ĐỊA LINH NHÂN KIỆT 62

(ĐC sưu tầm trên NET)

Trương Xán

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trương Xán (chữ Hán: 張燦, ? - ?) là Trạng nguyên thứ 3 trong lịch sử khoa cử của Việt Nam.
Ông quê ở xã Hoành Bồ, huyện Quảng Trạch, châu Bố Chính, nay là huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Tuy nhiên, chú thích số 763 của Đại Việt Sử ký Toàn thư lại chép rằng ...Quốc Lặc người huyện Thanh Lâm (châu Hồng); Trương Xán người huyện Tế Giang (lộ Bắc Giang); Trần Uyên người huyện Đường Hào (châu Hồng)... Do người đỗ Trại trạng nguyên phải sinh sống từ khu vực Hoan Châu, Diễn Châu (Thanh Hóa - Nghệ An) trở vào nên có thể là do nguyên quán của Trương Xán là Tế Giang, Bắc Giang nhưng đã chuyển vào Hoành Bồ, Quảng Trạch sinh sống.
Tháng hai năm Nguyên Phong thứ sáu (1256), đời vua Trần Thái Tông, Trương Xán đỗ Trại trạng nguyên cùng với Kinh trạng nguyên Trần Quốc Lặc, bảng nhãn Chu Hinh (朱馨), thám hoa lang Trần Uyên (陳淵). Khoa thi này là khoa thi đầu tiên phân ra kinh và trại trạng nguyên của nhà Trần, với 43 người thi đỗ thái học sinh, trong đó 42 người thuộc khu vực từ Ninh Bình trở ra.

BẠCH LIÊU - VỊ TRẠNG NGUYÊN KỲ LẠ TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

25/1/2014

Một trí thức tài hoa lỗi lạc như ông mà tài liệu về ông còn rất ít. "Ðại Việt sủ ký toàn thư" chép vắn tắt: "Tháng ba năm Thiên Long thứ chín đời Trần Thánh Tông, khoa thi lấy Kinh trạng nguyên Trần Cố, Trại trạng nguyên Bạch Liêu. Tư chất thông minh, trình độ học vấn như thế quả là xuất chúng. Bạch Liêu còn gọi là Bạch Đồng Liêu sinh ngày 15 tháng giêng năm Bính Thìn(1236) ở làng Thanh Đà, tổng Quỳ Trạch huyện Đông Thành (nay là xã Mã Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An). Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, giàu lòng yêu n­ước, Cha làm nghề dạy học, bốc thuốc, là ng­ười “tích phúc truyền gia”, lấy nhân nghĩa làm gốc. Thủa nhỏ Bạch Liêu nổi tiếng thần đồng: 6 tuổi biết đọc, 7 tuổi biết làm thơ, 8 tuổi làm đư­ợc văn bài, 15 tuổi tiếng tăm vang lừng khắp quận huyện. T­ương truyền “Ông có trí nhớ dai chẳng ai bằng, có cặp mắt lóng lánh, nhãn quan thần lực đọc sách 10 dòng trong nháy mắt”. Trạng nguyên Bạch Liêu mất ngày 24 tháng giêng năm ất Mão (1315) thọ 79 tuổi. Trạng nguyên Bạch Liêu đư­ợc vua Trần phong sắc Đ­ương cảnh thành hoàng đại vư­ơng, dân lập đền thờ tôn vinh vị Tổ khai khoa của xứ Nghệ. Ông được nhiều địa phương suy tôn và lập đền thờ. Hiện nay con cháu trực hệ của dòng họ Bạch đã tu sửa nhà thờ và phần mộ của ông tại xã Mã Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

Trạng nguyên đệ nhất tam khôi
Nhất danh, nhất giáp, đầu ngôi bảng vàng
Mũ rồng áo tía vua ban
Lọng xanh đi tr­ước, lọng vàng theo sau...
 Ðó là cảnh Trạng Nguyên Bạch Liêu  vinh quy về nhà, qua vè dân gian. Một số t­ư liệu cho biết: Bạch Liêu đậu Trạng nguyên như­ng xin không ra làm quan để ở nhà báo hiếu song thân, góp công sức xây dựng quê nhà, đ­ược vua chấp nhận. Ðủ thấy phẩm chất cao quý của ông: không màng công danh phú quý, chịu nghèo khó lo phụng dư­ỡng cha mẹ, giúp đỡ quê h­ương.
Biết thêm: Ông là môn khách thân tín của Trần Quang Khải khi ông này làm trấn thủ Nghệ An. Trần Quang Khải mến tài trọng đức Bạch Liêu, th­ường gặp gỡ xư­ớng họa thơ văn, đàm đạo việc quân việc n­ước. Năm 1287 Bạch Liêu đ­ược cử đi sứ sang Trung Quốc, rồi về sống ở làng Nghĩa Lộ­ xứ Hải Ðông dạy học, bốc thuốc, dạy dân cày cấy. ở Nghĩa Lộ­ cũng nh­ư ở quê đều xây đền thờ ông làm thần.
Thời Trần có hai khoa thi năm Bính Thìn (1256) và Bính Dần (1266) triều đình lấy hai học vị Trạng nguyên: Kinh Trạng nguyên cho người ở phía Bắc và Trại Trạng nguyên cho người từ Thanh Hóa trở vào.
Người đỗ Trại Trạng nguyên năm Bính Dần (1266) là Bạch Liêu, quê ở làng Thanh Đàm, xã Nguyễn Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu (nay thuộc Diễn Châu, Nghệ An). Ông là một trường hợp rất đặc biệt trong lịch sử khoa cử và quan trường Việt Nam, đỗ Trạng nguyên nhưng không ra làm quan, không có chức vị, tước phong gì nhưng vẫn là một đại thần. Tiếc rằng tư liệu về Bạch Liêu không có nhiều, chỉ có ít dòng ghi chép trong sách sử, mẩu chuyện và giai thoại dân gian nên chúng ta không rõ nhiều về năm sinh, năm mất, gia thế, sự nghiệp…của ông.
Truyền rằng Bạch Liêu là người rất thông minh, tính tình cương trực, đọc sách một lần là nhớ. Trong cuốn Đại Việt sử ký toàn thư có viết về ông như sau: “Liêu người Nghệ An, tính thông minh nhớ lâu, đọc sách 10 dòng một lúc”. Sau khi đỗ Trạng nguyên, Bạch Liêu không ra làm quan mà xin vua cho về quê hương để ở nhà báo hiếu cha mẹ, giúp việc cho làng xóm.
Khi ấy, trấn thủ Nghệ An là Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải biết tiếng ông, lại mến tài trọng đức bèn mời Bạch Liêu làm môn khách trong nhà. Hai người thường xướng họa thơ phú, đàm đạo văn chương rất tâm đắc; dần dần Trần Quang Khải coi Bạch Liêu là người thân tín, cho ông tham gia bàn việc quân, việc nước.
Nghệ An thời Trần thuộc đất Hoan Diễn, một khu vực quan trọng có vị trí chiến lược như bức tường thành bảo vệ phía Nam Đại Việt. Nhận thấy rằng để có thể xây dựng Hoan Diễn thành vùng đất trù phú, giàu mạnh tạo thành chỗ dựa cho quốc gia, Bạch Liêu đã suy nghĩ một thời gian để viết ra Biến pháp tam chương, đề xuất ba việc cần làm, đó là:
- Kiểm tra dân số, biên hết vào sổ nhân khẩu. Chiêu mộ tráng đinh sung vào quân đội, chia làm nhiều phiên thường xuyên luyện tập võ nghệ, phép đánh trận để khi cần sẽ dùng đến. Mặt khác lập các xưởng rèn đúc vũ khí để trang bị cho binh lính.
- Khuyến khích các vương hầu, quan tướng lập điền trang rồi chiêu tập dân nghèo, người không có ruộng và đưa gia nô vào canh tác, khai khẩn để có thêm lương thực, của cải. Làm đường thiên lý từ Thanh Hóa vào đến dãy Hoành Sơn, cứ 20 dặm lại lập kho chứa thóc và binh khí.
- Ở những nơi giáp biên giới phải xây dựng các đồn lũy bảo vệ, mặt khác đưa dân đến khai hoang, lập ấp, dựng làng để dựa vào nhau, tạo thế ỷ dốc vững mạnh.
Đọc xong Biến pháp tam chương của Bạch Liêu, Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải tấm tắc khen ngợi, sau đó ông cho thi hành ngay. Điền trại, đồn lũy được lập nhiều nơi; sau mấy năm thực hiện “biến pháp” Hoan Diễn đã trở thành một vùng đất giàu mạnh. Tháng 3 năm Tân Mùi (1271), triều đình triệu Trần Quang Khải về kinh giữ chức Tướng quốc thái úy, coi giữ việc nước. Trước khi đi ông đã gặp Bạch Liêu dặn dò tiếp tục giúp các quan tướng thực hiện “biến pháp” đã định. Từ đó mặc dù cách trở đường xa nhưng Trần Quang Khải vẫn trao đổi thư từ với Bạch Liêu, hỏi ý kiến nhiều việc quan trọng.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ II, đất Hoan Diễn được coi là địa bàn chiến lược. Bấy giờ quân Nguyên tiến vào nước ta theo hai hướng khác nhau, hướng thứ nhất do Thoát Hoan chỉ huy từ Bắc đánh xuống, chúng chia làm hai cánh quân và bắt đầu xâm phạm lãnh thổ nước ta cuối tháng Giêng năm Ất Dậu (1285). Hướng thứ hai do tướng Toa Đô cầm đầu theo đường thủy vượt biển đánh chiếm Chiêm Thành, tạo bàn đạp từ phía Nam đánh thốc lên. Vua Trần sai cha con Trần Quốc Khang và Trần Kiện đem binh vào hỗ trợ cho việc trấn giữ Hoan Diễn để cản bước tiến của Toa Đô, thế nhưng Trần Quốc Khang không có tài cầm quân nên thua trận, Trần Kiện thì hèn nhát ra hàng giặc. Tình hình chiến trường phía Nam hết sức khó khăn, phức tạp; chính vì vậy Trần Quang Khải được cử vào tăng viện cho Trần Nhật Duật đang chống giặc ở đây. Ông cho mời Bạch Liêu vào quân doanh để giúp việc quân, Bạch Liêu đã dâng kế sách đối phó, chỉ rõ tình hình Hoan Diễn, phân tích thế và lực của ta của giặc. Trên cơ sở đó Trần Quang Khải điều khiển binh tướng tổ chức đánh trả quyết liệt khiến cho đạo quân của Toa Đô bối rối, sa lầy; chúng buộc phải đóng lại ở một số thành tại Nghệ An, Thanh Hóa rồi cuối cùng cố sức tiến ra Bắc để thực hiện mưu đồ tạo gọng kìm chiến lược tiêu diệt quân chủ lực của ta. Thế nhưng âm mưu đó hoàn toàn thất bại, từ tháng 4 năm Ất Dậu (1285) quân Đại Việt tổ chức phản công trên khắp chiến trường, để rồi đến đầu tháng 6 cùng năm, quân Nguyên Mông đã bị quét sạch ra khỏi bờ cõi.
Là người có những đóng góp nhất định vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống giặc nên Bạch Liêu có tên trong danh sách được triều đình định công ban thưởng nhưng ông từ chối mọi tước vị, vật phẩm. Biết tài của ông, lại thấy nhà Nguyên vẫn chưa chịu từ bỏ tham vọng xâm chiếm nước ta, năm Đinh Hợi (1287), vua Trần sai Bạch Liêu đi sứ để thăm dò; khi về nước ông trở lại quê hương dạy học, bốc thuốc chữa bệnh. Một thời gian sau đó ông di cư ra Bắc, tới sống ở làng Nghĩa Lư, huyện Thanh Tâm, xứ Hải Đông (nay là Hải Dương).
Khi Bạch Liêu mất, ở Nghĩa Lư cũng như tại quê hương, dân làng đều xây đền thờ phụng; triều đình phong ông làm Phúc thần, hiệu là Dương cảnh thành hoàng đại vương. Hiện nay tại đền thờ ông ở làng Nguyễn Xá, huyện Yên Thành, Nghệ An vẫn còn lưu giữ đôi câu đối:
Sinh tiền bất dĩ Đông A đế,
Một vị năng vi Nguyễn Xá thần.
Nghĩa là:
Sống không nhận quan tước của vua Trần,
Chết làm phúc thần của làng Nguyễn Xá.
Một số hình ảnh về Lăng mộ và Đền Thờ Trang Nguyên Bạch Liêu
Nhà thờ Trạng Nguyên Bạch Liêu tại xóm Thanh Đà - Mã Thành - Yên Thành - Nghệ An - Di tích LSVH QG
Mộ Bạch Liêu dưới chân núi Hồng Lĩnh, trên cao là ngọn Hương Tích có chùa Hương Tích (dựng đời Trần) rất nổi tiếng. Nay thuộc thôn Phú Hưng xã Thiên Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Khu mộ đã được xếp hạng DTLSVH
Đôi cấu đối có nội dung:
Bên phải: Long thủ giáp khoa danh tại sử
Bên trái: Hùng Sơn đĩnh tộc miếu ư gia
Nguyễn Bá Thuỷ - sưu tầm, tổng hợp từ Internet

Ly kỳ chuyện Bạch Liêu hiến kế đánh giặc

(Kiến Thức) - Không ra làm quan, nhưng Trạng nguyên Bạch Liêu theo giúp Trần Quang Khải vạch ra những kế sách quan trọng trong công cuộc chống quân Toa Đô trên đất Nghệ An.

3 kế sách để củng cố kinh tế và quốc phòng
Trong thời gian từ năm 1266 - 1271, Nghệ Tĩnh là điểm tiền tiêu chiến lược của âm mưu xâm lược Đại Việt lần thứ hai của đế quốc Nguyên Mông. Để chuẩn bị cho việc đối phó với quân giặc, Trần Quang Khải hỏi kế Bạch Liêu rồi họp các nhân vật trọng yếu trong trấn bàn kế chống giặc. Ngay trong năm Bính Dần (1266) Bạch Liêu đã giúp Trần Quang Khải vạch ra một kế hoạch gồm các công việc quan trọng.
Về tuyển quân: Bạch Liêu hiến kế điểm lại dân số, tuyển trai tráng vào quân ngũ với một số binh lính đủ 10 vạn quân, luyện tập võ nghệ và sắm đủ số vũ khí. Chọn lấy một số quân thường trực, còn số binh lính khác lúc nào giặc đến thì xung quân.
Về quân lương: Bạch Liêu đề nghị với Trần Quang Khải cho tăng dần niên liệm, quyên góp, tích trữ lương thực từ ít đến nhiều làm sao cho từ Hoành Sơn (Hà Tĩnh) trở ra Ngọc Sơn (Thanh Hoá) cứ 20 dặm dọc theo đường lớn có một kho công kín đáo chứa đầy thóc. Tiền đồng và binh khí cũng phải dự trữ để cung ứng khi có chiến sự.
Nhà thờ trạng nguyên Bạch Liêu tại Yên Thành, Nghệ An. 
Về sách lược đối với phía Nam: Củng cố các đồn binh ở biên giới phía Nam Nghệ An (tức đất Hà Tĩnh ngày nay) đồng thời cho nông dân về khai khẩn đất bỏ hoang của người Chiêm Thành. Khai hoang tới đâu, cho dân lập làng tới đó, vừa mở thêm bờ cõi vừa cảnh giác với bọn địch.
Trần Quang Khải khéo dùng Bạch Liêu, khéo vận động quân dân Nghệ Tĩnh thực hiện "biến pháp" nên đã đạt được nhiều kết quả trên các mặt kinh tế, xã hội và củng cố quốc phòng, nên được triều đình khen ngợi.
Cuộc chiến chống quân Nguyên Mông tại Nghệ An
Tháng 8 năm Nhâm Ngọ (1282), Toa Đô đem 50 vạn quân tinh nhuệ phao tin là mượn đường đi đánh Chiêm Thành, nhưng thực tế là sang xâm lược nước ta. Mùa đông năm Giáp Thân (1284) đại quân của Thoát Hoan chia thành nhiều mũi, từ biên giới phía Bắc đánh vào nước ta, chiếm Vĩnh Châu, Nội Bàng, Thiết Lược, Chi Lăng rồi tràn xuống Vạn Kiếp.
Trong khi đó thì cánh quân của Toa đô đã chiếm xong Ô Lý đang tiến gấp ra Nghệ An. Trong triều, bọn tôn thất hèn nhát, bất mãn như Trần Kiện, Trần Quốc Khang muốn đầu hàng hơn là muốn đánh. Tháng 12 năm Giáp Thân (1284), Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn xin lệnh vua để Thượng tướng thái sư Trần Quang Khải trở lại Nghệ An chặn đánh cánh quân của Toa Đô.
Mộ Bạch Liêu. 
Trần Quang Khải kéo quân vào Nghệ An gặp lại mưu sĩ Bạch Liêu cùng nhiều quan chức địa phương bàn kế chống giặc Toa Đô. Quân Toa đô tiến công dữ dội, chúng chiếm đóng phía Nam sông Cả (sông Lam) từ ngoài biển lên đến huyện lỵ Nam Đường (nay là Nam Đàn). Bạch Liêu theo giúp Trần Quang Khải trong công cuộc chống quân Toa Đô trên đất Nghệ An. Tại đây, quân Trần do Thượng tướng Trần Quang Khải chỉ huy đã lập chiến công vang dội ở bãi Sa Nam, huyện Nam Đường, đuổi quân Toa Đô ra khỏi vùng đất Nghệ An, góp phần vào cuộc chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ hai.
Khi tuổi cao, ông về quê mở trường dạy học và bốc thuốc chữa bệnh. Ông mất khi 79 tuổi. Do có công với đất nước, ông được các triều Lê, Nguyễn sắc phong Thần mộ và lập đền thờ tại xã Hưng Phú, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An.
Dương Tuấn

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

NHÂN TÍNH 37

BÍ ẨN ĐƯỜNG ĐỜI 156

ĐỒNG BÀO NƠI XỨ NGƯỜI 32