ĐỊA LINH NHÂN KIỆT 63
(ĐC sưu tầm trên NET)
Trạng nguyên Đào Sư Tích
Ngày đăng:
Trạng nguyên Đào Sư Tích là nhà khoa bảng tiêu biểu của nước ta dưới thời phong kiến, nhưng đến nay vẫn còn có những ý kiến bất đồng về quê hương và cuộc đời sự nghiệp của ông.
Trạng nguyên Đào Sư Tích
Ngày đăng:
Trạng nguyên Đào Sư Tích là nhà khoa bảng tiêu biểu của nước ta dưới thời phong kiến, nhưng đến nay vẫn còn có những ý kiến bất đồng về quê hương và cuộc đời sự nghiệp của ông.
Trong
các thư tịch cổ đã ghi chép rằng: “Đào Sư Tích người xã Cổ Lễ, huyện
Tây Chân - nay là thị trấn Cổ Lễ, huyện Nam Ninh, tỉnh Hà Nam”. Có tài
liệu nói ông người Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, trú quán xã
Lý Hải, huyện Yên Lãng, nay là thôn Lý Hải, xã Phú Xuân, huyện Tam Đảo,
tỉnh Vĩnh Phúc. Cha là Đào Toàn Mân giữ chức Tri thẩm hình viện sự
(1387), Trạng nguyên khoa Giáp Dần niên hiệu Long Khánh 2 (1374) đời
Trần Duệ Tông. Từ thi Hương đến thi Đình ông đều đỗ đầu, làm quan đến
chức Nhập nội hành khiển. Dưới thời Hồ Quý Ly ông bị giáng chức Trung
Thư thị lang, Đồng tri thẩm hình viện sự. Sau khi mất được phong phúc
thần, gia phả ghi thọ 47 tuổi. Trước tác của ông có bài tựa sách Bảo hòa
điện dư bút (của Trần Nhân Tông soạn, đã mất và một bài phú chép Quần
hiền phú tập).
Trong
quá trình sưu tầm, tập hợp tư liệu về các danh nhân khoa bảng của tỉnh
Bắc Giang chúng tôi đã được tiếp xúc với một số tài liệu Hán Nôm liên
quan đến Trạng nguyên Đào Sư Tích như sau:
Trong
bia đá “Kim bảng lưu phương” dựng ở Văn miếu Bắc Ninh ghi danh 33 vị đỗ
đạt từ khoa thi Hán học đầu tiên (1075) đến khoa thi Kỷ Sửu niên hiệu
Quang Thuận thứ 10 (1469), Trạng nguyên Đào Sư Tích được ghi như sau:
“Trạng nguyên Đào Sư Tích người xã Song Khê, huyện Yên Dũng, làm quan
đến chức nhập nội hành khiển”.
Cũng
ở Văn miếu Bắc Ninh, tấm bia phụ số 11 ghi danh các nhà khoa bảng của
Kinh Bắc mà các tấm bia trước chép thiếu. Theo thứ tự Tiến sỹ Đào Toàn
Mân (cha Trạng Nguyên Đào Sư Tích) được ghi như sau: “Tiến sỹ triều Trần
Đào Toàn Mân, người xã Song Khê, huyện Yên Dũng. Cha của Trạng nguyên
Đào Sư Tích, nhà ở xã Cổ Lễ, huyện Nam Chân. Làm quan chức tri thẩm hình
viện. Thấy quốc sử ghi có đền thờ ở Nam Chân... thi đỗ Đệ giáp tiến sỹ
khoa Đại Tỷ”.
Trong
cuốn Gia phả Đào Văn xã Song Khê hiện do ông Đào Văn Bội, vị cao niên
của dòng họ Đào ở Song Khê bảo quản có ghi như sau: “ngày tốt đầu tháng
Giêng năm Ất Dậu niên hiệu Tự Đức, triều vua nhà Nguyễn (1885). Cháu đời
thứ 6 là Đào Đức Bình kính cẩn ghi gia phả họ Đào, xã Song Khê, tổng
Phúc Tằng, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang, tỉnh Bắc Ninh”. Và vị tổ được
tính từ tiến sỹ Đào Toàn Mân: “Thượng thượng tổ có tên húy là Đào Toàn
Mân thi đỗ Đệ nhị giáp tiến sỹ dưới triều Trần. Làm quan đến chức Thượng
thư Bộ Lễ, Tham tri thẩm hình viện sự. (Cụ) sinh ra Đào Công húy là Sư
Tích, thi đỗ Đệ nhất giáp đệ nhất danh tiến sỹ cập đệ khoa thi Giáp Dần
niên hiệu Long Khánh triều Trần (1374). Làm quan tới chức Thượng thư Bộ
Lễ, Tư đồ đại hành khiển, sau được phong tước Mậu quốc công. Các cụ đều
là bậc có sự nghiệp khoa danh từng được ghi trên bảng vàng bia đá để lưu
truyền cho thế hệ sau...”.
Trong
gia phả cũng ghi chép về mộ phần và ngày kỵ của Đào Toàn Mân và Đào Sư
Tích: “Đời thứ 10, Cao cao tổ Đào công, húy tự là Toàn Mân, giỗ vào ngày
mồng Mười tháng Mười hàng năm. Nay mộ táng tại xứ Đồng Mối địa phận xã
Lịm Xuyên (cùng xã Song Khê ngày nay). Mộ nằm chỗ cao, vuông rộng chừng
hơn một sào.
Đời
thứ 9, Cao cao tằng tổ Đào công, húy tự là Sư Tích, giỗ ngày mồng Bốn
tháng Chín hàng năm. Nay mộ táng tại xã Cổ Lễ, huyện Nam Trực, tỉnh Nam
Định và vẫn còn một tòa văn từ ở đó”
Trong nhà thờ của dòng họ Đào Văn ở làng Song Khê, xã Song Khê, huyện Yên Dũng còn lưu hai câu đối:
- Song Khê miếu đường lưu vạn đại
Trần triều khoa giáp đệ nhất môn
- Khoa giáp thiên thu, gia phụ tử
Thanh danh vạn cổ, quốc quân thần
Con
cháu họ Đào Song Khê còn được truyền lại nhiều mẩu chuyện về tổ tiên
mình. Tư liệu dòng họ ghi lại rằng: cụ Đào Toàn Mân còn có tên là Đào
Toàn Phú sinh năm 1380 tại làng Song Khê. Năm Giáp Tý (1324) thi đậu kỳ
thi Hương. Khi đã 44 tuổi mới dự kỳ thi Thái học sinh khoa Đại Tỷ năm
Nhâm Thìn, niên hiệu Thiệu Phong thứ 12 (1352) và đã đỗ Đệ nhị giáp Tiến
sỹ. Năm 1384 khi đang làm quan ở phủ Thiên Trường đã qua đời, thọ 76
tuổi.
Cụ
Đào Sư Tích sinh năm 1348 tại làng Song Khê, khi cụ Đào Toàn Mân đỗ đạt
ra làm quan ở phủ Thiên Trường (1352) một thời gian mới cho cụ Đào Sư
Tích theo học. Cả ba kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình ông đều đỗ đầu. Năm
1381 được thăng làm quan chức Nhập nội hành khiển. Năm 1342 Hồ Quý Ly
chuyên quyền, ông lại là trụ cột của triều đình lúc bấy giờ mà không
phục họ Hồ nên bị giáng xuống làm quan Trung thư thị lang. Cũng năm ấy,
triều Trần nắm bắt được âm mưu chuyên quyền của họ Hồ nên đã cử Đào Sư
Tích lên vùng sơn địa xây dựng căn cứ để lánh nạn tại núi Tam Đảo (nay
thuộc xã Lý Hải, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1394 ông được cử đi
sứ nhà Nguyên. Hai năm sau (1496) ông mất tại đất Nguyên khi đang là sứ
thần Đại Việt, thọ 49 tuổi. Sau khi mất nhà Nguyên cùng triều đình đưa
thi hài ông về an táng ở xã Cổ Lễ, huyện Nam Ninh, Nam Định.
Dòng
họ Đào còn lưu truyền một giai thoại rất thú vị về Tiến sỹ Đào Toàn Mân
và Trạng Nguyên Đào Sư Tích. Chuyện kể rằng chính cụ Đào Toàn Mân từng
được nhà giáo lỗi lạc Chu Văn An đề tặng là “Đại sư vô nhị” (Bậc thày có
một không hai). Khi cụ Đào Sư Tích thi đỗ Trạng Nguyên, được vào bái
yết hoàng thượng. Hoàng thượng hỏi rằng: Trần Trạng nguyên do ai dạy
bảo? Sư Tích thưa rằng: Dạ do chính cha thần dạy dỗ... Hoàng thượng bèn
cho vời cụ Đào Toàn Mân vào triều và khen là: “Phụ giáo tự đăng khoa”
(Cha dạy con thi đỗ) rồi ra vế đối thử tài:
- Viên ngoại ba tiêu, vô phu quân, tứ thời hữu kết
(Cây chuối ngoài vườn, không có chồng, mà bốn mùa kết trái)
Tiến sỹ Đào Toàn Mân ứng đối ngay:
- Mộc tại nguyệt thiên, vô thổ bồi, bát nguyệt giai xuân
(Cây mọc ở cung trăng, không đất bồi, mà vẫn cứ tươi tốt).
Nghe xong, hoàng thượng hết sức ngợi
khen và ban cho bức trướng đề 5 chữ: “Phụ tử đồng đăng khoa”. Cũng
chính vì thế mà người đời vẫn gọi cụ Đào Toàn Mân là Trạng nguyên cũng
vì sự kiện này. Bởi khoa thi ấy Sư Tích đỗ Trạng nguyên, mà vua ban cho
con cùng thi đỗ nên mọi người hiểu rằng cụ Toàn Mân được phong danh vị
ấy./.Lưu Thúc Kiệm
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lưu Thúc Kiệm (chữ Hán: 劉叔儉, ? - ?), người làng Trạm Lệ, huyện Gia Bình, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc (nay thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh), đỗ Trạng nguyên khoa tháng 8, Canh Thìn, năm Thánh Nguyên thứ 1 (1400), đời Hồ Quý Ly cùng 20 người khác đỗ thái học sinh, trong đó có Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên, Hoàng Hiến, Nguyễn Thành v.v. Những người đỗ thái học sinh có nêu tên này sau đều làm quan dưới triều đại Hậu Lê.
Sử sách ghi chép rất ít về ông, chỉ biết rằng ông làm quan đến Hàn lâm
trực học sĩ. Do giỏi văn từ biện bạch nên Hồ Quý Ly giao cho ông việc
thảo các văn từ bang giao với các nước láng giềng.
| ||
|
Lưỡng quốc trạng nguyên thứ hai của Việt Nam
Lịch sử khoa cử Nho học nước ta đã có 46 vị Trạng nguyên, trong đó, có 3 vị được phong là "Lưỡng quốc Trạng nguyên".
Lịch
sử khoa cử Nho học nước ta đã có 46 vị Trạng nguyên, trong đó, có 3 vị
được phong là "Lưỡng quốc Trạng nguyên". Thứ nhất là Mạc Đĩnh Chi, thứ
hai là Nguyễn Trực, thứ ba là Nguyễn Đăng Đạo.

Cụ Nguyên quán xã Bối Khê, huyện Thanh Oai. Nay là thôn Bối Khê, xã Tam Hưng huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (cũ). Năm 25 tuổi, đỗ Trạng nguyên khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo 3 (1442) đời Lê Thái Tông.
Cha của Nguyễn Trực là Nguyễn Thì Trung là người có học vấn cao, làm Giáo thụ Quốc Tử Giám dưới triều vua Lê Thái Tông. Gia đình tuy làm quan trong triều nhưng rất thanh bạch. Nhà nghèo, Nguyễn Trực thường phải vừa chăn trâu vừa treo sách sừng trâu học, không biết mỏi mệt. Mười hai tuổi giỏi văn, thơ.
Năm Thiệu Bình thứ nhất (1434), ở tuổi 17, Nguyễn Trực dự kỳ thi Hương và đỗ đầu (Giải nguyên). Năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ ba (1442), 25 tuổi, dự thi Đình, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên). Ông được nhà vua ban sắc "Quốc Tử Giám Thi thư" và thưởng Á Liệt Khanh, đứng đầu trong 33 vị Tiến sĩ cùng khoa.
Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, vua Lê ban mũ áo Trạng nguyên vinh quy về làng. Tên tuổi Nguyễn Trực về sau được đứng đầu trong bia Tiến sĩ đầu tiên (số 1) ở Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội).
Ngày 3/5/1442, cha ông qua đời, Nguyễn Trực phải về chịu tang. Năm Giáp Tý niên hiệu Thái Hòa (1444) dưới triều Lê Nhân Tông, được nhà vua ban chức "Triều nghi đại phu Hàn lâm viện học sĩ". Năm Ất Sửu niên hiệu Thái Hòa (1445) được đổi lại thành "Thiếu trung khanh đại phu", Ngự sử đài ngự sử thị Đô úy". Nhưng Nguyễn Trực đã dâng biểu từ chối, khiến vua Lê phải ra sắc dụ tới ba lần ông mới chịu nhận.
Muốn nhà Minh biết tài học của dân ta
Sau ông được vua cử làm Chánh sứ sang nhà Minh, gặp kỳ thi Đình, Trạng nguyên Nguyễn Trực cùng với Phó sứ là Trịnh Thiết Trường muốn cho nhà Minh biết đến tài học của dân ta, nên xin dự thi được vua Minh chấp nhận cho phép dự thi, khi vào thi cũng phải chấp hành nội quy trường thi như các thí sinh khác, khi chấm thi xong, khớp phách kết quả: Nguyễn Trực đậu Trạng nguyên, Trịnh Thiết Trường đậu Bảng nhãn, vua nhà Minh phải khen ngợi: "Đất nào cũng có nhân tài" và phong cho Nguyễn Trực là "Lưỡng quốc Trạng nguyên".
Năm Giáp Tuất (1454), mẹ ông qua đời, ông xin cáo quan về quê chịu tang. Hằng ngày đọc sách và làm thuốc không biết mỏi, ông còn mở trường dạy học, các học sĩ bốn phương đến theo học rất đông, có tới hàng nghìn. Nhiều bậc cự nho, danh sĩ khoa bảng đều từng là học trò của Trạng nguyên Nguyễn Trực trong thời gian ông ở quê chịu tang mẹ.
Năm Đinh Sửu niên hiệu Diên Ninh thứ ba (1457), tháng 6 mãn tang mẹ, sứ nhà Minh sang, vua vời ông về kinh giữ việc tờ bồi qua lại với sứ nhà Minh. Ông họa thơ lưu biệt sứ Minh 50 vận, làm vẻ vang cho quốc thể.
Sứ Minh, Hoàng Gián một mực thán phục văn chương uyên bác, tài trí hơn người của Nguyễn Trực. Vua Nhân Tông sai trung sứ cùng thợ vẽ tới nhà Nguyễn Trực vẽ truyền thần, để bên cạnh chỗ ngồi của vua, để tỏ rằng vua yêu dấu không lúc nào quên được.
Hà nhật Tây Sơn sơn hạ lộ,
Thoa y, tiểu lạp khán xuân canh.
(Bao giờ đến ngày đứng ở bên đường dưới núi Tây Sơn,
Mặc áo tơi, đội nón lá xem cày ruộng trong tiết xuân).
(Ngẫu thành)
Khi vua Lê Nhân Tông bị bọn Nghi Dân giết chết, Nguyễn Trực thảo văn tế, lời lẽ thống thiết, kể hết công đức của tiên đế. Vua Lê Thánh Tông lên ngôi vua năm 1460, Nguyễn Trực càng được yêu quý. Vua cho người đem bộ Thiên nam du hạ tập đến tận nhà của Nguyễn Trực để Nguyễn Trực đọc và phẩm bình, đủ biết nhà vua quý trọng ông đặc biệt như thế nào! Năm đầu Quang Thuận (1460) Nguyễn Trực được bổ Tuyên phụng đại phu, Trung thư lệnh, ở hàng văn quan rất to. Mấy lần ông xin về quê, nhà vua không cho về.
Ông mất vào năm Hồng Đức thứ 4 (1474), thọ 57 tuổi. Tên tuổi của Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực mãi mãi là dấu son chói lọi trong lịch sử văn hiến Việt Nam.
Hiện nay, di tích Từ đường Trạng nguyên Nguyễn Trực - nơi nhà xưa của ông nằm ở làng Bối Khê, thôn Song Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai đã được trùng tu và được Bộ Văn hóa Thể thao du lịch trao bằng công nhận Di tích Lịch sử văn hoá cấp Quốc gia.
Đã
từng là học sinh của trường chuyên Nguyễn Trực cách đây đã mấy chục
năm, chỉ biết tên trường là một vị nho sĩ thời xưa. Giờ tôi mới biết cụ
là lưỡng quốc trạng nguyên tài giỏi bậc nhất thời bấy giờ.
Lưỡng quốc trạng nguyên Nguyễn Trực vinh quy bái tổ - Nguồn: Nguoithanhoai.vn
Chúng
tôi trong một ngày cuối đông 2015 đã cùng đoàn phóng sự của VTC10, về
chùa Bối Khê và thăm tường đường của một trong những Lưỡng quốc Trạng
nguyên giỏi nhất nước Việt thời xưa, cụ Nguyễn Trực. Không gian trầm ấm,
chúng tôi được tiếp đón và vào thắp nén hương, tiếp chuyện với bà
Nguyễn Trẩn 86 tuổi đời thứ 6 của dòng họ Nguyễn chăm non tường đường cụ
Nguyễn Trực.
Mặt tiền tường đường cụ Nguyễn Trực - Nguồn: Nguoithanhoai.vn
Đứng đầu trong bia tiến sĩ Văn Miếu
Nguyễn
Trực (1417 - 1473) là vị Trạng nguyên đầu tiên trong lịch sử khoa cử
Việt Nam. Khi đi sứ Trung Quốc, ông được các sĩ phu ở đây nể phục, xưng
tặng là "lưỡng quốc Trạng nguyên".
Cụ Nguyên quán xã Bối Khê, huyện Thanh Oai. Nay là thôn Bối Khê, xã Tam Hưng huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (cũ). Năm 25 tuổi, đỗ Trạng nguyên khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo 3 (1442) đời Lê Thái Tông.
Bà Trẩn và Đoàn phóng sự VTC10 cùng cộng tác của Nguoithanhoai.vn
Cha của Nguyễn Trực là Nguyễn Thì Trung là người có học vấn cao, làm Giáo thụ Quốc Tử Giám dưới triều vua Lê Thái Tông. Gia đình tuy làm quan trong triều nhưng rất thanh bạch. Nhà nghèo, Nguyễn Trực thường phải vừa chăn trâu vừa treo sách sừng trâu học, không biết mỏi mệt. Mười hai tuổi giỏi văn, thơ.
Văn Bia tiến sĩ đầu tiên khoa thi năm Nhâm Tuất (1442) có ghi danh Trạng Nguyên Nguyễn Trực - Nguồn: Nguoithanhoai.vn
Năm Thiệu Bình thứ nhất (1434), ở tuổi 17, Nguyễn Trực dự kỳ thi Hương và đỗ đầu (Giải nguyên). Năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ ba (1442), 25 tuổi, dự thi Đình, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên). Ông được nhà vua ban sắc "Quốc Tử Giám Thi thư" và thưởng Á Liệt Khanh, đứng đầu trong 33 vị Tiến sĩ cùng khoa.
Sử
sách chép rằng: Nguyễn Trực sinh ra trong thời buổi loạn lạc, nhà Hồ
cướp ngôi nhà Trần. Cha của Nguyễn Trực lúc đó phải lánh nạn về phía tây
ở Tiểu Đông Mộng - thôn Cây Thượng - xã Nghĩa Hương - Quốc Oai - Hà
Tây. Tại đây Nguyễn Thời Trung gặp và kết duyên với một phụ nữ tên là Đỗ
Thị Chừng, sinh ra Nguyễn Trực ở Am Long Khôi - núi Phật tích thuộc địa
phận xã Sài Sơn - Quốc Oai - Hà Tây ngày nay. Thấy ông còn ít tuổi mà
đã đăng quang, nên vua Lê Thái Tông ban cho ông yến tiệc của vườn Quỳnh,
cưỡi bạch mã đi dạo quanh kinh đô Tràng An,...
Những cuốn sách tìm hiểu về Lưỡng quốc Trạng Nguyên - Nguồn: Nguoithanhoai.vn
Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, vua Lê ban mũ áo Trạng nguyên vinh quy về làng. Tên tuổi Nguyễn Trực về sau được đứng đầu trong bia Tiến sĩ đầu tiên (số 1) ở Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội).
Ngày 3/5/1442, cha ông qua đời, Nguyễn Trực phải về chịu tang. Năm Giáp Tý niên hiệu Thái Hòa (1444) dưới triều Lê Nhân Tông, được nhà vua ban chức "Triều nghi đại phu Hàn lâm viện học sĩ". Năm Ất Sửu niên hiệu Thái Hòa (1445) được đổi lại thành "Thiếu trung khanh đại phu", Ngự sử đài ngự sử thị Đô úy". Nhưng Nguyễn Trực đã dâng biểu từ chối, khiến vua Lê phải ra sắc dụ tới ba lần ông mới chịu nhận.
Danh sách các quan Tế tửu và Tư nghiệp Quốc tử Giám, trong đó có Nguyễn Trực - Nguồn: Nguoithanhoai.vn
Muốn nhà Minh biết tài học của dân ta
Sau ông được vua cử làm Chánh sứ sang nhà Minh, gặp kỳ thi Đình, Trạng nguyên Nguyễn Trực cùng với Phó sứ là Trịnh Thiết Trường muốn cho nhà Minh biết đến tài học của dân ta, nên xin dự thi được vua Minh chấp nhận cho phép dự thi, khi vào thi cũng phải chấp hành nội quy trường thi như các thí sinh khác, khi chấm thi xong, khớp phách kết quả: Nguyễn Trực đậu Trạng nguyên, Trịnh Thiết Trường đậu Bảng nhãn, vua nhà Minh phải khen ngợi: "Đất nào cũng có nhân tài" và phong cho Nguyễn Trực là "Lưỡng quốc Trạng nguyên".
Bên trong tường đường Cụ - Nguồn: Nguoithanhoai.vn
Trở
về nước, cả hai ông đều được nhà vua phong chức Thượng thư và ban
thưởng tám chữ vàng "Thành công danh Nam Bắc triều biên ngã" (công danh
cả hai nước đều hoàn thành).
Năm Giáp Tuất (1454), mẹ ông qua đời, ông xin cáo quan về quê chịu tang. Hằng ngày đọc sách và làm thuốc không biết mỏi, ông còn mở trường dạy học, các học sĩ bốn phương đến theo học rất đông, có tới hàng nghìn. Nhiều bậc cự nho, danh sĩ khoa bảng đều từng là học trò của Trạng nguyên Nguyễn Trực trong thời gian ông ở quê chịu tang mẹ.
Từ đường Lưỡng quốc Trạng Nguyên và nhà thờ họ - Nguồn: Nguoithanhoai.vn
Năm Đinh Sửu niên hiệu Diên Ninh thứ ba (1457), tháng 6 mãn tang mẹ, sứ nhà Minh sang, vua vời ông về kinh giữ việc tờ bồi qua lại với sứ nhà Minh. Ông họa thơ lưu biệt sứ Minh 50 vận, làm vẻ vang cho quốc thể.
Sứ Minh, Hoàng Gián một mực thán phục văn chương uyên bác, tài trí hơn người của Nguyễn Trực. Vua Nhân Tông sai trung sứ cùng thợ vẽ tới nhà Nguyễn Trực vẽ truyền thần, để bên cạnh chỗ ngồi của vua, để tỏ rằng vua yêu dấu không lúc nào quên được.
Bàn thờ chính điện cụ Nguyễn Trực - Nguồn: Nguoithanhoai.vn
Sau
này, khi về già, Nguyễn Trực thể hiện niềm mong muốn rất mực là được
quay về thôn quê sống cuộc đời giản dị, tránh xa những tục lụy của cuộc
đời làm quan nhiều bon chen chốn kinh thành:
Hà nhật Tây Sơn sơn hạ lộ,
Thoa y, tiểu lạp khán xuân canh.
(Bao giờ đến ngày đứng ở bên đường dưới núi Tây Sơn,
Mặc áo tơi, đội nón lá xem cày ruộng trong tiết xuân).
(Ngẫu thành)
Trang sách về cụ Nguyễn Trực - Nguồn: Nguoithanhoai.vn
Khi vua Lê Nhân Tông bị bọn Nghi Dân giết chết, Nguyễn Trực thảo văn tế, lời lẽ thống thiết, kể hết công đức của tiên đế. Vua Lê Thánh Tông lên ngôi vua năm 1460, Nguyễn Trực càng được yêu quý. Vua cho người đem bộ Thiên nam du hạ tập đến tận nhà của Nguyễn Trực để Nguyễn Trực đọc và phẩm bình, đủ biết nhà vua quý trọng ông đặc biệt như thế nào! Năm đầu Quang Thuận (1460) Nguyễn Trực được bổ Tuyên phụng đại phu, Trung thư lệnh, ở hàng văn quan rất to. Mấy lần ông xin về quê, nhà vua không cho về.
Ông mất vào năm Hồng Đức thứ 4 (1474), thọ 57 tuổi. Tên tuổi của Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực mãi mãi là dấu son chói lọi trong lịch sử văn hiến Việt Nam.
Trường chuyên Nguyễn Trực Thanh Oai - Nguồn: Nguoithanhoai.vn
Là
người con trung nghĩa vẹn toàn của Thăng Long, Nguyễn Trực được người
dân đời đời ghi nhớ. Tên của ông được đặt cho một con phố ở Hà Nội và
ngay tại quê hương Thanh Oai của ông cũng có một trường Trung học cơ sở
mang tên ông - Trường THCS Nguyễn Trực.
Di tích lịch sử quốc gia - Nguồn: Nguoithanhoai.vn
Hiện nay, di tích Từ đường Trạng nguyên Nguyễn Trực - nơi nhà xưa của ông nằm ở làng Bối Khê, thôn Song Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai đã được trùng tu và được Bộ Văn hóa Thể thao du lịch trao bằng công nhận Di tích Lịch sử văn hoá cấp Quốc gia.
Thùy Dương - Thanh Oai
Nhận xét
Đăng nhận xét