AN CHI GIẢI ĐÁP 8

(ĐC sưu tầm trên NET)

Lưu manh là gì?

(Petrotimes) - Bạn đọc: Xin ông cho biết nghĩa gốc của hai tiếng lưu manh. Chữ manh ở đây có phải cũng là manh trong thong manh và manh mối không, thưa ông? (Trần Văn Bá)
Học giả An Chi: Trước nhất xin nói về nghĩa của từng thành tố. Chữ manh 氓 có hai nghĩa mà “Hán ngữ đại tự điển” (Thành Đô, 1993) đã cho như sau:
“1 - Dân; cổ đại xưng bách tính (Người dân; xưa chỉ trăm họ)”. Mao Trạch Đông họa thơ Quách Mạt Nhược (“Họa Quách Mạt Nhược đồng chí”) có câu:
Tăng thị ngu manh do khả huấn
Yêu vi quỷ hoặc (quắc) tất thành tai.
Dịch ý:
Sư cũng dân lành còn sửa được
Yêu tinh là quỷ dấy tai ương
Trong bài “Manh” thuộc phần “Vệ phong” của Kinh Thi, mà câu đầu tiên là “Manh chi si si”, chữ manh cũng có nghĩa này. Đây là một bài thơ trữ tình hay nhất và sớm nhất trong lịch sử văn học Trung Quốc.
“2 - Dã dân. Chu triều chỉ cư trú tại bỉ dã địa khu tùng sự nông nghiệp sinh sản đích nô lệ”. (Dân quê. Thời Chu, chỉ những người nô lệ cư trú tại những vùng quê để sản xuất nông nghiệp).
Âm xa xưa của chữ manh 氓 trong tiếng Việt là mống, còn được giữ lại trong những lối nói mang tính quán ngữ như: không mống nào chạy thoát, chết không còn một mống. Nó chẳng có liên quan gì đến chữ manh trong thong manh cả. Thong manh là biến thể ngữ âm của thanh manh 青盲, một chứng bệnh về nhãn khoa. Vậy, một đằng là manh 氓 bộ thị 氏 , một đằng là manh 盲 bộ mục 目¿, chẳng liên quan gì đến nhau. Mà nó cũng chẳng liên quan gì đến chữ manh trong manh mối vì ở đây, chữ manh là một hình vị Hán Việt chính tông mà chữ Hán là 萌, có nghĩa là “khai mào”, “khởi đầu”, “dấy lên” như có thể thấy trong một cấu trúc khá quen thuộc là manh nha. Một đằng thuộc bộ thị 氏, một đằng thuộc bộ thảo 艹(艸), nên cũng chẳng liên quan gì đến nhau.
Lưu 流÷ có nghĩa gốc là trôi, chảy, rồi nghĩa phái sinh là du thủ du thực, rày đây mai đó.
Hai tiếng trên ghép lại thành danh ngữ lưu manh 流氓, được “Hán ngữ đại tự điển” giảng là: “Nguyên chỉ vô nghiệp du dân, hậu lai chỉ phẩm chất ác liệt, bất vụ chính nghiệp, vi phi tác đãi đích nhân”. (Vốn chỉ lưu dân không nghề nghiệp; về sau chỉ những kẻ phẩm chất dữ dằn, không làm việc chính đáng, làm bậy làm càn).
Thế là lưu manh vốn có nghĩa trung hòa, nhưng nay thì hai tiếng này có nghĩa là kẻ du thủ, du thực, rày đây mai đó, không có công việc làm ăn, rồi nghĩa bóng là đứa du côn, bất lương. Tùy theo ngữ cảnh mà nó có thể được dùng như danh từ hoặc tính từ. Với tư cách tính từ, nó hoàn toàn tương ứng với tiếng Anh rogue trong ngữ đoạn rogue state (= quốc gia lưu manh) mà Chính quyền Reagan của Hoa Kỳ từng dùng hồi thập niên 80 của thế kỷ trước để chỉ chế độ và chính sách của ông Muammar Kaddafi ở Lybia. Sau vụ đánh sập Tòa tháp đôi WTC ngày 11-9-2001 ở New York, thì ngày 16-9 năm đó, Chính quyền G.W.Bush đã công bố danh sách một số “quốc gia lưu manh” bao gồm: CHDCND Triều Tiên, Pakistan, Iraq, Iran, Afghanistan và Lybia. Chẳng biết có lưu manh hay không nhưng nhãn tiền thì các quốc gia này không đi xâm lược ai. Chứ hiện nay thì Hoa Kỳ, Anh, Pháp, EU và NATO hẳn hoi là những quốc gia và tổ chức lưu manh, ngang nhiên quẳng sọt rác Nghị quyết 1973 của Liên Hiệp Quốc cho phép lập vùng cấm bay ở Benghazi để oanh tạc Lybia mà ăn cướp dầu hỏa, vàng và tiền của nhân dân và quốc gia này.
Hiện nay, hai tiếng lưu manh cũng được dùng làm định ngữ để chỉ một khuynh hướng văn học: văn học lưu manh, mà dưới đây, chúng tôi xin dẫn một đoạn của Báo Tuổi Trẻ để giới thiệu với bạn đọc:
“Như thế, khái niệm “lưu manh" từ chỗ tụt quần áo trần truồng và xả ra ngôn từ rác rưởi, dễ bị nhận diện, đã trở thành lưu manh trong lý tưởng, lối sống và kinh khủng hơn là lưu manh trong các giá trị, ví dụ như: thưởng thức nghệ thuật xong sẽ đưa ra các lời bình luận thấp kém, phản bác, công kích nghệ sĩ; ngắm tượng Vệ Nữ xong chỉ phát hiện nàng này không mặc quần lót; gặp một cô giáo quên mình cứu học sinh thì chỉ nghĩ giá như cô giáo này làm điếm sẽ kiếm được nhiều tiền hơn; nhìn xã hội phong kiến chỉ thấy niềm vui sướng được ngủ với hàng đàn mỹ nữ mà không bị pháp luật sờ gáy; sống ích kỷ với thú vui bản thân bất chấp đạo đức xã hội lại được coi như đi tìm kiếm cái tôi đích thực, cái tôi cô đơn, khác biệt...”.
“Từ điển văn học online của Trung Quốc đưa ra một định nghĩa, theo đó, văn học lưu manh gần như buộc phải có hai thành tố cốt lõi là sex và báng bổ”.
“Văn học lưu manh được đông đảo độc giả và nhà phê bình quan tâm là bởi mỗi tác phẩm đều kéo theo sau nó rất nhiều lời phê phán lẫn tung hô của nhiều hạng người khác nhau trong xã hội”.
Nói chung thì lưu manh đại khái là như thế.
A.C

Gươm đàn: Đàn là vũ khí hay nhạc cụ?

(Petrotimes) - Bạn đọc: Trong "Truyện Kiều", khi viết về Từ Hải, cụ Nguyễn Du tả:"Giang hồ quen thói vẫy vùng, Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo". Xưa nay người ta thường hiểu "gươm đàn" có nghĩa là một thanh gươm và một cây đàn, ý chỉ một viên võ tướng nhưng lại là người hào hoa… Nhưng cũng lại có ý hiểu rằng, đàn ở đây không phải là cây đàn âm nhạc mà là một loại cung, bắn đạn tròn đi rất xa. Cuộc tranh luận này đã có từ rất lâu và xem ra vẫn chưa ngã ngũ. Thậm chí người ta còn cho rằng, câu thơ này lấy từ câu thơ Hoàng Sào bên Trung Quốc: "Bán kiên cung kiếm bằng thiên túng. Nhất trạo giang sơn tận địa duy". Vậy theo ông, gươm đàn mà Từ Hải mang bên mình thì đàn là vũ khí hay là dụng cụ âm nhạc? - (Như Thổ, Hà Nội)
Học giả An Chi: Từ câu hỏi của bạn, chúng tôi xin đặt vấn đề như sau cho tiện việc trả lời: - 1. Trong tiếng Hán, có từ đàn nào có nghĩa là “cung bắn đạn tròn đi rất xa” hay không? - 2. Nếu có, thì từ đàn này có đi vào tiếng Việt hay không? - 3. Ngay cả khi nó có đi vào tiếng Việt, thì có phải đó cũng chính là chữ đàn trong danh ngữ đẳng lập gươm đàn của "Truyện Kiều" hay không? Bây giờ thì xin trả lời bạn như sau:
1 - Trong tiếng Hán, chữ đàn 彈 còn có một âm nữa là đạn.
1.1 - Với âm đạn, "Hán ngữ đại tự điển" (Thành Đô, 1993) ghi cho nó ba nghĩa:
1.1a - Vật dùng để bắn viên tròn (= viên đạn) đi. "Hán ngữ đại tự điển" dẫn thiên “Thuyết thiện” trong sách "Thuyết uyển nói" rằng: “Đạn chi trạng như cung, nhi dĩ trúc vi huyền”, nghĩa là “cây đạn hình dạng như cây cung nhưng lấy tre làm dây”.
1.1b - Viên đạn, như đạn sắt, đạn đá, đạn đất sét.
1.1c - Đạn súng, đạn pháo và những loại trái nổ nói chung.
1.2 - Với âm đàn, "Hán ngữ đại tự điển", ghi cho nó 7 nghĩa mà nghĩa trực tiếp hữu quan là “dụng đạn cung phát xạ”, nghĩa là “dùng cây cung bắn đạn để bắn”.
1.3 - Vậy, với âm đàn thì chữ 彈 không có nghĩa là cung (đạn mới là cung). Từ đó suy ra, chữ đàn trong gươm đàn cũng không phải là cung vì nếu muốn biến nó thành cung thì phải đọc thành đạn.
2 - Câu hỏi 2 do đó cũng đã được trả lời.
3 - Thế thì đàn của Từ Hải không phải là vũ khí (cung) mà là nhạc cụ. Điều này phù hợp với việc xây dựng tính cách của Tử Hải mà tác giả của bản gốc là Thanh Tâm Tài Nhân đã phác họa. "Truyện Kiều" là truyện Tàu, từ cảnh vật đến nhân vật. Thanh Tâm Tài Nhân đã tả Từ Hải vắn tắt như sau:
“Hồi ấy có một tay hảo hán họ Từ, tên Hải, tự Minh Sơn, vốn người đất Việt, tâm tính khoáng đạt, độ lượng lớn lao, coi phú quý như lông hồng, nhìn người đời tự cỏ rác, vả lại anh hùng rất mực lược thao. Lúc thiếu thời cũng có học tập khoa cử, vì không đỗ đạt mới bỏ đi làm nghề buôn, của cải dư dật, lại thích kết giao bạn bè.” (Thanh Tâm Tài Nhân, "Truyện Kim Vân Kiều", Nguyễn Khắc Hanh và Nguyễn Đức Vân dịch, Nxb Hải Phòng, 1994, tr.279).
Cứ như trên thì Từ Hải chẳng những là một con người “2 trong 1”, mà còn đến “3 trong 1”: thư sinh, nhà buôn và võ tướng. Cao Xuân Hạo đã nhận định về việc miêu tả Từ Hải như sau:
“Bức phác họa chân dung này dường như chia ra làm hai phần, một phần là những nét của một thư sinh, một phần là những nét của một võ tướng. Đoạn tiểu sử của Từ Hải ở hồi XVI của Kim Vân Kiều truyện:
“...Chàng tinh cả lục thao tam lược, nổi danh cái thế anh hùng. Trước vốn theo nghề nghiên bút. Thi hỏng mấy khoa, sau xoay ra buôn bán. Tiền của có thừa, hay giao du với giới giang hồ hiệp khách...”.
Có thể biện minh cho tính chất lưỡng diện của bức chân dung này. Và đây cũng là một nét mới của văn học Trung Quốc ở thời đại của những Thanh Tâm Tài Nhân và những Bồ Tùng Linh, thời mà kiểu nhân vật vẹn thuần toàn bích đã bắt đầu nhường chỗ cho những kiểu nhân vật uyển chuyển hơn, gần con người bình thường hơn trong cái tính cách đa diện, nếu không phải là mâu thuẫn, của nó” (“Nghĩa của mày ngài trong câu thơ "Râu hùm, hàm én, mày ngài"”, Ngôn Ngữ, số 2-1982).
Đấy, Cao Xuân Hạo đã nhận định như thế nên chúng tôi lạm nghĩ rằng bất cứ ai tuyệt đối khách quan cũng không thể không thừa nhận rằng, Nguyễn Du đã theo sát Thanh Tâm Tài Nhân “kè kè một bên” trong việc múa bút vẽ nên diện mạo Từ Hải. Mà nếu đúng như thế thì gươm đàn ở đây chỉ có thể là một thứ vũ khí bên cạnh một nhạc cụ mà thôi.
A.C

Cù lao? Có năm thứ cù lao

(Petrotimes) - Bạn đọc: Thưa học giả An Chi, chữ “cù lao” thường là chỉ một doi đất nổi lên ở giữa sông. Vậy chữ “cù lao” dùng để nói về công lao cha mẹ thì xuất phát từ đâu? - (Hoàng Phương - Thành Công, Hà Nội)
Học giả An Chi: Hai tiếng “cù lao” mà bạn hiểu là “chỉ một doi đất nổi lên ở giữa sông” là một khái niệm về địa lý tự nhiên, bắt nguồn từ tiếng Mã Lai pulau, có nghĩa là “đảo”, mà phương Tây thường phiên âm thành poulo, còn tiếng Việt thì lại phiên thành… cù lao. Chúng tôi chưa tìm được nhiều thí dụ về mối lương duyên ngữ học cụ thể giữa p- của pulau với k- của cù lao; nhưng ít nhất ta cũng có một trường hợp đồng dạng tương ứng nữa nên có thể khẳng định đây là một điều chắc chắn: police (Pháp)  cú-lít (Việt). Do mối quan hệ từ nguyên này mà trong khi Đông Nam Á có nhiều pulau thì Việt Nam ta cũng có nhiều… cù lao: Cù lao Chàm, Cù lao Giêng, Cù lao Phố, Cù lao Rồng v.v…
Dĩ nhiên là hai tiếng cù lao trên đây chẳng có liên quan gì đến hai tiếng cù lao dùng để nói về công lao cha mẹ. Một đằng là gốc Mã Lai còn một đằng lại gốc Hán, bắt nguồn ở hai từ ghi bằng hai chữ 劬勞Ù, mà âm Hán Việt hiện đại là… cù lao. Hai chữ cù lao này thì lại xuất xứ từ Kinh Thi:
Phụ hề sinh ngã,
Mẫu hề cúc ngã,
Ai ai phụ mẫu
Sinh ngã cù lao,
Dục báo thâm ân,
Hạo Thiên võng cực.
Nghĩa là: Cha thì sinh ta, mẹ thì nuôi ta, thương thay cha mẹ sinh ta, nuôi dưỡng khó nhọc, muốn báo ơn sâu, ơn đức của cha mẹ mênh mông như bầu trời.
Ta thường nói chín chữ cù lao (Cửu tự cù lao), tức là chín điều khó nhọc của cha mẹ sinh dưỡng con cái. Chín chữ đó là: Sinh (sinh đẻ), Cúc (nâng đỡ), Dục (dạy dỗ), Phủ (vuốt ve), Xúc (cho bú sữa), Trưởng (nuôi cho khôn lớn), Cố (trông nom), Phục (ôm ấp), Phúc (bảo vệ).
Nhưng còn một thứ cù lao nữa mà có lẽ bạn chưa nghe nói đến. Thứ cù lao này thuộc về lĩnh vực ẩm thực trong tiếng Việt miền Nam, mà “Việt Nam tự điển” của Lê Văn Đức (Khai Trí, Sài Gòn, 1970) giảng là: “Cái lẩu, đồ đựng thức ăn có nước, giữa có ống đựng than lửa”. Trước năm 1955, khi tác giả của những dòng này chưa ra Bắc thì ở trong Nam, người ta vẫn còn gọi cái lẩu là cù lao; đến năm 1975, khi trở về thì đã nghe bàn dân thiên hạ gọi cù lao thành lẩu.
Ngoài ra, để “tận thu” từ ngữ, xin nói với bạn rằng còn một thứ cù lao nữa mà “Việt Nam tự điển” của Lê Văn Đức giảng là “cái quai trên đầu quả chuông”. Ở đây đã xảy ra một sự nhầm lẫn do từ nguyên dân gian đưa đến. Hai tiếng cù lao ở đây chẳng qua là do nói chệch từ hai tiếng bồ lao mà chữ Hán là 劬勞Ù, được “Hán Việt tân từ điển” của Nguyễn Quốc Hùng giảng như sau: “Tên một loài thú, có thuyết bảo là một loài chim cực lớn, thường đánh nhau với cá kình ngoài biển để giành mồi. Mỗi lần đánh nhau thì chim bồ lao kêu vang động một vùng. Vì vậy về sau người ta đúc hoặc khắc hình chim bồ lao ở chuông và khắc hình cá kình ở dùi đánh chuông, mong cho tiếng chuông đánh lên sẽ vang xa như tiếng kêu của chim bồ lao khi đánh nhau với cá kình”. Từ hải nói rõ hơn rằng, chính cái núm chuông mới là hiện thân của con chim bồ lao và cũng chính vì thế nên trong Nam mới gọi chệch cái núm chuông từ bồ lao thành cù lao.
Cuối cùng là cái… đít chai mà “Việt Nam tự điển” của Lê Văn Đức giảng là “cái đáy ve nổi u lên để chịu sức nặng của nước”. Khi cái chai còn đọng một phần nước ở đáy thì cái cục u đó nổi lên như một hòn đảo tí hon và làm ẩn dụ cho cái cù lao.
Thế là ta có năm thứ cù lao.
A.C

Nam văn nữ thị

(Petrotimes) - Bạn đọc:  Xin cho hỏi tại sao trước đây cha mẹ đặt tên cho con trai thường lót chữ "Văn" còn con gái thường lót chữ "Thị"? (Nguyễn Thị Hồng Đào)
Học giả An Chi: Về vấn đề này, ông Lê Trung Hoa có cho biết như sau:
“Chúng tôi đọc thấy một điểm đáng chú ý trong cuốn “Les langages de lhumanité” của Michel Malherbe (...): Có lẽ tên đệm Văn có nguồn gốc từ tiếng Arập ben (con trai) và tên đệm Thị cũng từ tiếng Arập binti (con gái) do các thương nhân Arập vào buôn bán ở bờ biển Việt Nam. Tuy tác giả không nêu cứ liệu, chúng tôi thấy có khả năng đúng, vì: – về ngữ âm ben cho ra văn, binti cho ra thị là có thể chấp nhận; – Việt Nam chịu ảnh hưởng “họ” của người Trung Hoa. Nhưng người Trung Hoa trước đây và hiện nay không dùng các từ đệm văn và thị phổ biến như người Việt Nam” (Họ và tên người Việt Nam, Hà Nội, 1992, tr.62, chth.1).
Ông Hoa nói như thế còn chúng tôi thì cho rằng, nói ben có thể cho ra văn và binti có thể cho ra thị chẳng khác nào nói rằng, tiếng Pháp petit đã cho ra tiếng Việt bé tí còn colosse thì đã cho ra khổng lồ, chẳng khác nào nói tiếng Ý ciao đã cho ra tiếng Việt chào còn tiếng Tây Ban Nha niđo thì đã cho ra nhỏ nhí. Nhận xét của Malherbe xuất phát từ một sự so sánh vô nguyên tắc mà sự công nhận của ông Lê Trung Hoa thì cũng chẳng có cơ sở khoa học nào. Lẽ ra, ông Hoa phải hiểu tiếng Việt hơn Malherbe mới đúng. Trong trường hợp này, Malherbe đã làm một công việc mà Henri Frei đã làm cách đây gần 120 năm trong quyển “Lannamite, mère des langues” (Tiếng An Nam, mẹ của các thứ tiếng – Hachette & Cie, Paris, 1892), trong đó quan năm Frei này đã so sánh tiếng Việt với nhiều thứ tiếng, có khi thuộc những ngữ hệ cách nhau rất xa. Ngữ học so sánh có những nguyên tắc của nó; không thể cứ thấy hai từ giống nhau thì vội vàng khẳng định chúng là bà con, như Frei và Malherbe đã làm và ông Lê Trung Hoa đã cả tin.
Thật ra thì chữ lót Văn trong tên của nam giới chính là chữ “văn” trong “văn thân”, nghĩa là xăm mình. Nhưng trước khi phân tích và chứng minh, xin hãy chép lại đoạn nói về “Tục lệ xăm mình của người Việt cổ” ở Wikipedia (cho đến tối ngày 19/9/2011):
Sách “Lĩnh Nam chích quái” (phần “Hồng Bàng thị truyện”) viết như sau:
“Bấy giờ, dân trên núi xuống nước đánh bắt cá thường bị thuồng luồng gây thương tổn, bèn cùng nhau tâu việc ấy với vua. Vua nói: “Các giống ở trên núi khác với các loài ở dưới nước. Các loài ở dưới nước chỉ ưa những gì giống với mình và ghét những gì khác mình, vì vậy, ta mới bị gây hại”. Nói rồi, vua bèn ra lệnh cho ai nấy cũng phải lấy màu xăm hình thủy quái vào người. Từ đó, không bị thuồng luồng gây thương tích nữa. Tục vẽ mình của dân Bách Việt bắt đầu có kể từ đấy. Đặc biệt thời Trần, những thành viên thuộc đội quân Thánh Dực bảo vệ xa giá sẽ được xăm lên trán ba chữ Thiên Tử Quân (Quân đội Thiên tử). Nghệ thuật này còn được thấy rõ rệt dưới triều đại này với việc xăm hai chữ “Sát Thát” (Giết giặc Tartar) trong thời kỳ kháng chiến chống Nguyên Mông, thể hiện sự quyết tâm đồng lòng chiến đấu, bảo vệ giang sơn của cha ông ta. Thường những người xăm trổ thời ấy đều là những chiến binh dũng cảm và can trường, họ xăm trổ để thể hiện sức chịu đựng và chí hướng của mình. Nhiều người dân thường cũng xăm lên bụng những chữ “Nghĩa dĩ quyên khu”, “hình vu báo quốc” thể hiện tinh thần thượng võ”.
Câu “Vua bèn ra lệnh cho ai nấy cũng phải lấy màu xăm hình thủy quái vào người” trong “Lĩnh Nam chích quái” là một câu có tính chất hồi chỉ và nó hồi chỉ “dân trên núi xuống nước đánh bắt cá”. Những người dân này chỉ là đàn ông. Cho đến tận thời nay, ra khơi đánh cá vẫn chỉ là đàn ông mà thôi. Thiên tử quân đời Trần cũng chỉ là đàn ông. Cho đến mãi thế kỷ XX thì trong nội bộ người Việt, xăm mình vẫn chỉ có đàn ông (chứ phụ nữ Mãng, chẳng hạn thì có xăm mặt). Cứ như trên thì xăm mình là một nét đặc trưng của đàn ông người Việt thời xưa và đặc trưng này đã được đưa vào tên họ của họ. Truy nguyên ra thì thấy như thế và những cái tên, chẳng hạn như Trần Văn Ổi vốn có nghĩa là người họ Trần tên Ổi có xăm mình; Phạm Văn Me vốn có nghĩa là người họ Phạm tên Me có xăm mình; Võ Văn Xoài vốn có nghĩa là người họ Võ tên Xoài có xăm mình; mà hễ có xăm mình thì đều là đàn ông.
Ý nghĩa của tục lệ này dần dần phai mờ với thời gian nên về sau, chẳng cần có xăm mình gì cả thì con trai sơ sinh vẫn thường được cha mẹ dùng chữ Văn làm tiếng lót khi đặt tên.
Còn thị là một từ Việt gốc Hán, chữ Hán viết là 氏. Đây là tiếng dùng để chỉ phụ nữ. Nghĩa này của nó được Từ nguyên và Từ hải ghi là “phụ nhân xưng thị” (đàn bà gọi là thị) còn “Vương Vân Ngũ đại từ điển” thì ghi là “phụ nhân” (đàn bà) và “Mathews Chinese - English Dictionary” thì ghi “a female” (người thuộc giới tính nữ). Từ nguyên còn cho biết rõ thêm rằng ngày nay thị cũng là một từ mà phụ nữ dùng để tự xưng (Kim dịch vi phụ nhân tự xưng chi từ).
Trong tiếng Việt, nó còn có một công dụng mà “Từ điển tiếng Việt” 1992 đã ghi như sau: “Từ dùng để chỉ người phụ nữ ở ngôi thứ ba với ý coi khinh”. Vậy rõ ràng thị có nghĩa là đàn bà. Nhưng do đâu mà nó trở thành tiếng lót, tức tên đệm của phụ nữ? Thì cũng là từ công dụng của nó trong tiếng Hán mà ra, sau một quá trình chuyển biến ngữ nghĩa. Công dụng này đã được “Hiện đại Hán ngữ từ điển” (Bắc Kinh, 1992) chỉ ra như sau: “Đặt sau họ của người phụ nữ đã có chồng, thường thêm họ chồng vào trước họ cha để xưng hô” (Phóng tại dĩ hôn phụ nữ đích tính hậu, thông thường tại phụ tính tiền gia phu tính, tác vi xưng hô). Thí dụ: Triệu Vương thị là “người đàn bà mà họ cha là Vương còn họ chồng là Triệu”.
Người Việt Nam ngày xưa đã không làm y hệt theo cách trên đây của người Trung Hoa mà chỉ đặt “thị” sau họ cha rồi liền theo đó là tên riêng của đương sự theo kiểu cấu trúc “X thị Y”, hiểu là người đàn bà họ X tên Y. Cấu trúc này giống như cấu trúc có yếu tố công (= ông) mà dân Nam Bộ đã dùng để gọi nhà yêu nước Trương Định một cách tôn kính: Trương Công Định, có nghĩa là “ông (được tôn kính) họ Trương tên Định”. Hoặc như của chính người Trung Hoa khi họ khắc trên mộ chí của Trương Khiên mấy chữ Trương Công Khiên (chi mộ), có nghĩa là “(mộ của) ông (được tôn kính) họ Trương tên Khiên”. Vậy, cứ như đã phân tích, Nguyễn Thị Mẹt là người đàn bà họ Nguyễn tên Mẹt, Trần Thị Nia là người đàn bà họ Trần tên Nia, còn Phạm Thị Cót là người đàn bà họ Phạm tên Cót, v.v... Cách hiểu nguyên thủy này đã phai mờ dần theo thời gian, làm cho về sau người ta tưởng rằng thị chỉ là một yếu tố có tính chất “trang trí” cho tên của phái nữ mà thôi. Chính vì đã không còn hiểu được công dụng ban đầu của “thị” nữa nên người ta mới dùng nó mà làm tiếng lót, nghĩa là tên đệm, cho các bé gái khi chúng chào đời. Người ta đã làm như thế mà không ngờ rằng ngày xửa ngày xưa, các cụ bà của chúng chỉ được dùng tiếng thị để chỉ định sau khi họ đã trưởng thành và rằng thị chỉ được dùng chủ yếu là trong lời nói, đặc biệt là trong ngôn ngữ hành chính, chứ không phải là cho việc đặt tên.
Ý nghĩa và xuất xứ của hai tiếng “văn” và “thị” trong họ tên người Việt trước đây, theo chúng tôi đại khái là như thế. Chứ hai từ ben và binti của các chú lái buôn người Arập thì chẳng có liên quan gì với nó cả.
A.C

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32