ĐỊA LINH NHÂN KIỆT 59
(ĐC sưu tầm trên NET)
.bmp)
Trạng Nguyên Lê Văn Thịnh - Oan Khiên Đến Tận Bao Giờ ?
Trần Khải Thanh Thuỷ
Bắc Ninh - cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 30 km, một vùng đất quan họ hiền lành trù phú, nơi 9 đời vua nhà Lý đóng đô... một vùng huyền sử đẹp như mơ với những tên gợi nhớ, ăn sâu vào tiềm thức của bao người dân Việt, từ chùa Phật Tích, núi Thiên Thai, sông Cầu, sông Thương, sông Nguyệt Như, suối Hoa, suối Tương Tư, đường Nguyên phi ỷ Lan, phố Lê văn Thịnh .v.v... Có lẽ chưa vùng quê Việt Nam nào lại ẩn chìm nhiều bóng dáng chùa chiền, đền phật, tín ngưỡng đến thế. Tổng cả tỉnh Hà Bắc cũ (gồm hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang cộng lại) có 241 xã thì có tới 259 ngôi chùa lớn nhỏ, nhiều xã có tới 2-3 ngôi chùa .
Vốn là cây bút xông xáo, lại viết được, nói được, nên khi còn là phóng viên Báo đảng, dù chỉ là thứ báo hạng xòang như Cựu "chán" binh, Lao động thủ đô, Người cao tuổi .v.v... tôi vẫn được ban biên tập báo Bắc Ninh để ý, và đến hẹn lại nên, vào dịp tết, hay kỷ niệm ngày thành lập báo, nhóm văn nghệ sĩ thủ đô chúng tôi lại được ban lãnh đạo báo Bắc Ninh gửi giấy mời hoặc gọi điện thoại thông báo để xuống viết bài tham dự trong dịp báo xuân, báo tết cho thêm phần rôm rả, sang trọng, vì dù sao cũng là người của thủ đô, nhất nước về sự thanh lịch và trí tuệ...
Để có tư liệu viết bài, bao giờ cũng vậy, chúng tôi được ban biên tập cử phóng viên đưa xuống tận cơ sở miếu mạo đình chùa hoặc các phân xưởng sản xuất đồ gỗ Đồng Kỵ, xí nghiệp làm giấy vở học sinh, trung tâm kỹ nghệ chuyên đúc đồng, nặn tượng .v.v... Trong một lần như vậy, chúng tôi tìm đến đền thờ Lê văn Thịnh ở thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, một trong những huyện lớn, nằm ngay gần thành phố Bắc Ninh.
Con đường dốc thoai thoải dẫn lên một ngọn đồi yên tĩnh nơi đền toạ lạc, tôi nhàn tản bước vào năm gian Tiền đường và ba gian hai trái Hậu đường, mắt chú ý vào từng chi tiết trang trí, điêu khắc hiện rõ nét trên các bộ vì, bức cốn, bẩy hiên, lòng thầm phục sự tinh tế, sắc nét điêu luyện của những người thợ xưa, cách đây cả vài trăm năm. Dưới bàn tay họ, những bức hình trang trí theo mẫu thức truyền thống như Long, ly, quy, phượng, tùng, cúc, trúc, mai hiện lên thật điệu đà phong phú, sinh động, mang rõ nét dấu ấn nghệ thuật của thời nhà Nguyễn.
Khi bước tới gian miếu thờ ở bên ngoài, tất cả cánh văn nghệ sĩ chúng tôi đều nổi da gà khi bức vải được vén lên, một pho tượng bằng đá nguyên khối tạc hình một con rồng lớn đang nằm co quắp, một thế rồng khác với tất cả các con rồng cuộn, hoặc rồng bay khác mà tôi đã nhìn thấy từ hàng trăm ngôi đình chùa lớn nhỏ tại Việt Nam, dù là rồng cách điệu theo thời nhà Trần hay nhà Lý, nhà Nguyễn .v.v... . Một tư thế uất kết, miệng cắn lấy đuôi, 4 móng vuốt quắp chặt vào thân đau đớn, đôi mắt đỏ, đục, nhoà đi vì căm hận. Khiến ai nhìn thấy cũng phải rùng mình kinh sợ.

Cùng đi với tôi có chị Trương thị kim Dung - người của tỉnh Bắc Ninh làm báo phụ nữ thủ đô- người rất am hiểu lịch sử nước nhà, nên đã kịp nói qua đôi điều về tiểu sử của ngôi đền Lê văn Thịnh cũng như miếu thờ con rồng đặc biệt này.
Nỗi oan khiên từ cả nghìn năm không giải toả được vẫn còn hiển hiện
Theo sử sách để lại thì Lê Văn Thịnh sinh khoảng năm 1038, quê ở xã Chi Nhị, tổng Đại Lai, huyện Gia Bình (nay là thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh).
Năm Ất Mão (1075) Sau khi định đô ở Thăng Long được vài chục năm, lúc này đã yên bề xã tắc, nhà Lý chú trọng đến việc giáo dưỡng dân chúng, đào tạo người hiền tài cho đất nước, nên đã cho mở khoa thi đầu tiên trong lịch sử nước nhà, vừa khẳng định sự độc lập, cũng là thoát ra khỏi sự lệ thuộc với phương bắc nên gọi là khoa thi Tam trường hoặc Minh Kinh bác học. Người đỗ thủ khoa năm ấy cũng là ông nghè đầu tiên của nền học vấn Đại Việt là Lê văn Thịnh. Vốn là người có tài, lại gặp triều đình sáng suốt, biết trọng nguyên khí quốc gia, nên chỉ sau 10 năm ông đã lập công lớn và trở thành Thái sư, tức là thầy dạy học cho chính các công chúa hoàng tử trong triều (1085)
Trước đó, ngay khi ông đỗ thủ khoa, năm 1076, triều đình nhà Tống từ Trung Quốc sai Quách Quỳ (cấp trưởng) và Triệu Tiết (cấp phó) tại sứ Quảng Nam (tức khu tự trị Quảng Tây của Trung Quốc ngày nay ) làm chiêu thảo sứ, đem hàng triệu quân cùng 9 tướng lãnh đạo, hợp với quân Chiêm Thành và quân của Chân Lạp cùng ùa sang xâm lấn Đại Việt để trả thù về việc bị Lý Thường Kiệt và Tông Đản đem quân tấn công các châu Ung, Khâm, Liêm của nhà Tống năm trước, nhằm phủ đầu mưu đồ xâm lược của nhà Tống. Trên sông Như Nguyệt (Bắc Ninh) nơi triều đình nhà Lý đóng đô, Lý Thường Kiệt đã dàn quân, cùng các tướng lĩnh đánh tan hết trận này, trận khác khiến cả đội quân hùng, tướng mạnh của các sứ quân do Quách Quỳ chỉ huy phải thất điên bát đảo. Cuối cùng, để bảo vệ mạng sống, đích thân Quách Quỳ phải ra lệnh lui quân lên vùng biên giới phía bắc và chiếm châu Quảng Nguyên của Việt Nam (nay là hai tỉnh Cao Bằng, và Lạng Sơn ) để lẩn trốn, định đô.
Trên cơ sở thừa thắng xốc tới, lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy nhân nghĩa để thay cho cường bạo, mùa xuân năm 1078, vua Lý Nhân Tông sai Đào Tống Nguyên đi sứ sang trung quốc, đem theo 5 con voi thuần chủng biếu vua quan nhà Tống, để giảng hoà và xin họ trả lại phần đất của Việt Nam đã bị lấn chiếm cùng hàng nghìn người dân bị bắt về Trung Quốc trước đó. Năm 1079 nhà Tống trả lại hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, nhưng nhất định không chịu trả lại phần đất đai mà người dân buộc phải dâng cho nhà Tống. Vì thế , tháng 6 năm 1084, sau năm năm giằng co, lưỡng lự, Lê Văn Thịnh với cương vị là thị lang bộ Binh liền đến trại Vĩnh Bình cùng vua quan nhà Tống bàn việc cương giới. Tuy binh lực nhà Tống lúc đó đã bị Lý Thường Kiệt đánh thua tan tác, song với bản chất tham lam, tàn bạo, họ chỉ đồng ý trả lại phần đất đã xâm lấn chứ nhất định không nhượng lại phần đất cưỡng chiếm của thổ dân với lý do: "Đất ấy là của thổ dân "tự ý" đem sát nhập vào nhà Tống để tỏ lòng thuần phục chứ họ đâu có ỷ thế lấn chiếm. Vì thế, với kiến thức và sự lịch lãm, khoan dung cao độ, Lê Văn Thịnh đã trả lời Thành Trạc- sứ giả nhà Tống: Đã là đất thì phải có chủ, các viên quan được triều đình nhà Lý giao cho giữ đất để bảo vệ biên thuỳ mà lại đem nộp cho nhà Tống và trốn đi thì đất ấy đích thực là vật ăn trộm. Việc này, luật pháp Đại Việt không những không cho phép, mà còn làm dơ bẩn sổ sách của vua quan nhà Tống nữa vì đã nhập nhầm phần đất do thổ dân ăn trộm.
Bàn đi tính lại, cuối cùng, cách trả lời cứng cỏi, đầy đủ lập luận, lý lẽ của Lê văn Thịnh khiến nhà Tống cứng họng. Đơn giản vì luật pháp đã quy định rõ ràng. Tất cả các quan viên, khi nhận một phần lãnh thổ để canh giữ, nếu đem bán hoặc hủy bỏ đều có tội. Trong trường hợp này, các thổ quan- vốn là những người được Lý Nhân Tông tin dùng, cho cai quản các châu quận ở nơi biên ải xa, đã không giữ được sự tin cẩn của triều đình lại tự tiện đem đất đai của tổ tiên dâng cho nhà Tống, để xin thuần phục là xâm phạm vào lãnh thổ của Đại Việt. Còn việc nhà Tống tự tiện chiếm giữ đất ấy là bất hợp pháp, không minh bạch, không đáng giá, không xứng đáng với sự hoà hợp của hai dân tộc
Nhờ phân biệt rõ ràng các khái niệm khế ước ủy nhiệm, ký thác hay quyền sở hữu mà Lê Văn Thịnh đã buộc Nhà Tống- phải trả nốt 6 huyện, 3 động đã chiếm của đại Việt theo đúng ý mình. Nhân sự việc này người dân Tống có thơ rằng:
Vì tham voi Giao Chỉ
Bỏ mất vàng Quảng Nguyên.
Nghĩa là chỉ vì tham 5 con voi thuần chủng của người Giao chỉ (tức người Việt Nam) mà triều Đình nhà Tống của Trung quốc phải bỏ lại hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn (Quảng nguyên) chứa đầy vàng bạc, châu báu trong lòng đất.
11 năm trong cương vị thái sư- chuyên truyền đạt những điều hay lẽ phải những kiến thức uyên thâm sâu sắc cho con cái các bậc quân vương trong triều, trong sự tin cậy tuyệt đối của vua Lý nhân Tông (1072 - 1127). Không ngờ Tháng 3 năm 1096, ông gặp nạn, bị ghép vào tội mưu phản giết vua, và bị đi đầy ở vùng Thao Giang (nay là vùng Tam Thanh, huyện Sông Thao, tỉnh Phú Thọ), một vùng núi độc, rừng thiêng mà đến tận bây giờ, người dân vẫn còn truyền khẩu câu ca:
Sông Thao nước đục, bờ nông,
Ai lên tới đó thì không đường về.
Từ địa vị của người khai quốc công thần, cầm cân nẩy mực, thân cận với triều đình trở thành kẻ mưu phản, đại ác, lẽ ra ông bị tru di tam tộc như lịch sử sau này đã lặp lại với vụ án Lệ chi viên của quan đại thần Nguyễn Trãi. Chỉ nhờ công lao của ông với lịch sử nước nhà, cũng là bởi triều đại ông sống, thiên về đạo phật, kiêng sát sinh (cả nước có tới 50% số dân là sư sãi trong chùa), nên ông chỉ bị án di lý, đi đầy trăm dặm, không đến nỗi phải mất mạng mình cùng mạng con cháu ba đời...
Ở độ tuổi gần 60 mà phải đầy lên mạn ngược, gió lam, chướng khí, trong cảnh oan khiên, không biết ông sống thêm được bao năm, song khi mất, ông được cận thần, người ăn kẻ ở đưa về chôn cất ở quê nhà. Nơi đó là thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay, ngay trong khu vực chùa Bút Tháp.
Hiện tại sau gần 1003 năm, vụ án hồ dâm đàm vẫn còn là một nghi án lịch sử, mà phần oan khiên vẫn nghiêng về phía ông.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư chép: Tháng 3-1096 nhà vua ngự trên thuyền nhỏ ra hồ Dâm Đàm (hồ Tây ngày nay) để xem ngư dân đánh cá. Đang yên lành, chợt có mây mù nổi lên, giữa đám mây mù, bất thần nhà vua và các cận thần nghe thấy tiếng mái chèo rào rào và một chiếc thuyền nhỏ lao vun vút đến. Hoảng sợ, nhà vua liền lấy giáo ném vào chỗ ấy. Ngay lập tức mây mù tan, vua thấy trong thuyền là con hổ vằn vện rõ to đang nhe răng giơ vuốt gầm gừ. Giữa lúc mọi người tái mặt sợ hãi, lắp bắp "Việc nguy rồi!" , thì Mạc Thận- vốn quen với việc sông nước và cảnh quan tây hồ trong những lần đánh bắt cá nên đầy bình tĩnh, quăng lưới trùm lên mình hổ. Sau khi biết hổ bị sa bẫy, mọi người bình tâm nhìn lại và nhận ra con hổ chính là Thái sư Lê Văn Thịnh.
Từ sợ thành giận, nhà vua ra lệnh cho các quan đại thần lấy giây sắt trói nghiến lại và giải về triều, chịu cùm và giam cho tới chết. Sau đó, nghĩ tới công lao cũ của vị thái sư- một chức bậc quan trọng nhất nhì trong triều đình bấy giờ, nên đã tha tội chết, chỉ đày lên miền nước độc rừng thiêng thuộc thượng lưu sông Nhị.
Sau nghìn năm nhìn lại, dưới ánh sáng khoa học hiện đại, tác giả nghiêng về phía trạng nguyên Lê Văn Thịnh bị oan nhiều hơn. Có thể vì là người tinh thông lỗi lạc, lại quan hệ với vua và các quần thần như người ăn kẻ ở trong nhà nên khi thấy vị vua trẻ ra hồ xem ngư dân đánh cá (khi ấy vua Lý Nhân Tông mới bước sang tuổi 45) nên Lê Văn Thịnh nẩy ra ý định nghịch ngợm, trêu trọc bằng cách khoác tấm da hổ lên người rồi ngồi rình ở ven bờ trong đám lau lách rậm rạp (cách đây cả nghìn năm thì Hồ Tây còn um tùm, rậm rạp, lắm chim muông, thú dữ lắm). Khi thấy thuyền của vua tiến ra giữa hồ, liền lợi dụng lúc sương mù dày đặc nổi lên, chèo thuyền bơi ra, doạ vua một phen chơi, không ngờ nhà vua vì lo sợ cuống cuồng mà làm lệch thuyền, khiến thuyền bị lật úp , rơi tõm xuống hồ, cả tấm thân nghìn vàng ướt lướt thướt, run lẩy bẩy. Thế là từ đùa hoá thật, qúa mù ra mưa, Lê văn Thịnh bị khép tội mưu phản, giết vua để cướp ngôi.
Cũng có thể vì nhà vua ham vui tửu sắc, hay có vấn đề về sức khoẻ, ngồi trong cung cấm lâu ngày nên khi bơi ra giữa hồ gặp cảm mạo, giữa sương mù bảng lảng như khói như mây, nên trông gà hoá quốc, trông vị thái sư lại thành hổ vằn vện nên đã kết tội oan sai cho cận thần của mình.
Nhiều giả thuyết nghiêng về việc Lê Văn Thịnh- với tư cách tể tướng, Thái sư nên đã thực hiện cải cách về chế độ kinh tế -xã hội, quân sự theo tân pháp của nhà Tống do Vương An Thạch đứng đầu. Điều đáng tiếc, các cải cách này được lợi cho muôn dân nhưng lại đụng vào lợi ích thiết thân của các quan lại trong triều nên đã thất bại thảm hại, Bản thân Vương An Thạch bị đuổi về quê đuổi gà, làm vườn cho vợ. Thời đó, các thể chế Đại Việt đều mô phỏng theo thể chế của nhà Tống nên khi Vương An Thạch bị thất sủng thì Lê văn Thịnh cũng phải chịu kết cục tương tự.
Còn một giả thuyết khác, vẫn thường xảy ra với các triều đại từ xưa đến nay là trạng nguyên Lê văn Thịnh do qúa nghiêm khắc trong việc dạy bảo các cậu ấm cô chiêu của hoàng tộc theo đúng lễ nghĩa phép tắc của triều đình nên bị ganh ghét, đàm tiếu, đố kỵ rồi bị các đại thần vu oan giáng hoạ mà phải chịu án lưu đầy cho khuất mắt họ?
Lý giải về việc này, sử sách xưa chép lại: "Đương thời, khi còn là tể tướng, Lê Văn Thịnh có một người hầu cận, nguyên quán ở Việt Nam, nhưng theo học thầy tàu tận Trung Quốc, biết làm phép thả hơi mù và biến thành hổ báo để doạ nạt mọi người cầu lợi, cầu vinh, ra oai với thiên hạ. Do yêu mến vị trạng nguyên đầu tiên của nước nhà mà truyền đạt lại cho thầy và Lê Văn Thịnh đã dày công luyện rèn để học được phép thuật ấy rồi lập tâm giết vua để cướp ngôi. Khi kế hoạch bị bại lộ đã bị khép tội, đánh tuột mọi chức tước, lột áo mũ ô sa và chịu án lưu đày".
Dù thế nào thì mọi sự lý giải về trạng nguyên Lê văn Thịnh vẫn chỉ là phỏng đoán, song các giả thiết nghiêng về việc ông bị hàm oan là có thật.
Chắc hẳn trước khi chết ông đã để lại lời trăn trối cho con cháu và họ hàng thân thích, vì thế, vào thời hậu Lê, khi ông đã được giải oan, cháu con ông mới cho đúc một pho tượng bằng đá nguyên khối tạc hình một con rắn lớn (dạng rồng) trong tư thế "miệng cắn thân, chân xé mình" hòng toát lên nỗi đau đớn, phẫn uất như vậy. Theo quan điểm của người dân xã Đông Cứu, pho tượng chính là hiện thân của Lê Văn Thịnh, trạng khai khoa của nền quốc học Việt Nam, người đã chịu hàm oan trong vụ án hồ Dâm Đàm từ thời nhà Lý.
Việc phát hiện ra pho tượng và lập miếu thờ hoàn toàn ngẫu nhiên và thật lắm huyền thoại. Số là vào khoảng thập niên 90, những lũ trẻ làng vốn lăn lê bò toài với những trò chơi bắn bi, nghịch đất, bỗng phát hiện ra giữa đám đất đá gần đường có một phiến đá vảy rồng. Lúc đầu phiến đá chỉ là một chấm tròn nhỏ bằng đồng xu. Do tò mò, lũ trẻ lấy tay xoa hết lớp đất bên trên làm phiến đá lộ dần ra bằng bàn tay rồi bằng cả miệng chậu, cái mâm... Càng xoa rộng lớp đất phía trên, phiến đá vẩy rồng càng hiện lên rõ nét, trở thành sự quan tâm chú ý cho cả làng. Lập tức các bậc bô lão trong làng đem chuyện trình lên ủy ban nhân dân xã đông Cứu, uỷ ban nhân dân huyện Gia Bình, rồi uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Khi chuyên viên, cán bộ của sở văn hoá thông tin tận trung ương tìm về, lớp đất đã được đào sâu xuống cả mét để lộ ra toàn bộ thân tượng kỳ vĩ, uất kết. Sợ để tượng ở nguyên vị trí cũ, ngay dưới chân đồi, đông người qua lại sẽ bị thất thố hoặc bị vùi lấp như cũ, nên sau nhiều ngày bàn thảo, dân làng đã quyết định hô thần để rời tượng. Trong qúa trình khai quật, vì nôn nóng hay do sơ xuất mà nửa thân sau của tượng bị gãy nứt, đứt đôi, vì thế khi tượng đã được đưa lên đồi cao và xây miếu thờ, 5 trong số vài chục người khiêng đã bị thiệt mạng, tất cả đều là người của thôn Bảo Pháp.
Cho tới tận cuối thế kỷ 20, nghi án lịch sử về vụ án hồ Dâm Đàm vẫn chưa được giải toả, đến mức nhà viết chèo Tào Mạt trong vở chèo hiện đại nổi tiếng mang tên "Bài ca giữ nước" vẫn đưa tên thái sư Lê Văn Thịnh vào danh sách tội đồ, phản nghịch. Chính vì thế khi vở kịch được công diễn và lưu hành rộng rãi trên toàn quốc, đã gây ra không it chuyện dị thường, thị phi, số là người dân của thôn Bảo Tháp, sau khi phát hiện ra pho tượng chìm sâu trong lòng đất cả mấy trăm năm liền lập miếu thờ, tế lễ, hương khói quanh năm, trong khi các làng xung quanh, mỗi khi nghe vở bài ca giữ nước của Tào Mạt lại thốt lên đầy mai mỉa:
- Thấy chưa, thành hoàng làng của chúng mày đấy, người mà chúng mày gọi là tiến sĩ, thái sư, lập đền thờ, miếu mạo, rồi rước về để trình tế hàng năm vào ngày sự lệ chẳng qua chỉ là một tên nghịch tặc, phản loạn, lập mưu giết vua, đoạt quyền...
Lời qua tiếng lại, bên nào cũng cho là mình đúng, không bên nào chịu nhường bên nào. Hàng trăm trai tráng, lực điền của 5 thôn Đông, Lai, Nghiêm, Miễu và Lai Lẻ trong xã Nhị Chi xưa (nay là xã Đông Cứu) không chịu nổi sự xúc phạm đến tín ngưỡng, thành hoàng của làng mình, nên năm nào cũng bí mật đem vũ khí cuốc, xẻng gậy gộc, cho vào quan tài, tạo ra một đám ma giả, để tất cả cùng đi theo đưa tiễn, khi đến địa phận giáp ranh của hai làng liền bất ngờ hạ xuống, bật nắp quan tài lên lấy vũ khí xông vào đánh trả người làng lân cận. Ngược lại, làng kia cũng tìm mọi cách để quăng vải, tẩm dầu vào các mái nhà của người dân xã Đông Cứu làm bao nóc nhà cháy rụi... Cảnh máu chảy đầu rơi, loạn làng, bốc hoả do cháy nhà diễn ra liên tục trong nhiều năm, đến mức cả uỷ ban xã đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh cũng không can thiệp nổi. Năm 1993, bộ văn hoá thông tin phải đứng ra mời tất cả các sử gia nổi tiếng cùng cánh phóng viên báo đài về hội thảo. Sau ba ngày trời kết luận cuối cùng của cuộc hội thảo khẳng định ông là một danh nhân khoa bảng, người có công với triều đại nhà Lý, đặc biệt là Lý nhân Tông. Chuyện ông hoá hổ giết vua chỉ là một nghi án, một sự hàm oan... Khi các bức ảnh của cuộc hội thảo được công bố, lời phát biểu của các nhà học giả được phát thanh trên đài truyền hình, truyền thanh cả nước, cũng như sự lên tiếng kịp thời của các phóng viên trên mặt báo thì nỗi giận của dân làng Đông Cứu mới nguôi ngoai. Tên ông được đặt cho một tên đường phố của tỉnh Bắc Ninh, một ngôi trường phổ thông cơ sở cũng vinh dự mang tên ông.
Riêng nhà viết chèo Tào Mạt ngay sau đó đã mắc một chứng bệnh kỳ lạ ... Vốn là người con của quê hương quan họ, nơi một làn nắng cũng mang điệu dân ca nên tâm hồn ông qua việc tắm nắng, gội gió bao năm cũng đầy chất dân ca và chèo... Đang yên lành, ông bỗng mắc chứng đau đầu, sợ đủ mọi thứ, không dám tiếp xúc gặp gỡ ai, miệng luôn lảm nhảm rên hừ hừ, lẫn lộn mọi sự, lẫn lộn trước sau, sáng, tối, lẫn lộn con vật, con người, đặc biệt sợ công an. Bà Trần thị Bát, vợ ông kể, thời gian trước khi chết, cả đầu và cuối giường ông đều phải để quạt điện và bật suốt ngày đêm, trong khi trên người ông là chiếc chăn bông sù sụ, mà ông lúc nào cũng kêu nóng, kêu rét, miệng rên hừ hừ nhưng không cho tắt quạt hoặc cất chăn đi. Bạn bè thương quý tìm đến chờ ông cả buổi mà ông nhất định không cho người nhà mở cửa, phải bỏ về. Bà Bát, cứ sáng sớm hoặc tối trời lại dỗ dành khuyên giải để dắt ông ra khỏi nhà như dắt một đứa trẻ, để ông thơ thẩn hái hoa, bắt bướm, nghịch cây. Ngay cả hoa bèo, hoa rau muống cũng trở thành nỗi đam mê yêu thích của ông, giúp ông tạm quên chứng đau đầu. Thời gian cuối ông phải nhận một kết cục oan nghiệt mà cả nhà không dám nói, đó là con trai ông, vốn làm ở Sân bay Nội Bài, mua được một chiếc xe kích của cộng hoà dân chủ Đức, trong khi tiền còn phải vay mượn đã bị trấn trên đường từ Nội Bài về. Qúa tiếc chiếc xe đẹp đẽ, mới mua nên đã kiên quyết không chịu bỏ của chạy lấy người mà giằng co với lũ cướp, để bị mất mạng. Khi đó ông đang nằm bệnh viện. Vào những phút giây hiếm hoi tỉnh táo, không thấy con vào thăm, ông hỏi thì cả nhà đều nói tránh là "đang đi công tác xa nhà". Mãi tới ngày giỗ 49, cả nhà làm giỗ, người ra người vào chia buồn, dự lễ, không thể giấu được, đành nói rõ với ông. It ngày sau, đến lượt ông ra đi trong vật vã, hối tiếc, đau đớn. Người làng bảo ông bị thành hoàng của làng phạt vì tội đã báng bổ thánh thần, bẻ cong lịch sử**, biến danh nhân văn hoá thành kẻ phản diện, tiếm quyền bỉ ổi.
Ngày nay, đền thờ Thái sư Lê văn Thịnh còn lưu giữ nhiều tài liệu, hiện vật phong phú như: hai ngai thờ tượng ông, bộ bát bửu, thần tích, 5 đạo sắc phong, đạo sớm nhất phong năm 1853, đạo muộn nhất năm 1924 và hệ thống bia đá khắc dựng từ thời Nguyễn, đôi câu đối, cuốn thư và nhiều đồ thờ bằng đồng, gỗ, gốm, sứ. Đó là những di sản văn hóa quý từ thời Hậu Lê để lại, góp phần làm tăng thêm giá trị lịch sử và nghệ thuật cho nước nhà.
Tượng ông đặt trong khám thờ sơn son thếp vàng lộng lẫy ở phần trang trọng nhất nơi Hậu cung. Nghệ thuật tạc tượng, điêu khắc gỗ, sơn son thếp vàng điêu luyện, lột tả chân dung thư thái của vị quan Thái sư tài năng, đức độ-người đã có công lao to lớn trong việc rèn dạy đấng quân vương thời niên thiếu, đồng thời cả trong mặt trận ngoại giao, kinh bang tế thế với vương triều nhà Tống để đòi lại lãnh thổ cho đất nước từ thời Lý, cách đây cả nghìn năm, ngược hẳn với pho tượng rồng đầy uất kết "miệng cắn thân, chân xé mình" phía ngoài miếu thờ.
Năm 2004 đền thờ ông mới được Bảo tàng Bắc Ninh và UBND tỉnh xếp hạng Di tích Lịch sử văn hóa, song điều trớ trêu là hình ảnh ông -kẻ phản tặc, thí nghịch, gian hùng trong vở chèo tuy đã bị cắt bỏ, song nhiều người trong giới chính sử của nước nhà vẫn coi ông là trọng tội. Ngay cả nhà sử gia lỗi lạc Ngô Sĩ Liên cũng viết về thái sư Lê Văn Thịnh: "Kẻ làm tôi, phạm tội giết vua, cướp ngôi mà được miễn tội chết, thế là sai trong việc hình, lỗi ở vua qúa tin sùng đạo Phật... " Theo vết chân của Ngô sĩ Liên, nhiều nhà sử học đương thời vẫn cho rằng: Sau gần 900 năm, nỗi oan khuất cuả ông mới được làm sáng tỏ, thì chứng tỏ ông là kẻ đại nghịch, vì sau lưng ông khi đó là một thế lực thù nghịch muốn lật đổ ngai vàng của vua, nên mới mượn lốt hổ để doạ vua. Bởi vùng hồ Tây khi ấy thỉnh thoảng vẫn có hổ xuất hiện... Chỉ vì âm mưu không thành mà phải chịu đi đày. Và vụ án hồ dâm đàm là vụ án có thật 100%, được lưu truyền lại nhiều đời trong lịch sử. Nếu bị oan, thì không phải đợi đến 897 năm (1096- 1993) mới được giải oan. Sự giải cứu này hoàn toàn do ý đồ của con cháu họ Lê, vì muốn cởi bỏ tiếng xấu cho ông tổ của mình nên đã tìm mọi cách để lật lại vụ án. Phía nhà nước cộng sản vì không muốn tiếp diễn cảnh máu chảy đầu rơi, người dân chém giết lẫn nhau nên đã xuê xoa mọi chuyện. Điển hình của xu hướng này là nhà sử học Bùi Thiết, người đã viết cuốn " đối thoại sử học" và bị nhà nước cộng sản coi là một trong 7 kẻ đốt ngôi đền lịch sử Việt Nam, sau khi cấm lưu hành cuốn sách của ông.
Lý giải về việc Thái sư "hoá hổ" trên thuyền, nhiều người bảo do tướng mạo ông từ bé đã giống hổ, nên giữa sương mù dâng lên dày đặc, nhà vua mới lầm tưởng. Ngay cả mẹ đẻ ông, nhiều lần vô tình ngắm ông học bài cũng ngất sỉu, đánh rơi cây đèn trên tay vì tướng mạo, vóc dạng, hình hài ông giống hệt một chú hổ con. Điều này ngược hoàn toàn với pho tượng của ông nơi đền thờ, nét mặt hài hoà, cân đối, lộ rõ vẻ thư thái, an nhàn, tinh thông, uyên bác của một vị trạng nguyên, tiến sĩ, thái sư...
Tóm lại cho đến giờ phút này, khi cả nghìn năm đã trôi qua thì việc xác định về ông vẫn còn nhiều tranh cãi, và nỗi oan khuất của ông còn hiển hiện từng ngày qua chính pho tượng bằng đá nguyên khối, tạc hình một con rồng lớn đang nằm co quắp, đặt trong miếu thờ ngay hông đền./.
Hà Nội - Bắc Ninh tháng 11-2008
Trần Khải Thanh Thủy
-------------
(*) Hồ Tây còn có tên là dâm đàm, vì cả ngày chỉ trừ giờ chính ngọ là sương tan, còn 23 giờ còn lại, đặc biệt là buổi sáng sớm và sẩm tối, lúc nào sương mù cũng bao phủ, như thơ xưa từng viết:
"Mịt mù khói toả ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”.
(**) Rất có thể Tào Mạt qua nghiên cứu lịch sử xưa để lại nên đã theo lời bàn của sử gia Ngô Sĩ Liên mà đưa tên thái sư vào diện phản nghịch trong vở chèo của mình.
(Theo Web Vietnam News Network, 4/12/2008)
Thái sư Lê Văn Thịnh có "hóa hổ giết vua"?
Nhưng
bỗng dưng tai họa ập đến, Lê Văn Thịnh bị quàng cái tội hóa hổ, giết
vua. Để rồi, gần 1.000 năm sau, con cháu vẫn lặn lội đi tìm những bằng
chứng minh oan cho bậc trung thần.
Cụ rồng oan khiên
Một ngày đầu xuân Canh Dần, chúng tôi tìm về quê
hương của vị Thái sư họ Lê ở thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu (huyện Gia Bình,
Bắc Ninh). Khi bước vào ngôi đền thờ vị Trạng nguyên Khai khoa, bất
giác tôi giật mình, cảm giác chờn chợn chạy khắp người bởi vừa nhìn thấy
bức tượng một cụ rồng đá. Trong văn hoá Việt Nam, hình ảnh rồng rất
quen thuộc và bao giờ cũng có dáng điệu khoan thai, uy nghi, biểu trưng
cho sự trường tồn và quyền lực. Vậy nhưng cụ rồng ở Đông Cứu thì khác,
dáng nằm quằn quại, miệng cắn vào thân, hai chân đang dùng những chiếc
móng sắc nhọn như muốn xé toạc thân mình. Đặc biệt đôi tai, một bên
thông, một bên bịt kín.
Cụ Nguyễn Văn Tuynh – một trong những người thường
xuyên hương khói, coi sóc ngôi đền và chùa Bảo Tháp (đền nằm trong chùa)
bảo, về nguồn gốc xuất thân của bức tượng này cũng là cả một sự ly kỳ.
Năm 1993, trong quá trình tu sửa đường vào chùa Bảo Tháp, bất chợt có
người cuốc phải vật gì đó rất cứng. Người này bổ thêm vài nhát nữa thì
xác định được đó là phiến đá có hình dạng vảy cá. Thấy sự bất thường,
dân làng kéo đến xem mỗi lúc một đông. Người ta vội khơi rộng xung quanh
phiến đá, càng khơi càng sửng sốt vì hoá ra là một bức tượng rồng.
Thanh niên trai tráng khoẻ mạnh trong thôn được huy động để đưa tượng
lên.
|
|
Cụ Nguyễn Văn Tuynh bên bức tượng rồng đá oan khiên.
|
“Khi cụ rồng được đưa lên mặt đất, nhiều người trợn
tròn mắt kinh ngạc. Bức tượng nặng hơn 1 tấn, cao khoảng 0,9m, dài rộng
mỗi chiều 1m, có tư thế rất kỳ dị. Từ bức tượng toát lên nỗi oan khuất
ngút trời, sự đau đớn, vò xé, căm hận. Uy lực toát ra từ bức tượng mạnh
đến nỗi, tất cả những người dân có mặt đều quỳ xuống lạy”, cụ Tuynh nói.
Sau đó cụ rồng được đưa vào đền, nơi xưa kia là nền nhà cũ của Thái sư
để thờ cúng.
Về câu chuyện cụ rồng, trên đường về Đông Cứu chúng
tôi còn nghe một “dị bản” khác. Một người dân kể rằng, khi đám trẻ chăn
trâu chơi bắn bi, nghịch đất, vô tình phát hiện ra giữa đám đất có một
phiến đá vảy rồng. Người trong làng thấy lạ ra xem, gọi người đến khai
quật. Khi đưa tượng lên, vì nôn nóng mà nửa thân sau của tượng bị gãy.
Sau này, hàng chục người tham gia khiêng tượng đã thiệt mạng v.v... Tuy
nhiên đây là những thông tin không xác thực, mang tính chất thêu dệt,
đồn thổi.
Ngay khi tìm được bức tượng, nhiều người đã đặt câu
hỏi: Ai là tác giả của bức tượng, bức tượng được tạc vào thời nào? Đây
là tuyệt tác mô tả sự giằng xé nội tâm do chính Lê Văn Thịnh tạo nên hay
học trò của ông – vua Lý Nhân Tông? (có người căn cứ vào bên tai lành,
tai điếc của cụ rồng mà cho đó là sự ân hận của Vua vì đã nghe lời xiểm
nịnh, hại trung thần, cũng là thày của mình). Tuy nhiên, theo các nhà
chuyên môn thì bức tượng này được tạc vào thời Hậu Lê (Thế kỷ 14 đến 17,
khi công trạng của Lê Văn Thịnh đã được ghi nhận và vụ nghi án hồ Dâm
Đàm (hồ Tây, Hà Nội) đã phần nào được soi xét). Nhưng cho dù là ý kiến
nào thì người ta đều thống nhất một điều, đó là bức tượng đã lột tả tâm
trạng oan khuất, bi oán của Lê Văn Thịnh.
Lê Văn Thịnh đỗ thủ khoa (tương đương Trạng nguyên)
của khoa thi Minh kinh bác học thời Lý (1075). Với nhiều công trạng,
con đường quan lộ của ông đã lên đến tột đỉnh: Thái sư đầu triều. Nhưng
đúng ở vào thời khắc đỉnh cao của sự nghiệp thì ông bị vu tội “hoá hổ
giết vua” vào năm 1096 và phải đi đày ở Thao Giang (Phú Thọ ngày nay).
Người đương thời và hậu thế đều đặt dấu hỏi về tính chân xác của sự kiện
trên...
|
|
Tượng Thái sư Lê Văn Thịnh tại đền thờ thôn Bảo Tháp.
|
Vụ án hoá hổ
Về sự kiện Lê Văn Thịnh hoá hổ mưu hại vua, Đại
Việt sử ký toàn thư chép: “Bấy giờ vua ra hồ Dâm Đàm, ngự trên thuyền
nhỏ xem đánh cá. Chợt có mây mù nổi lên, trong đám mù nghe có tiếng
thuyền bơi đến, tiếng mái chèo rào rào, vua lấy giáo ném. Chốc lát mây
mù tan, thấy trong thuyền có con hổ, mọi người sợ tái mặt, nói: “Việc
nguy rồi!”. Người đánh cá là Mục Thận quăng lưới trùm lên con hổ, thì ra
là Thái sư Lê Văn Thịnh. Vua nghĩ Thịnh là đại thần có công giúp đỡ,
không nỡ giết, đày lên trại đầu Thao Giang. Trước đấy Lê Văn Thịnh có
gia nô người nước Đại Lý (Vân Nam, Trung Quốc - PV) có phép thuật kỳ lạ,
cho nên mượn thuật ấy toan làm chuyện thí nghịch”.
Tại sao Lê Văn Thịnh phạm tội giết vua mà lại chỉ đi
đày? Một số bậc đại Nho ở những thời kỳ sau cho rằng, đó là bởi những
người cầm cân, nảy mực triều Lý đã thấm nhuần tư tưởng từ bi hỉ xả của
Phật giáo mà tha cho Lê Văn Thịnh. Sử gia Ngô Sĩ Liên (thế kỷ 15) cũng
viết: “Kẻ làm tôi, phạm tội giết vua cướp ngôi mà được miễn tội chết,
thế là sai trong việc hình, lỗi ở vua tin sùng đạo Phật ”.
Bề mặt thì lý do đó có vẻ hợp lý, nhưng nếu lần lại
việc vua Lê Thánh Tông xử những kẻ mắc tội mưu phản sau này (Tô Hậu, Đỗ
Sùng), việc Thái hậu Linh Nhân (Ỷ Lan, mẹ vua) “xử” Hoàng Thái hậu
Thượng Dương vào năm 1073, sẽ thấy lập luận đó là phiến diện, ngây thơ.
Tất cả đã đều phải chết, trừ trường hợp Lê Văn Thịnh. Ngay từ năm 1071,
nhà Lý đã có đạo luật quy định về tội Thập ác, trong đó có tội mưu phản,
những kẻ phạm tội này đều chịu kết cục giống nhau là bị xử tử. Sự nhất
quán này càng được khẳng định khi vào năm 1106, vua Lý đại xá thiên hạ,
nhưng tội mưu phản không được xem xét. Với các sự kiện đó, nếu nói vì
lòng nhân ái mà vua không giết Lê Văn Thịnh là chưa có sức thuyết phục.
Bên cạnh đó, ở hoàn cảnh bấy giờ, Thái sư quyền cao
chức trọng, dưới một người trên muôn người, tiếm ngôi để làm gì? Vả lại,
cứ giả sử cho là Thái sư có ý đó, thì cũng đừng quên rằng xung quanh
vua Lý Nhân Tông là những “bộ óc” trác việt, nắm giữ quyền lực tối
thượng: Hoàng Thái hậu Linh Nhân (Ỷ Lan), Thái uý Lý Thường Kiệt, ngoài
ra là cả một triều đình từng chịu ơn mưa móc nhà Lý. Lê Văn Thịnh nếu có
giết được vua, sẽ sống được mấy khắc? Một người uyên bác, trí tuệ như
Lê Văn Thịnh chẳng lẽ không nhận ra được điều đó?
Tại sao sau vụ án kinh thiên động địa đó, không thấy
triều Lý truy tìm “bè đảng” và sau này cũng tuyệt nhiên không phát hiện
ai là “bè đảng” của Lê Văn Thịnh? Không lẽ muốn giết vua, cướp ngôi mà
chỉ làm có một mình?
Những dấu hỏi cứ treo lơ lửng trên đầu lớp hậu thế
của Thái sư họ Lê. Tuy gần 500 năm sau ngày ông mắc nạn, vị Thượng thư
Bộ Lễ, Đại học sĩ hàn lâm Viện Đông Các dưới triều Hậu Lê là Nguyễn Bính
đã có những nghiên cứu, đánh giá, ghi nhận công lao của Lê Văn Thịnh,
nhưng dường như vẫn chưa chạm tới chân lý của vụ nghi án. Đến những năm
90 của Thế kỷ 20, dưới ánh sáng khoa học, vụ án hồ Dâm Đàm mới được xem
xét một cách thấu đáo. 17 năm trước, khi những người dân thôn Bảo Tháp
tìm ra bức tượng rồng oan khiên, cũng là lúc Sở VH- TT Hà Bắc (cũ) tổ
chức một cuộc hội thảo quy mô về Lê Văn Thịnh và vụ án hồ Dâm Đàm.
Bức tượng rồng trong khuôn viên khu đền.
|
Ai là tác giả màn kịch?
Bằng những lập luận khoa học, các nhà nghiên cứu đã
nêu lên một số vấn đề xung quanh vụ án này. Sau khi Lê Văn Thịnh giật
giải Thủ khoa khoa thi Minh kinh bác học (mở đầu thời kỳ khoa cử theo
Nho học), đã được triều Lý trọng dụng. Trong vòng chưa đầy 10 năm (1084)
ông đã phong chức Tả thị lang, 1 năm sau phong chức Thái sư. Khi đã có
quyền lực lớn trong tay, Thái sư đã thực hiện cải cách triều chính (theo
sử sách ghi lại, năm 1086: Tổ chức thi tuyển người vào Hàn lâm viện,
năm 1088: Định các chùa trong nước làm 3 hạng, cho quan văn tham gia vào
việc quản lý, năm 1089: Định các chức văn võ, quan hầu vua và các chức
tạp lưu, năm 1092: Định sổ ruộng thu tô...Những việc trên đương nhiên do
nhà vua quyết, nhưng “quân sư” chắc chắn không thể ai khác ngoài Lê Văn
Thịnh). Việc cải cách này đã đụng chạm vào quyền lợi của nhiều vương
thân, quốc thích, quan lại và do vậy rất có thể đã khiến ông gặp hoạ.
Cũng có thể “màn kịch” hóa hổ, giết vua được dựng lên
từ sự xung đột ý thức hệ giữa Phật giáo (Quốc giáo) và Nho giáo (mà
đứng đầu là Thái sư Lê Văn Thịnh). Khi Phật giáo cảm thấy địa vị độc tôn
của mình bị đe doạ thì đương nhiên là phải có “giải pháp”. Nhà nghiên
cứu Đỗ Huy (Viện Triết học) từng cho rằng, thực chất vụ án hoá hổ chỉ là
màn kịch phản ánh cuộc đấu tranh giữa hệ tư tưởng Nho giáo mà Lê Văn
Thịnh là đại diện với một bên khác sùng Phật giáo, trong đó có cả Thái
hậu Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông.
Cũng cần nói thêm, vào năm 1085, khi Lê Văn Thịnh
nhậm chức Thái sư cũng là lúc Linh Nhân Hoàng Thái Hậu thôi nhiếp chính,
bắt đầu mải mê với công cuộc xây dựng, tu sửa chùa chiền, với những
khoản kinh phí vô cùng lớn từ quốc khố. Là nhà nho tiết tháo, đứng đầu
các quan, Lê Văn Thịnh không thể không có ý kiến và đây cũng có thể là
nguyên nhân của mối tai hoạ mà ông gặp phải.
Trong khi đó, vua Lý Nhân Tông dù đã đi cầu khấn khắp
các chùa chiền mà mấy chục năm không có con trai. Việc này, nhà nghiên
cứu Trần Văn Lạng (Bảo tàng Hà Bắc cũ) nhận định, khi đứng vào tình thế
bị nhiều người ngấp nghé ngôi báu, Lý Nhân Tông tất sinh bệnh đa nghi,
rất có hại cho kẻ dưới quyền. Vụ việc “hóa hổ” càng trở nên đáng tin hơn
khi ngay thời đó trong dân gian đã lưu truyền rằng, Lê Văn Thịnh học
được nhiều phép thuật, trong đó có phép thả mù, hoá hổ. Với tâm trạng u
uất, đa nghi như vậy, cộng thêm những lời gièm pha, đồn thổi và một “màn
kịch” vào buổi sáng sương mù trên hồ Dâm Đàm, vậy là ông vua quy cho
thày mình cái tội mưu phản.
Tuy ngày nay chúng ta có thể khẳng định câu chuyện
trên là “sản phẩm” của sự hoang đường, nhưng với trình độ thời đó, khi
con người vẫn tin vào các câu chuyện ma quái thì việc Lê Văn Thịnh “hóa
hổ” là có thể xảy ra.
Những câu chuyện hư ảo, kỳ quái như trên không có gì
lạ, trong sách “Tây Hồ chí” và nhiều sách khác cũng từng đề cập đến: nào
là cáo 9 đuôi, trâu vàng, rắn thành tinh, hổ đội lốt người. Ngay vua Lý
Thần Tông cũng từng bị cho là hóa hổ, phải nhờ Quốc sư Nguyễn Minh
Không chữa cho mới khỏi.
Tại hồ Dâm Đàm còn có một truyền thuyết kể rằng, một
ngày kia vua nhà Lý đi xem đánh cá, trời đang yên lặng bỗng mây mù nổi
lên. Khi vua đến giữa hồ bất chợt gặp người con gái đẹp. Vua mê mẩn tâm
thần, định đón về cung. Có vị đạo sĩ giỏi nghề chài lưới đã dùng phép
quăng lưới tơ xuống hồ. Cô gái hiện nguyên hình là con rắn lớn, đuôi rất
dài. Sau này để nhớ ơn đạo sĩ, nhân dân đã lập đền thờ ở Võng Thị
(thuộc quận Tây Hồ ngày nay). Câu chuyện “Lê Văn Thịnh hóa hổ” thực chất
là “bản sao” của truyền thuyết trên, điều đó càng làm ta khó tin vào
tính xác thực của sự kiện này.
Đây cũng chính là một trong các biểu hiện để nhận
định vụ án Lê Văn Thịnh hoá hổ chỉ là một màn kịch, do một đạo diễn nào
đó dựng lên. Hoặc giả là một tình huống “tế nhị” vô tình xảy ra, nhưng
đã được những đối thủ của Lê Văn Thịnh tận dụng triệt để, để viết nên
một vụ kỳ án oan khiên nhất trong lịch sử Đại Việt. Vậy nhưng ai đứng
đằng sau màn kịch này, đâu là nguyên nhân đích thực, đó vẫn là câu hỏi
lớn thách thức các nhà nghiên cứu, các nhà sử học.
Dù vậy, bằng các lập luận, vẫn có thể khẳng định
một điều: Thái sư Lê Văn Thịnh đã bị oan! Tuy chưa tìm ra được “kẻ giấu
mặt”, nhưng giờ đây công trạng của ông đã được ghi nhận. Gần đây nhất,
Bộ VH-TT (cũ) đã cấm không cho phát những vở kịch trong đó hình ảnh ông
bị xây dựng một cách méo mó. Tuy chưa nhiều, nhưng âu đó cũng là một
chút lòng của hậu thế với bậc tiền nhân!
Đòi lại 6 huyện, 3 động từ tay nhà Tống
Năm 1076, nhà Tống sai Quách Quỳ đem quân hợp với
Chiêm Thành, Chân Lạp sang xâm lấn Đại Việt, nhưng bị Lý Thường Kiệt
đánh tan trên sông Như Nguyệt. Quách Quỳ lui quân, nhưng lại chiếm lấy
châu Quảng Nguyên, Tô Mậu (Cao Bằng, Lạng Sơn ngày nay). Năm 1078, vua
Lý Nhân Tông đòi Tống trả lại các vùng đất bị chiếm. Năm 1079, nhà Tống
trả lại các châu trên, nhưng giữ lại 6 huyện, 3 động (Bảo Lạc, Luyện,
Miêu....) không trả, với lý do đất do thổ dân tiến cống.
Năm 1084, tại trại Vĩnh Bình, Thị lang bộ Binh Lê
Văn Thịnh đã chất vấn sứ giả Tống (là Thành Trạc) như sau: “ Đất thì có
chủ, các viên quan giữ đất ấy đem nộp cho người khác và trốn đi thì đất
ấy thành vật ăn trộm của chủ. Sự chủ giao cho mà lấy trộm đã không tha
thứ được, mà trộm của hay tàng trữ thì luật pháp cũng không cho phép,
huống chi nay lại mang đất lấy trộm dâng để làm dơ bẩn sổ sách nhà vua”.
Trước lý lẽ không thể chối cãi, nhà Tống đành phải trả lại. Nhờ công
trạng lớn này mà năm sau (1085) Lê Văn Thịnh được phong chức Thái sư.
|
Nguyễn Độ (Gia đình & Xã hội Xuân Canh Dần)
Trạng Nguyên Lê Văn Thịnh - Oan Khiên Đến Tận Bao Giờ ?
.bmp)
Trạng Nguyên Lê Văn Thịnh - Oan Khiên Đến Tận Bao Giờ ?
Trần Khải Thanh Thuỷ
Bắc Ninh - cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 30 km, một vùng đất quan họ hiền lành trù phú, nơi 9 đời vua nhà Lý đóng đô... một vùng huyền sử đẹp như mơ với những tên gợi nhớ, ăn sâu vào tiềm thức của bao người dân Việt, từ chùa Phật Tích, núi Thiên Thai, sông Cầu, sông Thương, sông Nguyệt Như, suối Hoa, suối Tương Tư, đường Nguyên phi ỷ Lan, phố Lê văn Thịnh .v.v... Có lẽ chưa vùng quê Việt Nam nào lại ẩn chìm nhiều bóng dáng chùa chiền, đền phật, tín ngưỡng đến thế. Tổng cả tỉnh Hà Bắc cũ (gồm hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang cộng lại) có 241 xã thì có tới 259 ngôi chùa lớn nhỏ, nhiều xã có tới 2-3 ngôi chùa .
Vốn là cây bút xông xáo, lại viết được, nói được, nên khi còn là phóng viên Báo đảng, dù chỉ là thứ báo hạng xòang như Cựu "chán" binh, Lao động thủ đô, Người cao tuổi .v.v... tôi vẫn được ban biên tập báo Bắc Ninh để ý, và đến hẹn lại nên, vào dịp tết, hay kỷ niệm ngày thành lập báo, nhóm văn nghệ sĩ thủ đô chúng tôi lại được ban lãnh đạo báo Bắc Ninh gửi giấy mời hoặc gọi điện thoại thông báo để xuống viết bài tham dự trong dịp báo xuân, báo tết cho thêm phần rôm rả, sang trọng, vì dù sao cũng là người của thủ đô, nhất nước về sự thanh lịch và trí tuệ...
Để có tư liệu viết bài, bao giờ cũng vậy, chúng tôi được ban biên tập cử phóng viên đưa xuống tận cơ sở miếu mạo đình chùa hoặc các phân xưởng sản xuất đồ gỗ Đồng Kỵ, xí nghiệp làm giấy vở học sinh, trung tâm kỹ nghệ chuyên đúc đồng, nặn tượng .v.v... Trong một lần như vậy, chúng tôi tìm đến đền thờ Lê văn Thịnh ở thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, một trong những huyện lớn, nằm ngay gần thành phố Bắc Ninh.
Con đường dốc thoai thoải dẫn lên một ngọn đồi yên tĩnh nơi đền toạ lạc, tôi nhàn tản bước vào năm gian Tiền đường và ba gian hai trái Hậu đường, mắt chú ý vào từng chi tiết trang trí, điêu khắc hiện rõ nét trên các bộ vì, bức cốn, bẩy hiên, lòng thầm phục sự tinh tế, sắc nét điêu luyện của những người thợ xưa, cách đây cả vài trăm năm. Dưới bàn tay họ, những bức hình trang trí theo mẫu thức truyền thống như Long, ly, quy, phượng, tùng, cúc, trúc, mai hiện lên thật điệu đà phong phú, sinh động, mang rõ nét dấu ấn nghệ thuật của thời nhà Nguyễn.
Khi bước tới gian miếu thờ ở bên ngoài, tất cả cánh văn nghệ sĩ chúng tôi đều nổi da gà khi bức vải được vén lên, một pho tượng bằng đá nguyên khối tạc hình một con rồng lớn đang nằm co quắp, một thế rồng khác với tất cả các con rồng cuộn, hoặc rồng bay khác mà tôi đã nhìn thấy từ hàng trăm ngôi đình chùa lớn nhỏ tại Việt Nam, dù là rồng cách điệu theo thời nhà Trần hay nhà Lý, nhà Nguyễn .v.v... . Một tư thế uất kết, miệng cắn lấy đuôi, 4 móng vuốt quắp chặt vào thân đau đớn, đôi mắt đỏ, đục, nhoà đi vì căm hận. Khiến ai nhìn thấy cũng phải rùng mình kinh sợ.

Cùng đi với tôi có chị Trương thị kim Dung - người của tỉnh Bắc Ninh làm báo phụ nữ thủ đô- người rất am hiểu lịch sử nước nhà, nên đã kịp nói qua đôi điều về tiểu sử của ngôi đền Lê văn Thịnh cũng như miếu thờ con rồng đặc biệt này.
Nỗi oan khiên từ cả nghìn năm không giải toả được vẫn còn hiển hiện
Theo sử sách để lại thì Lê Văn Thịnh sinh khoảng năm 1038, quê ở xã Chi Nhị, tổng Đại Lai, huyện Gia Bình (nay là thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh).
Năm Ất Mão (1075) Sau khi định đô ở Thăng Long được vài chục năm, lúc này đã yên bề xã tắc, nhà Lý chú trọng đến việc giáo dưỡng dân chúng, đào tạo người hiền tài cho đất nước, nên đã cho mở khoa thi đầu tiên trong lịch sử nước nhà, vừa khẳng định sự độc lập, cũng là thoát ra khỏi sự lệ thuộc với phương bắc nên gọi là khoa thi Tam trường hoặc Minh Kinh bác học. Người đỗ thủ khoa năm ấy cũng là ông nghè đầu tiên của nền học vấn Đại Việt là Lê văn Thịnh. Vốn là người có tài, lại gặp triều đình sáng suốt, biết trọng nguyên khí quốc gia, nên chỉ sau 10 năm ông đã lập công lớn và trở thành Thái sư, tức là thầy dạy học cho chính các công chúa hoàng tử trong triều (1085)
Trước đó, ngay khi ông đỗ thủ khoa, năm 1076, triều đình nhà Tống từ Trung Quốc sai Quách Quỳ (cấp trưởng) và Triệu Tiết (cấp phó) tại sứ Quảng Nam (tức khu tự trị Quảng Tây của Trung Quốc ngày nay ) làm chiêu thảo sứ, đem hàng triệu quân cùng 9 tướng lãnh đạo, hợp với quân Chiêm Thành và quân của Chân Lạp cùng ùa sang xâm lấn Đại Việt để trả thù về việc bị Lý Thường Kiệt và Tông Đản đem quân tấn công các châu Ung, Khâm, Liêm của nhà Tống năm trước, nhằm phủ đầu mưu đồ xâm lược của nhà Tống. Trên sông Như Nguyệt (Bắc Ninh) nơi triều đình nhà Lý đóng đô, Lý Thường Kiệt đã dàn quân, cùng các tướng lĩnh đánh tan hết trận này, trận khác khiến cả đội quân hùng, tướng mạnh của các sứ quân do Quách Quỳ chỉ huy phải thất điên bát đảo. Cuối cùng, để bảo vệ mạng sống, đích thân Quách Quỳ phải ra lệnh lui quân lên vùng biên giới phía bắc và chiếm châu Quảng Nguyên của Việt Nam (nay là hai tỉnh Cao Bằng, và Lạng Sơn ) để lẩn trốn, định đô.
Trên cơ sở thừa thắng xốc tới, lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy nhân nghĩa để thay cho cường bạo, mùa xuân năm 1078, vua Lý Nhân Tông sai Đào Tống Nguyên đi sứ sang trung quốc, đem theo 5 con voi thuần chủng biếu vua quan nhà Tống, để giảng hoà và xin họ trả lại phần đất của Việt Nam đã bị lấn chiếm cùng hàng nghìn người dân bị bắt về Trung Quốc trước đó. Năm 1079 nhà Tống trả lại hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, nhưng nhất định không chịu trả lại phần đất đai mà người dân buộc phải dâng cho nhà Tống. Vì thế , tháng 6 năm 1084, sau năm năm giằng co, lưỡng lự, Lê Văn Thịnh với cương vị là thị lang bộ Binh liền đến trại Vĩnh Bình cùng vua quan nhà Tống bàn việc cương giới. Tuy binh lực nhà Tống lúc đó đã bị Lý Thường Kiệt đánh thua tan tác, song với bản chất tham lam, tàn bạo, họ chỉ đồng ý trả lại phần đất đã xâm lấn chứ nhất định không nhượng lại phần đất cưỡng chiếm của thổ dân với lý do: "Đất ấy là của thổ dân "tự ý" đem sát nhập vào nhà Tống để tỏ lòng thuần phục chứ họ đâu có ỷ thế lấn chiếm. Vì thế, với kiến thức và sự lịch lãm, khoan dung cao độ, Lê Văn Thịnh đã trả lời Thành Trạc- sứ giả nhà Tống: Đã là đất thì phải có chủ, các viên quan được triều đình nhà Lý giao cho giữ đất để bảo vệ biên thuỳ mà lại đem nộp cho nhà Tống và trốn đi thì đất ấy đích thực là vật ăn trộm. Việc này, luật pháp Đại Việt không những không cho phép, mà còn làm dơ bẩn sổ sách của vua quan nhà Tống nữa vì đã nhập nhầm phần đất do thổ dân ăn trộm.
Bàn đi tính lại, cuối cùng, cách trả lời cứng cỏi, đầy đủ lập luận, lý lẽ của Lê văn Thịnh khiến nhà Tống cứng họng. Đơn giản vì luật pháp đã quy định rõ ràng. Tất cả các quan viên, khi nhận một phần lãnh thổ để canh giữ, nếu đem bán hoặc hủy bỏ đều có tội. Trong trường hợp này, các thổ quan- vốn là những người được Lý Nhân Tông tin dùng, cho cai quản các châu quận ở nơi biên ải xa, đã không giữ được sự tin cẩn của triều đình lại tự tiện đem đất đai của tổ tiên dâng cho nhà Tống, để xin thuần phục là xâm phạm vào lãnh thổ của Đại Việt. Còn việc nhà Tống tự tiện chiếm giữ đất ấy là bất hợp pháp, không minh bạch, không đáng giá, không xứng đáng với sự hoà hợp của hai dân tộc
Nhờ phân biệt rõ ràng các khái niệm khế ước ủy nhiệm, ký thác hay quyền sở hữu mà Lê Văn Thịnh đã buộc Nhà Tống- phải trả nốt 6 huyện, 3 động đã chiếm của đại Việt theo đúng ý mình. Nhân sự việc này người dân Tống có thơ rằng:
Vì tham voi Giao Chỉ
Bỏ mất vàng Quảng Nguyên.
Nghĩa là chỉ vì tham 5 con voi thuần chủng của người Giao chỉ (tức người Việt Nam) mà triều Đình nhà Tống của Trung quốc phải bỏ lại hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn (Quảng nguyên) chứa đầy vàng bạc, châu báu trong lòng đất.
11 năm trong cương vị thái sư- chuyên truyền đạt những điều hay lẽ phải những kiến thức uyên thâm sâu sắc cho con cái các bậc quân vương trong triều, trong sự tin cậy tuyệt đối của vua Lý nhân Tông (1072 - 1127). Không ngờ Tháng 3 năm 1096, ông gặp nạn, bị ghép vào tội mưu phản giết vua, và bị đi đầy ở vùng Thao Giang (nay là vùng Tam Thanh, huyện Sông Thao, tỉnh Phú Thọ), một vùng núi độc, rừng thiêng mà đến tận bây giờ, người dân vẫn còn truyền khẩu câu ca:
Sông Thao nước đục, bờ nông,
Ai lên tới đó thì không đường về.
Từ địa vị của người khai quốc công thần, cầm cân nẩy mực, thân cận với triều đình trở thành kẻ mưu phản, đại ác, lẽ ra ông bị tru di tam tộc như lịch sử sau này đã lặp lại với vụ án Lệ chi viên của quan đại thần Nguyễn Trãi. Chỉ nhờ công lao của ông với lịch sử nước nhà, cũng là bởi triều đại ông sống, thiên về đạo phật, kiêng sát sinh (cả nước có tới 50% số dân là sư sãi trong chùa), nên ông chỉ bị án di lý, đi đầy trăm dặm, không đến nỗi phải mất mạng mình cùng mạng con cháu ba đời...
Ở độ tuổi gần 60 mà phải đầy lên mạn ngược, gió lam, chướng khí, trong cảnh oan khiên, không biết ông sống thêm được bao năm, song khi mất, ông được cận thần, người ăn kẻ ở đưa về chôn cất ở quê nhà. Nơi đó là thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay, ngay trong khu vực chùa Bút Tháp.
Hiện tại sau gần 1003 năm, vụ án hồ dâm đàm vẫn còn là một nghi án lịch sử, mà phần oan khiên vẫn nghiêng về phía ông.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư chép: Tháng 3-1096 nhà vua ngự trên thuyền nhỏ ra hồ Dâm Đàm (hồ Tây ngày nay) để xem ngư dân đánh cá. Đang yên lành, chợt có mây mù nổi lên, giữa đám mây mù, bất thần nhà vua và các cận thần nghe thấy tiếng mái chèo rào rào và một chiếc thuyền nhỏ lao vun vút đến. Hoảng sợ, nhà vua liền lấy giáo ném vào chỗ ấy. Ngay lập tức mây mù tan, vua thấy trong thuyền là con hổ vằn vện rõ to đang nhe răng giơ vuốt gầm gừ. Giữa lúc mọi người tái mặt sợ hãi, lắp bắp "Việc nguy rồi!" , thì Mạc Thận- vốn quen với việc sông nước và cảnh quan tây hồ trong những lần đánh bắt cá nên đầy bình tĩnh, quăng lưới trùm lên mình hổ. Sau khi biết hổ bị sa bẫy, mọi người bình tâm nhìn lại và nhận ra con hổ chính là Thái sư Lê Văn Thịnh.
Từ sợ thành giận, nhà vua ra lệnh cho các quan đại thần lấy giây sắt trói nghiến lại và giải về triều, chịu cùm và giam cho tới chết. Sau đó, nghĩ tới công lao cũ của vị thái sư- một chức bậc quan trọng nhất nhì trong triều đình bấy giờ, nên đã tha tội chết, chỉ đày lên miền nước độc rừng thiêng thuộc thượng lưu sông Nhị.
Sau nghìn năm nhìn lại, dưới ánh sáng khoa học hiện đại, tác giả nghiêng về phía trạng nguyên Lê Văn Thịnh bị oan nhiều hơn. Có thể vì là người tinh thông lỗi lạc, lại quan hệ với vua và các quần thần như người ăn kẻ ở trong nhà nên khi thấy vị vua trẻ ra hồ xem ngư dân đánh cá (khi ấy vua Lý Nhân Tông mới bước sang tuổi 45) nên Lê Văn Thịnh nẩy ra ý định nghịch ngợm, trêu trọc bằng cách khoác tấm da hổ lên người rồi ngồi rình ở ven bờ trong đám lau lách rậm rạp (cách đây cả nghìn năm thì Hồ Tây còn um tùm, rậm rạp, lắm chim muông, thú dữ lắm). Khi thấy thuyền của vua tiến ra giữa hồ, liền lợi dụng lúc sương mù dày đặc nổi lên, chèo thuyền bơi ra, doạ vua một phen chơi, không ngờ nhà vua vì lo sợ cuống cuồng mà làm lệch thuyền, khiến thuyền bị lật úp , rơi tõm xuống hồ, cả tấm thân nghìn vàng ướt lướt thướt, run lẩy bẩy. Thế là từ đùa hoá thật, qúa mù ra mưa, Lê văn Thịnh bị khép tội mưu phản, giết vua để cướp ngôi.
Cũng có thể vì nhà vua ham vui tửu sắc, hay có vấn đề về sức khoẻ, ngồi trong cung cấm lâu ngày nên khi bơi ra giữa hồ gặp cảm mạo, giữa sương mù bảng lảng như khói như mây, nên trông gà hoá quốc, trông vị thái sư lại thành hổ vằn vện nên đã kết tội oan sai cho cận thần của mình.
Nhiều giả thuyết nghiêng về việc Lê Văn Thịnh- với tư cách tể tướng, Thái sư nên đã thực hiện cải cách về chế độ kinh tế -xã hội, quân sự theo tân pháp của nhà Tống do Vương An Thạch đứng đầu. Điều đáng tiếc, các cải cách này được lợi cho muôn dân nhưng lại đụng vào lợi ích thiết thân của các quan lại trong triều nên đã thất bại thảm hại, Bản thân Vương An Thạch bị đuổi về quê đuổi gà, làm vườn cho vợ. Thời đó, các thể chế Đại Việt đều mô phỏng theo thể chế của nhà Tống nên khi Vương An Thạch bị thất sủng thì Lê văn Thịnh cũng phải chịu kết cục tương tự.
Còn một giả thuyết khác, vẫn thường xảy ra với các triều đại từ xưa đến nay là trạng nguyên Lê văn Thịnh do qúa nghiêm khắc trong việc dạy bảo các cậu ấm cô chiêu của hoàng tộc theo đúng lễ nghĩa phép tắc của triều đình nên bị ganh ghét, đàm tiếu, đố kỵ rồi bị các đại thần vu oan giáng hoạ mà phải chịu án lưu đầy cho khuất mắt họ?
Lý giải về việc này, sử sách xưa chép lại: "Đương thời, khi còn là tể tướng, Lê Văn Thịnh có một người hầu cận, nguyên quán ở Việt Nam, nhưng theo học thầy tàu tận Trung Quốc, biết làm phép thả hơi mù và biến thành hổ báo để doạ nạt mọi người cầu lợi, cầu vinh, ra oai với thiên hạ. Do yêu mến vị trạng nguyên đầu tiên của nước nhà mà truyền đạt lại cho thầy và Lê Văn Thịnh đã dày công luyện rèn để học được phép thuật ấy rồi lập tâm giết vua để cướp ngôi. Khi kế hoạch bị bại lộ đã bị khép tội, đánh tuột mọi chức tước, lột áo mũ ô sa và chịu án lưu đày".
Dù thế nào thì mọi sự lý giải về trạng nguyên Lê văn Thịnh vẫn chỉ là phỏng đoán, song các giả thiết nghiêng về việc ông bị hàm oan là có thật.
Chắc hẳn trước khi chết ông đã để lại lời trăn trối cho con cháu và họ hàng thân thích, vì thế, vào thời hậu Lê, khi ông đã được giải oan, cháu con ông mới cho đúc một pho tượng bằng đá nguyên khối tạc hình một con rắn lớn (dạng rồng) trong tư thế "miệng cắn thân, chân xé mình" hòng toát lên nỗi đau đớn, phẫn uất như vậy. Theo quan điểm của người dân xã Đông Cứu, pho tượng chính là hiện thân của Lê Văn Thịnh, trạng khai khoa của nền quốc học Việt Nam, người đã chịu hàm oan trong vụ án hồ Dâm Đàm từ thời nhà Lý.
Việc phát hiện ra pho tượng và lập miếu thờ hoàn toàn ngẫu nhiên và thật lắm huyền thoại. Số là vào khoảng thập niên 90, những lũ trẻ làng vốn lăn lê bò toài với những trò chơi bắn bi, nghịch đất, bỗng phát hiện ra giữa đám đất đá gần đường có một phiến đá vảy rồng. Lúc đầu phiến đá chỉ là một chấm tròn nhỏ bằng đồng xu. Do tò mò, lũ trẻ lấy tay xoa hết lớp đất bên trên làm phiến đá lộ dần ra bằng bàn tay rồi bằng cả miệng chậu, cái mâm... Càng xoa rộng lớp đất phía trên, phiến đá vẩy rồng càng hiện lên rõ nét, trở thành sự quan tâm chú ý cho cả làng. Lập tức các bậc bô lão trong làng đem chuyện trình lên ủy ban nhân dân xã đông Cứu, uỷ ban nhân dân huyện Gia Bình, rồi uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Khi chuyên viên, cán bộ của sở văn hoá thông tin tận trung ương tìm về, lớp đất đã được đào sâu xuống cả mét để lộ ra toàn bộ thân tượng kỳ vĩ, uất kết. Sợ để tượng ở nguyên vị trí cũ, ngay dưới chân đồi, đông người qua lại sẽ bị thất thố hoặc bị vùi lấp như cũ, nên sau nhiều ngày bàn thảo, dân làng đã quyết định hô thần để rời tượng. Trong qúa trình khai quật, vì nôn nóng hay do sơ xuất mà nửa thân sau của tượng bị gãy nứt, đứt đôi, vì thế khi tượng đã được đưa lên đồi cao và xây miếu thờ, 5 trong số vài chục người khiêng đã bị thiệt mạng, tất cả đều là người của thôn Bảo Pháp.
Cho tới tận cuối thế kỷ 20, nghi án lịch sử về vụ án hồ Dâm Đàm vẫn chưa được giải toả, đến mức nhà viết chèo Tào Mạt trong vở chèo hiện đại nổi tiếng mang tên "Bài ca giữ nước" vẫn đưa tên thái sư Lê Văn Thịnh vào danh sách tội đồ, phản nghịch. Chính vì thế khi vở kịch được công diễn và lưu hành rộng rãi trên toàn quốc, đã gây ra không it chuyện dị thường, thị phi, số là người dân của thôn Bảo Tháp, sau khi phát hiện ra pho tượng chìm sâu trong lòng đất cả mấy trăm năm liền lập miếu thờ, tế lễ, hương khói quanh năm, trong khi các làng xung quanh, mỗi khi nghe vở bài ca giữ nước của Tào Mạt lại thốt lên đầy mai mỉa:
- Thấy chưa, thành hoàng làng của chúng mày đấy, người mà chúng mày gọi là tiến sĩ, thái sư, lập đền thờ, miếu mạo, rồi rước về để trình tế hàng năm vào ngày sự lệ chẳng qua chỉ là một tên nghịch tặc, phản loạn, lập mưu giết vua, đoạt quyền...
Lời qua tiếng lại, bên nào cũng cho là mình đúng, không bên nào chịu nhường bên nào. Hàng trăm trai tráng, lực điền của 5 thôn Đông, Lai, Nghiêm, Miễu và Lai Lẻ trong xã Nhị Chi xưa (nay là xã Đông Cứu) không chịu nổi sự xúc phạm đến tín ngưỡng, thành hoàng của làng mình, nên năm nào cũng bí mật đem vũ khí cuốc, xẻng gậy gộc, cho vào quan tài, tạo ra một đám ma giả, để tất cả cùng đi theo đưa tiễn, khi đến địa phận giáp ranh của hai làng liền bất ngờ hạ xuống, bật nắp quan tài lên lấy vũ khí xông vào đánh trả người làng lân cận. Ngược lại, làng kia cũng tìm mọi cách để quăng vải, tẩm dầu vào các mái nhà của người dân xã Đông Cứu làm bao nóc nhà cháy rụi... Cảnh máu chảy đầu rơi, loạn làng, bốc hoả do cháy nhà diễn ra liên tục trong nhiều năm, đến mức cả uỷ ban xã đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh cũng không can thiệp nổi. Năm 1993, bộ văn hoá thông tin phải đứng ra mời tất cả các sử gia nổi tiếng cùng cánh phóng viên báo đài về hội thảo. Sau ba ngày trời kết luận cuối cùng của cuộc hội thảo khẳng định ông là một danh nhân khoa bảng, người có công với triều đại nhà Lý, đặc biệt là Lý nhân Tông. Chuyện ông hoá hổ giết vua chỉ là một nghi án, một sự hàm oan... Khi các bức ảnh của cuộc hội thảo được công bố, lời phát biểu của các nhà học giả được phát thanh trên đài truyền hình, truyền thanh cả nước, cũng như sự lên tiếng kịp thời của các phóng viên trên mặt báo thì nỗi giận của dân làng Đông Cứu mới nguôi ngoai. Tên ông được đặt cho một tên đường phố của tỉnh Bắc Ninh, một ngôi trường phổ thông cơ sở cũng vinh dự mang tên ông.
Riêng nhà viết chèo Tào Mạt ngay sau đó đã mắc một chứng bệnh kỳ lạ ... Vốn là người con của quê hương quan họ, nơi một làn nắng cũng mang điệu dân ca nên tâm hồn ông qua việc tắm nắng, gội gió bao năm cũng đầy chất dân ca và chèo... Đang yên lành, ông bỗng mắc chứng đau đầu, sợ đủ mọi thứ, không dám tiếp xúc gặp gỡ ai, miệng luôn lảm nhảm rên hừ hừ, lẫn lộn mọi sự, lẫn lộn trước sau, sáng, tối, lẫn lộn con vật, con người, đặc biệt sợ công an. Bà Trần thị Bát, vợ ông kể, thời gian trước khi chết, cả đầu và cuối giường ông đều phải để quạt điện và bật suốt ngày đêm, trong khi trên người ông là chiếc chăn bông sù sụ, mà ông lúc nào cũng kêu nóng, kêu rét, miệng rên hừ hừ nhưng không cho tắt quạt hoặc cất chăn đi. Bạn bè thương quý tìm đến chờ ông cả buổi mà ông nhất định không cho người nhà mở cửa, phải bỏ về. Bà Bát, cứ sáng sớm hoặc tối trời lại dỗ dành khuyên giải để dắt ông ra khỏi nhà như dắt một đứa trẻ, để ông thơ thẩn hái hoa, bắt bướm, nghịch cây. Ngay cả hoa bèo, hoa rau muống cũng trở thành nỗi đam mê yêu thích của ông, giúp ông tạm quên chứng đau đầu. Thời gian cuối ông phải nhận một kết cục oan nghiệt mà cả nhà không dám nói, đó là con trai ông, vốn làm ở Sân bay Nội Bài, mua được một chiếc xe kích của cộng hoà dân chủ Đức, trong khi tiền còn phải vay mượn đã bị trấn trên đường từ Nội Bài về. Qúa tiếc chiếc xe đẹp đẽ, mới mua nên đã kiên quyết không chịu bỏ của chạy lấy người mà giằng co với lũ cướp, để bị mất mạng. Khi đó ông đang nằm bệnh viện. Vào những phút giây hiếm hoi tỉnh táo, không thấy con vào thăm, ông hỏi thì cả nhà đều nói tránh là "đang đi công tác xa nhà". Mãi tới ngày giỗ 49, cả nhà làm giỗ, người ra người vào chia buồn, dự lễ, không thể giấu được, đành nói rõ với ông. It ngày sau, đến lượt ông ra đi trong vật vã, hối tiếc, đau đớn. Người làng bảo ông bị thành hoàng của làng phạt vì tội đã báng bổ thánh thần, bẻ cong lịch sử**, biến danh nhân văn hoá thành kẻ phản diện, tiếm quyền bỉ ổi.
Ngày nay, đền thờ Thái sư Lê văn Thịnh còn lưu giữ nhiều tài liệu, hiện vật phong phú như: hai ngai thờ tượng ông, bộ bát bửu, thần tích, 5 đạo sắc phong, đạo sớm nhất phong năm 1853, đạo muộn nhất năm 1924 và hệ thống bia đá khắc dựng từ thời Nguyễn, đôi câu đối, cuốn thư và nhiều đồ thờ bằng đồng, gỗ, gốm, sứ. Đó là những di sản văn hóa quý từ thời Hậu Lê để lại, góp phần làm tăng thêm giá trị lịch sử và nghệ thuật cho nước nhà.
![]() |
| Tượng Thái sư Lê Văn Thịnh trong đền thờ tại thôn xã Đông Cứu, Gia Lương, Hà Bắc. Bài vị phía sau ghi: Lê Thái sư Đại vương |
Tượng ông đặt trong khám thờ sơn son thếp vàng lộng lẫy ở phần trang trọng nhất nơi Hậu cung. Nghệ thuật tạc tượng, điêu khắc gỗ, sơn son thếp vàng điêu luyện, lột tả chân dung thư thái của vị quan Thái sư tài năng, đức độ-người đã có công lao to lớn trong việc rèn dạy đấng quân vương thời niên thiếu, đồng thời cả trong mặt trận ngoại giao, kinh bang tế thế với vương triều nhà Tống để đòi lại lãnh thổ cho đất nước từ thời Lý, cách đây cả nghìn năm, ngược hẳn với pho tượng rồng đầy uất kết "miệng cắn thân, chân xé mình" phía ngoài miếu thờ.
Năm 2004 đền thờ ông mới được Bảo tàng Bắc Ninh và UBND tỉnh xếp hạng Di tích Lịch sử văn hóa, song điều trớ trêu là hình ảnh ông -kẻ phản tặc, thí nghịch, gian hùng trong vở chèo tuy đã bị cắt bỏ, song nhiều người trong giới chính sử của nước nhà vẫn coi ông là trọng tội. Ngay cả nhà sử gia lỗi lạc Ngô Sĩ Liên cũng viết về thái sư Lê Văn Thịnh: "Kẻ làm tôi, phạm tội giết vua, cướp ngôi mà được miễn tội chết, thế là sai trong việc hình, lỗi ở vua qúa tin sùng đạo Phật... " Theo vết chân của Ngô sĩ Liên, nhiều nhà sử học đương thời vẫn cho rằng: Sau gần 900 năm, nỗi oan khuất cuả ông mới được làm sáng tỏ, thì chứng tỏ ông là kẻ đại nghịch, vì sau lưng ông khi đó là một thế lực thù nghịch muốn lật đổ ngai vàng của vua, nên mới mượn lốt hổ để doạ vua. Bởi vùng hồ Tây khi ấy thỉnh thoảng vẫn có hổ xuất hiện... Chỉ vì âm mưu không thành mà phải chịu đi đày. Và vụ án hồ dâm đàm là vụ án có thật 100%, được lưu truyền lại nhiều đời trong lịch sử. Nếu bị oan, thì không phải đợi đến 897 năm (1096- 1993) mới được giải oan. Sự giải cứu này hoàn toàn do ý đồ của con cháu họ Lê, vì muốn cởi bỏ tiếng xấu cho ông tổ của mình nên đã tìm mọi cách để lật lại vụ án. Phía nhà nước cộng sản vì không muốn tiếp diễn cảnh máu chảy đầu rơi, người dân chém giết lẫn nhau nên đã xuê xoa mọi chuyện. Điển hình của xu hướng này là nhà sử học Bùi Thiết, người đã viết cuốn " đối thoại sử học" và bị nhà nước cộng sản coi là một trong 7 kẻ đốt ngôi đền lịch sử Việt Nam, sau khi cấm lưu hành cuốn sách của ông.
Lý giải về việc Thái sư "hoá hổ" trên thuyền, nhiều người bảo do tướng mạo ông từ bé đã giống hổ, nên giữa sương mù dâng lên dày đặc, nhà vua mới lầm tưởng. Ngay cả mẹ đẻ ông, nhiều lần vô tình ngắm ông học bài cũng ngất sỉu, đánh rơi cây đèn trên tay vì tướng mạo, vóc dạng, hình hài ông giống hệt một chú hổ con. Điều này ngược hoàn toàn với pho tượng của ông nơi đền thờ, nét mặt hài hoà, cân đối, lộ rõ vẻ thư thái, an nhàn, tinh thông, uyên bác của một vị trạng nguyên, tiến sĩ, thái sư...
Tóm lại cho đến giờ phút này, khi cả nghìn năm đã trôi qua thì việc xác định về ông vẫn còn nhiều tranh cãi, và nỗi oan khuất của ông còn hiển hiện từng ngày qua chính pho tượng bằng đá nguyên khối, tạc hình một con rồng lớn đang nằm co quắp, đặt trong miếu thờ ngay hông đền./.
Hà Nội - Bắc Ninh tháng 11-2008
Trần Khải Thanh Thủy
-------------
(*) Hồ Tây còn có tên là dâm đàm, vì cả ngày chỉ trừ giờ chính ngọ là sương tan, còn 23 giờ còn lại, đặc biệt là buổi sáng sớm và sẩm tối, lúc nào sương mù cũng bao phủ, như thơ xưa từng viết:
"Mịt mù khói toả ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”.
(**) Rất có thể Tào Mạt qua nghiên cứu lịch sử xưa để lại nên đã theo lời bàn của sử gia Ngô Sĩ Liên mà đưa tên thái sư vào diện phản nghịch trong vở chèo của mình.
(Theo Web Vietnam News Network, 4/12/2008)

Nhận xét
Đăng nhận xét