa những tục lụy của cuộc đời làm quan nhiều bon chen chốn kinh thành.
Hà nhật Tây Sơn sơn hạ lộ,
Thoa y, tiểu lạp khán xuân canh.

(Bao giờ đến ngày đứng ở bên đường dưới núi Tây Sơn,
Mặc áo tơi, đội nón lá xem cày ruộng trong tiết xuân).

(Ngẫu thành)
Có thể nói, những áng thơ văn còn lại của Nguyễn Trực  tuy không nhiều nhưng cũng đủ để cho ta thấy ông là một học giả đầy uyên bác, một người trĩu nặng ưu tư với đất nước và tình yêu quê hương sâu nặng. Đánh giá về Nguyễn Trực, Thân Nhân Trung từng viết: “Khai quốc Trạng nguyên, văn chương vẻ vang trong nước, nổi tiếng một đời. Triều vua nào cũng được yêu chuộng, giữ việc văn hành, ở ngôi quán các, là người khiêm tốn, trước sau vẹn toàn”. Tự Đức trong Việt sử tổng vịnh khen là “Triều Lê lừng lẫy mấy ai tày”. Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí thì cho rằng thơ Nguyễn Trực “lời và ý đều tao nhã, đáng ưa”.
Là người con trung nghĩa vẹn toàn của Thăng Long, Nguyễn Trực được người dân đời đời ghi nhớ. Tên của ông được đặt cho một con phố ở Hà Nội và ngay tại quê hương Thanh Oai của ông cũng có một trường Trung học cơ sở mang tên ông - Trường THCS Nguyễn Trực.
Hiện nay, di tích Từ đường Trạng nguyên Nguyễn Trực - nơi nhà xưa của ông nằm ở làng Bối Khê, thôn Song Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai đã được trùng tu và được Bộ Văn hóa Thể thao du lịch trao bằng công nhận Di tích Lịch sử văn hoá cấp Quốc gia.
T.H

Lưỡng quốc trạng nguyên thứ hai của Việt Nam

Lịch sử khoa cử Nho học nước ta đã có 46 vị Trạng nguyên, trong đó, có 3 vị được phong là "Lưỡng quốc Trạng nguyên".

Lịch sử khoa cử Nho học nước ta đã có 46 vị Trạng nguyên, trong đó, có 3 vị được phong là "Lưỡng quốc Trạng nguyên". Thứ nhất là Mạc Đĩnh Chi, thứ hai là Nguyễn Trực, thứ ba là Nguyễn Đăng Đạo.


LƯỠNG QUỐC TRẠNG NGUYÊN SỐ 1 VIỆT NAM

(2015/2/10 16:5) - Nguồn:
 Đã từng là học sinh của trường chuyên Nguyễn Trực cách đây đã mấy chục năm, chỉ biết tên trường là một vị nho sĩ thời xưa. Giờ tôi mới biết cụ là lưỡng quốc trạng nguyên tài giỏi bậc nhất thời bấy giờ.
 
Lưỡng quốc trạng nguyên Nguyễn Trực vinh quy bái tổ - Nguồn: Nguoithanhoai.vn

Chúng tôi trong một ngày cuối đông 2015 đã cùng đoàn phóng sự của VTC10, về chùa Bối Khê và thăm tường đường của một trong những Lưỡng quốc Trạng nguyên giỏi nhất nước Việt thời xưa, cụ Nguyễn Trực. Không gian trầm ấm, chúng tôi được tiếp đón và vào thắp nén hương, tiếp chuyện với bà Nguyễn Trẩn 86 tuổi đời thứ 6 của dòng họ Nguyễn chăm non tường đường cụ Nguyễn Trực.

Mặt tiền tường đường cụ Nguyễn Trực - Nguồn: Nguoithanhoai.vn

Đứng đầu trong bia tiến sĩ Văn Miếu
 Nguyễn Trực (1417 - 1473) là vị Trạng nguyên đầu tiên trong lịch sử khoa cử Việt Nam. Khi đi sứ Trung Quốc, ông được các sĩ phu ở đây nể phục, xưng tặng là "lưỡng quốc Trạng nguyên".

Cụ Nguyên quán xã Bối Khê, huyện Thanh Oai. Nay là thôn Bối Khê, xã Tam Hưng huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (cũ). Năm 25 tuổi, đỗ Trạng nguyên khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo 3 (1442) đời Lê Thái Tông.

Bà Trẩn và Đoàn phóng sự VTC10 cùng cộng tác của Nguoithanhoai.vn

Cha của Nguyễn Trực là Nguyễn Thì Trung là người có học vấn cao, làm Giáo thụ Quốc Tử Giám dưới triều vua Lê Thái Tông. Gia đình tuy làm quan trong triều nhưng rất thanh bạch. Nhà nghèo, Nguyễn Trực thường phải vừa chăn trâu vừa treo sách sừng trâu học, không biết mỏi mệt. Mười hai tuổi giỏi văn, thơ.

Văn Bia tiến sĩ  đầu tiên khoa thi năm Nhâm Tuất (1442) có ghi danh Trạng Nguyên Nguyễn Trực - Nguồn: Nguoithanhoai.vn

Năm Thiệu Bình thứ nhất (1434), ở tuổi 17, Nguyễn Trực dự kỳ thi Hương và đỗ đầu (Giải nguyên). Năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ ba (1442), 25 tuổi, dự thi Đình, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên). Ông được nhà vua ban sắc "Quốc Tử Giám Thi thư" và thưởng Á Liệt Khanh, đứng đầu trong 33 vị Tiến sĩ cùng khoa.
Sử sách chép rằng: Nguyễn Trực sinh ra trong thời buổi loạn lạc, nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần. Cha của Nguyễn Trực lúc đó phải lánh nạn về phía tây ở Tiểu Đông Mộng - thôn Cây Thượng - xã Nghĩa Hương - Quốc Oai - Hà Tây. Tại đây Nguyễn Thời Trung gặp và kết duyên với một phụ nữ tên là Đỗ Thị Chừng, sinh ra Nguyễn Trực ở Am Long Khôi - núi Phật tích thuộc địa phận xã Sài Sơn - Quốc Oai - Hà Tây ngày nay. Thấy ông còn ít tuổi mà đã đăng quang, nên vua Lê Thái Tông ban cho ông yến tiệc của vườn Quỳnh, cưỡi bạch mã đi dạo quanh kinh đô Tràng An,...

Những cuốn sách tìm hiểu về Lưỡng quốc Trạng Nguyên - Nguồn: Nguoithanhoai.vn

Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, vua Lê ban mũ áo Trạng nguyên vinh quy về làng. Tên tuổi Nguyễn Trực về sau được đứng đầu trong bia Tiến sĩ đầu tiên (số 1) ở Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội).

Ngày 3/5/1442, cha ông qua đời, Nguyễn Trực phải về chịu tang. Năm Giáp Tý niên hiệu Thái Hòa (1444) dưới triều Lê Nhân Tông, được nhà vua ban chức "Triều nghi đại phu Hàn lâm viện học sĩ". Năm Ất Sửu niên hiệu Thái Hòa (1445) được đổi lại thành "Thiếu trung khanh đại phu", Ngự sử đài ngự sử thị Đô úy". Nhưng Nguyễn Trực đã dâng biểu từ chối, khiến vua Lê phải ra sắc dụ tới ba lần ông mới chịu nhận.

Danh sách các quan Tế tửu và Tư nghiệp Quốc tử Giám, trong đó có Nguyễn Trực - Nguồn: Nguoithanhoai.vn

Muốn nhà Minh biết tài học của dân ta

Sau ông được vua cử làm Chánh sứ sang nhà Minh, gặp kỳ thi Đình, Trạng nguyên Nguyễn Trực cùng với Phó sứ là Trịnh Thiết Trường muốn cho nhà Minh biết đến tài học của dân ta, nên xin dự thi được vua Minh chấp nhận cho phép dự thi, khi vào thi cũng phải chấp hành nội quy trường thi như các thí sinh khác, khi chấm thi xong, khớp phách kết quả: Nguyễn Trực đậu Trạng nguyên, Trịnh Thiết Trường đậu Bảng nhãn, vua nhà Minh phải khen ngợi: "Đất nào cũng có nhân tài" và phong cho Nguyễn Trực là "Lưỡng quốc Trạng nguyên".

Bên trong tường đường Cụ - Nguồn: Nguoithanhoai.vn

Trở về nước, cả hai ông đều được nhà vua phong chức Thượng thư và ban thưởng tám chữ vàng "Thành công danh Nam Bắc triều biên ngã" (công danh cả hai nước đều hoàn thành).

Năm Giáp Tuất (1454), mẹ ông qua đời, ông xin cáo quan về quê chịu tang. Hằng ngày đọc sách và làm thuốc không biết mỏi, ông còn mở trường dạy học, các học sĩ bốn phương đến theo học rất đông, có tới hàng nghìn. Nhiều bậc cự nho, danh sĩ khoa bảng đều từng là học trò của Trạng nguyên Nguyễn Trực trong thời gian ông ở quê chịu tang mẹ.

Từ đường Lưỡng quốc Trạng Nguyên và nhà thờ họ - Nguồn: Nguoithanhoai.vn

Năm Đinh Sửu niên hiệu Diên Ninh thứ ba (1457), tháng 6 mãn tang mẹ, sứ nhà Minh sang, vua vời ông về kinh giữ việc tờ bồi qua lại với sứ nhà Minh. Ông họa thơ lưu biệt sứ Minh 50 vận, làm vẻ vang cho quốc thể.

Sứ Minh, Hoàng Gián một mực thán phục văn chương uyên bác, tài trí hơn người của Nguyễn Trực. Vua Nhân Tông sai trung sứ cùng thợ vẽ tới nhà Nguyễn Trực vẽ truyền thần, để bên cạnh chỗ ngồi của vua, để tỏ rằng vua yêu dấu không lúc nào quên được.

Bàn thờ chính điện cụ Nguyễn Trực - Nguồn: Nguoithanhoai.vn 

Sau này, khi về già, Nguyễn Trực thể hiện niềm mong muốn rất mực là được quay về thôn quê sống cuộc đời giản dị, tránh xa những tục lụy của cuộc đời làm quan nhiều bon chen chốn kinh thành:

Hà nhật Tây Sơn sơn hạ lộ,
Thoa y, tiểu lạp khán xuân canh.

(Bao giờ đến ngày đứng ở bên đường dưới núi Tây Sơn,
Mặc áo tơi, đội nón lá xem cày ruộng trong tiết xuân).

(Ngẫu thành)
Trang sách về cụ Nguyễn Trực - Nguồn: Nguoithanhoai.vn

Khi vua Lê Nhân Tông bị bọn Nghi Dân giết chết, Nguyễn Trực thảo văn tế, lời lẽ thống thiết, kể hết công đức của tiên đế. Vua Lê Thánh Tông lên ngôi vua năm 1460, Nguyễn Trực càng được yêu quý. Vua cho người đem bộ Thiên nam du hạ tập đến tận nhà của Nguyễn Trực để Nguyễn Trực đọc và phẩm bình, đủ biết nhà vua quý trọng ông đặc biệt như thế nào! Năm đầu Quang Thuận (1460) Nguyễn Trực được bổ Tuyên phụng đại phu, Trung thư lệnh, ở hàng văn quan rất to. Mấy lần ông xin về quê, nhà vua không cho về.

Ông mất vào năm Hồng Đức thứ 4 (1474), thọ 57 tuổi. Tên tuổi của Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực mãi mãi là dấu son chói lọi trong lịch sử văn hiến Việt Nam.

Trường chuyên Nguyễn Trực Thanh Oai - Nguồn: Nguoithanhoai.vn

Là người con trung nghĩa vẹn toàn của Thăng Long, Nguyễn Trực được người dân đời đời ghi nhớ. Tên của ông được đặt cho một con phố ở Hà Nội và ngay tại quê hương Thanh Oai của ông cũng có một trường Trung học cơ sở mang tên ông - Trường THCS Nguyễn Trực.

Di tích lịch sử quốc gia - Nguồn: Nguoithanhoai.vn

Hiện nay, di tích Từ đường Trạng nguyên Nguyễn Trực - nơi nhà xưa của ông nằm ở làng Bối Khê, thôn Song Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai đã được trùng tu và được Bộ Văn hóa Thể thao du lịch trao bằng công nhận Di tích Lịch sử văn hoá cấp Quốc gia.

Thùy Dương - Thanh Oai

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32